Page 1 of 11 Câu 1 Những hạn chế lớn nhất trong quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện về nghề luật sư ở Việt Nam? Phương hướng để khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư trong t[.]
Trang 1Câu 1: Những hạn chế lớn nhất trong quy định pháp luật và thực tiễn thực
hiện về nghề luật sư ở Việt Nam? Phương hướng để khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư trong thời gian tới?
Câu 2: Những hạn chế về pháp luật và thực tiễn đặt ra cho hoạt động công
chứng ở Việt Nam hiện nay? Giải pháp?
BÀI LÀM:
câu 1:
Thực trạng pháp luật về nghề luật sư
Nghề luật sư không giống như những ngành nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Đây là một nét đặc thù riêng có tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư
Theo quy định tại Điều 2 Luật Luật sư : "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức" Tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành luật sư được quy định tại Điều 10, Điều 11 Luật Luật sư : "Công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư", "Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư"
Theo đó, luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, là những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân,
tổ chức và Nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác
Đối với hoạt động hành nghề, luật sư có quyền tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự
Trang 2Luật sư cũng có quyền hoạt động đại diện ngoài tố tụng Luật sư đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến vấn đề mà họ đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của
cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động Khi đại diện cho khách hàng, luật sư có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật có liên quan
Về hình thức hành nghề, luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau đây:
"1 Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư
2 Hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 49 của Luật này" (Luật Luật sư 2006)
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 32 Luật Luật sư ( thì hình thức tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: Văn phòng luật sư; Công ty luật
Trong đó, văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Luật sư thành lập văn phòng luật sư là trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng Đối với công ty luật, bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn Thành viên của công ty luật phải là luật sư Công
ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập và không có thành viên góp vốn Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Điều 49 Luật Luật sư cũng quy định về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân Theo đó, "Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư" Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên
Trang 3Về mặt pháp lý, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ về nghề luật sư và hành nghề luật sư Những quy định này phù hợp với pháp luật quốc tế, đồng thời tạo hành lang pháp lý để nghề luật sư ở Việt Nam phát triển và hội nhập quốc tế
Thực tiễn hành nghề luật sư tại Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện tại đã có trên 17.000 Luật sư chính thức, tăng tỉ lệ số lượng Luật trên tổng dân số ở Việt Nam Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và quy tắc đạo đức nghề nghiệp được chú trọng với các hình thức linh hoạt (trực tiếp và trực tuyến); việc khen thưởng và kỷ luật được tiến hành chặt chẽ, góp phần nâng cao tố chất nội lực của đội ngũ LS Tăng cường về số lượng, nhưng bên cạnh đó phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn là những giá trị cốt lõi tạo nên chất lượng, uy tín và thương hiệu của đội ngũ luật sư
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với việc ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hành nghề luật sư tại nước ta Tuy nhiên, thực tiễn hành nghề của các luật sư cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, luật sư đã tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Luật sư
Việt Nam với nhiều kinh nghiệm, kỹ năng tham gia hành nghề tại tòa án nhưng vẫn còn chưa quen thuộc với hoạt động tham gia tố tụng trọng tài Trong tố tụng trọng tài, ngôn ngữ sử dụng có thể là ngôn ngữ khác tiếng Việt, mà thông thường là tiếng Anh, đối với trường hợp quan hệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp với một bên có vốn đầu tư nước ngoài Do trình độ ngoại ngữ của luật sư Việt Nam còn hạn chế nên nhiều trường hợp luật sư cần có phiên dịch trong các phiên xử trọng tài, dẫn đến tốn kém chi phí và kéo dài thời gian tố tụng
Thứ hai, số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp và có sự phát triển
mất cân đối lớn giữa các vùng, miền Hà Nội, TP.HCM chiếm 2/3 số luật sư cả nước Thông tin trước thềm Đại hội đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ III (diễn ra ngày 25
và 26.12.2021), Liên đoàn Luật sư Việt Nam cho biết, tính từ Đại hội lần thứ II (tháng 4.2015), số lượng luật sư cả nước là 9.436 luật sư, tính đến ngày 31.9.2021 đã tăng lên 16.134 luật sư (sau hơn 6 năm số lượng luật sư tăng gần 6.700 luật sư tương đương 40%) Số lượng luật sư tăng đều hàng năm, trung bình mỗi năm tăng khoảng
1000 luật sư
Trang 4Trong đó, sự phát triển về số lượng luật sư vẫn chủ yếu tập trung ở 2 thành phố lớn là TP.Hà Nội (4.752 luật sư) và TP.Hồ Chí Minh (6.489 luật sư), chiếm hơn 2/3 tổng số luật sư của cả nước; còn lại 61 Đoàn luật sư có số lượng luật sư là 4.893 luật sư
Cùng với việc tăng số lượng luật sư, số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng tăng đáng kể Hiện nay cả nước đã có trên 4.000 tổ chức hành nghề luật sư Số người tập sự hành nghề luật sư hiện nay có trên 5.000 người
Thứ ba, phương pháp quản lý điều hành của các tổ chức hành nghề luật sư rất
đa dạng và phong phú nhưng không có sự thống nhất Ở Việt Nam, phần lớn các tổ chức hành nghề luật sư áp dụng phương pháp truyền thống là phân công công việc trực tiếp đến từng người Số lượng các tổ chức hành nghề áp dụng phương pháp điều hành, quản lý theo nhóm, có giao ban công việc hàng tuần, hàng tháng chỉ chiếm số lượng rất nhỏ, thậm chí một số tổ chức hành nghề luật sư quản lý công việc một cách tùy tiện, lỏng lẻo, người đứng đầu tổ chức hành nghề không nắm rõ được toàn bộ các công việc của tổ chức mình Số lượng tổ chức hành nghề luật sư áp dụng phương pháp quản trị, điều hành theo thông lệ quốc tế còn quá ít do quy mô của tổ chức rất nhỏ
Thứ tư, việc gia tăng về số lượng luật sư cũng tạo nên thách thức: Đó là sự
cạnh tranh gay gắt trong nội bộ những người hành nghề luật Do điều kiện phát triển kinh tế tại Việt Nam chưa được cân đối về mặt địa lý, vì vậy lực lượng luật sư trên toàn quốc hầu hết đều chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Sự phân bổ mật độ thiếu cân đối này đã tạo ra một áp lực cạnh tranh rất gay gắt để tồn tại và phát triển trong đội ngũ luật sư Việc canh tranh diễn ra trên cả hai mặt: Chất lượng chuyên môn dịch vụ và thương mại Các công ty luật, văn phòng luật sư không chỉ nhắm đến việc cung ứng cho khách hàng những dịch vụ với chất lượng chuyên môn và kết quả cao nhất bằng việc quy tụ được những nhân sự giỏi nhất, áp dụng những công nghệ kỹ thuật văn phòng mới nhất, mà còn phải tạo ra những ưu thế về mặt thương mại của mình như vị trí thuận lợi của văn phòng, những chiến lược tiếp thị, tuyển dụng ngày càng đắt tiền Cạnh tranh tạo ra sự mâu thuẫn
về lợi ích, trong khi đó để môi trường pháp lý và nghề luật sư phát triển còn cần cả
sự hợp tác Tính cạnh tranh cao trong một khu vực địa lý hẹp đã tạo thành những rào cản vô hình cho việc hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân hành nghề luật
Trang 5Thứ năm, về việc bảo vệ quyền hành nghề luật sư và bảo vệ luật sư Trên
thực tế, dù các quy định của pháp luật đã quy định quyền tham gia tố tụng của luật
sư, nhưng trong quá trình hành nghề tiếng nói, vai trò của luật sư chưa thực sự có giá trị Nhiều luật sư trong quá trình hành nghề đã đành phải chấp nhận những rủi ro ngoài mong muốn, họ thậm chí còn bị đe dọa về tính mạng, sức khỏe Như trường hợp luật sư Nguyễn Hồng Hà (Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa) bị đánh trong lúc đang chờ xử án tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa (Viết Hảo, 2018) Những biểu hiện
về sự coi thường pháp luật, xâm hại đến quyền hành nghề của luật sư cả trong và ngoài phiên tòa đang diễn ra ngày càng phổ biến Thế nhưng, chưa có những giải pháp thực sự hữu hiệu để đảm bảo rằng luật sư được hành nghề với đầy đủ quyền của mình, đồng thời được bảo vệ khỏi sự xâm hại về sức khỏe và tính mạng
Để để khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư trong thời gian tới ta có những giải pháp như sau:
Thứ nhất, đối với vấn đề luật sư tham gia giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài Trước hết, phải nâng cao chất lượng đào tạo luật ngay từ bậc đại học Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, bởi vì không có những cử nhân luật vững vàng về kiến thức chuyên môn và ngoại ngữ thì khó để đào tạo được luật sư giỏi, luật sư hội nhập quốc tế Thực trạng đào tạo hệ cử nhân luật ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề
về chất lượng, nhất là các hệ đào tạo tại chức, vừa học vừa làm, chất lượng tuyển sinh đầu vào rất thấp, đội ngũ giảng viên có nơi chưa đảm bảo yêu cầu Chính vì vậy, việc quy định về trình độ ngoại ngữ cao khi tốt nghiệp trong các trường đào tạo luật
và trong chương trình đào tạo luật sư của Học viện Tư pháp chắc chắn sẽ khắc phục được vấn đề này
Thứ hai, đối với vấn đề số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp và
có sự phát triển mất cân đối lớn giữa các vùng, miền Nâng cao chất lượng đào tạo của các trường luật, chương trình đào tạo nghề luật sư để đảm bảo chất lượng, uy tín đội ngũ luật sư khi tham gia hành nghề Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo cần
có nghiên cứu đồng bộ, thống nhất về yêu cầu của Nhà nước, của xã hội, của nghề nghiệp đối với công tác đào tạo cử nhân luật và đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp mà trong đó có luật sư Nhằm đảm bảo việc đào tạo cử nhân luật gắn liền với nghề nghiệp, hướng nghiệp; còn đào tạo nghề nghiệp luật sư gắn liền với chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu Tăng cường sự phối hợp, tham vấn giữa đoàn luật sư với các cơ quan nhà nước địa phương nhằm đảm
Trang 6bảo nhu cầu luật sư cũng như bảo đảm việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, việc đăng ký, cơ cấu tổ chức của văn phòng luật sư và công ty luật
cần phải quy định thống nhất trong một văn bản luật Hiện tại, có hai văn bản luật quy định liên quan đến vấn đề này, đó là Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư Về bản chất, văn phòng luật sư hay công ty luật đều là doanh nghiệp, cần quy định thống nhất về cơ cấu tổ chức, đặc biệt là áp dụng phương pháp điều hành, quản lý theo nhóm, có giao ban công việc hàng tuần, hàng tháng
Thứ tư, để đảm bảo luật sư cạnh tranh bình đẳng trong quá trình hành nghề,
đặc biệt là những thành phố có số lượng luật sư lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, một yêu cầu đặt ra là phải nâng hiệu lực quy phạm pháp luật quy định về vấn đề cạnh tranh của luật sư Hiện tại, vấn đề cạnh tranh của luật sư được quy định tại Quy tắc 18 cạnh tranh nghề nghiệp (Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật
sư Việt Nam, 2019), quy định này cần thiết phải nâng lên thành luật, có như vậy mới đảm bảo tính pháp lý và cạnh tranh công bằng Tương tự như vậy, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh để nhằm mục đích giành giật khách hàng được quy định trong Quy tắc 20.5 (Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, 2019) cũng cần thiết phải nâng lên thành luật
Thứ năm, hoàn thiện các quy định pháp lý về chế độ bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp luật sư Hành nghề luật sư là hoạt động đòi hỏi tính trách nhiệm cao, gây thiệt hại là phải bồi thường, do vậy luật sư tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nghĩa vụ cần thiết Những trường hợp gây tổn hại đến danh dự, tính mạng, sức khỏe của luật sư cần được quy định mang tính đặc thù Tuy nhiên, vấn đề trách nhiệm nghề nghiệp cũng như bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư ở Việt Nam chưa thực sự rõ ràng Do đó, cần có những quy định và những biện pháp cụ thể
để sớm áp dụng trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm đem lại sự hiệu quả cao nhất cho hoạt động đặc thù này
Câu 2:
Những hạn chế về pháp luật và thực tiễn đặt ra cho hoạt động công chứng
ở Việt Nam hiện nay
Luật Công chứng (sửa đổi) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 Sau hơn 07 năm triển khai thực
Trang 7hiện, Luật Công chứng đã đi vào cuộc sống, đạt nhiều kết quả cụ thể, tiếp tục đóng góp tích cực vào việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng; phát triển đội ngũ công chứng viên, các tổ chức hành nghề công chứng và tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, giá trị sử dụng bản dịch, góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh một số vấn đề mới chưa được Luật Công chứng điều chỉnh; một số quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập so với thực tiễn như sau:
Thứ nhất, số lượng công chứng viên tăng nhanh nhưng chất lượng đội ngũ
công chứng viên và người được giao làm nhiệm vụ công chứng ở một số nơi chưa đồng đều, năng lực hoạt động có mặt còn hạn chế, tính chuyên nghiệp chưa cao, thiếu
sự ổn định, bền vững; còn có công chứng viên vi phạm pháp luật, đạo đức hành nghề, không tuân thủ đúng thủ tục, quy trình nghiệp vụ công chứng theo quy định gây ảnh hưởng đến uy tín hoạt động hành nghề công chứng trong xã hội Việc phát triển đội ngũ công chứng còn thiếu tính quy hoạch Việc hợp danh của các công chứng viên còn mang tính hình thức, chủ yếu là “thuê hợp danh” Tình trạng xin rút hợp danh, gia nhập Văn phòng công chứng của công chứng viên còn dễ dãi, chưa có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát, thực tế đã phát sinh một số tranh chấp giữa các thành viên hợp danh
Ngoài ra, chất lượng hoạt động hành nghề công chứng chưa cao, còn có những sai sót, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu; còn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận gây ảnh hưởng đến uy tín của nghề công chứng trong xã hội
Thứ hai, việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng còn chưa nhất quán,
có phần lúng túng, nhất là sau khi bỏ quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng, không đồng đều, chưa gắn với địa bàn dân cư, hầu hết tập trung tại những địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển Sau khi bỏ quy hoạch xuất hiện xu hướng Các văn phòng công chứng chuyển về đô thị hoặc trung tâm của huyện, thị dẫn đến tình trạng một số địa phương tại một số địa bàn cấp huyện không
có Văn phòng công chứng nào hoạt động Các Văn phòng công chứng dù hoạt động theo loại hình công ty hợp danh nhưng trên thực tế có không ít Văn phòng công chứng chỉ có 01 công chứng viên hành nghề thực tế, công chứng viên hợp danh còn
Trang 8lại thực chất là “đi thuê”; tổ chức của một số Văn phòng công chứng còn thiếu tính
ổn định, bền vững
Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng tuy
đã được thực hiện nhưng mới chỉ là bước đầu, chưa tương xứng với sự phát triển các nhu cầu giao dịch trong công chứng cũng như sự tinh vi trong các hành vi lừa đảo, lợi dụng công chứng để hợp pháp hóa các giao dịch bất hợp pháp;
Việc chuyển đổi số, ứng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng còn chưa tương xứng với sự phát triển của nghề công chứng, chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng
Thứ tư, việc đồng thời tồn tại hoạt động công chứng, chứng thực đối với các
giao dịch, hợp đồng vốn quy định còn khác nhau về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện công chứng, chứng thực có nguy cơ tạo rủi ro cho việc đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, hợp đồng được chứng thực
Hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch về bản chất chính là hoạt động công chứng Văn bản chứng thực hợp đồng, giao dịch có giá trị như văn bản công chứng, tuy nhiên trình tự, thủ tục chứng thực lại đơn giản hơn nhiều so với công chứng, người thực hiện chứng thực có các tiêu chuẩn, điều kiện, trách nhiệm thấp hơn hẳn so với CCV… Tình trạng này tạo ra sự bất hợp lý khi duy trì hai loại hình hoạt động có cùng bản chất, giá trị nhưng lại có hai tên gọi khác nhau, do các chủ thể khác nhau thực hiện theo các trình tự khác nhau
Thứ năm, phạm vi các giao dịch công chứng bắt buộc còn chưa thật rõ; thời
điểm có hiệu lực của giao dịch, hợp đồng phải công chứng còn quy định chưa thống nhất giữa các Luật
Theo quy định của Luật Công chứng thì công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Thứ sáu, công tác quản lý nhà nước về công chứng tại một số địa phương còn
bất cập, trách nhiệm quản lý nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương chưa rõ nét; chưa có những giải pháp mang tính chiến lược nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Trang 9Thứ bảy, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên chưa phát huy
đầy đủ vai trò tự quản nghề nghiệp; hoạt động của Hiệp hội và các Hội công chứng viên chưa phong phú, đa dạng; có không ít Hội công chứng viên hầu như chỉ thực hiện thủ tục gia nhập và rút khỏi Hội mà chưa triển khai được các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Hội đối với quá trình hành nghề của hội viên, đặc biệt là nhiệm vụ đại diện, bảo vệ hội viên, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ hoặc chủ động phát hiện sớm các hành vi vi phạm, phối hợp với Sở Tư pháp trong việc quản lý hội viên
Giải pháp
Để khắc phục những tồn hại, hạn chế và vướng mắc của hoạt động công chứng; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng với các dịch vụ công chứng tại nhà, công chứng ngoài giờ, công chứng lấy nhanh…; phát huy vai trò của công chứng trong phát triển kinh tế - xã hội, Bộ chính trị đã đề xuất một số giải pháp như sau:
Một là, cần tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng
Tuy nhiên, hoạt động công chứng là một loại hình dịch vụ công, công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện dịch vụ này; thực hiện công việc đòi hỏi tính chuyên môn và trách nhiệm pháp lý cao Do vậy, việc xã hội hóa hoạt động này cần có lộ trình thích hợp Trong khi trình độ xã hội còn nhiều hạn chế cộng với tính phức tạp, thiếu ổn định của hệ thống pháp luật đã khiến cho nhận thức cũng như thực tiễn thực hiện hoạt động này còn nhiều bất cập Do vậy, không nên nóng vội chuyển đổi các Phòng Công chứng (đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp) thành Văn phòng Công chứng (hoạt động theo Luật doanh nghiệp) như một số quan điểm hiện nay
Hai là, sớm ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng,
tập trung vào một số nội dung sau:
- Về công chứng viên: Để nâng cao chất lượng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đội ngũ công chứng viên cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện bổ nhiệm công chứng viên Theo đó, xác định rõ hơn địa vị pháp lý của công chứng viên; quy định rõ công chứng viên chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; nâng thời gian đào tạo nghề công chứng từ 6 tháng lên 12 tháng; bổ sung quy định người miễn đào tạo phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng Sửa đổi quy định về tập sự hành nghề công chứng theo hướng không miễn đào tạo nghề
Trang 10công chứng mà chỉ giảm thời gian tập sự đối với đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng trước đây; bổ sung quy định về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, quy định công chứng viên chỉ được hành nghề đến 65 tuổi; bổ sung quy định
về kiểm tra và tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, bồi dưỡng thường xuyên
- Về tổ chức hành nghề công chứng: Sửa đổi, bổ sung các quy định về Văn phòng công chứng nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho Văn phòng công chứng trong việc thay đổi loại hình hoạt động, thúc đẩy phát triển các Văn phòng công chứng quy mô lớn, hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả Quy định việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng phê duyệt; Phòng Công chứng chỉ được thành lập ở những địa bàn chưa có điều kiện phát triển Văn phòng công chứng để đáp ứng yêu cầu của người dân
Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức
hành nghề công chứng đến năm 2020, bảo đảm phát triển các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bổ hợp lý gắn với địa bàn dân cư trên toàn quốc, đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức trong xã hội, tăng cường tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, khắc phục tình trạng phát triển tổ chức hành nghề công chứng không đồng đều giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn
Bốn là, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo nghề công chứng; tăng cường
công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, đạo đức hành nghề công chứng Xây dựng quy hoạch công chứng viên căn cứ theo nhu cầu thực tế của địa phương
Năm là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh những sai phạm và những
biểu hiện tiêu cực trong hoạt động công chứng; hướng dẫn định hướng các công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật công chứng và văn bản hướng dẫn thi hành để phát triển lành mạnh các hoạt động công chứng
Sáu là, xây dựng được cơ sở dữ liệu thông tin về bất động sản, tạo nền tảng
kết nối, chia sẻ thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng và Văn phòng đăng