1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lạm phát thực trạng và giải pháp kiểm soát lạm phát ở việt nam

21 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm phát thực trạng và giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 43,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học tiền Milton Friedman chorằng lạm phát xảy ra khi mức chung về giá cả và chi phí thời kỳ này tăng lên só với thời kỳ trước ở mức độ cao > 1% và kéo

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là quốc gia đang phát triển Nền kinh tế có nhiều chuyển biếnlớn, từ cơ cấu kinh tế, công nghệ các luồng vốn… thị trường tài chính đangphát triển và nhiều biến động Diễn biến lạm phát (chỉ số CPI) không nằmngoài quy luật đó Lạm phát luôn luôn là một thách thức lớn đối với nềnkinh tế Việt Nam và với những nhà hoạch định chính sách do nó có ảnhhưởng quan trọng tới đời sống của dân chúng, đến guồng máy kinh tế, xãhội và chính trị

Diễn biến tình hình lạm phát tại Việt Nam rất phức tạp và đặc biệt vàonhững tháng đầu năm 2007, lạm phát tại Việt Nam đã tăng ở mức kỷ lục.Theo một số chuyên gia kinh tế cho rằng, dự báo cuối năm 2007, mức lạmphát tại Việt Nam sẽ là 2 con số (lớn hơn 10%) Như vậy, nếu dự báo thành

sự thật, chúng ta sẽ đối mặt với sự tăng trưởng âm của nền kinh tế Làm saokìm chế được lạm phát và thúc đẩy kinh tế phát triển Đây là vấn đề lớn, bàitoán nan giải cho các nhà hoạch định chiến lược kinh tế Việt Nam Cùngchung với dòng suy nghĩ đó, với mong muốn hiểu rõ hơn về lạm phát đểtìm ra các giải pháp phù hợp nhằm kiểm soát được lạm phát tại Việt Nam,

tôi xin chọn bài viết tiểu luận với tiêu đề “Lạm phát tại Việt Nam – thực trạng và giải phát kiểm soát”.

Bài viết gồm 3 phần:

Phần 1: Những vấn đề cơ bản về lạm phát.

Phần 2: Thực trạng lạm phát tại Việt Nam

Phần 3: Một số giải pháp kiềm chết lạm phát tại Việt Nam

Trang 2

PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm

Lạm phát là mối quan tâm của tất cả mọi người từ Chính phủ, các tổchức kinh tế cho tới dân cư Việc kiểm soát lạm phát là vấn đề quan trọngtrong chính sách tiền tệ quốc gia nhằm duy trì môi trường kinh tế ổn định,tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế bền vững

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học tiền (Milton Friedman) chorằng lạm phát xảy ra khi mức chung về giá cả và chi phí thời kỳ này tăng lên

só với thời kỳ trước ở mức độ cao > 1% và kéo dài trong nhiều năm

Tiếp cận với tư tưởng lý luận hiện đại và kinh tế thị trường đó chúng ta

có thể hiểu bản chất của lạm phát là mức giá cả chung tăng lên theo thờigian Một sự biến động mức giá trung bình của hàng hóa dịch vụ theo xuhướng tăng lên đó chính là lạm phát

1.2 Chỉ tiêu đo lạm phát

Một hệ tưởng các chỉ tiêu được các quốc gia sử dụng để đo lường lạmphát gồm có chỉ số gia tăng tiêu dùng, dịch vụ (CIP); chỉ số giá hàng sảnxuất (PPI) và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP); ngoài ra còn

có các chỉ tiêu khác như chỉ số giá bán buôn (WPI), chỉ số chi phí tiêu dùng cánhân (PCEI) Mỗi loại chỉ số đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, tuynhiên chỉ số CIP được sử dụng phổ biến để đo lường và đánh giá mức độ lạmphát bởi sự đơn giản trong cách tính và ý nghĩa thực tiễn của việc sử dụng chỉ

số này Chỉ số này được tính trên cơ sở theo dõi biến động giá theo thời giancủa các mặt hàng nhất định (từ 2005 rổ hàng hoá này gồm gần 500 hàng hoá

và dịch vụ)

1.3 Các loại lạm phát và tác động của lạm phát đến nền kinh tế

Lạm phát thấp xảy ra khi mức độ tăng giá chậm, chỉ ở mức tăng mộtcon số trong năm (dưới 5 - 6%/năm) Loại lạm phát này ít tác động đến nềnkinh tế Trái lại lạm phát giá cả ôn hoà còn kích thích nền kinh tế phát triển

Trang 3

thêm vì làm cho mức tiêu thụ gia tăng nhờ vào gia tăng lợi tức giả tạo, việcđầu tư vào nhà cửa cũng tăng vì giá nhà sẽ tăng trong tương lai Việc đầu tưvào máy móc và cơ sở thương mại sẽ bành trướng giá thị trường tăng nhanhhơn chi phí sản xuất

Tuy nhiên mức lạm phát hàng năm lên cao ở mức trên 5 - 6% là mộtđiều đáng ngại vì nó sẽ làm xáo trộn các hoạt động kinh tế và xã hội Mức

độ gia tăng cao và nhanh của lạm phát từ 2 con số trở lên (Lạm phát phi mã,siêu lạm phát) sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế đòi hỏi chính phủ vàNHTW phải có những giải pháp mạnh để kiềm chế tốc độ gia tăng của lạmphát Những người nghèo và hoặc có lợi tức cố định bị thiệt thòi nhiều nhất.Hưu bổng mất giá Giới tiêu thụ mua sắm vội vàng vì sợ giá cả sẽ tiếp tụctăng lại càng làm cho vật giá leo thang thêm Hậu quả là mức tiết kiệm, việcmua bảo hiểm và trái phiếu dài hạn bị giảm mạnh Ngoài ra lạm phát còn tạo

ra nạn đầu cơ tích trữ Tỉ lệ lạm phát cao là mức thuế vô hình đánh vào dânnghèo Những người bình thường sẽ gặp khó khăn, vì mức thu nhập của họkhông thể tăng được như mức lạm phát

Ngoài ra lạm phát còn được phân loại theo khả năng dự đoán: Lạmphát có thể dự tính được và lạm phát không thể dự tính được Lạm phát cóthể dự tính được là lạm phát thực tế phù hợp với mức lạm phát dự kiến Lạmphát dự tính được có gây tác động đến chi phí quản lý tiền mặt (còn gọi làchi phí “mòn giày”, làm tác động đến chi phí chủ thể kinh tế tăng thông quaviệc nộp thuế và gây bóp méo thông tin Tuy nhiên, lạm phát có thể dự tính

sẽ ít gây hậu quả xấu cho nền kinh tế bằng lạm phát không thể dự tính được.Lạm phát không thể dự tính được xảy ra bất ngờ lại ở mức độ cao là điềunguy hiểm Nó tạo ra sự bất ổn trong môi trường kinh tế, xã hội Do cácdoanh nghiệp không dự đoán trước khoản thu nhập từ các khoản đầu tư nêncác doanh nghiệp chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh, từ sản xuất chu kỳdài sang sản xuất có chu kỳ ngắn; từ đầu tư tài sản thực sang đầu tư tài sản

Trang 4

tài chính Nó làm giảm tăng trưởng kinh tế, tăng thất nghiệp, ảnh hưởngđến đời sống người dân do thu nhập danh nghĩa không theo kịp tỷ lệ tănggiá; làm xấu đi cán cân thương mại, giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóaViệt Nam khi xuất khẩu do giá cả hàng hóa tăng Nền kinh tế không dễ dàngthích ứng với loại lạm phát này do đóhậu quả xấu tất yếu sẽ xảy ra

Hậu quả của lạm phát đối với nền kinh tế tùy thuộc vào nguyên nhân vàmức độ của lạm phát cũng như khả năng dự đoán lạm phát Nếu lạm phát cóthệ dự tính được lại xảy ra ở mức độ thường thì tác động của lạm phát đốivới nền kinh tế không nhiều, lạm phát không gây ảnh hưởng đến sản lượng,hiệu quả và phân phối thu nhập Điều nguy hiểm của lạm phát đem lại chonền kinh tế không chỉ xảy ra ở mức độ cao mà cỏ ở sự xuất hiện bất ngờngoài khả năng dự đoán lạm phát sẽ tạo nên sự bất ổn đinh cho môi trườngkinh tế xã hội, phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải, ảnh hưởng tới lãisuất, tỷ lệ thất nghiệp và tác động xấu đến cán cân thanh toán quốc tế Trongmôi trường lạm phát cao, không ổn định, hoạt động của nền kinh tế khônghiệu quả, tăng trưởng kinh tế không bền vững nếu lạm phát ở mức cao, kéodài sẽ dẫn đến hậu quả là thất nghiệp cao và suy thoái kinh tế

1.4 Nguyên nhân của lạm phát:

Chúng ta sẽ phải quan tâm nhiều hơn tới nguyên nhân của lạm phát vìchỉ khi xác định chính xác nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từngnguyên nhân mới có thể đưa ra những giải pháp thích ứng để kiềm chế lạmphát có hiệu quả Suy đến cùng từ nguyên nhân gây ra lạm phát chỉ gồm 2nhóm Nhóm nguyên nhân lạm phát do cầu kéo và nhóm nguyên nhân lạmphát do dự thí đẩy Tất cả những nguyên nhân khác như do mất cân đốitrong cơ cấu nền kinh tế, do xuất nhập khẩu, do tiền tệ, do tâm lý màchúng ta đề cập tới dù đó là nguyên nhân xét ở góc độ nào thì cuối cùngcũng sẽ biểu hiện ra ở một trong 2 nhóm nguyên nhân trên

a Nguyên nhân lạm phát do cầu khéo: Đó là nguyên nhân do tổng cầu.

Trang 5

- Tổng chi tiêu của xã hội tăng lên vượt quá mức cung ứng hàng hóadịch vụ xã hội dẫn đến áp lực làm tăng giá cả Bất kỳ lý do nào làm cho tổngcầu tăng lên trong khi cung không tăng hoặc tốc độ tăng chưa kịp thì đềudẫn đến lạm phát trong ngắn hạn Tổng cầu phản ánh nhu cầu có khả năngthanh toán của xã hội về hàng hóa và dịch vụ, nó bao gồm hàng hóa dịch vụ

mà doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ và nước ngoài có nhu cầu sử dụng.Khi ảnh hưởng này tăng lên, chi tiêu nhiều hơn, giá cả chung tăng và lạmphát xảy ra Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao, kéo dài lại thuộc

về chính sách tiền tệ mở rộng Bởi chính sách tiền tệ mở rộng (MB, MS pháttriển) sẽ làm cho tất cả các yếu tố thuộc tổng cầu tăng lên trong dài hạn…

b Nguyên nhân lạm phát do chi phí đẩy: Xuất phát từ sự gia tăng chi

phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất lao động làm giảm mức cungứng hàng hóa dịch vụ dẫn đến mức giá cả chung tăng lên ngay cả khi nềnkinh tế chưa đạt giá trị sản lượng tiềm năng, lạm phát cao kèm theo với thấtnghiệp và suy thoái kinh tế Những nguyên nhân cụ thể thuộc vấn đề lương

và chi phí ngoài lương như giá cả nguyên vật liệu, sự tăng lên về thuế củachính phủ cũng như sự tăng lên về lợi nhuận nóng của doanh nghiệp Mứcgiá cả chung có thể bị đẩy lên tăng ngắn hạn do những cú sốc về cung hoặcđột biến từ phía cầu, duy nhất chỉ có lý do thuộc về chính sách tiền tệ làm tăngkhối lượng tiền cung ứng mới làm cho giá cả tăng lên liên tục trong thời giandài

Trang 6

PHẦN 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM

2.1 Diễn biến tình hình lạm phát tại Việt Nam

- Giai đoạn những năm 1980: Trong thập niên 1980, Việt Nam trải qua

một nạn lạm phát phi mã Mức lạm phát gia tăng từ 125% vào năm 1980 lênđến 487% vào năm 1986 đã gây hậu quả rất nặng nề Giá cả trên thị trường

có tổ chức và thị trường tự do đều tăng mạnh Nguyên nhân lạm phát trongthời kỳ này là sự tổng hòa của cả 2 nguyên nhân, vừa lạm phát cầu kéo, vừalạm phát do chi phí đẩy Nguyên nhân lạm phát cầu khéo là do nhu cầu cókhả năng thanh toán vượt lên quá xa so với khả năng cung ứng hàng hóadịch vụ Nguồn vốn chủ yếu để nuôi dưỡng hoạt động kinh tế là nguồn vốn

từ ngân sách và thực chất là vốn phát hành trên cho chi tiêu ngân sách (bù

lỗ, bù giá, bù giá xuất khẩu và kể cả cho cấp phát tín dụng) Về hoạt độngtrong việc phát hành trên bù đắp thâm hụt ngân sách, NHTW Việt Namkhông thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng

Nguyên nhân lạm phát chi phí đẩy trong giai đoạn này là do hoạt độngsản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế nhà nước Lĩnhvực kinh tế tập thể, tư nhân bị trói chặt không có cơ hội phát triển Côngnghệ lạc hậu, nền kinh tế đóng cửa, chi phí trung gian cao… nguyên nhânchủ yếu là do cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung dẫn đến nhiềusai lầm do các chính sách kinh tế thiếu khách quan, không động viên vàkhuyến khích sản xuất Vì vậy hậu quả của lạm phát trong thời kỳ này rấtnặng nề, nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, hoạt động tài chính tín dụngkém hiệu quả và đời sống xã hột rất khó khăn và thiếu ổn định

Một hệ thống các giải pháp được áp dụng nhằm kiềm chế lạm phát cógiải pháp chống lạm phát mang tính chiến lược trong thời kỳ này là chuyểnđổi cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sựquản lý của Nhà nước (1988) kèm theo một số biện pháp như: Tăng lãi suất

Trang 7

tín dụng Ngân hàng, đặc biệt là lãi suất tiền gửi tiết kiệm, đổi mới cơ bản vàtoàn diễn hoạt động Ngân hàng, các chính sách khuyến khích từ chủ trươngsản xuất kinh doanh và khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh phát triển.

- Bước sang thập kỷ 90, lạm phát về cơ bản được kiềm chế thành công.

Từ lạm phát 3 con số trong thập kỷ 80 xuống còn 2 con số trong 5 năm (giaiđoạn 91 – 95): năm 91 (76,5%), 92 (17,5%), 94(14,4%), 95 (12,7%) và tiếpsau đó nhiều năm liền được khống chế ở mức một con số Tuy nhiên nhữngbiểu hiện bất ổn của lạm phát trong thập kỷ này cho thấy rằng những giảipháp cực đoan được sử dụng ở những giai đoạn trước sẽ đem lại những hậuquả khó lường cho giai đoạn sau Bằng những giải pháp hạn chế tăng cầuquá mức, thắt chặt chính sách tiền tệ, tín dụng, hạn chế chi tiêu ngân sáchNhà nước … đã dẫn đến kết quả là lạm phát trong năm 1996 đến năm 1998

và biểu hiện thiểu phát 1995 đến năm 2000

Bảng 1: Lạm phát được kiềm chế ở mức 2 con số giai đoạn 1991 – 1995 Năm

2 bảng số liệu trên ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao vào giai đoạn 1991– 1995 Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất

Trang 8

8,2%/năm Sang giai đoạn 1996 – 2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm khámạnh Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao vào năm 1996 (9,3%) giảm xuống còn5,8% vào năm 1998 và còn 4,8% vào năm 1999 Nguyên nhân chủ yếu củagiảm phát trong thời kỳ này là do nền kinh tế Việt Nam rơi vào trình trạngsuy giảm cả cung và cầu của sản xuất của xã hội giảm thấp do không tiêuthụ được hàng, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, hàng ngoại chèn éphàng nội, công nghệ đã bộc lộ rõ sự lạc hậu, lỗi thời ngăn cản Doanh nghiệpViệt Nam đã bị thua ngay trên sân nhà Lĩnh vực nông nghiệp thu nhập giảmmạnh do chính sách trợ giá thu mua Với chính sách hướng ngoại, mở cửanền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước đã sắp xếp lại sản xuất, thất nghiệptăng lên…sự suy giảm tổng cầu cũng bộc lộ rõ nét, do thu nhập giảm dẫnđến sức mua của xã hội giảm mạnh, giảm nhu cầu cầu đầu tư vào lĩnh vựcsản xuất kinh doanh và giảm cả nhu cầu tiêu dùng Trong giai đoạn này ởViệt Nam phải sử dụng những giải pháp kết cấu qua lĩnh vực tài chính, tíndụng và những giải pháp kích cung để tác động vào các yếu tố sản xuất xãhội, tăng cuờng khả năng cạnh tranh nhằm tăng mức sản xuất của xã hội

- Giai đoạn lạm phát ổn định ở mức thấp 2001 – 2003 và đột biến gia tăng mạnh vào năm 2004, 2005 và đặc biệt những tháng giữa năm 2007.

Sau một loạt nỗ lực của chính phủ và Ngân hàng trung ương, thiểuphát đã được chấm dứt vào năm 2000 Bước sang năm 2001 nền kinh tế đã

có những dấu hiệu phục hồi Với tỷ lệ lạm phát vừa phải và ổn định, nềnkinh tế kinh tế Việt Nam đã khởi sắc Tốc độ tăng trưởng kinh tế, sức muacủa nền kinh tế đã được phục hồi Mức lạm phát ở mức 4.0% và 3.6% lầnlượt vào 2002 và 2003 Trong vòng 10 năm từ năm 1996 – 2003 dường nhưnền kinh tế đã dần thích nghi với tỷ lệ lạm phát Môi trường kinh tế và môitrường đầu tư ổn định Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng nhưđầu tư đã trở nên hấp dẫn hơn

Bảng 3: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 – 2005.

Trang 9

Chỉ tiêu

Nguồn: Tổng cục thống kê.

Tuy nhiên lạm phát lại đột biến, gia tăng mạnh từ đầu năm 2004 đến

nay Tỷ lệ lạm phát 2004 là 9,5%/năm (trong khi đó năm 2003 chỉ có 3%),

cao hơn nhiều so với chỉ tiêu của quốc hội đề ra là 6,5%/năm Chúng ta

biết, điều nguy hiểm của lạm phát không chỉ xảy ra ở nước cao mà còn xảy

ra bất ngờ, ngoài dự đoán của những nhà hoạch định, chính sách và của

Nguồn số liệu Việt Nam Net.

Phân tích lạm phát trong tháng 9/2005 ta thấy tất cả các nhóm hàng

trong CPI đều tăng mạnh

Bảng 5: Các nhóm hàng trong CPI của tháng 9/2005

Các nhóm hàng hóa tiêu

dùng dịch vụ

CPI tháng 9//2005 so vơi: CPI

9 tháng2005

Kỳ gốc2000

Tháng9/2004

Tháng12/2004

Tháng8/2005

Trong đó: Lương thực

Thực phẩm

130,6141

106,4109,9

104,7109,7

100,2100,4

Trang 10

cả năm 2007 sẽ không dưới 8% và có thể trở thành mức tăng giá kỷ lụctrong vòng 5 năm trở lại đây Lạm phát tăng mạnh khiến nhiều chuyên giakinh tế lo ngại tỉ lệ lạm phát có thể cao hơn, tới hơn 10% vào cuối năm Nhưvậy, thu nhập của 22 triệu người lao động ăn lương đã mất đi sức mua cùngmột tỉ lệ tương đương

Lạm phát đã gây bất ổn định cho môi trường kinh tế xã hội, làm ảnhhưởng đến khả năng tăng trưởng bền vững

Lạm phát gây khó khăn cho việc xác định mức sinh lời chính xác củacác khoản đầu tư, nhất là vào các dự án dài hạn, ảnh hưởng đến việc phân bổnguồn lực ở trong nước Hơn nữa do giá cả sinh hoạt đắt đỏ nên không hấpdẫn các nhà đầu tư ở nước ngoài khi đến Việt Nam đầu tư vì vậy trong dàihạn, lạm phát sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng

Trang 11

Lạm phát sẽ làm cho lãi suất tăng lên: Lạm phát thực tế tăng lên tất yếu

sẽ làm tăng lạm phát dự tính và điều này sẽ làm tăng lãi suất danh nghĩa sẽlàm ảnh hưởng đến mối quan hệ tiết kiệm và đầu tư ảnh hưởng đến tăngtrưởng

Lạm phát sẽ gây khó khăn cho các hoạt động về tài chính ngân hàng.Khi lạm phát đột ngột gia tăng, Ngân hàng sẽ khó khăn trong huy động vốn

để cho vay Để huy động được vốn, Ngân hàng sẽ phải tăng lãi suất tiền gửi,tăng lãi suất cho vay hạn chế nhu cầu của người vay tiền để sản xuất kinhdoanh, ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng trưởng trong dài hạn

Bảng 6: Bảng lãi suất tiền gửi, lãi suất trong cho vay giai đoạn 2001 – 2005 (NHCT Việt Nam)

STG

12T

L/SCVNgăn hạn

L/SCV Dài hạn

T-Tỷ lệLP

2.3 Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc lạm phát ở mỗi giai đoạn đều cónhững nguyên nhân chủ yếu Tuy nhiên nguyên nhân gây nên lạm phát ởViệt Nam rất phức tạp, nó không thuần túy ở một loại nguyên nhân nào, vừalạm phát do cầu khéo vừa lạm phát do chi phí đẩy

2.3.1 Nguyên nhân lạm phát do cầu kéo

- Chi tiêu của xã hội tăng mạnh các năm qua là do các chính sách kíchcầu của chính phủ từ những năm trước (kích cầu qua ngân sách và kích cầuqua tín dụng) khiến chi dùng của các hộ gia đình tăng: Vào đầu năm 2004,năm 2005, 2006, và tới đây là cuối năm 2007, Chính phủ tiến hành tănglương cơ bản đồng làm tăng quỹ mua của xã hội Chỉ tính riêng kinh phí để

Ngày đăng: 07/08/2023, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Mức lạm phát theo tháng của năm 2004 và 2005 - Lạm phát thực trạng và giải pháp kiểm soát lạm phát ở việt nam
Bảng 4 Mức lạm phát theo tháng của năm 2004 và 2005 (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w