HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT SINH VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẨM XU
Tính cấp thiết của đề tài
Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trên toàn cầu và tại Việt Nam Chất thải này chủ yếu phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, thương mại, khu chợ, trường học, công trình xây dựng và các hoạt động cộng đồng Sự gia tăng dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa cùng với sự thay đổi trong mô hình tiêu dùng đã dẫn đến việc gia tăng đáng kể lượng chất thải rắn và sự đa dạng hóa về thành phần của chúng.
Chủ đề “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt” tại Việt Nam nhằm đánh giá toàn diện thực trạng phát sinh và công tác quản lý CTRSH, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý bền vững cho tương lai Đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với tiêu chí 17 về Môi trường, việc quản lý CTRSH trở thành yếu tố quan trọng và khó kiểm soát, cần được ưu tiên giải quyết.
Theo báo cáo "Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019", Việt Nam có 1.322 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), bao gồm 381 lò đốt, 37 dây chuyền chế biến phân compost và 904 bãi chôn lấp Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, với tầm nhìn đến năm 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đặt ra các mục tiêu cụ thể cho khu vực nông thôn Hiện nay, lượng CTRSH phát sinh ở Việt Nam khoảng 38.000 tấn/ngày ở đô thị và 32.000 tấn/ngày ở nông thôn Tỉnh Hà Tĩnh đang tập trung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu hoàn thành các xã, huyện nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu vào năm 2025 Để đạt được mục tiêu này, việc giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt là rất quan trọng, trong khi tỉnh Hà Tĩnh hiện có 224 đơn vị thu gom và vận chuyển rác thải.
Tỷ lệ thu gom rác thải ở khu vực nông thôn đạt 70% và khu vực thành thị đạt 90% (Sở TNMT, 2020) Tuy nhiên, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn vẫn gặp nhiều khó khăn, với nhiều điểm nóng ô nhiễm môi trường do rác thải vứt bừa bãi tại cầu cống, dọc các trục đường giao thông, ven sông và suối Việc đốt hoặc chôn lấp rác tại các điểm tập kết và trung chuyển cũng diễn ra phổ biến, trong khi công nghệ xử lý tại một số nơi còn lạc hậu Phương tiện và thiết bị thu gom, vận chuyển chưa đồng bộ, dẫn đến hiệu quả xử lý rác thải chưa cao Ước tính, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở nông thôn khoảng 700 tấn/ngày, với tỷ lệ thu gom và xử lý đạt 70% (Hạnh Nguyên).
Vấn đề ô nhiễm môi trường do túi nilon và rác thải nhựa đang trở nên nghiêm trọng, đòi hỏi sự chú ý khẩn cấp Để nâng cao chất lượng môi trường và đạt tiêu chuẩn nông thôn mới vào năm 2025, cần xây dựng Đề án thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt Mục tiêu là giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hình thành các khu xử lý chất thải rắn bằng công nghệ hiện đại, và loại bỏ các công nghệ lạc hậu Việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cần được thực hiện một cách có nề nếp để hỗ trợ các địa phương đạt chuẩn nông thôn mới Đặc biệt, việc xử lý và phân loại rác tại nguồn có ảnh hưởng lớn đến khối lượng và thành phần rác thải phát sinh, do đó cần được quan tâm đúng mức Đề tài “Đánh giá thực trạng phát sinh và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Cẩm Xuyên” sẽ giúp đề xuất công nghệ xử lý hiệu quả.
Mục tiêu nghiên cứu
M ụ c Tiêu chung : Thực trạng phát sinh và xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Đánh giá lượng phát sinh và đặc trưng CTRSH trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Đánh giá công tác quản lý trong giai đoạn thu gom, vận chuyển CTRSH
Nghiên cứu phương thức phân loại, mạng lưới thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Tìm hiểu công nghệ xử lý CTRSH và đề xuất công nghệ xử lý đạt hiệu quả, phù hợp với địa bàn nghiên cứu
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về CTRSH
1.1.1 Ngu ồ n g ố c, tính ch ấ t, thành ph ầ n, phân lo ạ i a) Ngu ồ n g ố c CTRSH
Nguồn gốc phát sinh của CTRSH chủ yếu đến từ các khu dân cư, trung tâm thương mại, chợ dân sinh, cơ quan, trường học, các công trình công cộng, dịch vụ đô thị, sân bay, trạm xử lý nước thải và ống thoát nước của thành phố, cũng như từ các khu công nghiệp xây dựng.
Bảng 1.1: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải
Khu vực dân cư Nhà dân, khu chung cư, khu đô thị
Thức ăn thừa; rau hoa quả hỏng; giấy vụn, bìa carton
Cơ quan Các trường học, bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh, nhà máy, xí nghiệp
Thực phẩm thừa, giấy vụn, nhựa phế; CTNH (gồm cả chất thải y tế nguy hại)
Khu sinh hoạt công cộng
Khu vui chơi- giải trí, bãi biển, hoạt động thu gom vận chuyển rác, nhà ga,bến xe bus
Thức ăn thừa; rau quả hỏng; giấy vụn, bìa carton
Nông nghiệp Trang trại chăn nuôi, đồng ruộng, cây ăn quả
Bao bì-vỏ thuốc trừ sâu; chất thải nguy hại
Xử lý chất thải Khu xử lý rác thải; bãi rác thải tập trung; khu xử lý nước thải bùn thải, tro thải
Xây dựng Xây dựng mới nhà ở, khu chung cư; cải tạo và nâng cấp đường giao thông
Gạch vỡ, vỏ bao xi măng…
Khối lượng riêng của chất thải rắn, được tính bằng trọng lượng của một đơn vị vật chất trên 1 đơn vị thể tích (kg/m³), thay đổi tùy thuộc vào trạng thái như xốp, chứa trong container, không nén hay nén Các yếu tố như vị trí địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu giữ chất thải cũng ảnh hưởng đến khối lượng riêng, với khối lượng riêng của chất thải đô thị dao động từ 180 – 400 kg/m³, trung bình khoảng 300 kg/m³ (Nguyễn Trung Việt, 2016) Độ ẩm của chất thải rắn thường được biểu diễn theo phần trăm khối lượng ướt và khối lượng khô Kích thước và cấp khối hạt đóng vai trò quan trọng trong việc tính toán và thiết kế các phương tiện cơ khí, đặc biệt là trong thu hồi vật liệu và sàng lọc phân loại bằng máy hoặc phương pháp từ tính.
Bảng 1.2: KLR và độ ẩm của các chất trong CTRSH
Loại chất thải Khối lượng riêng (lb/yd 3 ) Độ ẩm (% khối lượng)
Khoảng dao động Đặc trưng Khoảng dao động Đặc trưng
Ghi chú: Lb/yd 3 x 0,5933 = kg/m 3 Nguồn: Nguyễn Trung Việt (2016)
Độ ẩm của mẫu được xác định bằng lượng nước mất đi sau khi sấy ở 105ºC trong 1 giờ Chất dễ bay hơi được đo bằng khối lượng bị mất khi mẫu CTR đã sấy ở 105ºC được nung ở nhiệt độ 550ºC trong lò kín Cacbon cố định là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại bỏ các chất vô cơ khác không phải là cacbon trong tro sau quá trình nung.
Nhiệt độ 550 ºC thường dẫn đến hàm lượng tro chiếm từ 5 đến 12%, với giá trị trung bình là 7% Tro chứa các chất vô cơ như thủy tinh và kim loại, cùng với phần trăm khối lượng của các nguyên tố C, H, O, N, S, Cl Ngoài ra, cần xem xét khối lượng rác khô và khối lượng khô của từng thành phần C, H, O, N, S, Cl và tro Nhiệt trị của chất thải rắn (CTR) được xác định là lượng nhiệt sinh ra khi đốt cháy hoàn toàn một đơn vị khối lượng CTR.
Tính chất sinh học của chất thải rắn đô thị (CTR) bị ảnh hưởng bởi thành phần chất thải, bao gồm chất hữu cơ phân hủy nhanh và chậm, cũng như khả năng phân hủy sinh học của các thành phần này Mùi hôi có thể phát sinh khi CTR được lưu giữ lâu ở các vị trí thu gom, trạm trung chuyển và bãi chôn lấp, đặc biệt là trong vùng khí hậu nóng ẩm, nơi mà tốc độ phát sinh mùi thường cao Sự hình thành mùi hôi chủ yếu là do quá trình phân hủy kỵ khí các thành phần hữu cơ trong rác đô thị.
Thành phần rác thải rất khác nhau tùy thuộc và từng địa phương, tính chất tiêu dùng, điều kiện kinh tế và có rất nhiều yếu tố khác
Thành phần chính của rác thải ở Việt Nam là chất hữu cơ có thể phân hủy, chiếm 41,98%, chủ yếu từ rác thải tại các chợ, khu thương mại và hộ gia đình Ngoài ra, các chất thải vô cơ, đặc biệt là kim loại, được thu hồi để tái chế ngay tại nguồn phát sinh.
Thành phần hóa học của các cấu tử hữu cơ trong RTSH chủ yếu bao gồm các nguyên tố C, H, O, N, S và các chất tro Hàm lượng của các nguyên tố này có sự biến đổi đáng kể tùy thuộc vào từng cấu tử hữu cơ.
Bảng 1.3: Tỷ lệ thành phần của chất thải rắn
Thành phần chất thải Độ âm (%) Độ tro (%)
Thành phần nguyên tố chủ yếu
Các loại hữu cơ khác 27,3 11,3 77,8 10,9 46,2 6,1 1,9 1 33,3 27,3
Vải sợi/cao su/da 12,4 6,6 84 9,4 50,3 6,4 3,3 1,8 31,3 12,4 Đất, đá vụn 41,1 15,3 64,7 10 37,3 5,3 1,6 0,54 29,5 41,1
Khăn (sợi, vải) dùng 1 lần 66,9 4,1 87,1 8,7 48,4 7,6 0,51 0,23 38,8 66,9
Có thể chia thành phần RTSH theo các nhóm rác có thể cháy được và không có khả năng chất được như bảng sau:
Bảng 1.4: Định nghĩa thành phần CTRSH
Thành Phần Định nghĩa Ví dụ
Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy
Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ sinh…
Hàng dệt Có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon…
Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây, loic ngô…
Cỏ, gỗ củi, rơm rạ
Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ gỗ, tre, rơm… Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa…
Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ chất dẻo
Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ chất dẻo, các đầu vòi, dây điện…
Da và cao su Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ da và cao su
Bóng, giày, ví, băng cao su…
Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút
Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ…
Các kim loại phi sắt
Các vật liệu không bị nam châm hút
Vỏ nhôm, giây bao gói, đồ đựng…
Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn… Đá và sành sứ Bất kỳ loại vật liệu không cháy khác ngoài im loại và thủy tinh
Vỏ chai, ốc, xương, gạch, đá, gốm…
Tất cả các vật liệu không được phân loại trong bảng này có thể chia thành hai loại: loại có kích thước lớn hơn 5mm và loại nhỏ hơn 5mm, bao gồm các vật liệu như đá cuội, đất, cát và tóc.
Các loại chất thải đặc trưng từ nguồn thải sinh hoạt được thể hiện ở bảng dưới đây
Bảng 1.5: Các loại chất thải đặc trưng từ nguồn thải sinh hoạt
Nguồn thải Thành phần chất thải
Khu dân cư và thương mại
Chất thải thực phẩm Giấy Carton Nhựa Vải Cao su Rác vườn Gỗ
Các loại khác: Tã lót, khăn vệ sinh,… Nhôm Kim loại chứa sắt
Chất thải thể tích lớn Đồ điện gia dụng Hàng hoá (white goods) Rác vườn thu gom riêng Pin Dầu Lốp xe
Chất thải nguy hại Chất thải từ viện nghiên cứu, công sở
Giống như trình bày trong mục chất thải khu dân cư và khu thương mại
Chất thải từ dịch vụ
Rửa đường và hẻm phố: Bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng Cỏ, mẫu cây thừa, gốc gây, các ống kim loại và nhựa cũ
Chất thải thực phẩm, giấy báo, carton, giấy loại hỗn hợp, chai nước giải khát, can sữa và nước uống, nhựa hỗn hợp, vải, giẻ rách,…
Nguồn: Nguyễn Trung Việt (2016) d) Phân lo ạ i CTRSH
Phân loại chất thải là quá trình tách riêng các thành phần trong chất thải rắn sinh hoạt, chuyển đổi từ dạng hỗn tạp sang dạng đồng nhất Quá trình này giúp thu hồi các thành phần có thể tái sử dụng, đồng thời tách biệt những thành phần nguy hại và có khả năng thu hồi năng lượng.
10 đó đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp cho từng loại/ nhóm thành phần có trong chất thải
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6705 (2009) “Chất thải rắn thông thường-phân loại”, CTRSH được phân thành các nhóm sau như sau:
Chất thải từ hộ gia đình:
Chất thải thực phẩm là loại chất thải rắn chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Chúng được phát sinh từ các quá trình chế biến, buôn bán và tiêu dùng thực phẩm.
Chất thải khác bao gồm chất thải rắn không phân hủy, có khả năng gây bụi như tro xỉ và tro than từ quá trình cháy, thường phát sinh từ hộ gia đình hoặc bếp lò đốt Ngoài ra, còn có các đồ gia dụng đã qua sử dụng, được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau.
Chất thải từ các cơ sở công cộng, dịch vụ:
Các chất thải thực phẩm và chất thải rắn không nguy hại khác, bao gồm giấy, sản phẩm giấy đã qua sử dụng, đồ nhựa, chai lọ thủy tinh, kim loại, gốm sứ, đất cát, sỏi và bụi đất, thường được thu gom từ các khu vực công cộng như bãi tắm, công viên, sân chơi, điểm dịch vụ, công sở và trường học, cũng như trên đường phố.
1.1.2 Qui đị nh pháp lý v ề CTRSH
Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, ban hành ngày 13/5/2019, của Chính phủ đã sửa đổi và bổ sung một số điều trong các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn
11 đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025;
Nghị quyết 05/NQ-TU ngày 08/12/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhấn mạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhằm hướng tới mục tiêu bền vững đến năm 2025 và những năm tiếp theo.
Quyết định số 33/2017/QĐ-UBND ngày 30/6/2017 của UBND tỉnh Hà Tĩnh quy định mức giá tối đa cho dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.
- Quyết định số 418/QĐ-UBND ngày 04/02/2013 của UBND tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
Hiện trạng phát sinh, quản lý và xử lý CTRSH
Hi ệ n tr ạ ng phát sinh CTR
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh chất thải trên toàn cầu đang gia tăng, với 2,01 tỷ tấn chất thải rắn được tạo ra vào năm 2016, tương đương 0,74 kg/người/ngày Dự báo, lượng rác thải sẽ tăng 70% từ năm 2016 lên 3,40 tỷ tấn vào năm 2050 do tốc độ tăng dân số và đô thị hóa nhanh chóng Sự gia tăng chất thải rắn sinh hoạt, cùng với sự phát triển kinh tế, đang gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Quản lý chất thải rắn hiệu quả là cấp thiết, vì các chất ô nhiễm hữu cơ có thể gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái Các hoạt động xử lý và vận chuyển chất thải rắn hiện nay chủ yếu là đốt hoặc chôn lấp, với hơn một nửa lượng rác thải sinh hoạt ở EU được xử lý theo cách này.
Việc không tái chế 15 loại rác thải có thể gây ra tác động lớn đến môi trường, khi nguồn nguyên liệu mới luôn cần được khai thác, dẫn đến khai thác tài nguyên không bền vững (Corsten, 2013) Các hộ gia đình có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động từ rác thải sinh hoạt thông qua việc cải thiện phân loại tại nguồn (Ellen, 2019) Tại Trung Quốc, tỷ lệ rác thải được tái chế ước tính chiếm 60 – 70%, trong khi ở Hồng Kông là 78%, Philippines 48%, Nhật Bản 37% và ở Việt Nam lên tới 80% Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có 25 – 35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị.
Tại Nhật Bản, mỗi người thải ra trung bình khoảng 365kg rác mỗi năm, dẫn đến tổng lượng rác thải quốc gia lên tới 45.360.000 tấn, xếp thứ 8 trên thế giới Khoảng 5% rác thải được chôn lấp, trong khi hơn 36% được tái chế Phần còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Đặc biệt, khoảng 70% rác thải sinh hoạt của các gia đình được tái chế thành phân bón hữu cơ, giúp giảm nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón.
Tại Anh, hàng năm, Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó có 46,6 triệu tấn chất thải sinh học Tỷ lệ xử lý chất thải bao gồm 60% chôn lấp, 34% tái chế và 6% thiêu đốt Đặc biệt, chất thải thực phẩm từ hộ gia đình chiếm 19% tổng lượng chất thải đô thị, với 6,7 triệu tấn thực phẩm bị lãng phí mỗi năm, trong đó 4,1 triệu tấn vẫn có thể sử dụng được Trung bình, mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm mỗi năm, tương đương 5,3 kg mỗi tuần, với 3,2 kg vẫn có thể sử dụng Trên toàn cầu, phần lớn chất thải hiện đang được xử lý tại các bãi rác.
Khoảng 37% chất thải được xử lý tại các bãi rác, trong đó 8% được xử lý tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh với hệ thống thu gom khí Bán phá giá chiếm 31% chất thải, 19% được thu hồi qua tái chế và ủ phân, trong khi 11% được đốt để xử lý cuối cùng.
Hi ệ n tr ạ ng qu ả n lý, x ử lý CTR sinh ho ạ t trên th ế gi ớ i
Chất thải rắn sinh hoạt được xử lý qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm chôn lấp, đốt, và ủ phân compost Các công nghệ áp dụng trong xử lý chất thải này bao gồm công nghệ sinh học, công nghệ nhiệt, và công nghệ Seraphin.
Hình 1.1: Phát sinh CTRSH theo đầu người tại một số nước phát triển
Theo OECD (2020), có một mối tương quan tích cực giữa phát sinh chất thải và mức thu nhập, mức sống cũng như nhu cầu con người Cụ thể, tỷ lệ phát sinh chất thải bình quân đầu người hàng ngày ở các nước thu nhập cao dự báo sẽ tăng 19% vào năm 2050, trong khi các nước thu nhập thấp và trung bình có thể tăng khoảng 40% hoặc hơn.
2020) Tổng lượng chất thải được tạo ra ở các nước thu nhập thấp dự kiến sẽ tăng hơn ba lần vào năm 2050
Hoa Kỳ Đan Mạch Nhật Bản Anh
Thành phần CTRSH phát sinh ngày càng đa dạng và gây ra bài toán xử lý khó cho quá trình hiện đại hóa công nghiệp hóa hiện nay
Bảng 1.7: Tỷ lệ % CTR xử lí bằng các phương pháp ở một số nước
STT Tên quốc gia Tái chế Chế biến phân vi sinh Chôn lấp Đốt
Nguồn: Đỗ Thị Lan và cs (2007)
Phương pháp chôn lấp là lựa chọn phổ biến nhất của nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước phát triển như Canada và Phần Lan Trong khi đó, phương pháp đốt được áp dụng bởi các quốc gia như Đan Mạch, Pháp và Đức để xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) Tuy nhiên, phương pháp chế biến phân vi sinh vẫn chưa được áp dụng rộng rãi, ngay cả ở Italia, nơi phát triển phương pháp ủ phân compost, chỉ có 2-3% khối lượng rác được xử lý theo cách này.
Hi ệ n tr ạ ng phát sinh CTRSH
Tại Việt Nam, các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) chủ yếu đến từ hộ gia đình, khu thương mại dịch vụ, công sở và khu vực công cộng Ở khu vực nông thôn, lượng CTRSH trung bình là khoảng 0,33 kg/người/ngày, trong khi vùng đồng bằng sông Hồng và Cửu Long ghi nhận 0,4 kg/người/ngày Vùng núi phía Bắc có lượng phát sinh thấp nhất, chỉ đạt 0,2 kg/người/ngày.
Số lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) ở nông thôn Việt Nam chưa được thống kê đầy đủ do công tác quản lý còn hạn chế Tính toán cho thấy một số địa phương như Quảng Ninh, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang có chỉ số phát sinh CTRSH cao, trên 1,0 kg/người/ngày Tỷ lệ thu gom CTRSH ở khu vực đô thị đạt 92% và khu vực nông thôn đạt 66% vào năm 2019 Cả nước có 1.322 cơ sở xử lý CTRSH, bao gồm 381 lò đốt, 37 dây chuyền chế biến phân compost và 904 bãi chôn lấp, trong đó chỉ khoảng 20% là hợp vệ sinh Mặc dù tỷ lệ thu gom tăng hàng năm, nhưng do lượng CTR phát sinh lớn và năng lực thu gom hạn chế, tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu.
Bảng 1.8: Lượng CTRSH phát sinh tại một số địa phương trong nước Địa phương Lượng CTR phát sinh (tấn/ngày)
CTRSHĐT CTRCN CTRCNNH CTRYTNH Đồng bằng Sông Hồng 9346.13 7249.12 1366.68 18.6
Trung du và Miền núi phía Bắc 1077.75 1314.57 188.63 11.96
Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung 4,146.37 5,447.12 1,137.17 15
Tây Nguyên 1,268.66 459.51 65.24 2.48 Đông Nam Bộ 8,981.35 7,567.46 1,583.15 14.7 Đồng bằng sông Cửu
Trong Chiến lược Quốc gia về Quản lý chất thải rắn, Việt Nam cam kết thu gom, vận chuyển và xử lý 100% chất thải ngoài hộ gia đình và 85% chất thải của các hộ gia đình ở khu vực đô thị vào năm 2025 Ưu tiên sẽ được dành cho các cơ sở xử lý quy mô lớn với công nghệ hiện đại, đồng thời tập trung vào tái chế và nâng cấp bãi chôn lấp để giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe Tuy nhiên, các thành phố và chính quyền địa phương đang gặp khó khăn trong việc quản lý dòng chất thải gia tăng Sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam đã dẫn đến lượng chất thải tăng cao, khiến hệ thống thu gom và xử lý không theo kịp Mặc dù công tác thu gom chất thải rắn tại nông thôn đã được chú trọng, nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở các khu vực đồng bằng, trong khi khu vực miền núi vẫn chủ yếu tự xử lý rác thải tại nhà.
Tính đến tháng 11/2016, cả nước có khoảng 35 nhà máy xử lý chất thải rắn (CTR) tại các đô thị, với tổng công suất thiết kế khoảng 7.500 tấn/ngày Số lượng lò đốt CTR sinh hoạt khoảng 50, chủ yếu là lò nhỏ với công suất dưới 500kg/giờ Ngoài ra, có khoảng 660 bãi chôn lấp CTR sinh hoạt, với tổng diện tích khoảng 4.900 ha, trong đó chỉ 203 bãi chôn lấp hợp vệ sinh Nhiều xã, đặc biệt là các xã miền núi, thiếu bãi rác tập trung và phương tiện chuyên chở, dẫn đến tình trạng bãi rác tự phát, gây ô nhiễm môi trường.
Tình hình qu ả n lý thu gom, v ậ n chuy ể n ch ấ t th ả i r ắ n sinh ho ạ t ở Vi ệ t Nam
Hiện nay, các công ty môi trường đô thị đã được thành lập tại tất cả các thành phố và thị xã trên cả nước để thu gom và quản lý rác thải Tuy nhiên, hiệu quả thu gom và quản lý rác thải vẫn còn thấp, chỉ đạt từ 30-70%, dẫn đến tình trạng rác thải bị đổ bừa bãi xuống sông, hồ, ngòi, ao và khu đất trống, gây ô nhiễm môi trường nước và không khí.
Hiện nay, Việt Nam áp dụng hình thức thu gom và vận chuyển CTRSH phổ biến bao gồm:
Thu gom tại các địa điểm tập kết trung chuyển là hình thức sử dụng các vị trí trung tâm, có diện tích lớn, thuận tiện để thu gom và nhận CTRSH từ các hộ gia đình.
Các xe thu gom rác thải sẽ đến các vị trí quy định tại từng địa phương, nơi người dân có thể đổ rác thải sinh hoạt (CTRSH) vào xe Sau đó, các xe này sẽ vận chuyển rác đến trạm trung chuyển hoặc trực tiếp đến các khu xử lý rác thải sinh hoạt (RTSH).
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất thải rắn sinh hoạt.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: tháng 1/2021-7/2021
Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
- Đánh giá thực trạng phát sinh và phân loại chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá về thực trạng xử lý CTRSH trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Ph ươ ng pháp thu th ậ p tài li ệ u th ứ c ấ p
Phương pháp thu thập tài liệu từ các nguồn đáng tin cậy nhằm giảm bớt nội dung điều tra, bao gồm việc thu thập số liệu thống kê về tình hình phát sinh, thu gom, lưu trữ và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Cẩm Xuyên, thông qua UBND huyện và phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Xuyên.
2.4.2 Ph ươ ng pháp thu th ậ p s ố li ệ u s ơ c ấ p a) Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Thiết kế bảng hỏi phỏng vấn cán bộ tại phòng Tài nguyên môi trường huyện Cẩm Xuyên và các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu Khảo sát và phỏng vấn được thực hiện tại 3 xã và một thị trấn, với tổng cộng 120 phiếu điều tra về việc thu gom và lưu trữ.
Bài viết này trình bày về việc thực hiện khảo sát 25 trữ CTRSH, với phiếu điều tra được thiết kế theo cấu trúc cụ thể Các hộ gia đình tại mỗi xã và thị trấn được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn, tập trung vào các khu vực đông dân cư và ít dân cư theo hướng dẫn của cán bộ phụ trách môi trường Dữ liệu thu thập được sẽ được tổng hợp, đánh giá và xử lý để thống kê kết quả thông qua đồ thị và bản đồ, đồng thời đưa ra những nhận xét chung về các thông số thực nghiệm.
Bốn khu vực khảo sát phỏng vấn bao gồm:
Nhóm 1: Xã Cẩm Hà (30 hộ)
Nhóm 2: Xã Cẩm Hưng (40 hộ: 30 hộ các thôn đồng bằng và 10 hộ ở lân cận vùng núi)
Nhóm 3: Xã Cẩm Lạc (40 hộ)
Nhóm 4 tại TT Cẩm Xuyên bao gồm 50 hộ gia đình, trong đó có 20 hộ ở khu vực đông dân cư, 20 hộ ở khu vực ít dân cư, và 10 hộ gần trung tâm chợ thị trấn có hoạt động kinh doanh buôn bán tại nhà Phương pháp lấy mẫu sẽ được áp dụng để thu thập dữ liệu từ các hộ gia đình này.
Mẫu rác thải sinh hoạt được thu thập và phân tích tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Công nghệ Môi trường, theo tiêu chuẩn TCVN 9461:2012/BTNMT Phương pháp xác định khối lượng và thành phần của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) được áp dụng để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nghiên cứu.
Khối lượng và thành phần CTRSH được xác định bằng phương pháp cân trực tiếp Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên từ 10 đến 20 hộ gia đình ở mỗi xã để thực hiện việc cân và xác định thành phần rác sinh hoạt Quá trình này diễn ra vào lúc 17h hàng ngày trong suốt một tuần tại ba xã và một thị trấn.
Chọn 40 hộ gia đình để lấy mẫu xác định hệ số phát sinh CTR sinh hoạt Mỗi xã được chọn ngẫn nhiên, riêng ở thị trấn Cẩm xuyên chọn 2 tổ dân phố: (1) đông dân cư và (2) khu vực kinh doanh buôn bán; ở mỗi nơi chọn ngẫu nhiên 5 hộ để thu toàn bộ CTR phát sinh trong 24h, ( phát túi nilon cho
Trước khi xe thu gom rác tiến hành thu gom, 26 hộ gia đình đã được cân trọng lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) Việc cân này được thực hiện vào các ngày cụ thể Hệ số phát sinh CTRSH được tính dựa trên tổng khối lượng CTR đã cân của 40 hộ gia đình và số nhân khẩu của từng hộ tại 3 xã và 1 thị trấn.
Mẫu rác thu gom từ các hộ gia đình được trộn lẫn thành một đống Các phần mẫu được lấy ngẫu nhiên, trộn đều và cân lấy 10 kg mẫu ban đầu Để đảm bảo tính đại diện, phương pháp chia bốn được áp dụng (vun đống, chia thành).
Phương pháp lấy mẫu được thực hiện bằng cách lấy 4 phần, trong đó 2 phần chéo góc, và lặp lại quy trình này hai lần, với khối lượng mẫu cuối cùng là 2,5kg Sau khi thu thập, mẫu được phân loại bằng tay thành 5 nhóm thành phần, bao gồm nhựa, giấy, thực phẩm thừa, da và cao su, rác vườn, gỗ, vải sợi, kim loại, thủy tinh, sành sứ và tạp chất khác Mỗi thành phần sau đó được cân riêng để tính toán tỷ lệ Phương pháp này cũng cho phép đánh giá nhanh và ước tính lượng chất thải.
Sử dụng công thức Euler cải tiến để ước tính lượng dân số gia tăng
Từ năm 2020 đến 2025, việc tính toán lượng chất thải rắn phát sinh sẽ được thực hiện dựa trên sự gia tăng dân số Dựa vào cơ sở thu gom rác hiện tại, mức tăng trưởng kinh tế và trình độ dân trí, chúng ta có thể ước tính khả năng thu gom rác theo từng thời điểm, với tỷ lệ phần trăm rác thu gom từ năm 2020 đến 2035.
Công thức tính dân số tương lai: N t = N 0 * (1+r/100) t
Nt là dân số tương lai (người)
N0 là dân số hiện tại (người) r là tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên t là số năm trong thời gian dự báo e) Phương pháp phân tích SWOT
SWOT được áp dụng để xác định nguyên nhân và định hướng giải pháp ứng phó với CTRSH tại huyện Cẩm Xuyên và các huyện lân cận Quy trình thực hiện bao gồm việc xác định các điểm mạnh (S) và điểm yếu (W) nội tại.
Huyện Cẩm Xuyên cần xác định các yếu tố ngoại vi ảnh hưởng đến sự phát triển, bao gồm cả thách thức và cơ hội Việc này sẽ tạo cơ sở cho việc lựa chọn giải pháp xử lý phù hợp Đồng thời, cần áp dụng phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả một cách hiệu quả.
Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu, phân tích, đánh giá qua phương pháp thông kê mô tả, bảng biểu, đồ thị
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Cẩm Xuyên
Huyện Cẩm Xuyên, thuộc tỉnh Hà Tĩnh, được tách ra từ huyện Kỳ Hoa vào năm 1837 với tên gọi ban đầu là Hoa Xuyên, và chính thức đổi tên thành Cẩm Xuyên vào năm 1841 Huyện này nằm giữa khu kinh tế cảng Vũng Áng – Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh.
Huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, có diện tích hơn 635 km² và dân số gần 149.086 người, sở hữu mạng lưới giao thông đồng bộ với Quốc lộ 1A, 15B, 8C và tuyến đường ven biển Với 938 km đường bộ, 18 km bờ biển và 65 km đường sông, huyện cách cảng hàng không Vinh và Đồng Hới từ 70 - 100 km, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh dịch vụ và giao thương Huyện có 23 đơn vị hành chính, bao gồm 21 xã và 2 thị trấn, với tổng diện tích đất tự nhiên 63.647 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 77,04% Địa hình dốc từ tây sang đông được chia thành 3 vùng sinh thái: vùng bán sơn địa phát triển cây lâm nghiệp và chăn nuôi; vùng đồng bằng chuyên sản xuất lúa chất lượng cao và nuôi trồng thủy sản; vùng ven biển tập trung vào du lịch và đánh bắt thủy hải sản.
Hình 3.1: Bản đồ huyện Cẩm Xuyên trên nền Open Street Map
Cẩm Xuyên là huyện có tiềm năng du lịch phong phú với nhiều điểm đến hấp dẫn như biển Thiên Cầm, hồ Kẻ Gỗ và Khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập Du lịch tại Cẩm Xuyên mang đến một quần thể cảnh quan đa dạng, thu hút du khách trong và ngoài nước Với những ưu đãi từ thiên nhiên, Cẩm Xuyên trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách, đặc biệt là những người làm việc tại Khu kinh tế Cảng Vũng Áng và các thành phố lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám phá và giải trí.
Cẩm Xuyên hiện có 30 dịch vụ du lịch kết nối với tỉnh và trong nước, cùng với hệ thống nhà hàng và khách sạn phong phú, bao gồm 2 khách sạn 3 sao với hàng trăm phòng nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế Huyện cũng có nhiều ngân hàng thương mại hoạt động, cung cấp dịch vụ huy động vốn, cho vay, gửi tiền, cũng như các dịch vụ hiện đại như phone banking và ATM Hệ thống điện, cấp nước và thông tin liên lạc được đầu tư đồng bộ, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn giao thông, cùng với môi trường sống trong lành.
Khu du lịch biển Thiên Cầm, cách Hà Tĩnh 20km về phía Nam theo quốc lộ 1A, nổi tiếng với bãi biển đẹp, cát trắng mịn và nước biển trong xanh Với diện tích 1500 ha kéo dài từ xã Cẩm Lĩnh đến xã Cẩm Dương, khu du lịch này được quy hoạch để phát triển nhiều loại hình du lịch như tắm biển, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, và dịch vụ ăn uống Huyện Cẩm Xuyên đang kêu gọi các dự án đầu tư để nâng cao trải nghiệm du khách với các hoạt động giải trí, tham quan văn hóa lịch sử và tâm linh.
Cẩm Xuyên có diện tích rộng lớn với 12.500 ha đất nông nghiệp, 31.000 ha đất lâm nghiệp và 1.000 ha đất nuôi trồng thủy sản, cùng với địa hình phong phú gồm sông, suối, hồ và đập lớn Vùng đồi núi chiếm 2/3 diện tích tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển lâm sinh và chăn nuôi Trữ lượng đất, đá, cát, sỏi phong phú là nguồn nguyên liệu cho xây dựng và sản xuất công nghiệp Với đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới gió mùa và nguồn nước ngọt dồi dào, Cẩm Xuyên hội tụ nhiều thế mạnh cho phát triển nông – lâm nghiệp và thủy sản Là cửa ngõ phía Nam thành phố Hà Tĩnh, cách khu kinh tế Vũng Áng 40 km, Cẩm Xuyên trở thành vùng năng động trong phát triển thương mại-dịch vụ và thu hút đầu tư, với hơn 58% dân số trong độ tuổi lao động.
31 có nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế - xã hội
Cẩm Xuyên là huyện có lợi thế về ba vùng địa hình, đặc biệt là vùng đồi núi với trữ lượng lớn vật liệu xây dựng Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp, thủy sản và du lịch đã biến nơi đây thành nguồn nguyên liệu phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ, tiểu thủ công nghiệp và chế biến.
Cẩm Xuyên là huyện nổi bật với truyền thống cách mạng và bản sắc văn hóa lịch sử phong phú Nơi đây còn bảo tồn nhiều nét văn hóa và lễ hội truyền thống đặc sắc Huyện có 37 di tích được xếp hạng, bao gồm 5 di tích cấp Quốc Gia và 32 di tích cấp tỉnh, tạo ra tiềm năng lớn cho sự phát triển của địa phương.
Hình 3.2: Phân loại hộ gia đình huyện Cẩm Xuyên
Hình 3.2 thể hiện trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên,thực hiện phỏng vấn
Tại TT Cẩm Xuyên, xã Cẩm Hà, xã Cẩm Hưng và xã Cẩm Lạc, có 120 hộ gia đình, trong đó tỷ lệ hộ nông nghiệp chiếm 42% và hộ thương mại dịch vụ chiếm 39%, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của các hộ gia đình trong lĩnh vực nông nghiệp và thương mại dịch vụ.
Trong số 32 mại dịch vụ, hộ công nhân viên chức chiếm 8% và hộ khác chiếm 11% Mặc dù ngành nghề đa dạng, nhưng theo khảo sát, ba ngành này vẫn chiếm tỷ lệ cao và đại diện cho các khu vực được lựa chọn để nghiên cứu.
Trong những năm qua, kinh tế Cẩm Xuyên đã có sự phát triển toàn diện với giá trị sản xuất bình quân hàng năm tăng hơn 13%, đạt 11.800 tỷ đồng vào năm 2020, gấp 2,7 lần so với năm 2011 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 44,7% xuống 26,89%, trong khi công nghiệp và xây dựng tăng từ 21% lên 33,41%, và thương mại - dịch vụ - du lịch từ 34,2% lên 39,7% Tuy nhiên, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiên tai như bão, lụt đã gây thiệt hại nặng nề cho hạ tầng và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trận lũ lịch sử năm 2020 với thiệt hại ước tính 1.700 tỷ đồng Đại dịch Covid-19 cũng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của huyện, với giá trị sản xuất chỉ tăng 0,2% so với kế hoạch, trong đó nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm 2% Tổng giá trị đầu tư toàn xã hội đạt 470 tỷ đồng, chỉ bằng 47% so với cùng kỳ.
Trong 6 tháng đầu năm, tổng giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 1.150 tỷ đồng, bằng 52% kế hoạch và giảm gần 2% so với cùng kỳ Sản xuất lúa đạt 9.519,8 ha, tương đương 99,8% kế hoạch, nhưng năng suất lúa giảm 3,0 tạ/ha so với vụ Xuân năm 2019, đạt 52,78 tạ/ha với sản lượng 50.258 tấn, bằng 93,4% kế hoạch Diện tích sản xuất lạc đạt 988 ha, năng suất 26,1 tạ/ha, sản lượng 2.569 tấn; rau màu đạt 1392 ha, năng suất 91,4 tạ/ha, vượt 108% kế hoạch Dịch tả lợn Châu Phi và dịch cúm gia cầm được kiểm soát hiệu quả, không có gia súc chết do dịch bệnh Sản lượng khai thác thủy sản đạt 5.310 tấn, bằng 59% kế hoạch, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2019 Công tác tiêm phòng cho gia súc gia cầm được triển khai đồng bộ, mang lại kết quả khả quan hơn các năm trước.
Tổ chức các hoạt động thông tin và tuyên truyền hiệu quả, đặc biệt là chào mừng đại hội đảng các cấp và phòng, chống dịch Covid-19 Triển khai chữ ký số cho các xã, thị trấn; rà soát và đề xuất UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí tu bổ, tôn tạo các di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh Đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ kinh phí phục dựng Hò chèo cạn.
Trong năm qua, 34 lễ hội cầu ngư đã được tổ chức, đồng thời trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc Gia Giáo dục - Đào tạo tiếp tục duy trì chất lượng ổn định, tổ chức thành công các cuộc thi giáo viên giỏi cấp huyện và các chuyên đề ôn thi vào THPT Nghị quyết số 96/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về phát triển giáo dục mầm non và phổ thông đến năm 2025 được triển khai hiệu quả, với sự chú trọng nâng cao chất lượng các trường sau sáp nhập Việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia được quan tâm, với cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ngày càng đồng bộ, dự kiến có thêm 6 trường đạt tiêu chí mới Công tác phân luồng, khuyến học khuyến tài cũng được chú trọng, với kết quả tích cực trong hướng nghiệp và dạy nghề Theo khảo sát trên 120 hộ gia đình tại huyện Cẩm Xuyên, mức thu nhập trung bình thấp, trong đó các hộ ở trung tâm huyện có mức sống cao hơn nhờ vào kinh doanh thương mại dịch vụ và công nhân viên chức Các xã còn lại đại diện cho vùng núi và đồng bằng, từ đó phản ánh tổng thể tình hình xả thải rác sinh hoạt và lượng xử lý thực tế trên địa bàn.
Bảng 3.1: Thống kê đặc điểm kinh tế - xã hội HGĐ huyện Cẩm Xuyên
Thu nhập theo HGĐ (triệu đồng)
Nguồn: Số liệu điều tra, 2021
Hiện trạng phát sinh và phân loại chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình
3.2.1 Kh ố i l ượ ng phát sinh
Chất thải rắn sinh hoạt tại Cẩm Xuyên tăng từ 10 – 12% hàng năm do sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số Dân số đã tăng từ khoảng 12.857 người vào năm 2018 lên hơn 149.086 người vào năm 2020 Tất cả khối lượng rác sinh hoạt phát sinh được phân loại và xử lý tại nguồn, sau đó vận chuyển đến nhà máy xử lý, với số liệu cụ thể: năm 2018 là 11.875,3 tấn, năm 2019 là 11.440,07 tấn, và năm 2020 là 12.039 tấn Sự phát triển kinh tế, dân số và xã hội đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể về khối lượng rác thải Nghiên cứu thực tế được thực hiện tại ba xã Cẩm Hà, Cẩm Lạc, Cẩm Hưng và TT Cẩm Xuyên, với 10 hộ đại diện cho lượng chất thải phổ biến nhất trên mỗi địa bàn.
Bảng 3.2: Phát sinh rác thải sinh hoạt tại các hộ gia đình
Khu vực Phát sinh CTRSH 1 Số dân 2 Tổng phát thải
(kg/người/ngày) (người) (kg/ngày)
(1) Phát sinh CTRSH: Số liệu tính toán từ phương pháp tính khối lượng phát sinh rác thải từ hộ gia đình
(2) Số dân: Số liệu thu thập từ cán bộ địa chính tại 3 xã: Cẩm Hưng, Cẩm Hà, Cẩm Lạc và TT Cẩm Xuyên
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 địa điểm: xã Cẩm Hà, Cẩm Hưng, Cẩm Lạc và thị trấn Cẩm Xuyên với tổng số mẫu là 40 Kết quả cho thấy hệ số phát sinh chất thải rắn lần lượt là 0,35; 0,38; 0,40; và 0,47 kg/người/ngày, trong đó thị trấn Cẩm Xuyên có khối lượng chất thải cao nhất với 0,47 kg/người/ngày Với dân số 8460 người, lượng chất thải rắn phát sinh từ các hộ gia đình tại đây khoảng 3976 kg/ngày, do thị trấn là trung tâm huyện với chợ lớn và các dịch vụ mua bán Xã Cẩm Hà phát sinh 0,35 kg/người/ngày, tổng lượng phát thải là 1940 kg/ngày do số nhân khẩu thấp Xã Cẩm Lạc phát sinh khoảng 0,4 kg/người/ngày, tổng lượng phát thải đạt 2853 kg/ngày.
Xã Cẩm Hưng có tổng lượng phát thải trung bình là 2221 kg/ngày, tương đương 0,38 kg/người/ngày với dân số 5847 người Mặc dù xã có sự phân bố giữa đồng bằng và đồi núi, mức phát thải này vẫn được coi là trung bình và thấp so với các vùng nông thôn khác trên cả nước.
Tại 3 xã và thị trấn huyện Cẩm Xuyên, dân số chủ yếu là người già và trẻ em, trong khi thanh niên thường đi làm xa hoặc học đại học Điều này dẫn đến hoạt động sinh hoạt và xả thải rác hạn chế Tuy nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, vị trí địa lý và khí hậu khắc nghiệt khiến cuộc sống ở đây nghèo nàn hơn so với các vùng nông thôn khác Mặc dù mức phát thải rác thải thấp, tình trạng ô nhiễm vẫn tồn tại và việc xử lý rác thải như chôn lấp và đốt tại hộ gia đình vẫn phổ biến và chưa đảm bảo vệ sinh môi trường.
Kết quả phân loại và xác định thành phần CTRSH hộ gia đình tại xã Cẩm Hà, Cẩm Lạc, Cẩm Hưng và TT Cẩm Xuyên cho thấy các thành phần chính bao gồm: (1) thức ăn thừa, (2) túi nilon, (3) nhựa, và (4) xốp.
(5) giấy (các loại), (6) vô cơ (kim loại) và (7)rác vườn, (8) thủy tinh, (9) tã bỉm,
(10) cao su, (11) hữu cơ khó phân hủy (giẻ, quần áo cũ ), (12) Pin, ắc quy hỏng Phân loại thành 5 nhóm sau:
Nhóm chất thải có khả năng đốt bao gồm nhiều loại vật liệu như giấy, túi nilon, nhựa, xốp hữu cơ khó phân hủy (như giẻ và quần áo cũ) cùng với chất hữu cơ dễ phân hủy như rác vườn.
- Nhóm chất thải có khả năng tái chế: Giấy, các chai nhựa, xốp,
- Nhóm chất thải có khả năng ủ phân Compost: Chất thải hữu cơ (thức ăn thừa, rác vườn rơm rạ )
- Nhóm chất thải có khả năng chôn lấp: Chất thải vô cơ (Gạch/đá, sành/sứ, thủy tinh, túi nilon, cao su, tả bỉm
- Nhóm chất thải nguy hại: Pin, ắc quy, hộp dụng cụ đựng thuốc nhuộm tóc, sơn móng tay
Hình 3.3: Tổng thành phần khối lượng CTRSH
Nguồn: Số liệu phân loại điều tra, 2021
Kết quả phân loại CTRSH tại địa điểm nghiên cứu cho thấy chất thải rắn hữu cơ chiếm 62%, trong đó rác vườn chiếm 36% và thức ăn thừa chiếm 26% Nilon cũng có tỷ lệ cao với 12%, trong khi nhựa và giấy đều chiếm 9% Các thành phần xốp và kim loại có tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 3% và 5% Khối lượng chất thải và thành phần rác rất đa dạng, phụ thuộc vào từng khu vực, với tỷ lệ phát sinh cao nhất ở trung tâm thị trấn và giảm dần tại các xã Đa số rác vườn được các hộ gia đình xử lý bằng cách chôn lấp hoặc đốt, trong khi thức ăn thừa thường được tận dụng làm thức ăn cho vật nuôi.
Tổng thành phần khối lượng CTRSH
Rác vườn Túi nilonNhựaXốpGiấyKim loại Thức ăn thừa
Hình 3.4: Phân loại thành phần CTRSH Bảng 3.3 Thành phần CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình
Xã Cẩm Hà Xã Cẩm Lạc TT Cẩm
Kim loại 0,20 5,20 0,10 1,6 0,49 10,42 0,24 5,11 Thức ăn thừa 0,69 17,96 1,54 25,58 1,5 31,91 1,48 31,55
Nguồn: Số liệu tác giả điều tra, 2021
Theo số liệu điều tra từ 4 xã, xã Cẩm Hà và Cẩm Lạc có lượng rác vườn cao nhất, lần lượt là 48,17% và 49% Tại thị trấn Cẩm Xuyên, túi nilon và nhựa chiếm tỷ lệ cao nhất do đây là trung tâm huyện với chợ lớn và nhiều quán hàng Thức ăn thừa tại thị trấn Cẩm Xuyên cũng đạt tỷ lệ cao nhất, lên đến 31,91%.
Xã 40 có đặc điểm địa lý đa dạng với một phần thuộc vùng núi và một phần thuộc vùng đồng bằng, dẫn đến tỷ lệ rác vườn và thức ăn thừa gần như tương đương Rác hữu cơ dễ phân hủy, bao gồm rác vườn và thức ăn thừa, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các loại chất thải tại các địa điểm nghiên cứu Bên cạnh đó, các loại chất thải như giấy, nilon và nhựa cũng có số lượng đáng kể, cần được xử lý kịp thời và hợp vệ sinh để tránh ô nhiễm môi trường và bảo vệ cảnh quan khu dân cư.
Quản lý và xử lý CTRSH tại các xã hiện còn hạn chế, với sự tham gia của cán bộ chuyên trách chưa chặt chẽ Điều này dẫn đến việc tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân chưa hiệu quả, gây ra lượng rác thải phát sinh lớn và bừa bãi trong môi trường.
3.2.3 D ự báo l ượ ng phát sinh ch ấ t th ả i r ắ n sinh ho ạ t
Dân số huyện Cẩm Xuyên năm 2021 là 149086 người nên N0 149086 (người) Tiêu chuẩn phát sinh chất thải là g = 0,4 kg/người.ngày
Lượng rác phát sinh trong năm 2021 là: G0= N0 x g
Số lượng rác thải phát sinh hàng năm ước tính đạt 21.766,556 tấn, tương ứng với công thức 149086 x 0,4 x 365 Sự phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại 3 xã Cẩm Hà, Cẩm Lạc, Cẩm Hưng và thị trấn Cẩm Xuyên đã thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày.
Sự gia tăng dân số là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu cuộc sống của người dân, đặc biệt khi kinh tế phát triển Khi mức sống nâng cao, nhu cầu về dịch vụ và tiện nghi cũng tăng lên, dẫn đến việc gia tăng lượng rác thải Do đó, việc dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt (RTSH) trong tương lai là cần thiết để xây dựng kế hoạch quản lý RTSH hiệu quả, như được thể hiện trong bảng 3.4 và 3.5.
Bảng 3.4: Dự báo khối lượng phát sinh CTRSH các hộ trên địa bàn Khu vực Phát sinh
(kg/ngày) Ước tính năm 2021 ( tấn )
Theo kết quả điều tra năm 2021, Thị trấn Cẩm Xuyên có tổng số dân đông và hệ số phát sinh chất thải cao nhất là 0,47, dự báo lượng rác thải đạt 1451 tấn/năm Các xã Cẩm Lạc và Cẩm Hưng lần lượt có lượng rác thải là 1041 và 810 tấn/năm Trong khi đó, Cẩm Hà với số dân thấp và hệ số phát sinh chất thải nhỏ chỉ phát sinh 610 tấn/năm Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phụ thuộc vào quy mô dân số và tốc độ đô thị hóa tại địa bàn.
3 xã thuộc địa bàn nghiên cứu đang có xu thế ngày càng tăng
Công tác dự báo phát triển dân số của Huyện Cẩm Xuyên giai đoạn 2020-2039 dựa trên dân số thực tế Với mật độ dân số cao và là trung tâm thương mại dịch vụ lớn, tốc độ gia tăng dân số tại thị trấn được xác định thông qua công thức Euler cải tiến.
Bảng 3.5: Tốc độ gia tăng dân số và khối lượng rác thải của Huyện Cẩm
Năm Số dân Khối lượng rác thải (kg/ngày) khối lượng rác thải theo năm (tấn/năm)
Bảng 3.5 chỉ ra rằng tốc độ gia tăng dân số trong tương lai sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của lượng CTRSH, với hệ số phát sinh trung bình là 0,4 kg/ngày Từ năm 2020, lượng rác thải phát sinh hàng ngày ước tính đạt 59.634 kg, trong khi dân số huyện Cẩm Xuyên vào năm 2020 là 149.086 người, với tốc độ gia tăng dân số trung bình là 0,49‰ Sử dụng công thức Euler cải tiến, chúng ta có thể dự đoán rằng tốc độ gia tăng dân số và khối lượng rác thải của toàn huyện sẽ tiếp tục tăng cao đến năm 2030.
Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt sinh hoạt
Hiện nay, công tác quản lý CTR sinh hoạt chưa được tách biệt thành một lĩnh vực riêng, dẫn đến việc từ trung ương đến địa phương chưa có cán bộ chuyên trách được phân công quản lý theo nguồn thải và tính chất của chất thải.
Cơ cấu tổ chức quản lý CTR sinh hoạt thuộc về hệ thống quản lý môi trường, với trách nhiệm chính là giám sát và kiểm soát tình hình phát sinh chất thải, bao gồm cả chất thải rắn sinh hoạt.
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở tại Huyện Cẩm Xuyên có sự điều phối của các cơ quan quản lý sau:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm quản lý và tư vấn cho UBND tỉnh về các vấn đề liên quan đến chất thải rắn Sở cũng thực hiện thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án xây dựng công trình xử lý chất thải theo quy định pháp luật.
- Sở Xây dựng thẩm định thiết kế công trình xử lý CTR sinh hoạt
- Sở Tài chính là đơn vị quản lý nguồn ngân sách của tỉnh, quyết định đến nguồn vốn xây dựng công trình
Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn, có nhiệm vụ tham mưu cho UBND huyện về các vấn đề liên quan đến đất đai và môi trường, đồng thời trực tiếp quản lý lĩnh vực môi trường, bao gồm cả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện.
Ban địa chính – môi trường của các xã, thị trấn, với sự tham gia chủ yếu của cán bộ địa chính xây dựng, môi trường, có nhiệm vụ tư vấn cho UBND xã, thị trấn và trực tiếp quản lý nhà nước về đất đai và các vấn đề liên quan.
Sở TNMT tỉnh Hà Tĩnh Sở, ngành khác
TT quan trắc, phân tích MT
Các TT, phòng ban khác
Phòng TNMT huyện Cẩm Xuyên Phòng ban khác
Cán bộ địa chính-xây dựng, môi trường của xã, TT đề môi trường tại xã, TT mình quản lý ( Sở TNMT tỉnh Hà Tĩnh, 2020)
Hình 3.6: Sơ đồ tổ chức QLNN về môi trường huyện Cẩm Xuyên
3.3.2 Vi ệ c phân lo ạ i rác th ả i t ạ i ngu ồ n:
Phân loại rác tại nguồn vẫn chưa được thực hiện hiệu quả bởi người dân, dẫn đến việc tái chế rác thải chưa đạt yêu cầu Hầu hết các hộ gia đình thường bỏ chung rác thải sinh hoạt vào túi nilon, gây ra khối lượng rác lớn cần thu gom và xử lý Điều này không chỉ làm tăng chi phí cho công tác thu gom và vận chuyển mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
Việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTR) tại nguồn đang gặp nhiều khó khăn do người dân chưa được hướng dẫn kỹ thuật phân loại rác Các cơ quan chức năng chỉ mới tuyên truyền khuyến khích mà chưa có lộ trình cụ thể Hơn nữa, người dân thiếu phương pháp xử lý rác thải hữu cơ như ủ phân compost hay làm hầm biogas, dẫn đến việc tất cả CTR đều bị chôn lấp Hạ tầng thu gom và xử lý rác tại các xã, thị trấn chưa đáp ứng yêu cầu, khiến cho việc phân loại rác chỉ dừng lại ở mức khuyến khích Cần có biện pháp tuyên truyền để nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong công tác phân loại rác, nhằm bảo vệ môi trường khu dân cư Một số địa phương nông thôn đã chủ động triển khai tuyên truyền và cấp phát thùng rác cho hộ dân, như ở các huyện Thạch Hà, Đức Thọ, Nghi Xuân, Vũ Quang, Cẩm Xuyên, Hương Sơn, giúp giảm đáng kể lượng rác cần xử lý Năm 2020, lượng rác giảm nhờ phân loại tại nguồn đạt 100,9 tấn/ngày, tương đương 15,2%, trong đó khu vực nông thôn giảm 12,9% và khu vực đô thị giảm 2,3%.
Nh ậ n th ứ c và ý th ứ c c ủ a ng ườ i dân trong vi ệ c phân lo ạ i rác t ạ i ngu ồ n
Kết quả điều tra về nhận thức và ý thức của người dân về phân loại rác tại nguồn được thể hiện :
Hình 3.7: Sự đồng ý tham gia phân loại rác tại nguồn
Kết quả điều tra cho thấy hơn 70% người dân tại 3 xã và 1 thị trấn đồng ý tham gia phân loại rác tại nguồn, với tỷ lệ cao nhất ở thị trấn Cẩm Xuyên (80%) Các xã Tây Cẩm Hưng, Cẩm Hà và Cẩm Lạc có tỷ lệ đồng ý lần lượt là 37,5%, 42,5% và 47,5% Những người này đã tham gia các buổi tuyên truyền và nhận thức được tầm quan trọng của việc phân loại rác, nhằm giảm ô nhiễm môi trường và tận thu chất thải tái sử dụng Tỷ lệ người không tham gia phân loại rác tại các địa phương này lần lượt là 53,5% ở Cẩm Hưng, 47,5% ở Cẩm Hà, 42,5% ở Cẩm Lạc và 20% ở thị trấn Cẩm Xuyên.
Cẩm Hà Cẩm Hưng Cẩm Lạc TT Cẩm xuyên
THỰC HIỆN PHÂN LOẠI TẠI NGUỒN
Hình 3.9: Tham gia phân loại rác tại nguồn khi được cấp thùng rác miễn phí
Trên địa bàn, việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức về phân loại rác tại nguồn đã được triển khai hiệu quả, với việc cấp phát thùng rác miễn phí cho các hộ dân Kết quả khảo sát cho thấy hơn 92% hộ gia đình tại thị trấn Cẩm Xuyên đồng ý tham gia phân loại rác trước khi thải bỏ Sự hỗ trợ này đã nâng cao ý thức của người dân từ trung tâm thị trấn đến các xã nông thôn về tầm quan trọng của việc phân loại rác, giúp công tác thu gom và xử lý rác thải trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.
Hiện nay, rác thải sinh hoạt tại các địa phương đang được thu gom hiệu quả thông qua mạng lưới của các công ty môi trường, hợp tác xã, và các tổ, đội.
CẨM HÀ CẨM HƯNG CẨM LẠC TT CẨM XUYÊN
Tham gia phân loại khi được cấp thùng rác miễn phí
48 vệ sinh môi trường, với hai hình thức, gồm:
(1) Từ nơi phát sinh (hộ gia đình, cơ quan, đơn vị) điểm trung chuyển/tập kết vận chuyển đến khu xử lý tập trung
Dịch vụ vận chuyển hàng hóa được thực hiện từ nơi phát sinh đến khu xử lý tập trung, chủ yếu áp dụng tại các địa phương như Cẩm Xuyên.
Công tác thu gom rác thải được thực hiện nghiêm túc với ý thức cao của công nhân môi trường Rác thải sau khi phân loại được các Hợp tác xã và tổ đội vệ sinh môi trường thu gom và vận chuyển đến điểm thu gom, trạm trung chuyển và nơi xử lý Tùy theo tình hình từng xã, thị trấn, công nhân Hợp tác xã vệ sinh môi trường thu gom rác tại từng hộ gia đình hoặc theo thời gian quy định để các hộ gia đình đưa rác ra các điểm thu gom Sau đó, công nhân bốc xếp rác thải lên xe chuyên dụng để vận chuyển đến nơi xử lý.
Bảng 3.6: Kết quả thu gom CTRSH huyện Cẩm Xuyên 2016-2020
Kết quả thu gom chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) từ năm 2016 đến 2020 cho thấy tổng lượng rác phát sinh tăng 1,65 tấn/ngày, phản ánh nhu cầu ngày càng cao của người dân Do đó, các cơ quan chính quyền địa phương cần triển khai các chính sách phù hợp để quản lý hiệu quả lượng rác thải này.
Năm Lượng rác phát sinh
Lượng rác thu gom, vận chuyển, xử lý (Tấn/ngày)
Tỷ lệ thu gom, vận chuyển, xử lý
Trong bối cảnh quản lý và xử lý chất thải, 49 sách mới đã được phát hành nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân So với các xã, huyện khác, lượng phát sinh và công tác thu gom tại địa bàn nghiên cứu thấp hơn, đặc biệt là ở các xã nông thôn và thấp hơn nhiều so với các xã gần trung tâm thành phố lớn Chẳng hạn, huyện Tiền Hải ghi nhận khoảng 110 tấn chất thải phát sinh mỗi ngày, trong đó hơn 98,2% đã được thu gom và xử lý (Phòng TNMT huyện Tiền Hải, 2019) Các địa phương như huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cũng có tình hình tương tự.
Hình 3.10: CTSH được người dân tập kết lại để tiến hành thu gom Công tác thực hiện giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH
Dựa trên Quyết định số 33/2017/QĐ-UBND ngày 30/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về mức giá tối đa cho dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt, UBND huyện đã phê duyệt mức giá cụ thể tại Quyết định số 4316/QĐ-UBND ngày 16/11/2017 Mức giá thu gom áp dụng cho dịch vụ này cơ bản bằng 70% giá quy định trong Quyết định số 33, trong đó hộ gia đình có từ 1 đến 2 người sẽ áp dụng mức giá theo quy định.
QĐ số 33 và xây dựng giá tại xã Cẩm Nhượng áp dụng bằng giá tại 2 thị trấn)
- Thời gian bắt đầu áp dụng giá dịch vụ: Từ tháng 1 năm 2018
Đề xuất giải pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt
3.4.1 Đề xu ấ t gi ả i pháp chi ế n l ượ c thu gom, x ử lý CTRSH t ạ i huy ệ n C ẩ m Xuyên, t ỉ nh Hà T ĩ nh
Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020-2025 đặt mục tiêu đến năm 2025, tỷ lệ chất thải rắn được phân loại, thu gom và xử lý đạt từ 80% trở lên Đồng thời, theo tiêu chí NTM huyện, đến năm 2025, cần đảm bảo xử lý tối thiểu 95% chất thải rắn phát sinh trên địa bàn.
Đến năm 2030, để đạt được mục tiêu chung về quản lý rác thải, cần thiết lập các mục tiêu cụ thể cho việc thu gom, phân loại và xử lý rác thải tại từng khu vực thị trấn và nông thôn, được thực hiện theo từng giai đoạn cụ thể.
+ Giai đoạn 2021 – 2023: Giai đoạn này tỷ lệ thu gom xử lý đúng quy
Tỷ lệ phân loại và xử lý rác thải tại hộ gia đình đạt 20%, trong khi tỷ lệ rác sau phân loại được thu gom và xử lý đúng quy định đạt 67,3% Dự báo vẫn còn 8,4% rác thải chưa được thu gom và 4,3% được thu gom nhưng xử lý không đúng quy định, với sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng đô thị và nông thôn.
Tại khu vực thị trấn, tỷ lệ rác được phân loại và tự xử lý chỉ đạt 8%, chủ yếu để bán phế liệu Sau khi phân loại, lượng rác cần xử lý vẫn chiếm tới 86% Dự báo, khoảng 6% lượng rác vẫn chưa được thu gom ở đô thị, trong khi tỷ lệ rác được đốt và chôn lấp tại các điểm trung chuyển trong giai đoạn này vẫn còn khoảng 3%.
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ rác được phân loại và tự xử lý đạt 25%, chủ yếu là phân loại rác hữu cơ để ủ phân hoặc làm thức ăn gia súc Sau khi phân loại, lượng rác cần xử lý vẫn chiếm 65%, trong khi dự báo lượng rác không thu gom được vẫn còn 10% Tỷ lệ rác được đốt và chôn lấp tại các điểm trung chuyển trong giai đoạn này vẫn duy trì ở mức khoảng 6%.
Giai đoạn 2023 - 2025, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải đúng quy định dự kiến đạt 95% Trong đó, tỷ lệ phân loại và xử lý tại hộ gia đình đạt 26,5%, và tỷ lệ rác sau phân loại được thu gom và xử lý đúng quy định đạt 68,6% Dự báo vẫn còn 3,3% rác thải chưa được thu gom và 1,6% được thu gom nhưng xử lý không đúng quy định, với sự khác biệt giữa các vùng đô thị và nông thôn.
Tại khu vực đô thị, tỷ lệ rác được phân loại và tự xử lý chỉ đạt 10%, chủ yếu để bán phế liệu, trong khi 90% lượng rác cần được xử lý sau phân loại Cần chấm dứt tình trạng rác thải không được thu gom, gây ô nhiễm nơi công cộng và đường giao thông Dự báo, tỷ lệ rác sau khi thu gom vẫn còn khoảng 1% sẽ được đốt và chôn lấp tại các điểm trung chuyển trong giai đoạn này.
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ rác được phân loại và tự xử lý đạt 35%, chủ yếu là phân loại rác hữu cơ để ủ phân hoặc làm thức ăn gia súc Sau khi phân loại, lượng rác cần đưa đi xử lý còn lại là 60% Dự báo, vẫn còn 5% lượng rác không được thu gom ở nông thôn, trong khi tỷ lệ rác được đốt vẫn đang được theo dõi.
60 chôn lấp tại các điểm trung chuyển giai đoạn này vẫn còn khoảng 2%
Giai đoạn 2025 - 2030 sẽ chứng kiến việc thu gom và xử lý rác thải đạt 100% theo quy định Tại các hộ gia đình ở đô thị, tỷ lệ tự phân loại rác thải đạt 10%, trong khi ở nông thôn con số này là 40% Đặc biệt, tình trạng đốt và chôn lấp rác tại các điểm trung chuyển sẽ không còn, với tỷ lệ rác được xử lý ở đô thị đạt 90% và ở nông thôn là 60%.
3.4.2 Đề xu ấ t mô hình thí đ i ể m gi ả i pháp x ử lý CTRSH t ạ i huy ệ n C ẩ m Xuyên, t ỉ nh Hà T ĩ nh
Triển khai đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt mới tại huyện Cẩm Xuyên với công nghệ hiện đại và công suất lớn khoảng 500 tấn/ngày Giai đoạn 1 sẽ có công suất tối thiểu 300 tấn/ngày và dự kiến đi vào vận hành từ năm 2025 Dự án nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý rác thải sinh hoạt tập trung quy mô liên huyện phía Bắc, phù hợp với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hiện tại và trong tương lai, dựa trên dự đoán về tốc độ gia tăng dân số và phát sinh chất thải.
Phân tích SWOT xây dựng nhà máy điện rác công suất 300 tấn/ngày
- Nguồn lao động dồi dào, có nhiều kinh nghiệm
Từ năm 2017 đến nay, ngân sách các cấp đã đầu tư và hỗ trợ cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) theo Văn bản số 693/STC-NSHX ngày 02/3/2017 của Sở Tài chính Trong giai đoạn 2017-2020, hàng năm, ngân sách tỉnh đã cấp kinh phí cho các địa phương để vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt.
HTX Môi trường cam kết đảm bảo công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải hiệu quả, nhờ vào sự nỗ lực và tận tâm của các thành viên trong tổ chức.
- Công tác phân loại rác tại nguồn nâng cao với mục tiêu tăng dần tỷ lệ
Trên địa bàn tỉnh và huyện, chương trình tập huấn và tuyên truyền về phân loại rác tại nguồn đã được triển khai, nhằm hỗ trợ việc phân loại 61 loại rác cho tái chế và chế biến phân hữu cơ Chính sách hỗ trợ thùng đựng rác phục vụ phân loại rác tại nguồn được thực hiện theo Nghị quyết 79/2017/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, góp phần bảo vệ môi trường trong giai đoạn 2018-2020.
Ý thức của người dân ngày càng được nâng cao, dẫn đến trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường (BVMT) và việc thu gom, xử lý rác thải ngày càng được thực hiện một cách hiệu quả hơn.
- Có diện tích để xây dựng lò đốt Diện tích lò nhỏ hơn so với phương pháp xử lý bằng sinh học và chôn lấp
- Nhiệt tỏa ra của quá trình đốt có thể sử dụng cho các quá trình khác
Nhà máy chế biến phân hữu cơ từ rác thải tại huyện có công suất 130 tấn/ngày, theo Quy hoạch 418 của tỉnh, dự kiến sẽ nâng công suất lên 210 tấn/ngày vào năm 2020 Đến năm 2030, khu vực này sẽ quy hoạch một nhà máy sản xuất chế biến phân hữu cơ và chôn lấp với công suất 290 tấn/ngày, nhằm xử lý rác thải cho thành phố Hà Tĩnh và huyện Cẩm Xuyên.
Kết luận
Huyện Cẩm Xuyên đang nỗ lực thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu hoàn thành xã, huyện NTM, NTM nâng cao và kiểu mẫu vào năm 2025 Đây là huyện có mật độ dân số cao, với lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh từ 0,32 - 0,47 kg/người/ngày Tổng mức phát thải tại các địa phương như xã Cẩm Hà, Cẩm Lạc, Cẩm Hưng và thị trấn Cẩm Xuyên lần lượt là 1805kg/ngày, 2853kg/ngày, 2221kg/ngày và 3976kg/ngày Nghiên cứu cho thấy tổng số thành phần CTRSH tại khu vực này gồm 12 loại, trong đó rác hữu cơ dễ phân hủy như rác vườn và thức ăn thừa chiếm tỷ lệ cao nhất, trung bình 62% Các thành phần khác như nilon, giấy, nhựa cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, lần lượt là 12% và 9%, trong khi xốp và kim loại chiếm tỷ lệ thấp nhất với 5% và 3%.
Công tác thu gom và vận chuyển CTRSH tại huyện đã đạt được nhiều thành tựu nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền Mô hình quản lý tập trung cho một đơn vị đầu mối đã giúp tổ chức thực hiện hiệu quả việc thu gom và vận chuyển rác Tại địa phương, 100% có tổ/đội thu gom và vận chuyển, tạo ra mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt, góp phần tăng tỷ lệ chất thải được xử lý và đảm bảo vệ sinh môi trường Các chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các HTX và đơn vị đầu tư trong hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đã mang lại hiệu quả tích cực.
Để nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý CTRSH tại huyện Cẩm Xuyên, cần thực hiện các giải pháp chung như cải cách cơ cấu tổ chức, chính sách hỗ trợ và tăng cường tuyên truyền Đặc biệt, đề xuất mô hình thí điểm thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt thông qua việc xây dựng một nhà máy điện rác tập trung với công nghệ hiện đại, có công suất lớn khoảng 500 tấn/ngày Giai đoạn I của dự án sẽ đạt công suất tối thiểu 300 tấn/ngày và dự kiến đi vào vận hành từ năm 2025.
Kiến nghị
Sự phát triển kinh tế - xã hội đã nâng cao đời sống người dân, nhưng cũng dẫn đến lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp, gây áp lực lên môi trường Điều tra cho thấy nhận thức của người dân về phân loại rác thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại nguồn ảnh hưởng lớn đến lượng rác phát sinh Thị trấn Cẩm Xuyên có tỷ lệ người đồng ý tham gia phân loại rác cao nhất, với 92,5% đồng ý khi được cấp thùng rác miễn phí và 80% đồng ý tham gia phân loại Tuy nhiên, việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nhà máy xử lý rác ở Cẩm Quan - Cẩm Xuyên chưa hoạt động hết công suất Do đó, cần có những đề xuất cải thiện tình hình này.
Nâng cao nhận thức và triển khai công tác phân loại rác tại nguồn cho các hộ gia đình nhằm tăng tỷ lệ rác được phân loại cho tái chế và chế biến phân hữu cơ.
Xây dựng mô hình tổ chức hiệu quả cho mạng lưới thu gom và vận chuyển rác thải tại từng khu vực là cần thiết để nhân rộng Hiện tại, chưa có phương thức quản lý chung cho tổ chức mạng lưới này.
Triển khai xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý, thu gom, vận chuyển,
67 biện pháp xử lý chất thải sinh hoạt tại tỉnh nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường và cảnh quan sinh thái, đồng thời nâng cao sức khỏe cộng đồng, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Xây dựng lò điện rác hiện đại tại huyện Cẩm Xuyên nhằm thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt với công suất lớn.
Dự án xử lý rác thải tập trung quy mô liên huyện phía Bắc sẽ có công suất 500 tấn/ngày, với giai đoạn 1 đạt tối thiểu 300 tấn/ngày và dự kiến đi vào vận hành vào năm 2025.
Tổ chức các hoạt động hưởng ứng bảo vệ môi trường theo từng đợt trong năm, đồng thời tiến hành tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho lãnh đạo UBND cấp huyện, xã và cán bộ địa chính, cán bộ phụ trách môi trường tại các địa phương.
Quản lý rác thải sinh hoạt phải thực hiện đảm bảo theo nguyên tắc
“người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người sử dụng dịch vụ phải trả giá dịch vụ”.