1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế

106 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 433,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy tôi đã lựa chọn, nghiên cứu đề tài: " Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát - Thực trạng và giải pháp " 2.. Bố cục c

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ TRÍ THÀNH

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trungthực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.

Người cam đoan

Nguyễn Duy Định

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 5

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 5

1.1.1 Khái niệm và phân loại lạm phát 5

1.1.2 Kiểm soát lạm phát và điều kiện để kiểm soát lạm phát 10

1.1.3 ĐIỀU HÀNH CSTT TRONG MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 14

1.2.1 Tổng quan về CSTT 14

1.2.2 Điều hành CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát 19

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐIỀU HÀNH CSTT VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 23

1.3.1 Nhân tố chủ quan 23

1.3.2 Nguyên nhân khách quan 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 32

2.1 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 32

2.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam trước tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới 32

2.1.2 Lạm phát năm 2010 35

2.1.3 Lạm phát năm 2011 44

2.1.4 Lạm phát năm 2012 49

2.2 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CSTT NHẰM MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 54

Trang 5

2.2.3 Công cụ tái cấp vốn 63

2.2.4 Công cụ thị trường mởvà hoán đổi ngoại tệ 64

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CSTT VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 65

2.3.1 Những thành tựu đạt được 65

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 68

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 77

3.1 YÊU CẦU PHẢI KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TRONG THỜI GIAN TỚI 77

3.1.1 Yêu cầu phải kiểm soát lạm phát trong thời gian tới 77

3.1.2 Dự báo lạm phát 79

3.2 MỤC TIÊU ĐIỀU HÀNH CSTT TỪ NAY ĐẾN NĂM 2015 80

3.2.1 Mục tiêu điều hành CSTT 80

3.2.2 Định hướng cụ thể về điều hành chính sách tiền tệ 81

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 81

3.3.1 Lựa chọn mô hình điều hành CSTT của NHNN phù hợp với tình hình hiện nay và một số năm tiếp theo 81

3.3.2 Nâng cao chất lượng trong việc xâydựng chương trình tiền tệ 83

3.3.3 Đổi mới căn bản công tác phân tích, dự báo 83

3.3.4 Hoàn thiện hệ thống thông tin trong nội bộ ngành 84

3.3.5 Hoàn thiện các công cụ CSTT 85

3.3.6 Các giải pháp bổ trợ khác 91

Trang 6

3.4.2 Đối với Quốc hội 93

3.4.3 Đối với các Bộ, Ngành có liên quan 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

NHTW Ngân hàng Trung ương

Fed Ngân hàng trung ương Mỹ

ADB Ngân hàng Phát triển Châu á

MB Lượng tiền cơ bản

M2 Tổng phương tiện thanh toánCPI Chỉ số giá tiêu dùng

OMO Nghiệp vụ thị trường mở

SWAP Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệFDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

WTO Tổ chức thương mại thế giớiVND Việt Nam đồng

USD Đồng đô la Mỹ

DN Doanh nghiệp

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

Trang 8

ĐỒ THI:

Hình 1.1: Mô hình AD - AS 7

Đồ thị 2.1: Tỷ lệ lạm phát theo tháng năm 2010 35

Đồ thị 2.2: Mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế và lạm phát 38

Đồ thị 2.3: Tỷ lệ lạm phát theo tháng năm 2011 45

Đồ thị 2.4: Tỷ lệ lạm phát theo tháng năm 2012 49

Đồ thị 2.5: Diễn biến lãi suất nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất liên ngân hàng giai đoạn 2003-2007 58

Đồ thị 3.1: Mô hình xác định lãi suất đặt thầu nghiệp vụ thị trường mở 87

BẢNG BIỂU: Bảng 2.1: Tổng hợp các lần tăng, giảm giá xăng 8 tháng năm 2012 51

Bảng 2.2: Các mức điều chỉnh lãi suất chiết khấu của NHNNnăm 2012 59

Bảng 2.3: Các mức điều chỉnh lãi suất tái cấp của NHNN năm 2012 60

Bảng 2.4: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với VND và USD 63

Bảng 2.5: Tổng hợp các chính sách kiểm soát lạm phát 68

Bảng 2.6: Tình hình thực hiện chỉ tiêu lạm phát 2008 - 2012 69

Bảng 2.7: Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2013 80

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Trước những năm 20 của thế kỷ XX, nền kinh tế vận hành theo cơ chế

tự tác động và điều tiết giữa các lực lượng trên thị trường, không có sự canthiệp của Chính phủ Điều này được thể hiện qua học thuyết “bàn tay vôhình” của A.Smith Nhưng cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã kéo tất cảmọi người từ nhà lập chính sách đến người dân buôn bán bình thường, từnhững người theo trường phái cổ điển cho đến những người phản đối họcthuyết này trở về với thực tế rằng bàn tay vô hình là không hữu hiệu Bàn tayhữu hình ra đời từ bối cảnh đó mà người đi đầu là J.M Keynes Theo họcthuyết Keynes thì cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thaycho một bàn tay vô hình nào đó khi thị trường gặp phải thất bại Công cụ đểđiều hành nền kinh tế của một quốc gia chính là các chính sách kinh tế tàichính của chính bản thân quốc gia đó Trong đó, CSTT là một trong những bộphận quan trọng nhất cấu thành hệ thống chính sách này

Ngân hàng Trung ương các quốc gia có nhiệm vụ thiết lập và thực thiCSTT thông qua các công cụ Ngân hàng Trung ương căn cứ vào mục tiêukinh tế vĩ mô cơ bản và trạng thái kinh tế của quốc gia từng thời kỳ mà xácđịnh mục tiêu chính của CSTT Mục tiêu chính sách tiền tệ hầu như thốngnhất ở các nước Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết

là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và công

ăn việc làm

Đối với Việt Nam, trong thời gian qua, NHNN đã đóng một vai tròquan trọng trong việc thực thi mục tiêu cơ bản của CSTT là kiềm chế, kiểmsoát lạm phát như đã thành công trong việc chống lại hiện tượng lạm phát cao

từ những năm đầu 90 (năm 1990: 67,1%, năm 1994 chỉ còn 14,4%)

Trang 10

Tuy nhiên, ở thời kỳ gần đây, sau khi Việt Nam gia nhập WTO vàonăm 2007 và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đóngvai trò là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu Vì vậy việcđiều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi phải chặt chẽ và linh hoạt theo biến độngcủa nền kinh tế thế giới Trong thời kỳ này, Cuộc khủng hoảng kinh tế toàncầu 2007- 2008 diễn ra ở Mỹ đã khiến các chính phủ đưa ra nhiều gói kíchthích kinh tế và hậu quả của nó là lạm phát tăng cao.

Lạm phát tăng cao đã tác động nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội,làm chao đảo cuộc sống của dân chúng

Ngoài những nguyên nhân khách quan (giá cả thế giới biến động, thiên tai,dịch bệnh ) giá cả tăng cao là do điều hành chính sách tiền tệ chưa khoahọc, bị động, lúng túng, đi sau diễn biến thị trường cũng là nguyên nhân gópphần làm giá cả biến động và chỉ số CPI tăng cao Trước tình hình đó, mộtcâu hỏi lớn cần đặt ra: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cần điềuhành CSTT như thế nào nhằm kiểm soát được lạm phát đang có xu hướng gia

tăng? Chính vì vậy tôi đã lựa chọn, nghiên cứu đề tài: " Điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát - Thực trạng và giải pháp "

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ các vấn đề lý thuyết về lạm phát, kiểm soát lạm phát và điềuhành CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát

- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành CSTT trongviệc kiểm soát lạm phát

- Thông qua thực trạng về lạm phát và điều hành CSTT của Việt Nam

từ năm 2010 - nay để đưa ra những giải pháp điều hành CSTT nhằm mục tiêukiềm chế lạm phát Đề tài quyết định nghiên cứu trong giai đoạn từ 2010 đếnnay là do hệ quả của việc kích thích kinh tế sau khủng hoảng năm 2007-2008

Trang 11

đã dẫn đến nguy cơ lạm phát trở nên rõ ràng hơn Ngoài ra, ở giai đoạn nàycũng là thời điểm Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực và cụ thể là tráchnhiệm của các TCTD được quy định rõ ràng hơn Nó tạo ra hành lang pháp lý

để TCTD hoạt động, và là cơ sở để quản trị rủi ro ( đặc biệt là rủi ro hoạtđộng ) từ đó không tạo ra những cú sốc trên thị trường tiền tệ và giúp việcđiều hành các CSTT được hiệu quả hơn Bên cạnh đó, từ năm 2009 trở lạiđây, CSTT gắn với điều hành chính sách lạm phát mục tiêu Điều này giúpNHNN chủ động hơn trong mục tiêu kiểm soát lạm phát

3 Nội dung nghiên cứu

1 Hệ thống lý luận về lạm phát, CSTT, điều hành chính sách nhằm

mục tiêu kiểm soát lạm phát

2 Thực trạng điều hành CSTT trong việc kiểm soát lạm phát từ năm

2010 đến nay

3 Các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ trong mục tiêu kiểm soát

lạm phát ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng: Điều hành chính sách tiền tệ trong mục tiêu kiểm soátlạm phát trên giác độ của NHNN

2 Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề lý luận chung về CSTT vớimục tiêu kiểm soát lạm phát, và thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam

từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận Các phương pháp được sửdụng trong nghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp thống kê và miêu tả,phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh

Trang 12

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mụcbảng, biểu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn được kết cấugồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lạm phát và chính sách tiền tệ

của NHTW trong mục tiêu kiểm soát lạm phát

Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ trong mục tiêu

kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về chính sách tiền tệ của

NHTW trong mục tiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

7 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về lạm phát,kiểm soát lạm phát và điều hành CSTT nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát

- Thông qua thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam, luận văn đưa ramột số giải pháp hoàn thiện điều hành chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu kiểmsoát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG MỤC TIÊU

KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1.1 KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1.1.1 Khái niệm và phân loại lạm phát

Các định nghĩa lạm phát được đưa ra thường tiếp cận từ hai khía cạnhchủ yếu: hoặc từ nguyên nhân hoặc từ những ảnh hưởng của nó

Theo cách tiếp cận thứ nhất, thì “lạm phát là quá nhiều tiền đi săn quá íthàng” hoặc “lạm phát là khi tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn năng suấtlao động” Cách định nghĩa này thực chất chỉ là đưa ra các cách giải thíchkhác nhau về nguyên nhân của lạm phát mà không phải là định nghĩa về lạmphát theo đúng nghĩa của nó

Theo cách tiếp cận thứ hai thì lạm phát là mức giá cả chung tăng lên.Tuy nhiên, sự tăng giá mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát cònbản chất của nó được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá là giá tăng cao vàkéo dài hay chỉ là tạm thời?

Tóm lại, lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài trong một thờigian Tuy nhiên, cần phải rất thận trọng với định nghĩa về lạm phát bởi vìkhông phải bất cứ lúc nào giá cả tăng cũng là lạm phát mà phải là giá cả tăngkéo dài với tốc độ tăng giá có xu hướng tăng kèm theo giá trị tiền tệ giảm sút

Lạm phát là sự tăng giá hàng hoá ở tất cả mặt hàng và muốn biết đượctình trạng tăng giá, người ta phải so sánh giá cả giữa hai thời điểm khác nhau

to và t1 Tuy nhiên, trong một nền kinh tế có nhiều loại hàng hoá nên trongkhoảng thời gian to - t1 , mỗi loại hàng hoá có mức tăng giá (P t1 - P to ) khácnhau Do vậy để tính được tỷ lệ lạm phát chung cho nền kinh tế, người ta phảilấy chỉ số giá cả bình quân của cả nước làm chuẩn 3 loại chỉ số giá cả bình

Trang 14

quân được sử dụng là giá cả hàng tiêu dùng (CPI-Consumer price index); giá

cả hàng sản xuất bình quân (PPI-Producer price index) và giá cả bán lẻ bình quân (RPI-retail price index) Thông thường, thì người ta thường sử dụng hai

loại chỉ số giá cả đầu để tính lạm phát, đặc biệt là CPI Cuối cùng, lạm phátthường được đo bằng chỉ số %, tức là tỷ lệ lạm phát (%) giữa hai thời điểm 10

và t1 là bằng mức tăng giá cả hàng hoá bình quân giữa hai thời điểm, chia chogiá ban đầu và nhân với tỷ lệ %:

Tỷ lệ lạm phát (t0 và t1 ) = Pti ~ ? to x 100%

Phân loại lạm phát:

- Phân loại theo định lượng: có lạm phát một con số (là loại lạm phát

nhỏ hơn 10%/năm), lạm phát hai con số, lạm phát phi mã và siêu lạm phát (làloại lạm phát rất cao từ 3 con số)

- Phân loại theo định tính: có lạm phát thuần tuý (là trường hợp đặc

biệt khi giá cả hàng hoá tiêu dùng và hàng hoá sản xuất đều tăng lên gần nhưcùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian, lúc này nhu cầu tiền thực tếtăng cùng chiều và khá tương đương với cung ứng tiền thực tế); lạm phát dựđoán trước (lạm phát dự đoán trước là việc người ta nhìn thấy trước về lạmphát và tin rằng nó sẽ xảy ra bởi các nguyên nhân của nó đã lộ diện) và lạmphát bất thường; lạm phát cân bằng và không cân bằng (cân bằng ở đây là cânbằng với thu nhập)

- Căn cứ vào mức độ biểu hiện giá cả trên thị trường: có lạm phát ngầmlạm phát công khai

- Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng về mặt không gian: có lạm phát quốcgia và thế giới

- Căn cứ vào tính lịch sử: lạm phát cổ điển (gắn với xung đột chiếntranh) và lạm phát hiện đại (gắn với hoà bình)

Trang 15

Nguyên nhân của lạm phát:

- Theo trường phái tiền tệ của Milton Friedman thì lạm phát bao giờ và

ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ Quan điểm của trường phái này cho rằnglạm phát nhanh có thể do sự tăng cao của cung tiền tệ thúc đẩy

Chúng ta có thể sử dụng mô hình AD-AS để giải thích cho quan điểmcủa trường phái tiền tệ

Hình 1.1: Mô hình AD - AS

Ban đầu, nền kinh tế ở điểm 1, với sản phẩm tại mức tỷ lệ tự nhiên vàgiá cả tại P1- giao điểm của đường tổng cầu AD1 và đường tổng cung AS1.Nếu cung tiền tăng đều đặn dần dần trong suốt cả năm, thì đường tổng cầu dichuyển sang phải đến AD2 Trong một thời gian rất ngắn, nền kinh tế có thểchuyển động đến 1’ và sản phẩm có thể tăng cao hơn mức tự nhiên Y’, nhưngkết quả giảm thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên sẽ làm cho lươngtăng lên và đường tổng cung sẽ nhanh chóng dịch chuyển vào trong và sựdịch chuyển ấy sẽ dừng khi nào đạt đến AS2, sản lượng quay trở lại mức tựnhiên của đường tổng cung dài hạn tại thời điểm cân bằng mới thì P2 cao hơnP1 Nếu cung tiền tiếp tục trong những năm tiếp theo, thì nền kinh tế sẽ tiếp

Trang 16

tục chuyển động đến mức giá cả cao hơn và khi mà cung tiền còn tăng thì quátrình này sẽ tiếp tục và lạm phát sẽ xảy ra Tóm lại, trường phái tiền tệ chorằng lạm phát nhanh có thể do sự tăng cao của cung tiền tệ thúc đẩy.

- Trường phái Keynes: Cách phân tích của trường phái Keynes cũngcho rằng cung tiền tệ tăng kéo dài sẽ có ảnh hưởng giống đối với đường tổngcung và đường tổng cầu mà chúng ta thấy đã phân tích ở hình 1.1 Đườngtổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải và đường tổng cung sẽ di chuyển vào Chỉ

có điều khác biệt là Keynes tin rằng đường tổng cung sẽ di chuyển vào chậmhơn so với cách phân tích của trường phái tiền tệ Keynes cho rằng cung ứngtiền danh nghĩa tăng khi giá chưa thay đổi, làm cung tiền thực tế tăng dẫn đếnđường LM dịch chuyển khá mạnh qua phải, sản lượng tăng khá nhanh.Tiếp đótổng cầu tăng gây ra lạm phát Lạm phát sẽ làm cho mức cung tiền thực tế nhỏlại so với ban đầu Tức là lúc này đường LM qua trái một ít, sản lượng tụt, tuyvẫn cao hơn mức ban đầu

- Lạm phát do chi phí đẩy:

Ngay cả khi sản lượng chưa đạt đến tiềm năng nhưng vẫn có khả năngxảy ra lạm phát và trên thực tế đã xảy ra ở nhiều nước Loại lạm phát nàyđược

gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm phát vừa suy giảm sản lượng, tăng thêmthất nghiệp Các cơn shock giá cả của thị trường đầu vào đặc biệt là vật tưthiết

bị cơ bản (xăng dầu, điện ) là nguyên nhân chủ yếu khiến cho đường AS dịchchuyển lên trên Tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả đã tăng và sản lượnglại

giảm xuống

- Lạm phát do cầu kéo:

Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sảnlượng đã đạt hoặc vượt quá mức tiềm năng Bản chất của lạm phát cầu kéo là

Trang 17

khi xảy ra lạm phát cầu kéo, thì lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tíndụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hoá.

- Lạm phát theo tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái liên quan chặt chẽ tới giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu

Tỷ giá giữa tiền nội địa và tiền nước ngoài càng lên (tiền trong nước mấtgiá) thì hàng hoá càng lên giá Và đến lượt mình, giá hàng hoá kéo tỷ giá lênnhanh hơn, gây ra tình trạng lạm phát Suy cho cùng, mối quan hệ giữa lạmphát và tỷ giá có thể quy về sự gia tăng của cung ứng tiền Tuy nhiên, cácnhà kinh tế đều thoả thuận với nhau rằng có yếu tố tâm lý trong khuynhhướng kéo hàng hoá lên theo tỷ giá trong khi lạm phát đã hình thành vàkhuynh hướng này rất phổ biến trong khu vực xuất nhập khẩu [30], [26]

Hậu quả của lạm phát:

- Lạm phát làm thay đổi lãi suất nhưng lãi suất là một chỉ số kinh tế vĩ

mô cơ bản tác động đến thu nhập, tiêu dùng và đầu tư Do vậy, thông qua lãisuất, lạm phát tác động đến nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế Chẳng hạnđối với ngành ngân hàng, để hoạt động vững vàng thì lãi suất thực tế phải ổnđịnh mà lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát Để lãi suất thực

tế không đổi, thì lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng tỷ lệ lạm phát Khi hệthống ngân hàng và tài chính tăng lãi suất danh nghĩa thì nền kinh tế sẽ gặpkhó khăn, thất nghiệp gia tăng, nhu cầu đầu tư giảm, tiềm năng sản xuất bịlãng phí

- Lạm phát làm giảm thu nhập thực tế

- Lạm phát làm cho giá trị của tiền tệ không còn ổn định và không giữđược chức năng thước đo giá trị Xã hội gặp khó khăn trong việc tính toántính hiệu quả, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình

- Lạm phát khiến cho việc phân phối thu nhập không bình đẳng Một sốngười nắm giữ các hàng hoá có giá cả tăng đột biến sẽ giàu lên, còn những

Trang 18

người có hàng hoá mà giá không tăng hoặc tăng ít hoặc những người giữ tiềnnghèo đi.

- Sản xuất phát triển không đều, vốn chảy vào những ngành có lợinhuận cao nếu như lạm phát xảy ra

- Chính phủ sẽ gặp khoản bội chi ngày càng tăng trong khi các khoảnthu về ngày càng giảm giá trị

- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạcgây

ra tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thường và lãng phí nguồn lực

Tóm lại, lạm phát cao có ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới nền kinh tế.Chính vì vậy, việc kiểm soát lạm phát trở thành mối quan tâm hàng đầu củacác

nhà chức trách nói chung và các nhà hoạch định chính sách nói riêng Muốnkiểm soát lạm phát cần phải áp dụng hàng loạt các biện pháp, chính sách khácnhau, tuy nhiên, ngày nay người ta cho rằng CSTT góp phần rất đáng kể vàoviệc kiểm soát

Để có thể đánh giá cụ thể hơn tác động của CSTT tới việc kiểm soátlạm phát như thế nào, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu ở phần tiếp theo

1.1.2 Kiểm soát lạm phát và điều kiện để kiểm soát lạm phát

Kiểm soát lạm phát là việc cơ quan quản lý sử dụng và điều hành cáccông cụ, chính sách tài chính- tiền tệ nhằm mục tiêu kìm chế sự gia tăng củalạm phát để đạt được theo đúng mục tiêu đã đặt ra

Về mặt dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ cho tiền tệ ổn định sẽ tạođiều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp Vì thế, duy trì sự ổnđịnh tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào, nhưng trong từngthời kỳ việc kiềm chế lạm phát cũng như liều lựợng tác động của nó phải phùhợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánhchiụ Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ ít gây

Trang 19

tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh.

Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phântích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát, bao gồm nguyên nhân sâu xa vànguyên nhân trực tiếp Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nàocũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm

do chi phí tăng lên Tuy nhiên nguồn gốc tạo ra các lý do làm dịch chuyểnđường tổng cầu và đường tổng cung lại rất khác nhau ở các cuộc lạm phátkhác nhau; có thể là do cơ chế quản lý kinh tế không phù hợp, nền kinh tếthiếu tính cạnh tranh và do đó không hiệu quả, cơ cấu kinh tế mất cân đối, cácnăng lực sản xuất không được khai thác, trình độ lao động và công nghệ lạchậu Để giải quyết nguyên nhân sâu xa này cần phải có thời gian và đi kèmvới các cuộc cải cách lớn Thông thường để tác động vào các nguyên nhântrực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, Chính phủcác nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sự gia tăng củatổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí như:

Tác động vào tổng cầu

Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng quá mức của tổng cầu.Trước hết là thực hiện một chính sách tiền tệ khan hiếm Nguyên nhân cơ bảncủa lạm phát cầu kéo là sự gia tăng của tiền cung ứng, sự hạn chế cung ứngtiền sẽ có hiệu quả ngay đến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toáncủa xã hội Một chính sách tiền tệ khan hiếm được bắt đầu bằng việc kiểmsoát và hạn chế cung ứng tiền trung ương, từ đó mà hạn chế khả năng mởrộng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Lãi suất ngân hàng và lãisuất thị trưòng tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng và đầu tư,giảm áp lực đối với hàng hoá và dịch vụ cung ứng Cùng với việc thực thichính sách tiền tệ thắt chặt là sự kiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cungứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng, đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh

Trang 20

cung ứng tiền cũng như chất lượng tiền tệ.

Kiểm soát chi tiêu của Ngân sách Nhà nước từ trung ương đến địaphương nhằm đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách; rà soátlại cơ cấu chi tiêu, cắt giảm các khoản đầu tư không có tính khả thi và cáckhoản chi phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế, cải tiến lại bộ máyquản lý Nhà nước vốn cồng kềnh, không hiệu quả gây lãng phí ngân sách.Khai thác các nguồn thu, đặc biệt là thu thuế nhằm giảm mức bội chi, cổ phầnhoá các doanh nghiệp Nhà nước Và cuối cùng là hạn chế phát hành tiền để

bù đắp thiếu hụt ngân sách

Thực hiện chính sách khuyến khích tiết kiệm giảm tiêu dùng Lãi suấtdanh nghĩa được đưa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát để hấp dẫn người gửi tiền.Biện pháp này thường đước sử dụng trong trường hợp lạm phát cao và có tácđộng tức thời Tuy nhiên trong thời gian áp dụng chính sách lãi suất cao, cần

có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với mức độ biến động của lạm phát vàhạn chế hậu quả tiềm năng cho các tổ chức nhận tiền gửi

Trong điều kiện nền kinh tế mở, sự can thiệp vào tỷ giá nhằm điềuchỉnh tỷ giá dần dần theo mức độ lạm phát cũng được sử dụng như một giảipháp nhằm giảm cầu do tác động vào nhu cầu xuất khẩu Mặt khác, sự điềuchỉnh tỷ giá từ từ cũng sẽ làm cho giá nội địa của hàng nhập trở nên rẻ hơn,giảm bớt áp lực tăng mặt bằng giá trong nước Đối với những nước phụ thuộcvào hàng nhập khẩu điều này đặc biệt có ý nghĩa Tuy nhiên hành động canthiệp này có thể làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế Chính vì thế việc sử dụnggiải pháp này cũng cần cân nhắc đến khả năng dự trữ ngoại hối cũng như khảnăng phục hồi nguồn dự trữ của quốc gia

Tác động vào tổng cung

Giải pháp quan trọng nhất là tác động vào mối quan hệ giữa mức tăngtiền lương và mức tăng của năng suất lao động xã hội Thực chất là thiết lập

Trang 21

một cơ chế để đảm bảo mức chi trả tiền lương phù hợp với hiệu quả kinhdoanh của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế Sự thành côngcủa cơ chế này sẽ hạn chế những đòi hỏi tăng tiền lương (chi phí chủ yếutrong giá thành sản phẩm) bất hợp lý dẫn đến vòng luẩn quẩn tăng lương -tiền - giá - tăng lương Việc thiết lập cơ chế tiền lương trong khuôn khổhiệu quả kinh doanh được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau; có thểNhà nước tham gia ấn định các mức thu nhập một cách đơn phương (Mỹ), cóthể trên cơ sở thoả thuận giữa Nhà nước, giới chủ và tổ chức công đoàn đểxây dựng một hệ thống các mức thu nhập (Thuỵ Điển, úc), hoặc thoả thuậntiền lương được thực hiện ngay tại cơ sở kinh doanh giữa giới chủ và đại diệncông đoàn Chính sách kiểm soát giá cả phải được tiến hàng đồng thời với cơchế tiền lương nhằm hạn chế sự biến động của tiền lương thực tế, tránh rơivào vòng xoáy lạm phát lương - giá - tiền.

Các giải pháp tác động vào chi phí ngoài lương nhằm tạo ra sự sử dụngcác nguồn lực một cách tiết kiệm và có hiệu quả Xây dựng định mức tiêu haonguyên liệu và kỷ luật lao động nhằm tôn trọng định mức đó Hợp lý hoánguồn khai thác, vận chuyển và sử dụng nguyên liệu, hạn chế tối đa c ác chiphí trung gian làm tăng giá nguyên liệu Trong trường hợp sử dụng nguyênliệu nhập ngoại, cần quan tâm đến những ảnh hưởng bên ngoài đến gía nhậpkhẩu và có xu hướng tìm nguyên liệu thay thế nếu giá tăng quá cao, sự giúpsức của chính sách tỷ giá cũng như thuế nhập khẩu đóng một vai trò quantrọng trong việc giảm giá nội địa nguyên liệu nhập Ngoài ra các chi phí quản

lý gián tiếp cũng như các chi phí liên quan đến việc bố trí dây chuyền côngnghệ bất hợp lý cũng phải được xem xét và giảm thiểu tối đa

Mở rộng khả năng cung ứng hàng hoá

Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhậpkhẩu hàng hoá, nhất là các hàng hoá đang khan hiếm góp phần làm giảm áp

Trang 22

lực đối với giá cả Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềmnăng: làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại vàđặc biệt, làm suy giảm sức sản xuất trong nước.

Tăng khả năng sản xuất hàng hoá trong nước được coi là giải phápchiến lược cơ bản nhất tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc Thự cchất đây là giải pháp nhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội Đây làchiến lược dài hạn, tập trung vào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của

xã hội, nâng cao trình độ của lực lượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đạihóa dây truyền sản xuất và quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả

1.2 ĐIỀU HÀNH CSTT TRONG MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 1.2.1 Tổng quan về CSTT

* Khái niệm chung về CSTT

Trong kinh tế học vĩ mô, CSTT được coi là một công cụ quản lý kinh tế

vĩ mô do NHTW thực hiện Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền(money supply) làm thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnhhưởng đến chi tiêu của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác độngquan trọng đến GDP thực, GDP tiềm năng và lạm phát Như vậy có thể kháiquát quá trình hoạt động của CSTT, như là một quá trình được khởi đầu từnhững hành động của NHTW làm thay đổi cung tiền của toàn bộ nền kinh tế(hành động này chứa đựng ý muốn chủ quan của con người), và kết quả cuốicùng của hành động đó là tác động đến GDP (thực và tiềm năng) và lạm phát.Thực tế cũng cho chúng ta thấy khi muốn tăng trưởng kinh tế chống suy thoái,NHTW có thể tăng cung tiền nhằm hạ lãi suất để thúc đẩy hoạt động kinh tế.Ngược lại, khi muốn hạn chế tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát NHTW đãtác động giảm cung tiền làm tăng lãi suất, giảm đầu tư Do vậy, CSTT phải làcách thức hay tổng thể các biện pháp, công cụ của NHTW nhằm góp phần đạt

Trang 23

được các mục tiêu của chính sách kinh tế, thông qua việc chi phối, điều tiếtquá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức là thông qua chi phối dòng chuchuyển tiền và khối lượng tiền.

Có thể nói CSTT là một trong những vấn đề hấp dẫn nhất, quan trọngnhất và gây nhiều tranh cãi nhất trong kinh tế học vĩ mô vì tính chất đa dạngcủa nó Tuy điều hành CSTT rất khác nhau giữa các thời kỳ, các giai đoạnphát triển kinh tế, khác nhau giữa các nước, song việc xây dựng và thực thiCSTT của NHTW đều tuân theo một qui trình của khuôn khổ nhất định-khuôn khổ CSTT Khuôn khổ này thường xuyên được xem xét, điều chỉnhcho phù hợp với sự biến động không ngừng của môi trường kinh tế, tài chính

Qui trình hoạt động của khuôn khổ CSTT có thể tóm tắt như sau:

Công cụ —► CSTT MT hoạt động —► MT trung gian —► MT cuốicùng

* Các mục tiêu của CSTT

Trong qui trình xây dựng và thực hiện CSTT, việc lựa chọn các mụctiêu CSTT được coi là vấn đề quan trọng nhất, khó khăn nhất, nó quyết địnhtính hiệu quả hay không hiệu quả của CSTT, bởi vì mục tiêu CSTT quyếtđịnh cả một khuôn khổ hay chiến lược CSTT

(i) Về mục tiêu cuối cùng:

Mục tiêu cuối cùng của CSTT phải là mục tiêu trung hạn, vì tính tácđộng trễ của tiền tệ đến sản lượng và lạm phát Mục tiêu này nói chung ítphải bàn cãi nhiều, vì CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, nênmục tiêu CSTT theo đuổi không ngoài mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trênthực tế NHTW các nước điều hành CSTT đều theo đuổi mục tiêu trên Tuynhiên, CSTT không ph ải là duy nhất để nền kinh tế đạt được sự ổn địnhkinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng bền vững, công ăn việc làm cao vàlạm phát thấp, mà để đạt được điều đó phải đồng thời thực hiện nhiềuchính sách khác trong s ự phối hợp đồng bộ với nhau, như chính sách tài

Trang 24

khoá, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại Do vậy, mục tiêu cuốicùng của CSTT được NHTW các nước đặt ra một cách cụ thể hơn, đôi khi

là gián tiếp để đạt được mục tiêu của kinh tế vĩ mô - có thể khái quát hoámục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗ trợ sự pháttriển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là kiểm soát được lạm phát ởmức mong muốn Hiện nay hầu hết NH TW các nước đều theo đuổi mụctiêu cuối cùng của CSTT là ổn định giá c ả ở mức hợp lý, b ởi vì suy chocùng sự ổn định giá cả s ẽ hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế

(ii) Về mục tiêu trung gian:

- Mục tiêu trung gian là những biến số tiền tệ có thể đo lường được,NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác dụng dự báo được mục tiêu cuốicùng Điều đó có nghĩa rằng biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêuhoạt động và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT

Qua đúc kết kinh nghiệm của các nước, IMF đã chia mục tiêu trunggian thành 3 loại:

+ Mục tiêu trung gian là tổng tiền (M1 hoặc M2, hoặc D-tín dụng nền

kinh tế): Phản ứng chính sách trong mục tiêu tổng tiền là khi mức tăng tiềnvượt mức mục tiêu phải tăng lãi suất, và khi mức tăng tiền dưới mức mục tiêuphải hạ lãi suất

+ Mục tiêu trung gian là tỷ giá: Là điều hành CSTT hướng về tỷ giá

mục tiêu Mục tiêu này thường được thực hiện trong điều kiện là nền kinh tế

mở và CSTT của nước chọn mục tiêu trung gian là tỷ giá phụ thuộc vào chínhsách tiền tệ của nước neo tỷ giá Phản ứng chính sách khi theo đuổi mục tiêunày là khi tỷ giá thấp hơn so với mục tiêu thì phải tăng lãi suất, và ngược lạikhi tỷ giá cao hơn mục tiêu thì phải hạ lãi suất

+ Mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường: Lựa chọn lãi suất là mục

tiêu trung gian đồng nghĩa với sự hạn chế tác động của sự biến động mức cầu

tiền đến tổng cầu của nền kinh tế Khi NHTW lựa chọn mục tiêu trung gian là

Trang 25

lãi suất thị trường thì không thể đồng thời chọn tổng tiền là mục tiêu trung gian, do vậy khi đó NHTW phải chấp nhận sự giao động tăng hoặc giảm tổng

tiền để duy trì mức lãi suất theo mục tiêu Và điều đó có thể dẫn đến nhữngtác động của CSTT đến mức lạm phát Sự lựa chọn lãi suất thị trường thườngđược đi liên với sự lựa chọn mục tiêu hoạt động là lãi suất, vì lãi suất với lãisuất thường được gắn kết với nhau, qua đó tính khó đo lường của lãi suấtphần nào được hạn chế

Nói tóm lại, mục tiêu trung gian là tổng tiền, hoặc tỷ giá hối đoái, hoặclãi suất thị trường đã được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó chothấy mỗi một mục tiêu được lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế

và của thị trường tài chính trong từng giai đoạn phát triển, gắn liền với mụctiêu, giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô Như vậy, để lựa chọn được mụctiêu trung gian thích hợp đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về các diễn biếnkinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõ địnhhướng phát triển kinh tế

(iii) Mục tiêu hoạt động:

- Mục tiêu hoạt động là những biến tiền tệ, nghĩa là NHTW có thể tácđộng hay kiểm soát một cách trực tiếp bằng các công cụ CSTT nhằm thay đổimục tiêu trung gian, qua đó tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT Theonhư Mishkin, tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu hoạt động, đó là những chỉ tiêutiền tệ có thể dự báo được mục tiêu trung gian và chịu tác động trực tiếp củacông cụ CSTT Mục tiêu hoạt động có vai trò quan trọng đối với việc điềuhành CSTT, đây là điểm khởi đầu trong cơ chế chuyển tải của CSTT, là biến

số chủ yếu để NHTW thực thi CSTT Ngoài ra mục tiêu hoạt động còn ảnhhưởng trực tiếp đến việc sử dụng công cụ CSTT và đến những thay đổi trênbảng cân đối tiền tệ của NHTW

Cũng như mục tiêu trung gian, mục tiêu hoạt động cũng được chia

Trang 26

thành hai loại mục tiêu:

+ Mục tiêu hoạt động là giá cả tiền tệ: Nghĩa là NHTW kiểm soát lãi

suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng NHTW thông qua các công cụCSTT có thể kiểm soát trực tiếp lãi suất này Việc qui định lãi suất trần và lãisuất sàn của NHTW trên thị trên thị trường liên ngân hàng nhằm tạo ra hànhlang giao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường theo mức mong muốn củaNHTW, thông qua sự tác động của công cụ CSTT, như nghiệp vụ thị trường

mở v.v Trong trường hợp việc chỉ đạo CSTT hầu hết thông qua sự can thiệpcủa NHTW trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnh lãi suất thì tỷ giáđược xem như là mục tiêu hoạt động

+ Mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ: Tức là kiểm soát tiền cơ

bản (MB), hoặc các cấu thành của nó, gồm Dự trữ quốc tế ròng, Dự trữ củacác NHTM, hoặc Net tài sản có trong nước trên bảng cân đối của NHTW.Thông qua các công cụ CSTT NHTW có thể kiểm soát trực tiếp tiền cơ bản,một hành động bơm tiền hoặc rút tiền của NHTW sẽ làm cho MB tăng hoặcgiảm Để kiểm soát khối lượng tiền tệ NHTW phải đặt mức tăng cụ thể của

MB trong một thời gian nhất định (ví dụ 2% hoặc 3%trong một quí hoặc mộtnăm)

* Mối quan hệ giữa các mục tiêu:

Về mặt dài hạn, đường cong Philip trở nên thẳng đứng, ngụ ý rằng sẽkhông có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của CSTT nếu xét về dài hạn Tuynhiên, hình dạng đường cong Philip ngắn hạn chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa giá cảtăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp

Thứ nhất., việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một

CSTT thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu

và do đó đến tổng cầu của nền kinh tế Thất nghiệp, vì thế có xu hướngtăng lên Mặt khác, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo

Trang 27

theo CSTT mở rộng và sự tăng giá.

Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá

cả còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú shock cungnhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên

Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều

chỉnh tỷ giá; Bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩucó

khả năng mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên củamức giá chung Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽlàm giảm tỷ lệ công ăn việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ gópphần

giảm tỷ lệ lạm phát

Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn và dàihạn Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại Tuynhiên

mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và ổn định giá cả lại tương đối phức tạp;chúng

mâu thuẫn nhau trong ngắn hạn nhưng lại bổ sung nhau trong dài hạn

Như vậy trong ngắn hạn, NHTW không thể đạt được tất cả các mụctiêu trên Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu

và dài hạn của CSTT, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏmục tiêu chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc cácảnh hưởng của các cú sốc cung đối với sản lượng NHTW được coi là cóquyền lực làm việc này vì nó nắm trong tay các công cụ điều chỉnh lượng tiềncung ứng Có thể nói NHTW theo đuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mụctiêu trong ngắn hạn

1.2.2 Điều hành CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát

Trang 28

dự trũ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vàoquy mô và tính chất hoạt động của NHTM.

- Cơ chế tác động của DTBB: Việc thay đổi tỷ lệ DTBB và do đó mứcDTBB ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng như sau: tỷ lệ DTBB tăng lên sẽlàm giảm khả năng cho vay của hệ thống NHTM, giảm hệ số tạo tiền và do đókhả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống NH, giảm mức cung vốn NHTW trênthị trường liên NH Quyết định giảm tỷ lệ DTBB sẽ gây nên những ảnh hưởngngược lại

Về nguyên tắc, dự trữ bắt buộc được tính như sau:

Mức dự trữ bắt buộc = Tỷ lệ dự trữ bắt buộc x Số dư bình quân tàikhoản thuộc đối tượng dự trữ bắt buộc kỳ xác định

Kỳ xác định là kỳ (hay số ngày) được sử dụng để tính số dư bình quâncủa các tài khoản phải tính dự trữ bắt buộc

Λ 1 1 λ 1 λ , ι λ Tổng số dư cuối ngày của các tài khoản phải

Số <ta ω∏h h quân Cta tài dự t⅛ bắt buộc

khoản phải tính dự trữ bắt =

— -: -buộc Số ngày của kỳ xác định

Mức dự trữ bắt buộc tính vào cuối kỳ xác định được dùng làm căn cứ

để xem xét việc chấp hành qui định về dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì

Kỳ duy trì dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian mà đối tượng thực hiện

dự trữ bắt buộc phải thực hiện theo mức đã được tính toán vào cuối kỳ xácđịnh Điều này nghĩa là trong suốt kỳ duy trì, dự trữ bình quân thực sự phảiluôn luôn lớn hơn hoặc tối thiểu phải bằng mức dự trữ bắt buộc đã tính toánvào cuối kỳ xác định

* Công cụ tái chiết khấu

Công cụ tái chiết khấu bao gồm các quy định và điều kiện cho vay củaNHTW đối với các NHTM NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấucác

chứng từ có giá ngắn hạn; chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu CácNHTM đi vay NHTW nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khả dụng và

Trang 29

hình thành nên bộ phận dự trữ đi vay nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán củanền

kinh tế, ngăn chặn nguy cơ mất khả năng thanh toán của các NH khi cần thiết.Điểm khác biệt chủ yếu giữa dự trữ đi vay và dự trữ khác là chúng phải đượctrả lại cho NHTW khi đến hạn

Cơ chế ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng: đối với công cụ nàyNHTW ấn định hạn mức TCK, lãi suất TCK và các điều kiện TCK Nhữngthay đổi này ảnh hưởng đến mục tiêu cuối cùng chỉ khi các NHTM có nhucầu vay NHTW và ảnh hưởng qua cả hai con đường: khối lượng (hạn mức) vàgiá (lãi suất TCK)

Công cụ này có khả năng điều tiết một cách linh hoạt các mục tiêutrung gian Tuy nhiên, mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này căn cứ vàomức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW Vì thế, nó là công cụ kémchủ động Để khắc phục nhược điểm này người ta thường sử dụng kết hợp vớicông cụ DTBB

* Công cụ hạn mức tín dụng

Hạn mức tín dụng là mức dự nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tíndụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Mức dư nợ được quyđịnh cho từng NH căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng NH (cơ cấukhách hàng, mức rủi ro), định hướng cơ cấu kinh tế tổng thể, nhu cầu tài trợcác đối tượng chính sách và nó phải nằm trong giới hạn của tổng dư nợ tíndụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằmkhống chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng Trong trườnghợp khi các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị truờng tiền tệchưa phát triển hoặc do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động lãisuất hay NHTW không có khả năng khống chế và kiểm soát được sự biếnđộng của lượng vốn khả dụng của hệ thống NHTM thì công cụ hạn mức tín

Trang 30

dụng là cứu cánh của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng Tuynhiên hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếu linh hoạt vàđôi khi đi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường tín dụng, do đó,đẩy lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các NHTM.

* Công cụ thị trường mở

NVTTM là các hoạt động của NHTW trên TTM thông qua việc muabán các chứng khoán Các hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ củacác NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất

Cơ chế tác động của NVTTM: (1) khi NHTW mua (bán) các chứngkhoán, nó sẽ làm giảm (tăng) ngay lập tức dự trữ của các NHTM dù ngườibán là NHTM hay khách hàng của nó Vì thế khả năng tạo tiền gửi thông quacung ứng tín dụng của hệ thống NH giảm xuống ảnh hưởng đến lượng tiềncung

ứng; (2) khi vốn khả dụng của từng NH, cá nhân giảm (tăng) do tác động củahoạt động thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên NH giảmxuống (tăng), trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, lãi suất thịtrường

liên NH tăng lên (giảm xuống) Thông qua các hoạt động kinh doanh chênhlệch

về lãi suất, ảnh hưởng này được truyền đến các mức lãi suất của các công cụthị

trường mở, và lãi suất thị trường trái phiếu Kết quả là chi phí cơ hội đối vớingười có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư đối với người thiếu hụt vốn tăng lên(giảm xuống), làm giảm nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã hội, và do

đó mà giảm sản lượng, giá cả và công ăn việc làm; (3) hoạt động TTM cònảnh

hưởng đến cung cầu và do đó giá các chứng khoán thuộc phạm vị can thiệp,chủ

Trang 31

tăng tương ứng.

Đây là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả nhất vì nórất linh hoạt và chủ động Hơn nữa sự tác động của NVTTM là lợi dụng cơchế của thị trưòng nên các đối tượng chịu sự tác động thường khó chống đỡhoặc đảo ngược chiều hướng điều chỉnh của NHTW Măc dù NVTTM đượcthực hiện theo nguyên tắc tự nguyện; những người kinh doanh chứng khoánkhộng bị bắt buộc mua hoặc bán theo một giá ấn định, nhưng NHTW có thểthực hiện được yêu cầu của mình bằng việc điều chỉnh giá sao cho nó trở nênhấp dẫn đối tác

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐIỀU HÀNH CSTT VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1.3.1 Nhân tố chủ quan

(i) Mức độ độc lập của NHTW

Tính độc lập ở đây không có nghĩa là độc lập hoàn toàn với Chínhphủ nhưng nó phải được tự do trong việc lựa chọn các công cụ để đạt đượcmục tiêu mà Chính phủ cho là hợp lý Để làm được điều này, cần phải có

sự cân bằng giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ Điều này cónghĩa là không được để chính sách tài chính1 có ưu thế hơn CSTT, tứcchính sách tài chính không được bức chế CSTT Tự do khỏi bó buộc củachính sách tài khoá hàm ý rằng việc vay mượn của Chính phủ từ NHTW làrất ít hoặc không có và thị trường tài chính nội địa đủ sâu để hấp thụ cáckhoản nợ công trái Chính phủ Nó cũng hàm ý rằng, Chính phủ cần có một

cơ sở thu nhập vững trãi và không cần dựa nhiều vào thu nhập có được từ

“thuế đúc tiền”

1Chính sách tài chính là hệ thống các quan điểm, chủ trương, biện pháp của Nhà nước trong việc động viên, phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và điều hành đồng bộ hoạt động của hệ thống tài chính hướng vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội đã định.

Trang 32

(ii) Cách thức lựa chọn mục tiêu và phương thức điều hành CSTT của NHTW

Về mặt lý thuyết, cũng như kinh nghiệm thực tiễn của các nước cũngcho thấy, chính sách tiền tệ chỉ đạt hiệu quả khi theo đuổi duy nhất mục tiêucuối cùng là ổn định giá cả Điều này xuất phát từ khả năng tác động củaCSTT đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế Hơn nữa các nhà nghiên cứu kinh

tế cho rằng, ổn định giá cả sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, mặc dùchỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất là ổn định giá cả, nhưng CSTT vẫn đápứng được mục tiêu của kinh tế vĩ mô

Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua CSTT của Việt Nam không phảitheo đuổi một mục tiêu duy nhất là ổn định giá cả mà thực hiện một CSTT đamục tiêu, vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định

hệ thống ngân hàng (vấn đề này sẽ được thể hiện rõ trong phần sau) Do vậy,

sự lựa chọn đa mục tiêu sẽ giảm đáng kể đến hiệu quả của CSTT trong việckiểm soát lạm phát, đôi khi trong thực tế việc điều hành CSTT chủ yếu nhằmmục tiêu tăng trưởng kinh tế

Ngoài ra, lựa chọn phương thức điều hành hợp lý, linh hoạt phù hợpvới điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia và tình hình thực tiễn cũng rất quantrọng và ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành CSTT Ngân hàng Trung ương cóthể chọn phương thức điều hành CSTT dựa vào lượng tiền cung ứng, hayCSTT dựa vào chế độ tỷ giá cố định và CSTT dựa vào mức GDP danh nghĩa.Trong những năm gần đây, một số NHTW các nước đã quyết định chuyểnhướng sang việc thiết lập CSTT với mục tiêu kiểm soát lạm phát

(iii) Hệ thống thống thông tin, thống kê tiền tệ và công tác dự báo lạm phát

Đây yếu tố rất quan trọng để cơ quan quản lý xác định mục tiêu vàphương thức điều hành CSTT có hiệu quả Đây là nền tảng cho việc xác định

cơ chế truyền tải và lựa chọn một khuân khổ CSTT, cũng như hỗ trợ tích cực

Trang 33

Ngoài ra, công tác dự báo, mô hình dự báo lạm phát hiện đại và phùhợp cũng góp phần quan trọng cho việc điều hành CSTT Hiện nay, NHTWcác nước thường sử dụng mô hình kinh tế lượng để dự báo chỉ tiêu lạm phát.Kinh tế lượng là vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải có một phần mềm dự báovới cơ sở dữ liệu của 10 năm qua; phải có cán bộ có kiến thức về kinh tế vĩ

mô, mô hình dự báo tiền tệ đòi hỏi phải phù hợp với tình hình thực tế, nên cần

có những cán bộ có kinh nghiệm phân tích các nhân tố tác động

1.3.2 Nguyên nhân khách quan

(i) Sự can thiệp của chính phủ trong các thị trường tài chính Sự can

thiệp của chính phủ có thể ảnh hưởng đến việc điều hành CSTT với mục tiêukiểm soát lạm phát theo ba cách:

- Áp đặt kiểm soát lãi suất hoặc những áp đặt giá cả của thị trường tàichính;

- Áp đặt những hạn chế trực tiếp về cho vay ngân hàng; hoặc

- Cung cấp khoản tín dụng được chính phủ tài trợ cho các khu vực đượclựa chọn Việc áp đặt lãi suất hoặc áp đặt giá của thị trường tài chính, sẽhướng sự tác động CSTT qua kênh tín dụng, bởi vì khi đó lãi suất hoặc giá cảcủa thị trường tài chính thay đổi không chịu tác động bởi các yếu tố cung cầutrên thị trường, nên tác động của CSTT qua kênh lãi suất hoặc giá tài sản sẽkém hiệu quả trong điều kiện như vậy Việc kiểm soát trực tiếp số lượng và

sự phân bổ tín dụng sẽ dẫn tới việc kiểm soát tiền tệ theo cơ chế trực tiếp (sửdụng các công cụ tiền tệ trực tiếp) hơn là kiểm soát tiền tệ gián tiếp, nhưthông qua nghiệp vụ thị trường mở

Trong trường hợp Chính phủ tài trợ đáng kể tín dụng cho các khu vựclựa chọn, thì việc truyền tải CSTT qua kênh tín dụng cũng bị hạn chế Khi đótín dụng được tài trợ cho các doanh nghiệp không chỉ từ nguồn vốn ngânhàng, mà cả từ các nguồn của Chính phủ, qua đó những thay đổi hạn chế

Trang 34

(hoặc tăng) cung tiền tác động đến thay đổi nguồn vốn của doanh nghiệp,hoặc những thay đổi lãi suất trên thị trường cũng hạn chế hơn.

Nói cách khác là vai trò điều tiết cung cầu vốn trên thị trường củaNHTW bị hạn chế nhiều khi thị trường có sự can thiệp của Chính phủ về sốlượng cũng như giá cả tín dụng trên thị trường Đồng thời sự phản ứng củacác định chế tài chính kém nhạy cảm đối với sự điều chỉnh lãi suất hoặc đốivới những tín hiệu chính sách của NHTW

(ii) Tính cạnh tranh, độ sâu và sự đa dạng của thị trường tài chính

Trong một môi trường tài chính mở rộng tự do, một đặc điểm quantrọng của tác động CSTT là sự phản hồi nhanh của các mức lãi suất mà nhữngngười vay và người gửi tiền tiết kiệm chấp nhận đối với lãi suất thị trườngtiền tệ ngắn hạn, mà mức lãi suất này chịu ảnh hưởng trực tiếp của NHTW.Nhiều yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến khía cạnh truyền tải này, cụ thể là:

- Mức độ cạnh tranh của khu vực ngân hàng;

- Sự tiếp cận các nguồn huy động vốn khác; (iii) và độ sâu của thịtrường tài chính

- Phản ứng của lãi suất tiền gửi và cho vay đối với những thay đổi củalãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ càng nhanh và càng lớn thì cơ chếtruyền tải của các biện pháp chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế cũng nhanhhơn, có ảnh hưởng nhiều hơn Sự phản ứng này, ngoài việc tuỳ thuộc vào sựkiểm soát hay can thiệp của NHTW đối với lãi suất ngắn hạn trên thị trườngtiền tệ, mà còn chịu ảnh hưởng lớn ở mức độ cạnh tranh trong khu vực ngânhàng Khi hệ thống ngân hàng phát triển không tạo ra những rào cản vớinhững người tham gia, đặc biệt là rào cản với các ngân hàng nước ngoài vàcác thị trường có tính cạnh tranh, thì sự thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ

có thể ảnh hưởng nhanh tới lãi suất tiền gửi và cho vay Ngược lại, trong mộtkhu vực ngân hàng có việc tập trung cao độ vào một số ít các ngân hàng trong

Trang 35

việc quyết định giá vốn, thì sẽ tạo ra sự phản ứng chậm chạm trong lãi suấttiền gửi và cho vay đối với sự thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ Hơnnữa, trong hệ thống ngân hàng xuất hiện các ngân hàng thương mại quốcdoanh thì sự phản ứng này còn chậm chạp hơn.

- Lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng trong nước còn phụ thuộcvào khả năng tiếp cận của các hộ gia đình và công ty tới các nguồn vốn kháctrong nước (bao gồm cả thị trường chứng khoán và các thị trường khôngchính thức khác) Sự ảnh hưởng của các nguồn vốn khác đến hiệu quả củaCSTT là mức độ gắn kết của các nguồn vốn khác với thị trường tiền tệ vàmức độ phát triển của các nguồn vốn này

- Sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán: Sự hiện diện củathị trường chứng khoán trong nước sẽ đẩy nhanh quá trình tác động củaCSTT Các thị trường vốn cạnh tranh và phát triển cao thường có xu hướngphản ứng linh hoạt trước những thay đổi của lãi suất chính sách hơn là với

sự thay đổi của lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng Vì các nhà đầu

tư, nhất là các nhà đầu tư có tổ chức, trong danh mục đầu tư có nhiều tráiphiếu chính phủ với những kỳ hạn khác nhau, kể cả loại ngắn hạn (là cáccông cụ của CSTT), nên một sự thay đổi lãi suất của NHTW có thể tácđộng nhanh đến toàn bộ thị trường chứng khoán Hơn nữa, nếu hệ thốngngân hàng và thị trường chứng khoán phát triển đồng bộ, các NH có thể sẽphải phản ứng nhanh hơn về những lãi suất trong tầm kiểm soát của mình

Vì các nhà đầu tư có tổ chức cũng gửi tiền tại ngân hàng, nên họ sẽ là nhân

tố quan trọng kết nối các bộ phận riêng lẻ của thị trường tài chính, đảm bảomỗi sự thay đổi lãi suất chính sách sẽ dẫn đến những thay đổi của mộtchuỗi các lãi suất khác

- Sự xuất hiện của các thị trường tín dụng phi chính thức, cũng cónhững ảnh hưởng nhất định đến CSTT Mức độ ảnh hưởng này phụ thuộc vào

Trang 36

mức độ phát triển của thị trường phi chính thức và mức độ gắn kết giữa thịtrường chính thức với thị thường phi chính thức Trong trường hợp hai thịtrường này tách rời nhau (có nhóm khách hàng cho vay và tiền gửi riêng), thìtác động của CSTT sẽ giảm Chẳng hạn CSTT thắt chặt sẽ tăng lãi suất vàgiảm nguồn vốn trên thị trường chính thức, nhưng có thể sẽ ít ảnh hưởng đếnthị trường phi chính thức Tuy nhiên, khi hai thị trường này có sự gắn kết nhấtđịnh, thì cơ chế truyền tải CSTT sẽ phức tạp hơn CSTT thắt chặt hơn sẽ đẩylãi suất tiền gửi ngân hàng tăng, qua đó có thể tạo nên sự chuyển dịch cáckhoản tiết kiệm từ thị trường phi chính thức sang thị trường chính thức Trongkhi những người vay ở thị trường phi chính thức khó có khả năng tiếp cận cácnguồn vốn ở thị trường chính thức Điều đó, làm giảm mạnh chi tiêu và tíndụng của khu vực đang vay ở thị trường phi chính thức Từ đó có thể thấy, sựtác động của CSTT trên thị trường có sự phân chia khó dự đoán hơn so với thịtrường hợp nhất.

Việc vay vốn nước ngoài làm giảm đáng kể rủi ro của các doanh nghiệpnày đối với các điều kiện thị trường tín dụng trong nước, và đóng vai trò hạnchế tác động của CSTT đối với tổng cầu Một CSTT thắt chặt làm tăng lãi suấtkhoản vay trong nước sẽ dẫn tới việc các công ty chuyển sang vay vốn nướcngoài, do đó hạn chế tác động thắt chặt CSTT và hạn chế khả năng NH trongnước tăng lãi suất cho vay

- Bề dày phát triển của thị trường vốn và thị trường tiền tệ có vai tròquan trọng trong việc tác động của lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường,qua đó tác động đến hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình ở mức độ nào đó Một thị trường vốn thiếu tính cạnh tranh và non trẻ có thể gây ra những biếnđộng lớn đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ Trong trường hợp lãi suất thịtrường tiền tệ biến động lớn và nhanh chóng bị đổi chiều, cùng với việc cáclãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay bị điều chỉnh phải chịu cả những chi phí

Trang 37

quản lý hành chính và lý do quan hệ khách hàng, khi đó các ngân hàng sẽkhông điều chỉnh lãi suất trước những thay đổi của lãi suất thị trường tiền tệ.

Tương tự như vậy, phản ứng đối với lãi suất trên thị trường vốn non trẻtrước những thay đổi lãi suất chính sách có thể khó dự đoán hơn ở giai đoạnđầu phát triển của thị trường vốn, việc truyền tải các giải pháp của CSTT cóthể sẽ không rõ ràng Một số bằng chứng có tính thống kê chỉ ra rằng, cácđiều chỉnh lãi suất ngân hàng trước những giải pháp điều hành CSTT ở cácnền kinh tế mới nổi diễn ra chậm chạp hơn nhiều so với các nước công nghiệpphát triển, có lẽ điều này phản ánh tính cạnh tranh và độ sâu hạn chế, sự kémlinh hoạt của thị trường tài chính ở các nước mới nổi Sự khác biệt này, ít nhất

có thể thấy rõ qua phản ứng thay đổi của lãi suất 3 tháng trên thị trường tiền tệtrước những thay đổi lãi suất qua đêm Mặt khác, phản ứng thay đổi các mứclãi suất và cho vay của ngân hàng trước những thay đổi trong cùng tháng củalãi suất trên thị trường tiền tệ kỳ hạn 3 tháng của các nước thị trường mới nổicũng diễn ra chậm chạp hơn các nước công nghiệp

Có thể thấy, nhiều yếu tố khác nhau, gồm mức độ cạnh tranh trongkhu vực ngân hàng, sự sẵn có của các nguồn tài trợ thay thế, độ sâu và sựbiến động của thị trường tài chính trong nước quyết định phạm vi ảnhhưởng, tính nhanh nhạy của những điều chỉnh về lãi suất tiền gửi và lãi

suất cho vay trước những thay đổi của CSTT.

(iii) Ảnh hưởng của các điều kiện tài chính ban đầu.

Vị thế tài chính ban đầu của các hộ gia đình, doanh nghiệp và ngânhàng dường như tương tác với CSTT theo 3 cách quan trọng:

- Tác động của CSTT đối với tiêu dùng và đầu tư sẽ phụ thuộc vàophạm vi các chi tiêu này được tài trợ thông qua hệ thống tài chính:

Trong một nền kinh tế mà trung gian tài chính kém phát triển, việc đầu

tư của các công ty và hộ gia đình chủ yếu là sử dụng nguồn vốn nội bộ (sẵn có

Trang 38

của bản thân ), khi đó tác động của CSTT đối với tổng cầu có thể là tương đốikhiêm tốn Việc hạn chế dựa vào các nguồn vốn vay, mượn bên ngoài cho đầu

tư của các doanh nghiệp và hộ gia đình, dẫn đến việc kém nhạy cảm của thayđổi lãi suất đến đầu tư Khi kinh tế phát triển, các trung gian tài chính huyđộng các nguồn vốn nhàn rỗi có xu hướng tăng, các chi tiêu dùng và đầu tưđược tài trợ bằng vay ngân hàng Đồng thời, với xu hướng tự do hoá tài chính

đã cải thiện tính hiệu quả của khu vực tài chính và khả năng phân bổ tiết kiệm(cả trong nước và ngoài nước) cho người đi vay Những sự phát triển nay đãlàm tăng độ nhạy cảm của tổng cầu với CSTT

Cách tài trợ chi tiêu của các hộ gia đình và doanh nghiệp cũng đóng vaitrò quan trọng trong các tác động mang tính khu vực của CSTT Trong cácnước công nghiệp, khu vực xây dựng đặc biệt nhạy cảm với lãi suất, do cáctoà nhà và bất động sản cần vốn quá lớn và việc tài trợ vốn từ nhiều nguồnkhác nhau không chỉ vay từ ngân hàng.Tương tự, đối với việc chi tiêu tài sảnlâu bền cũng nhạy cảm đối với những thay đổi của lãi suất Đối với các nướcđang phát triển, chưa có những nghiên cứu đầy đủ về tác động của CSTT đốivới khu vực này Tuy nhiên một số những nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, đốivới các nước đang phát triển khu vực xây dựng và mua sắm tài sản lâu bềncũng có độ nhạy cảm đặc biệt đối với lãi suất Điều này, cũng được minhchứng qua tăng trưởng tín dụng tiêu dùng ở các nước đang phát triển tăngnhanh đáng kể Ngoài ra, ở một số nước đang phát triển, như Colombia khuvực công nghiệp chế biến và khu vực nông nghiệp có độ nhạy cảm cao với lãisuất

+ Các thay đổi về giá tài sản do CSTT tác động sẽ có các tác động khácnhau đối với giá trị tài sản có ròng, điều này phụ thuộc vào cơ cấu của cácdanh mục đầu tư tài chính;

+ Điểm mạnh, điểm yếu ban đầu của các vị thế bảng tổng kết tài sản sẽ

Trang 39

ảnh hưởng đến việc hành động CSTT nên như thế nào để gây ra các thay đổi

và chi tiêu nhằm đạt được vị thế bảng tổng kết tài sản bền vững hoặc chấpnhận được

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chính sách tiền tệ của NHNN có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với việc kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tạo độnglực tăng trưởng cho nền kinh tế Chương 1 của Luận văn đã nêu khái quát vềlạm phát và kiểm soát lạm phát của NHNN, qua đó cho thấy các công cụ điềuhành CSTT của NHNN trong mục tiêu kiểm soát lạm phát Đồng thời trongchương này, tác giả cũng đánh giá các nguyên nhân củ quan và khách quantrong thực tiễn điều hành CSTT của NHNN trong mục tiêu kiểm soát lạmphát Từ đó mà Luận văn chỉ ra nhưng hạn chế mà mỗi công cụ của CSTT cóthể gặp phải

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

TRONG MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 2.1 TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam trước tác động của khủng hoảng kinh

Năm 2007 được coi là năm mà nền kinh tế Việt Nam đạt những thànhtựu khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng GPD đạt xấp xỉ 8,5% đứng thư 3 Châu

Á ( sau Ân Độ và Trung Quốc ) và cũng là năm có tốc độ tăng trưởng caonhất so với 10 năm trước đó

Cùng với những yếu tố nội lực, không thể không nhắc đến một yếu tốquan trọng là không gian kinh tế, không gian chính trị của khu vực và toàncầu khá thuận lợi cho Việt Nam

Việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO vào năm 2007

và thực hiện cam kết Quy chế bình thường (PNTR) với Hoa Kỳ đã giúp ViệtNam mở rộng thị trường xuất khẩu, các rào cản thương mại của Việt Nam vớicác thành viên WTO được rỡ bỏ hoặc hạn chế hơn trước

Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế, đầu tư và xuất khẩuđược mở rộng thông qua các cuộc viếng thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng vàNhà nước cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp và doanh nhân đến cácquốc gia khác Người Việt Nam đẩy mạnh hoạt động ra nước ngoài tìm kiếm

Ngày đăng: 31/03/2022, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003), “Đề án phát triển thị trường tài chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề án phát triển thị trường tài chính
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2003
2. David cox (1997), “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại”
Tác giả: David cox
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia
Năm: 1997
3. Lê Vinh Danh (1996), “Tiền và hoạt động ngân hàng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiền và hoạt động ngân hàng”
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị quốc gia
Năm: 1996
4. Nguyễn Đăng Dờn (2000), “Vài ý kiến về lãi suất, lãi suất cơ bản và xu hướng tự do hóa lãi suất ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Ngân hàng (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về lãi suất, lãi suất cơ bản và xuhướng tự do hóa lãi suất ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Đăng Dờn
Năm: 2000
5. Andreas Hauskrecht (2000), “Quá trình đô la hóa ngày càng tăng:Phân tích tình hình tiền tệ tại Việt Nam vào thời điểm đến tháng 8/2000” (bản dịch tiếng Việt), 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình đô la hóa ngày càng tăng:"Phân tích tình hình tiền tệ tại Việt Nam vào thời điểm đến tháng8/2000”
Tác giả: Andreas Hauskrecht
Năm: 2000
6. Jonh Maney Keynes (1994), “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất tiền tệ trong nền kinh tế thị trường”, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suấttiền tệ trong nền kinh tế thị trường”
Tác giả: Jonh Maney Keynes
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1994
7. N. Gregory Man Kiw (1997), “ Kinh tế vĩ mô”, Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô”
Tác giả: N. Gregory Man Kiw
Nhà XB: Nhà xuất bản ThốngKê
Năm: 1997
8. “Luật Các tổ chức tín dụng” (1998), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật Các tổ chức tín dụng”
Tác giả: “Luật Các tổ chức tín dụng”
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998
9. “Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng
10. Frederic S. Mishkin (1999), “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tàichính”
Tác giả: Frederic S. Mishkin
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1999
14. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 - 2012), “Báo cáo thường niên"”,,2010 - 2011 - 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thườngniên
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1999), “Hội thảo định hướng điều hành lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam’” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội thảo định hướng điềuhành lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam’
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 1999
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2002), “Hội thảo kinh tế thị trường, Ngân hàng trung ương và Chính phủ - Ngân hàng thương mại và doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội thảo kinh tế thị trường,Ngân hàng trung ương và Chính phủ - Ngân hàng thương mại vàdoanh nghiệp
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2002
19. Nguyễn Đồng Tiến (2002), “Giải pháp thực hiện có hiệu quả cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận bằng VNĐ”, Tạp chí Ngân hàng (8).Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thực hiện có hiệu quả cơ chế lãisuất cho vay thỏa thuận bằng VNĐ”, "Tạp chí Ngân hàng (8)
Tác giả: Nguyễn Đồng Tiến
Năm: 2002
20. Alain Ize and Eduardo Levey-Yeyati (1998), “Dollarization of financial Intermedia causes and policy implications”, IMF Working paper, No.WP/98/28, IMF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dollarization of financialIntermedia causes and policy implications
Tác giả: Alain Ize and Eduardo Levey-Yeyati
Năm: 1998
21. David S.Kidwell (1997), “ Financial Institutions, Markets and money”, The Dryden Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Institutions, Markets and money
Tác giả: David S.Kidwell
Năm: 1997
23. Jonh R.Dodsworth, et. al. (1995), “Vietnam transition to a market economic”, Occasional paper 135, IMF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam transition to a marketeconomic
Tác giả: Jonh R.Dodsworth, et. al
Năm: 1995
25. N. Gregory Man Kiw (1994), “Macroeconomics, 2 nd ed.”, Worth Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macroeconomics, 2nd ed
Tác giả: N. Gregory Man Kiw
Năm: 1994
26. ‘ ‘Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng” của Việt Hà (2006) 27. Báo cáo “Kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững”của TS. Nguyễn Thị Kim Thanh (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững
28. "Chính sách mục tiêu lạm phát - kinh nghiệm của một số nước châu Á và bài học cho Việt Nam”. CủaPGS.,TS. Tô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy. (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách mục tiêu lạm phát - kinh nghiệm của một số nước châu Ávà bài học cho Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Câu 8. Cho hàm số y ax 4 bx2 c ( a, b, c  ) có đồ thị như hình vẽ bên. - 1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát   thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế
u 8. Cho hàm số y ax 4 bx2 c ( a, b, c  ) có đồ thị như hình vẽ bên (Trang 2)
Chúng ta có thể sử dụng mô hình AD-AS để giải thích cho quan điểm của trường phái tiền tệ. - 1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát   thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế
h úng ta có thể sử dụng mô hình AD-AS để giải thích cho quan điểm của trường phái tiền tệ (Trang 17)
Bảng 2.1: Tổng hợp các lần tăng, giảm giá xăng 8 tháng năm 2012 - 1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát   thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.1 Tổng hợp các lần tăng, giảm giá xăng 8 tháng năm 2012 (Trang 61)
Bảng 2.4: Tỷ lệ dự. trữ bắt buộc đối với VND và USD - 1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát   thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế
Bảng 2.4 Tỷ lệ dự. trữ bắt buộc đối với VND và USD (Trang 74)
Đồ thị 3.1: Mô hình xác định lãi suất đặt thầu nghiệp vụ thị trường mở - 1441 điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam trong mục tiêu kiểm soát lạm phát   thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ kinh tế
th ị 3.1: Mô hình xác định lãi suất đặt thầu nghiệp vụ thị trường mở (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w