Đặ t v ấn đề
Dưới bối cảnh dân số thế giới gia tăng, lãng phí thực phẩm và an ninh lương thực, dinh dưỡng ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và chính sách ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Thất thoát thực phẩm có thể xảy ra ở mọi giai đoạn của chuỗi cung ứng, trong đó hơn 35% diễn ra tại khu vực bán lẻ và tiêu dùng (Lipinski và cộng sự, 2013) Hiện nay, người tiêu dùng thường mua quá nhiều thực phẩm dự định sử dụng vào ngày hôm sau nhưng cuối cùng lại bỏ đi do quá hạn sử dụng hoặc thực phẩm hỏng lâu ngày, góp phần làm tăng lượng chất thải thực phẩm (Lipinski và cộng sự, 2013) Đặc biệt, tại các vùng thiếu dinh dưỡng như Châu Phi và Nam Á, lượng thực phẩm bị lãng phí có thể chuyển thành 400-500 calo mỗi người mỗi ngày, trong khi ở các quốc gia phát triển con số này lên tới 1520 calo, gây lãng phí nguồn dinh dưỡng quý giá (Maureen Shields, 2014).
Theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), một phần ba lượng thực phẩm sản xuất cho con người bị thất thoát hoặc lãng phí trên toàn cầu, trong đó phần lớn biến thành chất thải, trong khi khoảng 830 triệu người vẫn đang đói nghèo Nguyên nhân chính của tình trạng lãng phí thực phẩm xuất phát từ hành vi không hợp lý của người tiêu dùng trong việc lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm, dẫn đến việc lãng phí đáng tiếc Thực phẩm bị lãng phí không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và các vấn đề xã hội.
Thuận Thành, huyện đồng bằng nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh, có diện tích đất tự nhiên 117,83 km², đang chứng kiến sự phát triển kinh tế tích cực trong những năm gần đây, nâng cao thu nhập và nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của người dân Tuy nhiên, sự phát triển này kéo theo lượng rác thải sinh ra tăng, trong đó chất thải thực phẩm chiếm tỷ lệ đáng kể và ngày càng gia tăng Theo đề án Tổng thể Bảo vệ môi trường tỉnh Bắc Ninh năm 2019, lượng chất thải rắn sinh hoạt của huyện là 100 tấn/ngày đêm, đứng thứ 3 toàn tỉnh sau thành phố Bắc Ninh và Từ Sơn.
Để giảm thiểu và quản lý hiệu quả chất thải thực phẩm, cần nghiên cứu sâu về tình hình phát sinh chất thải cũng như các biện pháp quản lý và giảm thiểu lượng chất thải này Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá thực trạng phát sinh và hoạt động quản lý chất thải thực phẩm từ hộ gia đình tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” đã được thực hiện nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải thực phẩm.
TỔ NG QUAN NGHIÊN C Ứ U
Các khái ni ệm liên quan đế n qu ả n lý ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
Theo nghiên cứu UNEP (2021) thì các khái niệm chất thải thực phẩm được định nghĩa như sau:
Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thực phẩm và bộ phận liên quan không thể ăn được, được loại bỏ khỏi chuỗi cung ứng thực phẩm của con người Những nguồn phát sinh chất thải thực phẩm chủ yếu bao gồm bán lẻ, dịch vụ thực phẩm, siêu thị và các hộ gia đình Việc giảm thiểu chất thải thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên Chính sách kiểm soát và quản lý chất thải thực phẩm ngày càng được chú trọng để hạn chế lãng phí và hỗ trợ phát triển bền vững.
Thực phẩm được định nghĩa là tất cả các loại chất, dù đã qua chế biến hay chưa, với mục đích phục vụ cho tiêu dùng của con người Việc phân biệt giữa thực phẩm đã qua chế biến và chưa qua chế biến giúp người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm phù hợp và an toàn Chọn lựa thực phẩm tự nhiên, chưa qua chế biến thường mang lại lợi ích sức khỏe cao hơn và đảm bảo an toàn thực phẩm Thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cần thiết để duy trì sức khỏe hàng ngày Do đó, hiểu rõ về định nghĩa và đặc điểm của thực phẩm giúp nâng cao ý thức tiêu dùng và duy trì lối sống lành mạnh.
Những thực phẩm bao gồm cả đồ uống hoặc bất kỳ chất nào dùng trong sản xuất
Chất thải thực phẩm gồm cả các bộ phận ăn được—là những phần của thực phẩm dự định tiêu dùng của con người—và các bộ phận không ăn được như xương, vỏ, hoặc các thành phần liên quan đến thực phẩm nhưng không có ý định ăn Hiểu rõ sự khác biệt này giúp quản lý chất thải thực phẩm hiệu quả hơn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Việc phân loại đúng các bộ phận thực phẩm sẽ hỗ trợ trong quá trình xử lý và tái chế chất thải, góp phần bảo vệ môi trường bền vững.
Thức ăn thừa là phần thức ăn còn lại sau bữa ăn, có thể đã qua chế biến hoặc chưa qua chế biến, và được tận dụng cho các mục đích khác nhau như sử dụng trong các bữa ăn tiếp theo, làm thức ăn cho vật nuôi, ủ phân hoặc bỏ vào thùng rác Ví dụ về thức ăn thừa gồm có cơm, thịt, canh, rau bị bỏ đi tại gia đình Việc xử lý thức ăn thừa đúng cách giúp giảm rác thải và bảo vệ môi trường.
Theo FAO (2011) các khái niệm về mất mát thực phẩm, chất thải thực phẩm và lãng phí thực phẩm được đinh nghĩa như sau:
Mất mát thực phẩm (Food loss) đề cập đến việc giảm khối lượng hoặc giá trị dinh dưỡng của thực phẩm ăn được trong các giai đoạn từ sản xuất, hậu thuẫn, chế biến đến phân phối trong chuỗi cung ứng thực phẩm Nguyên nhân chính của mất mát thực phẩm bao gồm sự thiếu hiệu quả trong chuỗi cung ứng như hậu cần kém, thiếu công nghệ, kỹ năng và kiến thức quản lý Ngoài ra, các thảm họa tự nhiên cũng góp phần gây ra mất mát thực phẩm đáng kể.
“Chất thải thực phẩm (Food waste) là những thực phẩm mà không phù hợp cho sử dụng nữa và sẽ được loại bỏ ra ngoài môi trường
“Tổn thất thức ăn (Food wastage) là thức ăn bị mất do sự mất mát thực phẩm và tạo thành chất thải từ những thực phẩm đó”
Chất thải thực phẩm phát sinh từ hộ gia đình trong nghiên cứu này được phân loại thành 3 nhóm như sau:
Chất thải thực phẩm bao gồm các loại sơ chế như xương, da, lông, cuống rau củ và vỏ hoa quả, là những phần không còn sử dụng sau công đoạn chế biến Ngoài ra, thức ăn thừa từ các bữa ăn hàng ngày, gồm những thực phẩm mua về nhưng không ăn hết hoặc bị bỏ đi, cũng góp phần tạo ra lượng lớn chất thải thực phẩm Quản lý hợp lý chất thải thực phẩm giúp giảm lãng phí và bảo vệ môi trường.
+ Loại khác là vỏ trứng, các bã chè, bã cà phê…
Th ự c tr ạ ng phát sinh ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
Theo báo cáo của Tổ chức Nông-Lương Liên Hợp Quốc (FAO) năm 2012, mỗi năm thế giới sản xuất khoảng 4 tỷ tấn thực phẩm nhưng lại thất thoát và lãng phí đến 1,3 tỷ tấn (khoảng 30-40%), trị giá khoảng 1 nghìn tỷ USD Chất thải thực phẩm chủ yếu phát sinh ở giai đoạn tiêu thụ, chiếm khoảng 35%, gấp gần ba lần so với giai đoạn bán lẻ (12%) Trong đó, tại các nước phát triển, chất thải thực phẩm từ giai đoạn tiêu thụ chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 33%), gấp đôi so với các nước đang phát triển (14%), cho thấy sự khác biệt rõ ràng về cách tiêu thụ và quản lý thực phẩm.
Lãng phí thực phẩm trong giai đoạn thu hoạch ngày càng gia tăng, xuất phát chủ yếu từ các nước đang phát triển như Nam Á, Đông Nam Á, Châu Phi và Sahara do hạn chế về tài chính, quản lý, kỹ thuật, cùng với điều kiện khí hậu, cơ sở hạ tầng, đóng gói và tiếp thị còn nhiều khó khăn Trong khi đó, các quốc gia phát triển ở Bắc Mỹ, Châu Âu và các nước công nghiệp châu Á lại đối mặt với tình trạng lãng phí do tiêu dùng quá mức, năng lực quản lý kém của nhà bán lẻ, người tiêu dùng chú trọng hình thức hơn chất lượng, mua sắm quá nhiều và lưu trữ không hiệu quả Theo Chương trình “Hành động vì rác thải và nguồn tài nguyên” (WRAP) của Anh, thiếu các biện pháp phòng ngừa toàn cầu đã khiến lượng thực phẩm bị mất mát hoặc thải bỏ tăng 40% vào năm 2020, gây ra hậu quả lớn về môi trường và tài nguyên.
Chất thải thực phẩm gây ảnh hưởng lớn về kinh tế và môi trường toàn cầu, với chi phí xã hội lên tới khoảng 2,6 nghìn tỷ USD, trong đó 1 nghìn tỷ USD thiệt hại về kinh tế chuỗi cung ứng nông sản, 900 tỷ USD về phúc lợi con người, và 700 tỷ USD do tác động môi trường (FAO, 2014a) Giai đoạn 2014–2016, khoảng 795 triệu người, gần một phần chín dân số thế giới, đang bị suy dinh dưỡng, trong khi giảm thiểu hoặc loại bỏ lãng phí thực phẩm có thể giúp giải quyết nhu cầu ăn uống cho một phần tám dân số thiếu dinh dưỡng toàn cầu (FAO, 2015; FAO, 2014b) Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp nhằm ngăn chặn lãng phí thực phẩm vừa góp phần giảm đói nghèo vừa bảo vệ môi trường là cấp thiết Gần đây, nhiều sáng kiến như công ty khởi nghiệp Copia tại Mỹ đã thu gom chất thải thực phẩm để tái sử dụng, mở ra những hướng đi mới trong công cuộc giảm thiểu lãng phí thực phẩm.
Hầu hết các nghiên cứu về chất thải thực phẩm tập trung vào bối cảnh các nền kinh tế phát triển, nơi lượng chất thải thực phẩm bình quân đầu người cao hơn so với các khu vực khác Theo các nghiên cứu, người tiêu dùng ở các nền kinh tế phát triển như Châu Âu và Bắc Mỹ tạo ra trung bình 107 kg chất thải thực phẩm mỗi người mỗi năm, trong khi ở các nước đang phát triển là khoảng 56 kg/người/năm Ngoài ra, Dung và cộng sự (2015) chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa mức thu nhập và lượng chất thải thực phẩm phát sinh trung bình mỗi người.
Ví dụ, lượng thực phẩm lãng phí bình quân đầu người (kg/người/ngày) ở các nước phát triển được thể hiện trong Hình 1
Hình 1 Hệ số phát sinh chất thải thực phẩm ởcác nước phát triển
Theo Dung và cộng sự (2015), lãng phí thực phẩm bình quân đầu người ở các nước như Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam thấp hơn so với các nước phát triển, như thể hiện qua số liệu trong Hình 2, cho thấy mức độ tiêu thụ và quản lý thực phẩm tại các nước đang phát triển còn hạn chế hơn so với các quốc gia phát triển.
Hình 2 Hệ số phát sinh chất thải thực phẩm ởcác nước đang phát triển
Trong các thành phố đô thị hóa của các nước đang phát triển, lượng chất thải thực phẩm tại khâu tiêu dùng thường cao hơn so với các quốc gia phát triển, như đã chỉ ra bởi Liu & cs (2016) Điều này cho thấy rằng lãng phí thực phẩm ở các thành phố, đặc biệt ở châu Á, là một vấn đề cấp bách cần được quan tâm và giải quyết kịp thời để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và phát triển bền vững.
Papargyropoulou et al (2014) nhấn mạnh rằng ngăn chặn phát sinh chất thải thực phẩm là giải pháp hiệu quả nhất, bởi hầu hết chất thải có thể được giảm thiểu bằng các biện pháp thích hợp Các hộ gia đình ở Vương quốc Anh bỏ đi khoảng một phần ba lượng thực phẩm mua, trong đó 61% có thể đã được tiêu thụ nếu quản lý thực phẩm tốt hơn (Ventour, 2015) Việc kiểm soát và quản lý tốt hơn lượng thực phẩm tiêu thụ sẽ giúp giảm thiểu chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Mỹ được xem là quốc gia phát sinh lượng chất thải rắn và thức ăn thừa cao nhất thế giới trong những năm gần đây Thói quen lãng phí thực phẩm đã trở thành phần không thể thiếu trong văn hóa của người Mỹ, với khoảng 35 triệu tấn thực phẩm bị vứt bỏ hàng năm, chiếm từ 30-40% nguồn cung thực phẩm quốc gia Phần lớn số thực phẩm này trở thành chất thải, trong khi chỉ khoảng 3% được tận dụng để ủ phân compost Điều này gây thiệt hại kinh tế lên đến hơn 161 tỷ USD mỗi năm cho đất nước (Ferdman, 2014).
Theo Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA, 2014), phần lớn chất thải rắn và thức ăn thừa là trái cây và rau bị bỏ đi từ các hộ gia đình, nhà hàng, siêu thị và cửa hàng Trung bình mỗi năm, người Mỹ bỏ đi khoảng 25% thực phẩm họ mua, gây thiệt hại tài chính từ 1.365 USD đến 2.275 USD cho gia đình 4 người Thực phẩm bị vứt bỏ nhiều nhất là rau (khoảng 8,2 triệu tấn) và thịt, cá (khoảng 5,7 triệu tấn), với tỷ lệ thực phẩm lãng phí chiếm 22% tổng sản lượng Thực phẩm ít bị bỏ đi nhất là nhóm hạt như điều, dẻ, đậu, chỉ khoảng 0,13 triệu tấn/năm (Ferdman, 2014).
Theo một báo cáo tại Anh, có tới bảy triệu tấn lương thực trị giá hơn 10 tỷ bảng bị thất thoát hàng năm do thức ăn thừa từ các hộ gia đình, siêu thị và cửa hàng lãng phí Báo cáo cũng cho biết, 3/4 các loại rau trồng ở Anh bị "lãng phí" bởi các siêu thị chủ yếu vì mẫu mã không đạt tiêu chuẩn đẹp Tác giả của báo cáo nhấn mạnh rằng việc quản lý và giảm thiểu lãng phí thực phẩm là cần thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tiến sĩ Tim Fox, trưởng Cơ quan năng lượng và môi trường (IME), cho biết rằng trung bình một hộ gia đình ở Anh thất thoát thực phẩm trị giá khoảng 24.000 bảng Anh mỗi năm Trong đó, bánh mì, khoai tây và sữa là những loại thực phẩm bị lãng phí nhiều nhất bởi người tiêu dùng tại quốc gia này Các số liệu này được đưa ra dựa trên nghiên cứu của Quested và cộng sự năm 2013, nhấn mạnh rõ mức độ tiêu thụ và lãng phí thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày của người dân Anh.
Nhật Bản là một quốc gia phải nhập khẩu tới 60% lượng thực phẩm, nhưng lại đối mặt với tình trạng lãng phí thực phẩm lớn nhất thế giới Trong đó, thủ đô Tokyo alone đã làm thất thoát 6.000 tấn thức ăn mỗi ngày, đủ cung cấp cho 4,5 triệu người ăn trong cùng kỳ Theo số liệu năm 2015, các nhà hàng tại Nhật bỏ đi 3,05 triệu tấn thức ăn thừa, còn tổng lượng thực phẩm bị lãng phí của các xí nghiệp chế biến và cửa hàng phân phối lên tới 11,34 triệu tấn mỗi năm, làm nổi bật thực trạng đáng báo động về lãng phí thực phẩm tại quốc gia này (Liu & cs, 2016).
Theo nghiên cứu của WRAP công bố năm 2017, lãng phí thực phẩm tại Pháp lên đến hơn 3 triệu tấn mỗi năm, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và kinh tế Các chuyên gia ước tính rằng trung bình mỗi người dân Pháp thải ra hàng kg thực phẩm lãng phí hàng năm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm thiểu rác thải thực phẩm Việc nhận thức và hành động giảm lãng phí thực phẩm không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tiết kiệm chi phí cho gia đình và xã hội.
Pháp lãng phí từ 20-30 kg thức ăn mỗi năm, trong đó có khoảng 7 kg còn trong bao bì chưa được sử dụng Những thói quen không kiểm tra thực phẩm, thiếu lên kế hoạch mua sắm đã dẫn đến lượng chất thải rắn từ thức ăn thừa tại Pháp tăng gấp 4 lần Theo Bộ Môi trường và Nông nghiệp Pháp, lãng phí thực phẩm gây thiệt hại nền kinh tế từ 12-20 tỷ euro hàng năm Nghiên cứu cho thấy tình trạng này đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng của quốc gia phát triển nhất châu Âu, tượng trưng rõ ràng qua hình 3 minh họa về nạn lãng phí thức ăn của người dân Pháp.
Hình 3 Chất thải thực phẩm thải bỏ ra ngoài thùng rác
Trong số các loại thực phẩm bị vứt bỏ tại Pháp, trái cây và rau củ chiếm tỷ lệ lớn nhất lần lượt là 19% và 31%, do đặc tính dễ hỏng khiến người tiêu dùng dễ dàng bỏ đi dù chỉ mới bắt đầu hư hỏng Thức uống, chủ yếu là sữa và rượu, chiếm 24% lượng thực phẩm thải loại, trong khi các loại tinh bột từ thức ăn thừa chiếm 12% Ngoài ra, thịt, cá và các thực phẩm chế biến sẵn lần lượt chiếm 4% và 2%, phản ánh thói quen lãng phí và khó kiểm soát lượng thực phẩm tiêu thụ.
Th ự c tr ạ ng qu ả n lý ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
Chất thải thực phẩm gây thiệt hại lớn về môi trường, xã hội và kinh tế, làm nền kinh tế toàn cầu thiệt hại lên tới 2,6 nghìn tỷ USD hàng năm Giai đoạn sản xuất tiêu thụ khoảng 250.000 m³ nước và 1,4 triệu ha đất, trong đó 30% diện tích đất nông nghiệp được dùng để sản xuất lương thực Thực phẩm thất thoát và lãng phí phát thải 4,4 gigaton CO2eq, chiếm 8% tổng lượng khí nhà kính do con người gây ra Để ứng phó với tác động tiêu cực này, các quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp quản lý chất thải thực phẩm khác nhau, trong đó Pháp nổi bật với lệnh cấm siêu thị vứt bỏ thực phẩm không sử dụng và khuyến khích các tổ chức từ thiện, với mức phạt lên đến 3.750 euro cho các vi phạm đối với siêu thị trên 400m².
Tại Vương quốc Anh, các nhà công nghệ đã phát minh ra thiết bị Winnow Vision giúp thu thập dữ liệu về khối lượng và loại thực phẩm bị thải ra trong các nhà bếp Thiết bị này cung cấp thông tin chi tiết từ nhân viên về lượng và loại thức ăn bỏ đi, từ đó thuật toán phân tích dữ liệu đánh giá mức độ lãng phí thực phẩm cả về chi phí lẫn tác động môi trường Các đầu bếp có thể sử dụng kết quả phân tích này để điều chỉnh thực đơn và quản lý hoạt động nhà hàng một cách hiệu quả hơn, giảm thiểu lãng phí và tối ưu hoá chi phí.
12 hơn Điều này cho phép các nhà hàng cắt giảm từ 40 - 70% lượng thực phẩm bị bỏ phí (Martindale, 2014)
Hình 5 Vứt bỏ chất thải thực phẩm vào thùng đựng
Chiến dịch "Yêu thực phẩm, ghét chất thải" do tổ chức WRAP, một công ty tư nhân phi lợi nhuận được chính phủ tài trợ, thực hiện thành công tại Anh nhằm mục đích giảm thiểu chất thải WRAP hợp tác với nhiều đối tác, bao gồm các nhà bán lẻ, doanh nghiệp tư nhân, chính quyền địa phương và cộng đồng, để cung cấp công cụ giúp người tiêu dùng giảm thiểu chất thải thực phẩm hiệu quả.
Kể từ khi được phát động vào năm 2014, chiến dịch tuyên bố đã tiếp cận hơn hai triệu hộ gia đình trong hai năm và giúp họ giảm thiểu chất thải thực phẩm Nhờ vào các hoạt động này, chiến dịch đã ngăn chặn được 137.000 tấn chất thải thực phẩm, góp phần bảo vệ môi trường và tiết kiệm nguồn tài nguyên Chiến dịch chống lãng phí thực phẩm ở Tây London đã ghi nhận giảm 14% lượng chất thải thực phẩm có thể tránh được ở cấp hộ gia đình chỉ trong sáu tháng, từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013.
Trong giai đoạn 2007-2011, WRAP đã thành công giảm 13% chất thải thực phẩm hộ gia đình trên toàn quốc nhờ các chiến dịch truyền thông, nghiên cứu chuyên sâu và các dịch vụ tái chế, giảm thiểu và tái sử dụng chất thải thực phẩm (Park & cộng sự, 2013).
Việt Nam đã đạt được bước tiến vượt bậc từ thu nhập thấp lên trung bình trong ba thập kỷ qua, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Những thay đổi này đã ảnh hưởng đến mô hình sản xuất và tiêu dùng cùng với lối sống của người dân, đặc biệt là sự gia tăng các thói quen tiêu dùng và ăn uống Kết quả là lượng rác thải đô thị và chất thải thực phẩm trên đầu người ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các thành phố lớn và phát triển nhanh, gây tác động xấu đến môi trường và tài nguyên tự nhiên Theo báo cáo, chất thải thực phẩm chiếm khoảng 50-60% tổng chất thải rắn đô thị, cuối cùng đều được xử lý hoặc chôn lấp, làm gia tăng vấn đề quản lý chất thải Nhiều phương án xử lý được đề xuất như cho gia súc ăn, ủ phân, đốt và chôn lấp, trong đó tận dụng chất thải thực phẩm làm thức ăn chăn nuôi được coi là giải pháp hiệu quả nhất; ví dụ, tại TP.HCM, có tới 70% thức ăn thừa được dùng để làm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất thải thực phẩm tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào quản lý chất thải, còn thiếu các phân tích về các yếu tố tạo ra chất thải trong các giai đoạn của chuỗi cung ứng thực phẩm, đặc biệt là trong giai đoạn tiêu dùng.
Hiện nay, nhiều dự án quản lý chất thải thực phẩm hiệu quả như Ngân hàng thực phẩm Việt Nam đang góp phần giảm thiểu lãng phí và hỗ trợ cộng đồng Các mô hình start-up về xử lý chất thải thực phẩm, như dự án biến rác thành tài nguyên tại Hội An, đã thúc đẩy phong trào du lịch xanh bằng cách tái chế thức ăn thừa, lá cây thành các sản phẩm hữu ích như nước rửa chén, xịt côn trùng và phân bón hữu cơ cho vườn rau Những sáng kiến này góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững trong ngành du lịch và quản lý chất thải.
Hình 6 trình bày các mô hình tái chế chất thải thực phẩm hiệu quả, bao gồm: làm nước rửa chén enzyme từ vỏ trái cây và xịt côn trùng sinh thái, tạo phân bón compost từ các loại thực vật, sản xuất phân bón bokashi từ thức ăn thừa, và ủ phân từ chất thải thực phẩm để giảm thiểu rác thải và thúc đẩy nông nghiệp bền vững.
Các văn bả n pháp lu ật có liên quan đế n qu ả n lý ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
Để giảm tổn thất sau thu hoạch và tạo thuận lợi cho chuyển đổi, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, một sốchính sách đã được ban hành, trong đó có Nghị quyết số 48/NQ-CP năm 2009 (quy định cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông thủy sản 2009), Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ nhằm giảm thiệt hại trong nông nghiệp Năm 2018, Luật Trồng trọt (Luật số 31/2018/QH14) được ban hành nhằm quy định hoạt động thu hoạch để hạn chế thất thoát lương thực, đảm bảo chất lượng và tối ưu hóa chi phí sản xuất Chính phủ cũng đã triển khai nhiều chính sách thu hút khu vực tư nhân đầu tư vào nông nghiệp, bao gồm đổi mới công nghệ, nâng cao tỷ lệ sản phẩm chế biến, đảm bảo an toàn thực phẩm, đưa ra mức giá cạnh tranh và phù hợp với yêu cầu của thị trường.
15 trường, cũng như đầu tư vào công nghệ tiên tiến để sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ phế phẩm nông nghiệp
Hiện nay, nhà nước chưa có luật riêng về quản lý chất thải thực phẩm, nhưng vẫn có nhiều luật và nghị định liên quan đến quản lý chất thải chung để đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường Các quy định này giúp hướng dẫn xử lý và giảm thiểu tác động tiêu cực của chất thải, bao gồm cả chất thải thực phẩm trong hệ thống pháp luật hiện hành Việc cập nhật và áp dụng các nghị định này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất thải và thúc đẩy trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ môi trường.
- Luật Bảo vệmôi trường 2020 được quy định trong Chương 6 quản lý chất thải và kiểm soát chất ô nhiễm khác, tại điều 72 yêu cầu về quản lý chất thải
- Quyết định 889/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030;
Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu cải thiện quản lý chất thải rắn, thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường quốc gia.
Vào năm 2018, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 7 tháng 5, phê duyệt các sửa đổi đối với Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Chiến lược này tập trung giải quyết vấn đề lương thực và chất thải hữu cơ trong chất thải sinh hoạt, đồng thời khuyến khích các giải pháp tái chế, tái sử dụng và tiêu hủy thân thiện với môi trường Các mục tiêu đến năm 2025 bao gồm đạt tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị là 90%, nâng cao năng lực tái sử dụng và tái chế, phấn đấu giảm tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được vận chuyển trực tiếp đến bãi chôn lấp dưới 30% Ngoài ra, chiến lược còn hướng tới thu thập, lưu trữ, vận chuyển, xử lý 80% chất thải sinh hoạt tại các điểm dân cư nông thôn, ứng dụng các phương pháp xử lý phù hợp để bảo vệ môi trường và thúc đẩy tái sử dụng, phân hủy chất hữu cơ tại nguồn, tạo phân trộn phục vụ sản xuất tại chỗ trong khu vực nông thôn.
ĐỐI TƯỢ NG, PH Ạ M VI, N ỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN C Ứ U
Đối tượ ng nghiên c ứ u
- Thực trạng phát sinh và quản lý chất thải thực phẩm từ các hộ gia đình.
Ph ạ m vi nghiên c ứ u
Huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh gồm ba địa phương trọng điểm: xã Song Hồ, xã Xuân Lâm và Thị trấn Hồ Trong đó, Thị trấn Hồ được lựa chọn làm điểm nghiên cứu vì là trung tâm hành chính của huyện, đảm bảo tính chuyên sâu và chính xác của dự án Các địa phương còn lại, Song Hồ và Xuân Lâm, có đặc điểm kinh tế xã hội tương đồng, giúp nghiên cứu toàn diện về tình hình phát triển địa phương trong khu vực.
- Phạm vi thời gian: 1/2022 đến 7/2022
N ộ i dung nghiên c ứ u
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thuận Thành
- Các yếu tốảnh hưởng đến phát sinh chất thải thực phẩm từ hộ gia đình tại huyện Thuận Thành
- Thực trạng phát sinh và thành phần chất thải thực phẩm từ hộ gia đình tại huyện Thuận Thành
- Thực trạng quản lý chất thải thực phẩm từ hộ gia đình trên địa bàn huyện Thuận Thành
- Đề xuất các giải pháp để giảm thiểu phát sinh chất thải thực phẩm từ hộgia đình trên địa bàn huyện Thuận Thành.
Phương pháp nghiên cứ u
2.4.1 Thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập số liệu và tài liệu thứ cấp từ các cơ quan chức năng địa phương, các nguồn dữ liệu sẵn có như tạp chí khoa học, báo cáo đề tài và dự án, sách báo, cùng các nguồn thông tin trực tuyến là bước quan trọng trong nghiên cứu Các số liệu này bao gồm dữ liệu thống kê, báo cáo nghiên cứu, tài liệu chuyên ngành và các thông tin liên quan nhằm phục vụ phân tích và nâng cao độ chính xác của nghiên cứu Việc thu thập dữ liệu thứ cấp giúp tiết kiệm thời gian, nguồn lực và cung cấp nền tảng vững chắc cho các phân tích tiếp theo.
Báo cáo kinh tế xã hội tại địa phương, Thực trạng quản lý môi trường và rác thải sinh hoạt tại các địa điểm nghiên cứu
Các số liệu thống kê vềdân cư, kinh tế xã hội, kinh tế
Các chính sách có liên quan
2.4.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Nhóm thông tin sơ cấp về đặc điểm hộ gia đình, hành vi của hộ và thực trạng thực phẩm bị thải bỏ được thu thập chủ yếu thông qua hai phương pháp chính là phỏng vấn hộ gia đình và cân rác hàng ngày Những dữ liệu này giúp hiểu rõ hơn về các đặc điểm nhân khẩu học và hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình, từ đó phân tích nguyên nhân và tỷ lệ thực phẩm bị loại bỏ Phương pháp phỏng vấn mang lại thông tin chi tiết về thói quen tiêu thụ và thái độ của người dân đối với thực phẩm, trong khi việc cân rác hàng ngày cung cấp số liệu chính xác về lượng thực phẩm bị thải bỏ Các dữ liệu này là nền tảng quan trọng để xây dựng các giải pháp giảm thiểu lãng phí thực phẩm hiệu quả, đồng thời nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Phỏng vấn hộ gia đình được tiến hành nhằm thu thập thông tin về quan điểm, thái độ và hành vi liên quan đến chất thải thực phẩm của các hộ Các hộ được chọn là những gia đình không hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm như nhà hàng hay các hình thức kinh doanh khác Phương pháp này giúp nắm bắt hành vi tiêu dùng và thái độ của cộng đồng đối với xử lý chất thải thực phẩm một cách toàn diện và chính xác.
Tiền hành điều tra 90 phiếutại 3 xã trên địa bản huyện Thuận thành, bao gồm: xã Xuân Lâm, xã Song Hồ và Thị trấn Hồ.
2.4.3 Phương pháp xác định hệ số phát thải
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp cân tại các hộ gia đình trong suốt một tuần liền để thu thập dữ liệu chính xác về lượng chất thải thực phẩm phát sinh hàng ngày Mục đích của việc cân đo này là để xác định hệ số phát sinh và thành phần chất thải thực phẩm từ các hộ gia đình trên địa bàn huyện Thuận Thành Phương pháp này giúp đánh giá rõ ràng lượng chất thải thực phẩm và hỗ trợ xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả hơn Kết quả thu thập từ nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để thiết kế các chính sách giảm thiểu chất thải thực phẩm tại khu vực.
Trong vòng 7 ngày, từ ngày 6/05 đến 12/05/2022, huyện Thuận Thành đã tiến thành cân rác cho 15 hộ dân trên địa bàn, mỗi xã đóng góp 5 hộ Để thúc đẩy việc xử lý rác thải hiệu quả, người dân được hướng dẫn phân loại riêng rác thải thực phẩm và các loại chất thải sinh hoạt khác, bỏ riêng vào túi đựng phù hợp Công tác phân loại rác này giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường tại địa phương.
Hàng ngày, đoàn thu gom đến các hộ dân để thu các túi rác chứa chất thải thực phẩm Quá trình phân loại được thực hiện kỹ lưỡng, từng loại rác thải đều được cân đo riêng biệt và ghi chép cẩn thận kết quả để đảm bảo quản lý hiệu quả và chính xác.
Chất thải thực phẩm mang đi cân được phân thành các nhóm sau:
Chất thải thực phẩm từ sơ chế bao gồm xương, da, lông, cuống rau củ và vỏ hoa quả, là những loại rác thải phát sinh trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu Ngoài ra, chất thải thực phẩm từ thức ăn thừa gồm những phần thức ăn đã mua nhưng không được sử dụng hoặc còn thừa sau bữa ăn, góp phần gây ô nhiễm môi trường nếu không được xử lý đúng cách Việc giảm thiểu chất thải thực phẩm là bước quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và nâng cao ý thức tiêu dùng bền vững.
+ Loại khác là vỏ trứng, các bã chè, bã cà phê…
2.4.4 Phương pháp ước tính lượng chấtthải thực phẩm phát sinh
Lượng chất thải thực phẩm phát sinh trên địa bàn huyện được ước tính theo công thức:
Trong đó: Eps – Lượng chất thải thực phẩm phát sinh từ hộgia đình
Ei – Hệ số phát sinh chất thải thực phẩm theo đầu người (kg/người/ngày)
2.4.5 Phương pháp phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.
Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến giúp đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến lượng chất thải thực phẩm phát sinh Biến phụ thuộc trong phân tích này là hệ số phát sinh chất thải thực phẩm theo đầu người, phản ánh mức độ tiêu thụ thực phẩm và thải ra môi trường Các biến độc lập được chọn bao gồm nhiều yếu tố như thu nhập, mức độ tiêu dùng, nhận thức về thực phẩm, và các yếu tố kinh tế - xã hội khác Phương pháp này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến quá trình phát sinh chất thải thực phẩm, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách và chiến lược quản lý lượng chất thải thực phẩm phù hợp với thực tiễn địa phương.
Bảng 1 Mô tả các biến và mã hóa biến số trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
STT Tên biến Kí hiệu Mã hóa biến số
Trong phân tích thu nhập, V1 mã hóa thu nhập bình quân theo đầu người thành biến giả gồm hai nhóm chính: nhóm thu nhập cao từ 3-5 triệu đồng/tháng và nhóm thu nhập trung bình thấp dưới 3 triệu đồng/tháng Trong đó, nhóm thu nhập cao được sử dụng làm tham chiếu so sánh chính để đánh giá các yếu tố liên quan đến mức thu nhập của người dân Việc phân loại này giúp xác định rõ ràng các mức thu nhập và thuận tiện trong phân tích dữ liệu nhằm đưa ra các chính sách phù hợp và tối ưu hóa các chiến lược phát triển kinh tế.
Trong phân tích mã hóa số nhân khẩu, các hộ được chia thành hai nhóm dựa trên số nhân khẩu: nhóm hộ có số nhân khẩu cao hơn 4 người, gọi là nhóm cao, và nhóm hộ có số nhân khẩu là 4 người hoặc ít hơn, gọi là nhóm thấp Để đảm bảo tính khách quan, nhóm hộ có số nhân khẩu cao hơn 4 người thường được sử dụng làm nhóm tham chiếu trong các phân tích so sánh Việc mã hóa này giúp xác định ảnh hưởng của quy mô hộ gia đình đến các yếu tố nghiên cứu một cách rõ ràng và chính xác.
3 Mua đồđủ dùng một ngày
V3 mã hóa thành biến giả phân thành hai nhóm hộ: nhóm luôn mua đồ đủ dùng trong ngày, thể hiện thói quen tiêu dùng hàng ngày và nhóm thường xuyên mua lượng thức ăn đủ cho một ngày, phản ánh xu hướng tiêu dùng phù hợp với nhu cầu thiết thực Trong đó, nhóm luôn luôn mua đủ thức ăn thể hiện sự tiện lợi và thói quen tiêu dùng ổn định của người dân, là dữ liệu quan trọng để phân tích hành vi tiêu dùng hàng ngày.
STT Tên biến Kí hiệu Mã hóa biến số cho một ngày là nhóm tham chiếu so sánh
4 Viết danh sách thực phẩm cần mua và mua theo danh sách
Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến V4 Mã hóa thành biến giả với hai nhóm đối tượng hộ gia đình Nhóm thứ nhất gồm những hộ viết danh sách thực phẩm cần mua, còn nhóm thứ hai là những hộ không viết danh sách Nhóm viết danh sách thực phẩm cần mua được sử dụng làm nhóm tham chiếu để so sánh hiệu quả hoặc các đặc điểm liên quan Việc phân chia này giúp phân tích rõ hơn về tác động của việc viết danh sách mua sắm đối với hành vi tiêu dùng thực phẩm của các hộ gia đình.
5 Kiểm tra các thực phẩm còn trong nhà trước khi đi mua
V5 mã hóa thành biến giả với hai nhóm hộ gia đình: nhóm thường xuyên và nhóm luôn luôn kiểm tra thực phẩm còn trong nhà trước khi mua Trong đó, nhóm luôn luôn kiểm tra được sử dụng làm nhóm tham chiếu để so sánh nhằm đánh giá tác động của hành vi kiểm tra thực phẩm đối với các kết quả nghiên cứu Việc phân chia này giúp phân tích rõ ràng hơn về ảnh hưởng của thói quen kiểm tra thực phẩm đối với sức khỏe và tiêu dùng hàng ngày của các hộ gia đình.
6 Lên kế hoạch cụ thể cho các bữa ăn
V6 Mã hóa thành biến giả với hai nhóm hộ, gồm nhóm hộ có kế hoạch cụ thể cho bữa ăn và nhóm hộ không có kế hoạch cụ thể Nhóm hộ có kế hoạch chi tiết cho bữa ăn được sử dụng làm nhóm tham chiếu để so sánh, giúp phân tích ảnh hưởng của việc lập kế hoạch đến các yếu tố liên quan đến bữa ăn Việc phân chia này giúp nâng cao độ chính xác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm hộ.
7 Cất tủ lạnh để ăn bữa sau
V7 mã hóa thành biến giả với hai nhóm hộ, gồm nhóm thường xuyên và nhóm thi thoảng Nhóm thi thoảng dùng làm nhóm tham chiếu để so sánh, thể hiện tần suất cất thức ăn thừa vào tủ lạnh để ăn bữa sau Việc phân nhóm này giúp phân tích chính xác hơn về hành vi bảo quản thực phẩm trong gia đình.
Mô hình hồi quy tuyến tính được cho dưới dạng:
E: hệ số phát sinh chất thải thực phẩm (kg/người/ngày)
: hệ số tự do trong mô hình
: hệ số hồi quy của biến Vi
Dấu của hệ số được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của biến Vi lên hệ số phát thải chất thải thực phẩm theo đầu người
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu, dữ liệu được tổng hợp, xử lý và phân tích trên các phần mềm chuyên dụng như Excel, R
KẾ T QU Ả NGHIÊN C Ứ U
Điề u ki ệ n t ự nhiên, kinh t ế xã h ộ i huy ệ n Thu ậ n Thành
Huyện Thuận Thành nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 25 km về phía Đông và cách trung tâm thành phố Bắc Ninh hơn 10 km, có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế và du lịch Địa giới hành chính của huyện Thuận Thành bao gồm các xã và thị trấn, mang lại sự đa dạng về văn hóa và cảnh quan tự nhiên Vị trí địa lý này góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của huyện trong khu vực, phù hợp với chiến lược phát triển đô thị và nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh.
Đông giáp huyện Gia Bình và huyện Lương Tài;
Tây giáp huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội;
Nam giáp huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;
Bắc giáp huyện Tiên Du và huyện Quế Võ
Hình 7 Sơ đồ vị tríhuyện Thuận Thành
Theo số liệu thống kê của Chi cục Thống kê, tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2020 dân số toàn huyện Thuận Thành là 197.053 người, trong đó: dân số thường trú 189.158 người và dân số tạm trú đã quy đổi 7.895 người.
Huyện Thuận Thành có 18 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm Thị trấn Hồ và 17 xã: An Bình, Song Hồ, Gia Đông, Thanh Khương, Hà Mãn, Trạm Lộ, Trí Quả, Xuân Lâm, Ninh Xá, Hoài Thượng, Mão Điền, Đại Đồng Thành, Đình Tổ, Song Liễu, Ngũ Thái, Nguyệt Đức và Nghĩa Đạo.
Bắc Ninh có vị trí địa lý nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, với địa hình bằng phẳng, chủ yếu dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Địa hình này thể hiện rõ qua dòng chảy của các con sông lớn như sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình đổ về các tuyến sông chính Mức độ cao trung bình của khu vực từ 5 đến 7 mét so với mực nước biển, với điểm cao nhất khoảng 9 mét và thấp nhất khoảng 3 mét, phù hợp với đặc điểm của vùng đồng bằng ven biển miền Bắc Việt Nam.
Huyện nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có bốn mùa rõ rệt gồm xuân, hạ, thu, đông, với sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh Nhiệt độ cao nhất thường vào mùa hè, trong khi mùa đông khá khô và lạnh, tạo ra sự thay đổi khí hậu rõ rệt theo mùa Năm có từ 1.250 đến 1.350 giờ nắng, đảm bảo lượng ánh sáng mặt trời khá lớn trong năm Độ ẩm tương đối duy trì trên 80%, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất ở địa phương Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 80% tổng lượng mưa hàng năm, với lượng mưa trung bình năm 2021 đạt từ 1400 đến 1600mm, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và hệ sinh thái tự nhiên.
Thuận Thành có nguồn nước mặt phong phú nhờ các sông chính như sông Đuống, sông Liễu Khê, sông Dâu, sông Nguyệt Đức, sông Đông Côi và sông Bùi Hệ thống sông ngòi, kênh mương, cùng với nhiều ao hồ dày đặc, tạo điều kiện thuận lợi đảm bảo cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của toàn huyện.
Huyện Thuận Thành chủ yếu hình thành nhờ quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, trong đó có 06 sông lớn như sông Đuống, sông Liễu Khê, sông Dâu, sông Nguyệt Đức, sông Đông Côi và sông Bùi, cùng với sự phong hóa trực tiếp từ đá mẹ tạo nên phần còn lại của địa hình Huyện có ba nhóm đất chính gồm đất phù sa, đất bạc màu và đất đồi núi, với diện tích tự nhiên 117,83 km² và cơ cấu sử dụng đất đa dạng phù hợp với đặc điểm địa chất.
- Diện tích đất nông nghiệp là: 72,54 km2, chiếm tỷ lệ 61,57%;
- Diện tích đất phi nông nghiệp là: 45,12 km2, chiếm tỷ lệ 38,29%;
- Diện tích đất chưa sử dụng là: 0,17 km2, chiếm tỷ lệ 0,14%
Nguồn nước mặt: Có nguồn nước mặt tương đối dồi dào bao gồm: sông Đuống, sông Liễu Khê, sông Dâu, sông Nguyệt Đức, sông Đông Côi, sông Bùi
Hệ thống sông ngòi, kênh mương và nhiều ao hồ tạo điều kiện thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất và sinh hoạt của toàn huyện Huyện có cốt địa hình thấp, lưu lượng nước ngầm lớn, đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất Mực nước ngầm khai thác trong đô thị trung bình từ 30 đến 60 mét, đảm bảo chất lượng nước phù hợp cho sinh hoạt hàng ngày.
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Huyện Thuận Thành ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao, với mức trung bình đạt 9,35% mỗi năm trong giai đoạn 2018-2020 Hiện tại, trên địa bàn huyện có hơn 7.300 cơ sở sản xuất công nghiệp và 3 khu công nghiệp, tổng diện tích đạt lớn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Khu công nghiệp Thuận Thành I có diện tích 250 ha, khu công nghiệp Thuận Thành II rộng 300 ha, và khu công nghiệp Thuận Thành III đạt 440 ha, tạo nên tổng diện tích lớn cho phát triển công nghiệp tại địa phương Ngoài ra, còn có 3 cụm công nghiệp bao gồm Cụm công nghiệp Xuân Lâm với diện tích 49,4 ha, Cụm công nghiệp Thanh Khương rộng 11,39 ha, và Cụm công nghiệp Hà với tổng diện tích 88,84 ha, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo cơ hội việc làm cho cư dân.
Huyện Mãn - Trí Quả (75 ha) phát triển các ngành như cơ khí lắp ráp, điện tử, chế biến nông lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may và hàng tiêu dùng, tạo việc làm cho gần 60.000 lao động địa phương và khu vực lân cận, trong đó gần 80% số lao động thuộc huyện Thuận Thành Nhờ nỗ lực của các ban, ngành, đoàn thể và chính quyền địa phương, kinh tế toàn huyện đạt nhiều kết quả khả quan, chuyển biến tích cực theo xu hướng chung của tỉnh Năm 2020, tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 7.270,65 tỷ đồng, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 52,59%, thương mại - dịch vụ 39,84%, và nông lâm thủy sản chiếm 7,57%.
3.1.2.2 Hoạt động thương mại- dịch vụ:
Huyện Thuận Thành đã tập trung đầu tư phát triển hệ thống thương mại và dịch vụ bằng nhiều nguồn lực về thời gian, kinh phí và định hướng chiến lược Hiện nay, trên địa bàn huyện có nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và tạo ra nguồn thu lớn Các doanh nghiệp này cũng giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng Theo thống kê năm 2020, tổng giá trị gia tăng của lĩnh vực thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện đạt 2.896,35 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2018 - 2020 đạt 11,49% mỗi năm, phản ánh sự phát triển bền vững của ngành này.
3.1.2.3 Lĩnh vực văn hóa- xã hội:
Thuận Thành có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển văn hóa – xã hội và du lịch, với hơn 126 điểm di tích phong phú và đặc sắc của nền văn hóa Kinh Bắc Trong đó, có 72 di tích đã được công nhận và xếp hạng, gồm các di tích cấp quốc gia, quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia và cấp tỉnh, như chùa Dâu (di tích quốc gia đặc biệt), chùa Bút Tháp (di tích quốc gia đặc biệt), và chùa Ngọc Khám với ba pho tượng đá tam thế là bảo vật quốc gia Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ cũng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Các di sản của Thuận Thành còn giữ nguyên giá trị ban đầu, đặc biệt là khu di tích lăng mộ và đền thờ thủy tổ Việt Nam Kinh Dương Vương ở làng Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, góp phần khẳng định vị thế văn hóa đặc sắc của địa phương.
Chất lượng giáo dục các cấp ngày càng nâng cao rõ rệt, với nhiều tiến bộ trong đào tạo và số lượng học sinh giỏi tăng đều hàng năm Việc đầu tư vào bồi dưỡng và đào tạo giáo viên đã nâng cao cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn không ngừng tăng Giáo dục và đào tạo của huyện luôn khẳng định vị thế dẫn đầu tỉnh Bắc Ninh về chất lượng Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng đã được các cấp lãnh đạo tập trung chỉ đạo, trong đó công tác bảo hiểm y tế mở rộng, 100% hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế và tích cực vận động nhân dân tham gia.
Huyện Thuận Thành đã có sự tham gia tích cực của hơn 25.000 người dân trong việc tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng Mạng lưới y tế tại địa phương ngày càng phát triển và đáp ứng hiệu quả nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đảm bảo sự chăm sóc y tế toàn diện và kịp thời Việc mở rộng mạng lưới y tế không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn thúc đẩy sự hài lòng và tin tưởng của người dân đối với hệ thống y tế địa phương.
Huyện đã thực hiện đồng bộ các giải pháp để giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động thiếu việc làm, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm, từ 1,57% năm 2018 xuống còn 1,01% năm 2020, trung bình 3 năm là 1,26%, thấp hơn mức trung bình của tỉnh Bắc Ninh (1,31%) Đến cuối năm 2020, cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội của đô thị Hồ mở rộng (Đô thị Thuận Thành) đã hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và thay đổi diện mạo đô thị rõ rệt Trong những năm gần đây, đô thị Hồ mở rộng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trung bình 10,02% từ 2017 đến 2019 Ngày 30/12/2020, Bộ Xây dựng đã công nhận đô thị Hồ mở rộng đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV, tạo đà để huyện phấn đấu trở thành thị xã Thuận Thành vào tương lai.
3.1.3 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của xã Song Hồ, Xuân Lâm, Thị trấn Hồ.
3.1.3.1 Đặc điểm tự nhiên của 3 xã nghiên cứu
M ộ t s ố đặc điể m các h ộ được điề u tra
Nghiên cứu nhằm đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của các hộ gia đình trong việc lựa chọn, bảo quản, chế biến và xử lý thực phẩm Chúng tôi đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 90 hộ gia đình tại xã Song Hồ, thị trấn Hồ, và xã Xuân Lâm, với tổng dân số của các hộ được khảo sát là 395 người Các đặc điểm mẫu khảo sát đã được tổng hợp và thống kê trong Bảng 2 để cung cấp cái nhìn rõ nét về đặc điểm nhân khẩu của các hộ gia đình tham gia nghiên cứu.
Bảng 2 Đặc điểm các hộđược phỏng vấn Đặc điểm
Số lượng ( người/hộ) Tỷ lệ
< 1,5 triệu đồng/người/tháng 4 4 3 12 2-3 triệu đồng/người/tháng 15 11 12 42
Từ 6 thành viên trở lên 6 1 12 21
Tỷ lệ (%) Song Hồ TT
Xuân Lâm điểm hộ Đặc
Vợ chồng chưa có con 0 0 0 0
Gia đình có trẻ nhỏ hơn 6 tuổi gửi nhà trẻ 3 3 4 11
Gia đình có trẻ nhỏ hơn 6 tuổi ở nhà 1 1 2 4
Gia đình có trẻ từ 6-18 tuổi 21 20 22 70
(Nguồn: Số liệu phỏng vấn)
Trong tổng số 90 người được phỏng vấn, 58% là nam và 42% là nữ, cho thấy sự đa dạng về giới tính Đặc biệt, nhóm người trên 36 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất với 64%, phần lớn nằm trong độ tuổi từ 36-60, trong khi nhóm người từ 19-35 tuổi chiếm tỷ lệ nhỏ hơn Kết quả này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng khảo sát.
Nhìn vào bảng trên thì chúng ta có thể thấy là thu nhập của 3 xã đều tập trung ở mức là 2 – 3 triệu/người/ngày (42%) và 3 – 5 triệu.người/ngày (45%), còn ở mức thu nhập 5 triệu/người/ngày thì rất ít (12,22%) và cũng chỉ duy nhất có 1 hộ ở TT.Hồ có mức thu nhập trên 5 triệu/người/ngày (1,11%)
Hầu hết các hộ gia đình có từ 4 đến 6 người trở lên, phản ánh quy mô dân số lớn trong cộng đồng Chỉ có 11% số hộ có từ 1-2 người, trong khi 19% tổng số hộ có 3 thành viên, cho thấy đa số gia đình có đông thành viên hơn Đặc biệt, các hộ gia đình được khảo sát chủ yếu là gia đình có trẻ từ 6-18 tuổi, chiếm tỷ lệ 70%, thể hiện sự tập trung vào nhóm đối tượng này trong nghiên cứu.
Đặc điể m, thói quen mua th ự c ph ẩ m c ủ a các h ộ được điều tra
3.3.1 Tần suất đi mua thực phẩm
Kết quả điều tra trong Hình 10 cho thấy, có đến 85/90 hộ gia đình thường xuyên đi chợ hàng ngày để mua thực phẩm, trong khi chỉ có 5/90 hộ đi chợ mỗi hai ngày Việc mua sắm hàng ngày giúp các hộ kiểm soát tốt lượng thức ăn tiêu thụ, đảm bảo thực phẩm luôn tươi ngon và phù hợp với nhu cầu hàng ngày.
Trong gia đình, việc mua nhiều thực phẩm không cần thiết hoặc sử dụng thực phẩm đã không còn tươi ngon do phải đi chợ vài ngày một lần có thể dẫn đến lãng phí thức ăn Thường xuyên đi chợ hàng ngày giúp kiểm soát lượng thực phẩm mua vào, từ đó giảm thiểu tình trạng dư thừa và hạn chế lãng phí thực phẩm hiệu quả.
Hình 10 Tần suất đi mua thực phẩm
(Nguồn: Kết quả từ phỏng vấn người dân)
3.3.2 Địa điểm mua thực phẩm
Trong huyện hiện nay có nhiều địa điểm nổi bật để mua thực phẩm, phù hợp với nhu cầu của các hộ gia đình Các địa điểm này được nhiều người dân lựa chọn dựa trên sự thuận tiện và chất lượng thực phẩm Kết quả khảo sát về tần suất mua thực phẩm tại các địa điểm này được trình bày rõ trong Hình 11, giúp nâng cao hiệu quả lựa chọn địa điểm mua sắm phù hợp cho các hộ gia đình.
Hình 11 Tần suất mua thực phẩm tại các địa điểm khác nhau
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Hầu hết các hộ gia đình tại huyện thường xuyên mua thực phẩm tại chợ với tỉ lệ lên đến 80%, hầu như ngày nào cũng đi mua hàng tại đây Trong khi đó, việc mua thực phẩm tại các siêu thị, cửa hàng tạp hóa hay qua các nền tảng mua sắm online vẫn còn rất ít, do hạ tầng của 3 xã vẫn chưa phát triển, chưa có nhiều siêu thị và cửa hàng tạp hóa lớn Chính vì vậy, chợ vẫn là điểm mua thực phẩm phổ biến và chủ yếu của các hộ dân địa phương.
Hiện nay, phụ nữ thường xuyên đảm nhận việc mua sắm thực phẩm và nấu ăn chính trong gia đình Theo khảo sát, có đến 90% các hộ gia đình (82 trong số 90 hộ) do phụ nữ mua thực phẩm, và 94% các hộ (85 trong số 90 hộ) phụ nữ là người chính đảm nhận việc nấu ăn.
Hình 12 Người mua thực phẩm chính và nấu ăn chính trong gia đình
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
3.3.3 Lượng thực phẩm đi mua trong 1 lần đi mua của các hộ gia đinh.
Trong khảo sát các hộ gia đình, đa số đều đi chợ hàng ngày để mua thực phẩm phục vụ cho bữa ăn trong ngày, cụ thể có 53% (48/90 hộ) thường xuyên mua và 46% (41/90 hộ) luôn luôn mua thực phẩm mỗi ngày, trong khi chỉ có 1 hộ thỉnh thoảng mới mua Đối với việc mua thực phẩm cho một bữa ăn, có tới 77% (69/90 hộ) hiếm khi hoặc thỉnh thoảng mới mua, còn với mua thực phẩm dự trữ cho vài ngày, tỷ lệ này thấp hơn, phản ánh xu hướng mua hàng ngắn ngày của các hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
Chỉ có 49% hộ gia đình thỉnh thoảng mới mua thực phẩm, trong khi tất cả các hộ đều không bao giờ mua thực phẩm dùng cho một tuần hoặc lâu hơn Nguyên nhân chính là mọi người lo ngại về độ an toàn và ảnh hưởng đến sức khỏe của thực phẩm để lâu, bất kể đã được bảo quản đúng cách Do đó, các hộ gia đình ưu tiên hạn chế mua thực phẩm dự trữ lâu dài để đảm bảo sức khỏe.
Hình 13 Mức độ mua thực phẩm trong 1 lần đi mua của các hộgia đình
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
3.3.4 Thói quen trước khi đi chợ của các hộ gia đình.
Các nghiên cứu của Chalak & cộng sự (2019) chỉ ra rằng việc lập danh sách mua sắm và mua theo danh sách giúp người nội trợ kiểm soát lượng thức ăn cần thiết, hạn chế mua quá nhiều và giảm thiểu lượng thức ăn dư thừa trong gia đình Thói quen kiểm tra thực phẩm còn trong nhà trước khi đi chợ, lên kế hoạch cho các bữa ăn và mua thực phẩm đông lạnh hoặc đóng hộp để bảo quản lâu hơn là những thói quen tốt giúp giảm thiểu chất thải thực phẩm Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn các hộ gia đình cho thấy còn tồn tại sự khác biệt, cho thấy cần nâng cao nhận thức và áp dụng các thói quen này một cách đồng bộ để tối ưu hóa việc quản lý thực phẩm và giảm lãng phí.
Theo thống kê từ hình dưới, có 46% hộ gia đình (41/90 hộ) hiếm khi hoặc thỉnh thoảng mới viết danh sách thực phẩm cần mua và mua theo danh sách Trong khi đó, 54% hộ còn lại (49/90 hộ) cho biết không bao giờ viết danh sách mua thực phẩm trước khi đi mua sắm Những số liệu này phản ánh mức độ thói quen lập danh sách mua sắm thực phẩm trong các hộ gia đình tại khảo sát.
Hình 14 mô tả thói quen trước khi đi chợ của các hộ gia đình, bao gồm tần suất viết danh sách cần mua và mua theo danh sách (A), tần suất kiểm tra thực phẩm trong nhà trước khi đi chợ (B), tần suất lên kế hoạch cho từng bữa ăn (C), và tần suất mua các sản phẩm đông lạnh để bảo quản lâu hơn (D) Các thói quen này phản ánh mức độ chuẩn bị và tổ chức của các gia đình khi mua sắm thực phẩm, giúp đảm bảo nguồn thực phẩm đủ và an toàn cho gia đình Việc lập danh sách và kiểm tra thực phẩm thường xuyên góp phần giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả mua sắm, đồng thời việc mua các sản phẩm đông lạnh giúp bảo quản thực phẩm lâu dài, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Việc viết danh sách các thực phẩm cần mua và mua theo danh sách giúp người nội trợ xác định chính xác số lượng và loại thực phẩm cần thiết, từ đó giảm thiểu việc mua sắm thừa và lãng phí thực phẩm, góp phần tiết kiệm chi tiêu hàng ngày Tuy nhiên, theo khảo sát, có tới 54% hộ gia đình không thường xuyên hoặc không bao giờ viết danh sách mua thực phẩm, trong khi đó, 100% các hộ đều kiểm tra thực phẩm trong nhà trước khi đi mua, với 69% thường xuyên kiểm tra Về thói quen lên kế hoạch cụ thể cho các bữa ăn, có 53% hộ không bao giờ lập kế hoạch, trong khi chỉ 47% thỉnh thoảng hoặc hiếm khi làm điều này, cho thấy phần lớn người nội trợ chưa thực sự duy trì thói quen chuẩn bị kế hoạch rõ ràng cho các bữa ăn hàng ngày.
Theo khảo sát, phần lớn người tiêu dùng (98%) miễn cưỡng mua các sản phẩm cá đông lạnh hoặc đóng hộp để giữ lâu hơn, với chỉ 2 người hiếm khi sử dụng các loại thực phẩm này nhằm mục đích bảo quản lâu dài.
Nhiều hộ gia đình không lập danh sách mua sắm hay lên kế hoạch cho các bữa ăn hàng ngày do cho rằng không có thời gian và nhu cầu, dẫn đến việc không cần ghi danh sách hay mua các sản phẩm đông lạnh, đóng hộp để bảo quản lâu dài Thay vào đó, họ chỉ bắt đầu viết danh sách hoặc lên kế hoạch khi tổ chức tiệc, đám cưới để tiếp đãi khách Phần lớn các hộ gia đình chỉ có thói quen kiểm tra thực phẩm trước khi đi chợ, trong khi các thói quen như lập kế hoạch hay viết danh sách mua sắm rất ít được thực hiện hoặc hiếm khi được áp dụng.
3.3.5 Lượng thức ănnấu mỗi lầncủa các hộ gia đình.
Mức độ sử dụng lượng thức ăn của các hộ gia đình là một yếu tố chính gây phát sinh chất thải thực phẩm Ví dụ, nếu hộ gia đình nấu thức ăn để dùng trong 2-3 ngày nhưng không bảo quản đúng cách và để bên ngoài khiến thức ăn bị hư hỏng, dẫn đến việc bỏ đi thực phẩm thừa ra ngoài thùng rác.
Hình 15 Lượng thức ăn nấu mỗi lần của các hộgia đình
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Dựa trên kết quả khảo sát, tất cả các hộ gia đình đều nấu thức ăn đủ cho một ngày, trong đó 64% thường xuyên và 36% luôn luôn nấu thức ăn cho một ngày Về việc nấu thức ăn cho một bữa, có 71/90 hộ, trong đó 40 hộ thỉnh thoảng, 27 hộ hiếm khi và 4 hộ thường xuyên nấu cho một bữa Đối với thói quen nấu thức ăn kéo dài 2-3 ngày, phần lớn các hộ (96%) không bao giờ thực hiện, chỉ có 4/90 hộ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng mới nấu cho 2-3 ngày.
Đánh giá các yế u t ố ảnh hưởng đế n h ệ s ố phát sinh ch ấ t th ả i
Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số phát thải chất thải thực phẩm, chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Nghiên cứu này xem xét tác động của nhiều yếu tố khác nhau đến mức phát thải, giúp xác định những yếu tố chính ảnh hưởng và cung cấp dữ liệu hỗ trợ cho các chiến lược giảm thiểu ô nhiễm Các kết quả phân tích được trình bày trong Bảng 5 của Phụ lục 1, cung cấp thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng và mức độ tác động của chúng.
Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được thể hệ trong Bảng 3
Bảng 3 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính đa biến
Hệ số alpha của mô hình Std Error t value Pr(>|t|)
Bảng 3 cho thấy thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến lượng phát sinh chất thải thực phẩm, với các hộ có thu nhập trung bình thấp có mức phát thải thấp hơn so với các hộ có thu nhập cao Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, cho thấy mối liên hệ giữa mức thu nhập và lượng chất thải thực phẩm phát sinh trong hộ gia đình.
Các hộ gia đình có ít nhân khẩu thường phát sinh nhiều chất thải thực phẩm hơn so với các hộ đông nhân khẩu, do các gia đình nhỏ thường mua nhiều thực phẩm để dùng trong vài ngày và dễ bị hư hỏng hoặc hết hạn Việc mua thực phẩm đủ cho một ngày giúp giảm thiểu lượng chất thải thực phẩm Các yếu tố chuẩn bị trước khi đi mua như viết danh sách thực phẩm và kiểm tra thực phẩm trong nhà đều ảnh hưởng đến hệ số phát thải thực phẩm; những hộ gia đình có thói quen này thường phát thải ít hơn Ngược lại, lập kế hoạch cụ thể cho các bữa ăn lại gây ra lượng chất thải thực phẩm lớn hơn, do các gia đình mua sắm quá mức, thường liên quan đến việc lựa chọn các sản phẩm có thương hiệu và chất lượng cao Ngoài ra, các hộ gia đình thường giữ lại thức ăn thừa trong tủ lạnh để tiêu thụ vào ngày sau, giúp giảm lượng chất thải thực phẩm phát sinh.
Th ự c tr ạ ng phát sinh ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
3.5.1 Thành phần chất thải thực phẩm phát sinh
Chất thải thực phẩm phát sinh có rất nhiều thành phần khác nhau Trong quá trình điều tra, chất thải thực phẩm được phân loại thành 3 nhóm bao gồm:
+ Chất thải thực phẩm từ sơ chế: xương, da, lông, cuộng rau củ, vỏ hoa quả
+ Chất thải thực phẩm từ thức ăn thừa là những thực phẩm đã mua nhưng bỏđi không sử dụng, thức ăn thừa
+ Loại khác là vỏ trứng, các bã chè, bã cà phê…
Kết quả điều tra, phân loại, xác định thành phần chất thải thực phẩm tại huyện Thuận Thành được thể hiện trong (Hình 16)
Hình 16 Thành phần chất thải thực phẩm thải bỏ hàng ngày tại huyện
Ghi chú: Các con số ở trong cột thể hiện tỷ (%) thành phần chất thải thực phẩm
: Dấu T thể hiện giá trị độ lệch chuẩn
(Nguồn: Số liệu từ kết quả điều tra)
Trong 3 loại chất thải trên thì ta có thể thấy loại chất thải từ sơ chế chiếm nhiều nhất với 48% sau đó là chất thải từ thức ăn thừa chiếm 43% và loại khác chỉ chiếm có 9%
3.5.2 Khối lượng phát sinh chất thải thực phẩm.
Kết quả điều tra và cân rác tại các hộ gia đình tại huyện Thuận Thành được thể hiện ở Bảng 4 phụ lục 1
Kết quả điều tra các hộ gia đình trên địa bàn 3 xã cho thấy hệ số phát thải chất thải thực phẩm trung bình là 0,23 kg/ngày/người, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Giang (2016) là 0,054 kg/người/ngày Điều này cho thấy mức độ phát sinh chất thải thực phẩm tại các hộ gia đình địa phương cao hơn so với các nghiên cứu trước đó, phản ánh xu hướng gia tăng lượng chất thải thực phẩm hàng ngày.
Qua Hình 17 chúng ta thấy được sự khác nhau giữa 3 địa phương xã Song
Hồ, Thị trấn Hồ, xã Xuân Lâm, trong đó địa phương có hệ số phát sinh cao nhất là
TT.hồ với 0,26 kg/người/ngày tiếp đến là xã Song hồ 0,24 kg/người ngày và cuối cùng là xã Xuân Lâm 0.18 kg/người/ngày
Hình 17 Hệ số phát sinh chất thải 3 xã và huyện Thuận Thành
(Nguồn: Số liệu từ kết quả điều tra)
Dựa trên hệ số phát sinh chất thải thực phẩm là 0,23 kg/người/ngày và tổng dân số hiện tại của huyện Thuận Thành là 197.053 người, chúng ta ước tính lượng chất thải thực phẩm phát sinh hàng ngày khoảng 45.322 kg So sánh hệ số phát thải chất thải thực phẩm của huyện Thuận Thành với các quốc gia và khu vực khác trên thế giới, cho thấy hệ số này cao hơn so với nhiều quốc gia và khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, hệ số phát thải của huyện Thuận Thành vẫn thấp hơn so với các nước đang phát triển, phản ánh mức độ tiêu thụ thực phẩm và quản lý chất thải tương đối phù hợp.
Hình 18 Lượng chất thải thực phẩm của huyện Thuận Thành so với trên thế giới và các khu vực (kg/người/năm).
(Nguồn: Số liệu từ kết quả điều tra và của FAO, 2012).
Th ự c tr ạ ng qu ả n lý ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
3.6.1 Hình thức xử lý thức ăn thừa tại các hộ gia đình.
Hiện nay, đa số các hộ gia đình trên cả nước, đặc biệt là tại huyện Thuận Thành, đều có thói quen xử lý thức ăn thừa theo hai cách chính Gần một nửa số hộ (47%) thường xuyên bỏ thực phẩm thừa sau khi ăn, trong khi 52% thỉnh thoảng mới bỏ bỏ thực phẩm còn lại rất ít hộ (1%) luôn luôn bỏ thức ăn thừa Đối với việc cất giữ thức ăn thừa trong tủ lạnh để dùng cho bữa sau, có tới 87/90 hộ gia đình áp dụng phương pháp này, trong đó 61 hộ thường xuyên thực hiện, 23 hộ thỉnh thoảng, 3 hộ ít khi và chỉ một số rất nhỏ (3/90) không bao giờ cất giữ thức ăn thừa trong tủ lạnh.
Hầu hết các hộ gia đình không sử dụng tủ đông để bảo quản thực phẩm, với 88% trả lời không bao giờ bỏ thực phẩm vào tủ đông Chỉ một số ít hộ (11%) hiếm khi dùng tủ đông, và rất ít gia đình (1%) thỉnh thoảng mới sử dụng để bảo quản thực phẩm.
Hình 19 Hình thức xử lý thức ăn thừa tại các hộgia đình
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Hầu hết các hộ gia đình đều khẳng định không bao giờ thải bỏ thực phẩm chưa sử dụng, với tỷ lệ 64 trong tổng số 90 hộ Ngoài ra, có 25 hộ cho biết họ hiếm khi bỏ đi thực phẩm chưa dùng, thể hiện ý thức cao về việc tiết kiệm và tránh lãng phí thực phẩm.
Các hộ gia đình thường thải bỏ thực phẩm do mua quá nhiều và không kiểm soát được lượng mua hàng ngày Việc nấu nướng dư thừa dẫn đến tồn đọng thực phẩm, dễ bị hỏng sau thời gian dài, buộc phải bỏ đi Chỉ có một số hộ thỉnh thoảng mới thực hiện việc bỏ thực phẩm không sử dụng hết Điều này cho thấy cần có các biện pháp kiểm soát khẩu phần và lập kế hoạch mua sắm hợp lý để giảm thiểu lãng phí thực phẩm.
Hình 20 Tần suất thải bỏ thực phẩm khi chưa sử dụng
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
3.6.2 Dụng cụ đựng chất thải thực phẩm.
Hiện nay qua khảo sát thực tế các hộ gia đình thì các hộ gia đình có rất nhiều loại dụng cụ đểđựng chất thải thực phẩm (Hình 21)
Hình 21 Dụng cụđựng chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Theo hình 21, có 57/90 hộ gia đình sử dụng túi nilong để chứa chất thải thực phẩm, trong khi chỉ có 13/90 hộ kết hợp chất thải thực phẩm với chất thải sinh hoạt khác, 19/90 hộ dùng thùng đựng rác hở, và chỉ 1 hộ đựng chất thải thực phẩm vào thùng rác kín Nhìn chung, các hộ gia đình thường ưu tiên sử dụng túi nilong để chứa chất thải thực phẩm, phản ánh thói quen phân loại và xử lý chất thải tại nhà.
3.6.3 Phân loại chất thải thực phẩm
Khi phỏng vấn các hộ gia đình về việc phân loại chất thải thực phẩm, có đến 70% hộ cho rằng việc này là cần thiết, trong khi 30% còn lại cho rằng không cần phân loại riêng chất thải thực phẩm Việc phân loại chất thải thực phẩm giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và tăng hiệu quả trong xử lý rác thải sinh hoạt Đa số các hộ gia đình nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phân loại chất thải để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thúc đẩy thực hành sống xanh Thái độ tích cực của người dân về phân loại chất thải góp phần thúc đẩy chính sách quản lý rác thải hiệu quả hơn.
Trong khảo sát của chúng tôi, chỉ có 39% số hộ gia đình (35/90 hộ) thực hiện phân loại riêng chất thải thực phẩm, trong khi 61% (55/90 hộ) không phân loại riêng loại chất thải này Những hộ gia đình thực hiện phân loại thường là các hộ có ít nhân khẩu, đồng thời có hoạt động chăn nuôi và trồng rau, góp phần thúc đẩy quản lý chất thải sinh hoạt hiệu quả hơn.
42 họ mới phân loại để tận dụng cho các vật nuôi ăn hay là dùng để bón cho các cây trồng
Hình 22 Phân loại chất thải, (A) Mức độ cần thiết phân loại chất thải, (B) Số lượng các hộ phân loại chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Hầu hết các hộ gia đình không phân loại rác thải vì không được yêu cầu bắt buộc, dẫn đến việc bỏ chung rác và để ngoài cho các nhân viên môi trường thu gom Việc thiếu quy định rõ ràng đã khiến ý thức phân loại rác của người dân còn hạn chế, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và công tác xử lý chất thải Chính vì vậy, cần có chính sách và hướng dẫn cụ thể để nâng cao ý thức phân loại rác của các hộ gia đình, góp phần bảo vệ môi trường bền vững.
23 Nhìn chung lý do chủ yếu các hộ không phân loại là không được yêu cầu chiếm 91%, có 3 hộ không biết cách phân loại và 2 hộ là không có nhu cầu sử dụng chất thải thực phẩm nên không phân loại
Hình 23 Những lý do không phân loại chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Dựa trên khảo sát 90 hộ gia đình, chỉ có 35 hộ thực hiện phân loại chất thải thực phẩm riêng biệt Sau quá trình phân loại, mỗi hộ gia đình áp dụng các phương pháp xử lý khác nhau phù hợp với từng loại chất thải thực phẩm, góp phần giảm thiểu rác thải gây ô nhiễm môi trường Chất thải thực phẩm tại các hộ gia đình được chia thành 4 loại chính, giúp quản lý hiệu quả và thúc đẩy hành động bảo vệ môi trường xanh sạch.
+ Chất thải từ nấu nướng trong quá trình sơ chếda, xương
+ Chất thải từ thức ăn thừa
+ Chất thải từ thực phẩm thải bỏdo hư hỏng, quá hạn
+ Loại khác là bã chè, cà phê và các loại vỏ trứng Ứng với các loại chất thải thực phẩm trên thì có các cách xửlý như sau:
+ Phân loại sau đó thải bỏ cùng chất thải rắn sinh hoạt
+ Bón trực tiếp cho cây (không qua ủ)
+ Làm thức ăn cho chăn nuôi
+ Cho người khác có như cầu sử dụng chất thải thực phẩm
Hình 24 Hình thức phân loại của các hộgia đình phân loại riêng chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Từ Hình 24, có thể thấy rằng trong quá trình sơ chế và xử lý chất thải từ thức ăn thừa, 24/35 hộ gia đình đã phân loại để tái chế hoặc tái sử dụng, chủ yếu dùng làm thức ăn chăn nuôi Đối với chất thải thực phẩm hư hỏng hoặc quá hạn, cũng có 24/35 hộ phân loại để tái chế, trong đó 3 hộ ủ phân compost, 2 hộ bón trực tiếp cho cây, còn lại 17 hộ sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, trong khi 11 hộ phân loại rồi thải bỏ cùng chất thải rắn sinh hoạt Các loại chất thải khác có 13/35 hộ phân loại rồi thải bỏ cùng rác thải sinh hoạt, còn lại 22/35 hộ phân loại để bón cho cây (14 hộ) hoặc ủ phân compost (8 hộ), góp phần giảm thiểu ô nhiễm và thúc đẩy xử lý chất thải hiệu quả.
Hầu hết các hộ gia đình thường xử lý chất thải thực phẩm bằng cách làm thức ăn cho chăn nuôi hoặc phân loại và thải bỏ cùng với chất thải rắn sinh hoạt Chỉ một số ít hộ gia đình ủ phân compost để bón trực tiếp cho cây trồng Hiện tại, không có hộ nào bán hoặc cho người khác sử dụng chất thải thực phẩm với mục đích làm phân bón.
3.6.4 Công tác tuyên truyền quản lý chất thải thực phẩm.
Hiện nay, các xã đã được tuyên truyền về quản lý chất thải thực phẩm nhưng vẫn còn khoảng 48% hộ dân chưa nhận được thông tin này Theo khảo sát, có 52% hộ dân (47/90 hộ) cho biết địa phương đã tuyên truyền về quản lý chất thải thực phẩm, trong khi 48% còn lại (43/90 hộ) cho hay không nhận được thông tin hoặc không có hoạt động tuyên truyền về vấn đề này.
Hình 25 Các hộ trả lời tuyên truyền về công tác quản lý chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Hầu hết các hộ gia đình (98%) cho biết mức độ tuyên truyền quản lý chất thải trên địa bàn vẫn còn ở mức trung bình, chỉ có 1 hộ cho rằng hoạt động tuyên truyền hiếm khi diễn ra Các hộ cũng cho biết rằng, chỉ trong các ngày lễ hoặc sự kiện xã hội mới có các hoạt động tuyên truyền thường xuyên, còn lại thì chỉ diễn ra cách nhau 2 đến 3 ngày hoặc thậm chí lâu hơn.
Hình 26 Tần suất tuyên truyền và hình thức xử lý chất thải thực phẩm
(Nguồn: kết quả từ phỏng vấn người dân)
Hiện nay, phương thức tuyên truyền chủ yếu tại các địa phương là qua loa phát thanh, chiếm tỷ lệ 94% Trong khi đó, chỉ có hai hộ cho rằng công tác tuyên truyền được thực hiện bằng hình thức tập huấn, và một hộ sử dụng phát tờ rơi để truyền đạt thông tin.
3.6.5 Các biện pháp để giảm thiểu chất thải thực phẩm.
Đề xu ấ t các gi ả i pháp giúp gi ả m thi ể u ch ấ t th ả i th ự c ph ẩ m
Để giảm thiểu lượng chất thải thực phẩm phát sinh ra môi trường, chúng ta cần nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen của các hộ gia đình về việc tiết kiệm thực phẩm, qua đó giúp giảm tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội và môi trường Các gia đình nên mua thực phẩm vừa đủ dùng trong ngày thay vì tích trữ quá nhiều, đồng thời kiểm tra và lập danh sách thực phẩm cần mua trước khi đi chợ để kiểm soát lượng thực phẩm và hạn chế thực phẩm hư hỏng do để lâu hoặc hết hạn Khuyến khích sử dụng các hộp nhựa, giỏ, làn để đi chợ nhằm giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt ra môi trường.
Trong bảo quản thực phẩm tươi sống và đã chín, chúng ta cần thực hiện việc bảo quản hợp lý, sắp xếp gọn gàng để dễ dàng kiểm tra và đảm bảo chất lượng thực phẩm Việc kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện và xử lý nhanh chóng những thực phẩm còn dư thừa hoặc để lâu, tránh làm giảm giá trị dinh dưỡng và an toàn vệ sinh của thực phẩm Đặc biệt, việc để quá nhiều thực phẩm trong tủ lạnh hoặc bảo quản lâu dài có thể dẫn đến mất chất lượng, gây hại sức khỏe và lãng phí thực phẩm.
Ngoài ra tại các xã cần phải tuyên truyền và hướng dẫn các hộ dân phân loại chất thải thực phẩm Để xửlý đúng cách thì sau khi các thực phẩm không dùng nữa hoặc là những thực phẩm đã bị hư, trước khi thải bỏ ra ngoài thì chúng ta có thể phân loại riêng các loại chất thải thực phẩm riêng ra từng loại sau đó thì tận dụng lại tái sử dụng cho vật nuôi ăn hoặc là ủ phân compost, hay là bón trực tiếp cho các gốc cây nếu như không chăn nuôi hay trồng trọt thì chúng ta có thể phân loại ra rồi bán lại cho các hộgia đình chăn nuôi trang trại quy mô lớn, vừa có thêm kinh tế và giảm thiểu chất thải thực phẩm