1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện thuận thành tỉnh bắc ninh

111 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề cấp thiết trên, tôi chọn đề tài “Đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” nhằm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS LÊ ĐÌNH HẢI

Hà Nội, 2020

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS TS Lê Đình Hải Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Công trình chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2020

Người cam đoan

Nguyễn Phú Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như sự quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, tổ chức chính trị xã hội, sự hướng dẫn tận tình của các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp và sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất cũng như sự ủng hộ về tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Đặc biệt em xin cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS TS Lê Đình Hải - người đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể các thầy giáo,

cô giáo công tác trong Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn các đồng chí Thường trực Liên đoàn Lao động tỉnh, lãnh đạo Văn phòng Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian cũng như sự động viên, cổ vũ tinh thần để tôi hoàn thành khóa học và yên tâm nghiên cứu; xin cảm ơn UBND huyện Thuận Thành và các cơ quan chuyên môn đã cung cấp các số liệu và giúp tôi thực hiện việc khảo sát, đánh giá thực tế để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2020

Học viên

Nguyễn Phú Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI DÂN 5

1.1 Cơ sở lý luận về an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội 5

1.1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân 5

1.1.2 Nội dung của việc bảo đảm an sinh xã hội cho người dân 18

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện 20

1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về bảo đảm an sinh xã hội cho người dân 26

1.2.1 Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 26

1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi 28

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người dân của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 30

1.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 36

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 36

2.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội 38

Trang 5

2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm huyện Thuận Thành và những thành công, hạn chế trong công tác đảm bảo ASXH cho người dân trên địa bàn

huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 49

2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá trong luận văn 49

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51

3.1 Thực trạng bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 51

3.1.1 Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 51

3.1.2 Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 56

3.1.3 Thực trạng công tác bảo trợ xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 62

3.1.4 Thực trạng công tác ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 66

3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 68

3.2.1 Nhận thức của người dân 68

3.2.2 Khả năng huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính để bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện 70

3.2.3 Tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ 72

3.2.4 Khả năng tự an sinh của người dân 73

3.3 Đánh giá chung thực trạng đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh 73

3.3.1 Những kết quả đạt được 73

Trang 6

và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 82 3.4.3 Đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 85 3.4.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và người dân tham gia tích cực vào việc bảo đảm

an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành 87 3.4.5 Tăng cường khả năng "tự an sinh" của người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 90

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92TÀI LIỆU THAM KHẢO 95PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ASXH An sinh xã hội

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

BTXH Bảo trợ xã hội

CCKT Cơ cấu kinh tế

CNH Công nghiệp hóa

NCT Người cao tuổi

NKT Người khuyết tật

TGXH Trợ giúp xã hội

TNHH Trách nhiệm hữu hạn UBND Ủy ban nhân dân

ƯĐXH Ưu đãi xã hội

XĐGN Xóa đói giảm nghèo

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế qua các năm 38

Bảng 2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 48

Bảng 3.1 Tổng hợp rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện 2018 - 2019 57

Bảng 3.2 Tổng hợp rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện 2019 - 2020 58

Bảng 3.3 Tổng hợp số liệu hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở 2015 - 2019 62

Bảng 3.4 Tổng hợp các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện 64

Bảng 3.5 Tổng hợp các đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội trên địa bàn huyện Thuận Thành 67

Bảng 3.6 Chi ngân sách huyện giai đoạn 2015 - 2019 71

Bảng 3.7 Ý kiến đánh giá của người dân về hiệu quả thực thi chính sách bảo đảm ASXH và năng lực cán bộ làm công tác ASXH trên địa bàn 75

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Thuận Thành 36

Biểu đồ 2.1 Tình hình thu chi ngân sách huyện 2015 - 2019 39

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ dân số tham gia BHXH, BHYT, BHTN 2015 - 2019 52

Biểu đồ 3.2 Tổng thu, chi BHXH, BHYT, BHTN 2015 - 2019 53

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Hơn 30 năm đổi mới đất nước theo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với những thành tựu đạt được về kinh tế, như kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng ngày càng hợp lý, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên… Đảng và Nhà nước cũng ban hành nhiều chính sách nhằm thực hiện tốt quyền được hưởng an sinh xã hội của nhân dân Vì an sinh xã hội là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến bộ của một doanh nghiệp, một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia Được hưởng an sinh xã hội là một trong những quyền và đòi hỏi chính đáng của con người Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhấn mạnh: “An sinh xã hội

là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” Văn kiện Đại hội XII của Đảng một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động… Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân Quan điểm, chủ trương trên của Đảng được Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện bằng các chính sách và chương trình nhằm bảo đảm cho mọi người dân ít nhất có được mức thu nhập tối thiểu, có cơ hội tiếp cận

ở mức tối thiểu các chính sách an sinh xã hội cơ bản

Trang 10

Thuận Thành là một huyện nằm ở phía nam sông Đuống, đồng thời cũng nằm ở phía nam tỉnh Bắc Ninh cách trung tâm Hà Nội 25 km về phía Đông Nam Thực hiện định hướng xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2022, huyện Thuận Thành đang trong quá trình tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu trở thành

đô thị loại 4 trực thuộc tỉnh vào năm 2020, thị xã năm 2021, thời gian qua huyện Thuận Thành đã tập trung triển khai nhiều giải pháp phấn đấu đạt mục tiêu đề ra Bên cạnh việc đảm bảo phát triển đô thị phù hợp với phát triển kinh

tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cũng là một trong những tiêu chí phấn đấu, huyện Thuận Thành coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội tại địa phương Nhờ vậy, công tác an sinh xã hội trên địa bàn đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên, đánh giá khách quan phải thấy, việc đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn còn hạn chế, vẫn còn chỉ tiêu về an sinh xã hội chưa đạt kế hoạch đề ra, cùng với sự tác động của kinh tế thị trường đã làm cho nhiều vấn đề xã hội nảy sinh đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết để phát triển bền vững

Từ những vấn đề cấp thiết trên, tôi chọn đề tài “Đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” nhằm

nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội của người dân trên địa bàn huyện giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững của huyện Thuận Thành nói riêng và tỉnh Bắc Ninh nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

Trang 11

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân

- Đánh giá thực trạng về công tác an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo công tác an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất giải pháp góp phần đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Thực trạng và giải pháp góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

- Về không gian: Trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Về thời gian:

+ Các số liệu và tài liệu thứ cấp của đề tài được thu thập qua 3 năm

2017 - 2019;

+ Các số liệu sơ cấp được khảo sát từ tháng 02 năm 2020

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về đảm bảo an sinh xã hội cho người dân

- Thực trạng về công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

- Một số giải pháp góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đảm bảo an sinh xã hội cho người dân;

- Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu;

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢM BẢO

AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI DÂN

1.1 Cơ sở lý luận về an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội

1.1.1 Những vấn đề chung về an sinh xã hội và đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân

1.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội

An sinh xã hội là cụm từ được dùng khá nhiều ở Việt Nam trong thời gian gần đây và cũng được đề cập đến trong các văn kiện, tài liệu chính thức của Đảng và Nhà nước ta

Trong cuốn Giáo trình nhập môn an sinh xã hội của Nguyễn Hải Hữu (2008) quan niệm:

An sinh xã hội là một hệ thống cơ chế chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho họ có nguy cơ bị rút giảm nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không có sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa… thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt

Theo Hoàng Chí Bảo (2008): ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách

Mai Ngọc Cường (2009) lại cho rằng, để thấy được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này

Trang 14

+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội

+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa

Khái niệm ASXH sử dụng trong Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 là khái niệm rộng, bao gồm một hệ thống các chính sách

và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội và tư nhân thực hiện nhằm

hỗ trợ, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng quản lý rủi

ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro do thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản

Trong cuốn: "Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng", ASXH được quan niệm: ASXH là một hệ thống chính sách và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH, có thể rút ra kết luận: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng để trợ giúp các thành viên trong xã hội trước những rủi ro và tác động bất thường và kinh tế, xã hội và môi trường nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Hệ thống ASXH Việt Nam là một bộ phận của chính sách xã hội, được gắn kết hữu cơ với các chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị gắn với sức mạnh quốc phòng - an ninh trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Đặc biệt, tại Điều 34, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 15

Nam 2013 đã chính thức tuyên bố: Công dân có quyền được bảo đảm ASXH Bảo đảm ASXH luôn được coi là nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước và toàn xã hội Và quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước tại Điều 59: "Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác"

Từ các quan điểm và định nghĩa, có thể thấy bản chất của ASXH là tạo

ra mạng lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị mất hoặc giảm thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Hệ thống ASXH được thiết kế theo nguyên tắc: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo đồng thời phải được xã hội hóa cao, huy động sự tham gia rộng rãi của mọi tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và của toàn xã hội; xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, đa tầng hướng tới bao phủ toàn dân; nâng cao năng lực

tự an sinh của người dân và cộng đồng; chú trọng đến nhóm dễ bị tổn thương, người nghèo, vùng nghèo, vùng dân tộc, miền núi, nông thôn, khu vực phi chính thức; từng bước tiếp cận với chuẩn mực quốc tế, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

1.1.1.2 Những trụ cột cơ bản của an sinh xã hội

Hệ thống ASXH giữa các quốc gia trên thế giới được xây dựng không hoàn toàn đồng nhất với nhau Ở Việt Nam, cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH gồm các trụ cột cơ bản sau: bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); bảo trợ xã hội (BTXH); xóa đói giảm nghèo (XĐGN); ưu đãi xã hội (ƯĐXH); giải quyết việc làm cho người lao động

- Bảo hiểm xã hội:

Bảo hiểm xã hội là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH BHXH là

sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi

họ gặp những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị

Trang 16

mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động từ hoạt động nghề nghiệp của họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động

Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH có đặc điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự cố và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa người sử dụng lao động và người lao động, có một phần tham gia của nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…

Bảo hiểm xã hội bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… là lĩnh vực rộng, phức tạp, nhạy cảm về chính trị - kinh tế -

xã hội, có lịch sử phát triển lâu dài trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và phản ánh trình độ phát triển, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở mỗi nước Riêng nước ta, BHXH mới được bắt đầu thực hiện từ năm

1961 và ngày được hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển bền vững của đất nước và thể hiện được tính nhân văn, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta BHXH là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống ASXH, đã được thể chế hóa bằng Luật BHXH, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và sửa đổi, bổ sung được thông qua ngày 20/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa

Trang 17

XIII Tại khoản 1, Điều 3, Luật BHXH năm 2014 có quy định rõ BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ

bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH BHXH gồm hai loại: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất

Nguyên tắc BHXH: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng

do người lao động lựa chọn Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH… (Điều 5, Luật BHXH)

- Bảo hiểm y tế:

Bảo hiểm y tế là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống ASXH Ở nước ta, Luật BHYT được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 và sửa đổi, bổ sung được thông qua ngày 13/6/2014 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII BHYT là loại hình BHXH nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người tham gia theo quy định của pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận

Nguyên tắc BHYT: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương,

Trang 18

tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ

Chính sách của Nhà nước về BHYT: Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng BHYT cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội như đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo… Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ BHYT được miễn thuế Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia BHYT hoặc đóng BHYT cho các nhóm đối tượng Đối tượng tham gia BHYT được quy định cụ thể tại Điều 12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014

- Bảo hiểm thất nghiệp:

Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là biện pháp để giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm công việc mới

Dưới góc độ pháp lý, chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho người lao động bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc BHTN được quy định chi tiết tại chương 6, Luật Việc làm được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 16/11/2013

- Xóa đói giảm nghèo:

Xóa đói giảm nghèo là một trong những trụ cột quan trọng bậc nhất của việc đảm bảo ASXH cho người dân Đây là một chủ trương lớn của Đảng và

Trang 19

Nhà nước nhằm hỗ trợ những vùng khó khăn vươn lên XĐGN, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững,

ổn định chính trị xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta

Xóa đói giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư đói nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người đói nghèo giảm xuống, hay nói cách khác, XĐGN là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư đói nghèo lên một mức sống cao hơn Ở khía cạnh khác, XĐGN là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người Giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo XĐGN luôn là mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng

và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN, giảm nghèo bền vững với mục tiêu tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thoát nghèo bền vững

Các chính sách hỗ trợ người nghèo của nước ta trong giai đoạn hiện nay như chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo; chính sách hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho người nghèo; chính sách

hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục; chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo; chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH; chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù (đối với 61 huyện nghèo nhất cả nước)

Trang 20

- Bảo trợ xã hội:

Bảo trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực ASXH, đó là

sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình BTXH là sự giúp đỡ thêm của Nhà nước và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và các phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng

Bảo trợ xã hội thường có hai loại: Trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp đột xuất Trợ giúp thường xuyên là hình thức TGXH đối với những người hoàn toàn không thể lo được cuộc sống trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được trợ giúp (ví

dụ như trợ cấp một khoản kinh phí hàng tháng, miễn giảm học phí…) Trợ giúp đột xuất là hình thức TGXH do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc gặp những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về tính mạng, lương thực, nhà ở, chữa bệnh, chôn cất hay phục hồi sản xuất nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp Đối tượng, chế độ của hai nhóm đối tượng trên được quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật

- Giải quyết việc làm (GQVL):

Đây là trụ cột quan trọng góp phần đảm bảo ASXH cho người dân trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, "GQVL là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân"

Trang 21

Có nhiều quan điểm khác nhau về GQVL, có thể hiểu GQVL là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công thịnh hành trên thị trường đều có cơ hội làm việc GQVL là tạo ra các cơ hội

để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội GQVL là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của con người nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả GQVL cho người lao động là tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể, nơi và hàng hóa, dịch

vụ sẽ được làm ra Quá trình sử dụng sức lao động, lao động sẽ được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị trường Đối với người sở hữu sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội để nhận chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thể làm việc, thể hiện khả năng và nhận thu nhập để tái sản xuất sức lao động của mình Đối với người thuê lao động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế Trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ việc làm Vì vậy, nó xác định nội dung đích thực thị trường lao động như thị trường

Giải quyết việc làm cho người lao động góp phần quan trọng trong việc XĐGN và giải quyết được hàng loạt các vấn đề xã hội đặt ra Để GQVL cho người lao động hiệu quả đòi hỏi có những chủ trương, chính sách phù hợp của Nhà nước, phải có giải pháp đồng bộ dựa trên điều kiện đặc thù của từng địa phương Một trong những biện pháp quan trọng nhằm GQVL đó là Chính phủ lập Chương trình quốc gia về việc làm, lập Quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác

1.1.1.3 Khái niệm bảo đảm an sinh xã hội cho người dân

Theo cách nói của người Việt, "bảo đảm" nghĩa là chăm sóc, giữ gìn nhiệm vụ Từ "đảm bảo" là từ lai Hán, nghĩa là gánh vác hoặc nhiệm vụ giữ gìn, chăm sóc Có thể hiểu đảm bảo hay bảo đảm là thuật ngữ dùng để diễn

Trang 22

đạt việc làm chắc chắn thực hiện được hoặc có được những điều kiện cần thiết

để thực hiện một nhiệm vụ hoặc một công việc nhất định Từ đó, có thể hiểu bảo đảm ASXH là bảo đảm các điều kiện để thực hiện tốt các chính sách ASXH của Nhà nước và xã hội nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục những rủi ro cho cộng đồng dân cư, nhóm dân cư yếu thế trong xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập do nhân tố tác động khách quan và chủ quan

Bảo đảm ASXH cho người dân là bảo đảm các điều kiện để thực hiện tốt các chính sách ASXH của Nhà nước và xã hội cho người dân nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục những rủi ro cho người dân do bị mất hoặc giảm thu nhập do nhân tố tác động khách quan và chủ quan

Nội hàm của khái niệm bảo đảm ASXH cho người dân, có thể thấy rõ như sau:

Một là, bảo đảm ASXH là bảo đảm các điều kiện để thực hiện tốt các

chính sách ASXH của Nhà nước và xã hội cho người dân Trong đó, chủ yếu

là các chính sách về BHXH, BHYT, XĐGN, TGXH

Hai là, chính sách ASXH luôn phải đa dạng, phong phú và phải thực

hiện lồng ghép nhiều chính sách khác nhau nhằm bảo đảm tốt nhất cho mọi mặt đời sống của người dân Chính sách ASXH được thực hiện bằng nhiều hình thức như dịch vụ xã hội, chăm sóc y tế, giáo dục…

Ba là, thực hiện tất cả các điều kiện bảo đảm ASXH góp phần hạn

chế, phòng ngừa những rủi ro phát sinh do điều kiện chủ quan và khách quan tác động

Bảo đảm ASXH cho người dân là làm thế nào để thực thi được các chính sách đó một cách có hiệu quả, các chính sách thực sự đi vào đời sống hàng ngày của người dân nhằm giúp họ giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống, phải có một thể chế chính sách phù hợp với điều kiện hiện tại, phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh để thực hiện các chương trình ASXH, phải có một bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt…

Trang 23

Xét về bản chất, bảo đảm ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội, do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc

1.1.1.4 Vai trò của đảm bảo an sinh xã hội

Đảm bảo ASXH là một lĩnh vực hoạt động rất rộng lớn trong toàn bộ đời sống KT - XH lấy con người là đối tượng của mọi quốc gia nên nó có ý nghĩa rất quan trọng trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội… Đối với nước

ta ý nghĩa đó càng trở lên đặc biệt trên con đường phát triển theo định hướng XHCN, vì chính trên lĩnh vực hoạt động này tính ưu việt của chế độ kinh tế, chính trị, xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn được thể hiện rất rõ nét Vai trò và ý nghĩa của đảm bảo ASXH thể hiện ở một số nội dung:

Thứ nhất, đảm bảo ASXH là sự thể hiện rõ nét bản chất ưu việt của chế

độ XHCN, mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh tất cả vì hạnh phúc của con người

Thuật ngữ ASXH mới chỉ xuất hiện trong những văn kiện, tài liệu, sách báo ở nước ta thời gian gần đây, nhưng những nội dung cơ bản của nó đã được Bác Hồ khẳng định trong tư tưởng của người và được xác định từ rất lâu trong văn kiện, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước theo con đường XHCN, Đảng ta xác định lấy con người làm trung tâm Con người vừa là mục tiêu vừa

là động lực của toàn bộ sự nghiệp đổi mới Đảm bảo ASXH đã trở thành một phần cấu thành trong các hoạt động của toàn xã hội để thực hiện mục tiêu đó, mặc dù trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, của cải vật chất chưa dồi dào nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn giành sự quan tâm hàng đầu cho các vấn đề quan trọng và thiết thực của đảm bảo ASXH chứ không chờ đến khi có trình

độ phát triển cao về kinh tế

Trang 24

Thứ hai, thực hiện đảm bảo ASXH là sự thể hiện kế thừa, phát huy

truyền thống và những tinh hoa tốt đẹp của dân tộc ta, kết hợp những truyền thống và tinh hoa đó và những mục tiêu cao cả của XHCN, để trở thành những động lực mới phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Trong suốt một ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước dân tộc ta có truyền thống lịch sử và nền văn hóa với những giá trị hết sức quý giá Đó là lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong lao động và chiến đấu chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, cùng với tinh thần đoàn kết cộng đồng, yêu thương gắn bó Những nhân tố đó tạo nên nét văn hóa Việt Nam với sức mạnh bất diệt để giúp dân tộc ta vượt qua mọi thử thách đánh thắng mọi kẻ thù, giữ gìn bảo vệ độc lập dân tộc và trường tồn của tổ quốc Việt Nam

Đảm bảo ASXH ở Việt Nam hiện nay mang trong bản chất và nội dung của nó những mục tiêu cao cả của CNXH kết hợp và phát huy, phát triển nên tầm cao mới những truyền thống và tinh hoa văn hóa lịch sử tốt đẹp của dân tộc để trở thành động lực mới trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Được sống trong độc lập tự do và có một cuộc sống bình đẳng, công bằng, các quyền của con người được tôn trọng là mơ ước ngàn đời của những người lao động Song trong chế độ dựa trên chế độ tư hữu và tồn tại ách áp bức, bóc lột thì những ước mơ đó rất khó để thực hiện Chỉ có trong xã hội XHCN mà chúng

ta đang xây dựng và sẽ đi tới, những ước mơ đó mới có khả năng hiện thực hóa Đảm bảo ASXH chính là cả mục đích và phương tiện để đạt tới Bởi vậy đảm bảo ASXH trở thành một trong những động lực mạnh mẽ để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh

Thứ ba, thực hiện đảm bảo ASXH nhằm xây dựng khối đại đoàn kết

toàn dân tộc, xây dựng nền tảng chính trị của chế độ XHCN và thế trận quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Thực hiện đảm bảo ASXH không chỉ có ý nghĩa trực tiếp về mặt kinh

tế như là một sự đãi ngộ hay trợ giúp đối với những người được hưởng chính

Trang 25

sách mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội hết sức to lớn vì đó là sự thể hiện về thái độ, quan điểm của chế độ với con người Bởi vậy, cùng với các hoạt động khác nó là sự giáo dục, truyền bá có hiệu quả các quan điểm, đường lối, chính sách đến từng người dân và cộng đồng xã hội Thông qua đó nâng cao trình

độ giác ngộ, lòng yêu nước, yêu chế độ, truyền thống và các giá trị văn hóa lịch sử làm cho mọi người vững tin ở sự lãnh đạo của Đảng, tính ưu việt của chế độ XHCN, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao nhận thức về thái độ và trách nhiệm của công dân Thực hiện đảm bảo ASXH trong đó có rất nhiều nội dung liên quan đến xây dựng nền quốc phòng toàn dân như chính sách hậu phương quân đội… Nói rộng ra nó có một vai trò to lớn trong xây dựng thế trận lòng dân của sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân

Thứ tư, đảm bảo ASXH còn có ý nghĩa đối với tham gia hội nhập quốc

tế, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay đảm bảo ASXH đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, như là một hoạt động tham gia tích cực vào xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế và các mặt khác của đời sống quốc tế Các hoạt động thuộc lĩnh vực ASXH đã trở thành mối quan tâm của

cả cộng đồng quốc tế và con người Liên hiệp quốc đã có những chương trình thiên niên kỷ về chống bệnh tật, đói nghèo, các tệ nạn, đối phó với những biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu với sự tham gia của cộng đồng các quốc gia trên thế giới Với tư cách là một quốc gia thành viên của tổ chức lớn nhất hành tinh và nhiều tổ chức văn hóa, nhân đạo khác lại là nước chịu nhiều hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh, việc tích cực, chủ động tham gia của nước ta và thực hiện tốt các hoạt động ASXH được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế coi Việt Nam như là một tấm gương trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Mặt khác thực hiện có hiệu quả ASXH của chúng ta đã góp phần giữ vững ổn định chính trị tạo ra

Trang 26

các yếu tố cần thiết, điều kiện và môi trường đầu tư thuận lợi để mời gọi, thu hút đầu tư các nước khác vào Việt Nam, ngày càng nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trong con mắt của bạn bè quốc tế, với những hoạt động chủ động, tích cực của chúng ta cũng là điều kiện thuận lợi để các nguồn lực từ bên ngoài về vật chất, tài chính, khoa học, thông tin, công nghệ và sự hợp tác nhiều mặt của bạn bè quốc tế để thực hiện đảm bảo ASXH hiệu quả hơn

1.1.2 Nội dung của việc bảo đảm an sinh xã hội cho người dân

An sinh xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Ở Việt Nam, ASXH được chú trọng như một

sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã được thể hiện ngay trong Hiến pháp đầu tiên 1946 của nước ta Hiến pháp đã ghi nhận các quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của công nhân viên chức nhà nước, việc chăm sóc những người có công, người già, tàn tật, trẻ em mồ côi Và cụm từ ASXH lần đầu tiên được ghi trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ

IX (2001) Từ đó đến nay, thuật ngữ này được sử dụng khá phổ biến trong xã hội Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Quản lý tốt sự phát triển xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách với người có công; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập; xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, an toàn" là một trong những nhiệm vụ tổng quát trong giai đoạn phát triển đất nước 5 năm 2016 -

2020 Bảo đảm ASXH là một vấn đề lớn, phức tạp, luôn biến động, tác động đến hầu hết các thành phần dân cư, nhất là các hộ nghèo ASXH có nội hàm rất rộng, bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, nhiều trụ cột Trong đó, các trụ cột chính bao gồm:

1.1.2.1 Bảo đảm ASXH cho người dân thông qua trụ cột BHXH, BHYT

Bảo hiểm xã hội, BHYT là những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống ASXH và đã đều được thể chế hóa bằng Luật BHXH, Luật BHYT

Trang 27

Chính sách BHXH, BHYT đã tạo được sự đoàn kết, tương thân, tương ái, chia sẻ mang tính cộng đồng, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn Đối với những người nghèo, chính sách BHYT đã hỗ trợ họ rất nhiều trong việc bảo đảm sức khỏe Phát triển BHXH, BHYT sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách ASXH, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Thực hiện được mục tiêu BHXH cho mọi người lao động, BHYT toàn dân thì hệ thống ASXH quốc gia sẽ ngày càng vững mạnh, đỡ đi được gánh nặng chi từ nguồn ngân sách nhà nước

Với các chế độ BHXH, BHYT rộng lớn, bao quát hầu khắp các lĩnh vực cuộc sống, sức khỏe của mọi người dân, do đó, trong hệ thống ASXH thì BHXH, BHYT giữ vai trò trụ cột chính, bền vững nhất

1.1.2.2 Bảo đảm ASXH cho người dân thông qua xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

Xóa đói giảm nghèo là một trong những trụ cột quan trọng của việc bảo đảm ASXH cho người dân, đặc biệt là các hộ nghèo XĐGN là tiêu chí quan trọng góp phần phát triển bền vững của đất nước, đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước XĐGN có mối quan hệ chặt chẽ với giải quyết việc làm, với TGXH, với việc đóng BHXH, BHYT cho người nghèo

Giải quyết việc làm là trụ cột quan trọng góp phần bảo đảm ASXH cho cho người dân trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng GQVL cho người lao động góp phần quan trọng trong việc XĐGN, giải quyết được hàng loạt các vấn đề xã hội đặt ra Để GQVL cho người lao động được khơi thông, phát triển, có hiệu quả đòi hỏi có những chủ trương, chính sách phù hợp của Đảng, Nhà nước, phải có giải pháp đồng bộ dựa trên điều kiện đặc thù của từng địa phương

1.1.2.3 Bảo đảm ASXH cho người dân thông qua bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, của cộng đồng và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên

Trang 28

trong xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

1.1.2.4 Bảo đảm ASXH cho người dân thông qua ưu đãi xã hội

Ưu đãi xã hội là một bộ phận đặc thù trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, ƯĐXH là sự đãi ngộ vật chất và tinh thần đối với người có công với nước với dân, với cách mạng nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ Điều này không những thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội mà còn nói lên đạo lý của dân tộc "Uống nước nhớ nguồn",

"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" Ở nước ta Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) chỉ rõ: Đối tượng hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Pháp lệnh bao gồm Người có công với cách mạng và Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân trên địa bàn huyện

1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng quan trọng trong hoạt động ASXH ở từng địa phương Bên cạnh thiếu việc làm thì người dân thiếu hoặc không có đất canh tác cũng là yếu tố gây ra tình trạng nghèo Diện tích đất là nhu cầu cần thiết để tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp Do những người dân không có đất canh tác, nên công việc chủ yếu của họ là làm thuê, song công việc làm thuê ở nông thôn mang tính thời vụ, không ổn định, thu nhập bấp bênh, cuộc sống không ổn định Những lúc thất nghiệp không ai mướn thì không có thu nhập cho gia đình, do đó phải vay mượn tiền hàng xóm để chi tiêu cho việc ăn uống hàng ngày và tới mùa đi làm thuê trả lại Trong tình cảnh như vậy thì người dân làm bao nhiêu chi tiêu bấy nhiêu, thậm chí không

đủ ăn, do đó nghèo đói bám chặt lấy họ

Vị trí địa lý cũng có ảnh hưởng đến việc bảo đảm ASXH đối với người dân Với những xã đặc biệt khó khăn là những xã xa trung tâm KT - XH, xa

Trang 29

đường quốc lộ, giao thông đi lại khó khăn, môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, thì việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông cho những địa phương này có ý nghĩa to lớn trong hoạt động ASXH

Ở một số địa phương có địa hình phức tạp, độ dốc cao nên hay xảy ra thiên tai, lũ lụt Ở những nơi đó việc tổ chức SXKD một cách ổn định là rất khó khăn, vì vậy hoạt động ASXH đối với các địa phương này cũng thiếu tính

ổn định và bền vững hơn ở các địa phương khác

1.1.3.2 Điều kiện xã hội

Cơ cấu dân số cũng có ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng kinh tế và tác động tới ASXH của địa phương Nếu cơ cấu lao động phân bổ chủ yếu trong nông nghiệp, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ thấp, thì đó là một bất lợi lớn cho việc tăng nhanh mức thu nhập bình quân đầu người cũng như tăng trưởng kinh tế của địa phương

Bên cạnh yếu tố về kinh tế thì tình trạng nghèo đói cũng có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng dân số và cơ cấu dân cư Nghèo đói, dân trí thấp dẫn đến sinh đẻ nhiều và càng làm cho đời sống khó khăn hơn, dân số tăng nhanh thì mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người trong gia đình sẽ giảm xuống

Văn hóa, tập quán sản xuất có ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, làm ăn của người dân vì thế tác động trực tiếp tới hoạt động ASXH của địa phương Ở nhiều địa phương xuất hiện nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ biết áp dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật làm cho đời sống KT - XH của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao

Năng lực và sự quan tâm của các tổ chức chính trị, xã hội, của các cấp chính quyền từ huyện đến xã, chính sách của Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế cũng tạo thuận lợi cho công tác ASXH

1.1.3.3 Điều kiện kinh tế

Trình độ phát triển KT - XH của địa phương có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động ASXH tại đây, bởi vì yếu tố tạo điều kiện tiền đề để người dân

Trang 30

có cơ hội vươn lên và tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản là nhờ hưởng lợi

từ tăng trưởng kinh tế mang lại Mặt khác nhờ quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhà nước tăng các nguồn thu và tích lũy tạo sức mạnh vật chất để thực hiện tốt hơn công tác ASXH Ngược lại nếu quy mô nền kinh tế nhỏ, tốc

độ tăng trưởng kinh tế chậm, thì khả năng tăng tích lũy cho phát triển sẽ gặp trở ngại, nguồn lực dành cho việc bảo đảm ASXH cho người dân sẽ khó khăn Bên cạnh đó nếu lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với trình độ canh tác lạc hậu; khả năng ứng dụng khoa học - kỹ thuật trong sản phẩm thấp thì giá trị gia tăng trong giá trị sản phẩm sẽ nhỏ, khó cạnh tranh trên thị trường và như vậy thì hoạt động ASXH tại địa phương sẽ gặp rất nhiều khó khăn

Bản thân mặt trái của kinh tế thị trường là vì lợi ích cá nhân, tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá dẫn đến phân bổ thu nhập và các nguồn lực của

xã hội không được hiệu quả, bình đẳng trong các tầng lớp dân cư Điều này góp phần làm cho tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân cư không được chú ý giải quyết triệt để, dẫn đến phân hóa giàu nghèo trong xã hội càng thêm sâu sắc, dễ xảy ra xung đột giai cấp và xã hội Người nghèo là những người luôn bị thua thiệt trong cạnh tranh về sản xuất, kinh doanh Họ không có điều kiện SXKD thuận lợi do thiếu cơ sở hạ tầng, thiếu vốn, xa trung tâm kinh tế nên giá thành sản phẩm cao Mặt khác họ là những người thiếu kinh nghiệm làm ăn, ít hiểu biết, không có sức khỏe, năng suất lao động thấp, sản phẩm khó cạnh tranh trên thị trường Do vậy, nguy cơ tụt hậu của họ so với xã hội càng trầm trọng hơn Vì vậy GNBV chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố KT -

XH, và hiệu quả của công tác GNBV thường có xu hướng tỷ lệ thuận so với trình độ phát triển kinh tế của địa phương

1.1.3.4 Nhận thức đầy đủ về bảo đảm ASXH

Trong đó, trước hết là năng lực nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về sự cần thiết bảo đảm ASXH, ảnh hưởng trực tiếp thực hiện tốt mục tiêu ASXH cũng như phát triển nền kinh tế bền vững của địa phương

Trang 31

An sinh xã hội có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị và

xã hội nhưng lại là vấn đề rất phức tạp và đa dạng nên nhận thức về vấn đề ASXH của các cấp, các ngành và của người dân rất khó khăn Nếu nhận thức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương và từng người dân thấu đáo sẽ thúc đẩy việc bảo đảm ASXH vững chắc, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế - xã hội, bởi:

Nhận thức của các cấp, các ngành, nhất là đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực ASXH và bảo đảm ASXH tốt sẽ được quán triệt vấn đề này nghiêm túc trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm ASXH trên địa bàn huyện Các nguồn lực làm cho phát triển kinh tế - xã hội được lồng ghép thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện chiến lược bảo đảm ASXH trên địa bàn

Nhận thức của người dân tốt sẽ dễ dàng thúc đẩy và thực hiện chủ trương, chính sách ASXH đối với người dân, nhất là các đối tượng yếu thế trong xã hội, các đối tượng thuộc diện hộ nghèo

An sinh xã hội gồm nhiều chính sách, nhiều chương trình khác nhau và

có diện bao phủ lớn nên cần phải tuyên truyền để người dân biết được, nắm được Từ đó, bản thân họ nắm được mình thuộc diện bảo vệ của chủ trương, chính sách nào trong hệ thống ASXH và có thể tham gia vào hệ thống đó như thế nào

Một bộ phận người dân có ý thức chưa cao nên họ có tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, cơ quan, doanh nghiệp; bên cạnh đó, có một bộ phận lại có tư tưởng cục bộ, bản vị nên có ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách ASXH Nếu nhận thức tốt về vấn đề này thì chính sách ASXH sẽ ngày càng phát huy tác dụng tốt hơn

Mỗi chính sách, chương trình ASXH khác nhau lại có cơ chế tài chính khác nhau Có chính sách thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có chính sách, chương trình thực hiện theo nguyên tắc vay - trả, có chính sách, chương

Trang 32

trình chỉ mang tính chất thuần tuý là trợ giúp và cứu trợ Vì vậy, Nhà nước phải có định hướng đúng để tuyên truyền, phổ biến cho người dân Như vậy, họ mới tham gia một cách tự giác và mang lại hiệu quả cho chính sách ASXH

1.1.3.5 Nguồn lực tài chính để bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện

Khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính để bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: Ngân sách nhà nước, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, các doanh nghiệp trên địa bàn, cộng đồng Nguồn lực tài chính mạnh sẽ thúc đẩy bảo đảm ASXH và ngược lại

Nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng chủ yếu trong việc bảo đảm ASXH cho người dân và chủ yếu từ ngân sách nhà nước Nguồn tài chính này được quản lý phân cấp và quản lý thống nhất từ Trung ương đến các địa phương Ngoài nguồn lực trích từ ngân sách nhà nước thì các địa phương cũng đều trích lập quỹ để dành cho các hoạt động ASXH

Nguồn lực tài chính quan trọng thứ hai là huy động từ nhân dân, từ các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội Có thể nói đây là nguồn lực tiềm năng cho việc bảo đảm ASXH Muốn phát huy được nguồn lực này, chính quyền phải nêu cao đạo lý, truyền thống tốt đẹp của địa phương

1.1.3.6 Chủ trương, chính sách bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo đảm ASXH bao gồm những chủ trương, chính sách về BHXH, BHYT, TGXH, XĐGN, GQVL Những chủ trương, chính sách này tập trung hướng đến việc bảo đảm ASXH cho người dân Việc bảo đảm ASXH cho người dân được địa phương coi là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, là nhân tố hết sức quan trọng, là căn cứ để các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp và các tổ

Trang 33

chức xã hội để triển khai thực hiện Thông qua các chủ trương hỗ trợ bằng vật chất, tinh thần tới các hộ dân giúp họ sớm ổn định cuộc sống và từng bước được nâng lên nhằm đảm bảo điều tiết, tạo công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững

1.1.3.7 Sự hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách ASXH cho người dân trên địa bàn huyện

Sự hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ là một trong những chủ trương quan trọng, được quan tâm hàng đầu trong các điều kiện thúc đẩy việc phát triển bền vững của ASXH cho người dân trên địa bàn huyện Việc tổ chức bộ máy trong thực thi chính sách ASXH trên địa bàn huyện đóng vai trò nòng cốt, quyết định thành công hay thất bại của chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng bộ, chính quyền địa phương trong việc thực thi chính sách ASXH Bộ máy từ huyện tới cơ sở phối hợp nhịp nhàng với nhau trong quá trình thực hiện

Đội ngũ cán bộ là khâu quyết định của việc thực thi chính sách ASXH Cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn, nhiệt tình, trách nhiệm sẽ áp dụng, triển khai, vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của cấp trên hiệu quả, năng động, sáng tạo Ngược lại, cán bộ có năng lực kém, chuyên môn yếu, không có bản lĩnh chính trị vững vàng đây sẽ là yếu tố cản trở việc thực thi chính sách ASXH

1.1.3.8 Khả năng tự an sinh của đối tượng thụ hưởng là yếu tố trực tiếp, quan trọng quyết định đến bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện

Khả năng tự an sinh của người dân trên địa bàn huyện là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội Đây là yếu tố nội lực quyết định đến sự thành công hay thất bại của chính sách ASXH của quốc gia nói chung, của huyện nói riêng Khả năng tự an sinh đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi hộ dân phải biết phát huy trí tuệ, sức khỏe, tinh thần đoàn kết, kiên trì và nỗ lực không ngừng, học hỏi, tiếp thu những biện pháp,

Trang 34

cách thức mới vào trong sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo Ngoài ra, việc bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện có thành công hay không thông qua khả năng tự an sinh của mỗi thành viên trong gia đình là công cụ đánh giá quan trọng nhất Nếu không phát huy được yếu tố đó thì nguy cơ nghèo, tái nghèo, nguy cơ thất nghiệp sẽ nhanh chóng quay trở lại trong thời gian ngắn Vì thế, việc phát huy khả năng tự an sinh cho mỗi người dân là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội

và chính mỗi người dân trên địa bàn huyện

1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về bảo đảm an sinh xã hội cho người dân

1.2.1 Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Huyện Vĩnh Tường nằm ở phía tây nam của tỉnh Vĩnh Phúc trên diện tích đất tự nhiên 14.401,55 ha, trong đó có 8.057,14 ha đất nông nghiệp Đến năm

2015 dân số tăng lên 201.904 người, trong đó: Dân số đô thị: 21.947 người, dân

số nông thôn: 179.957 người, tốc độ tăng dân số khoảng 1,142%/năm, mật độ dân số khoảng 1.402 người/km2 (cao hơn mức trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc với

863 người/km2) Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc kinh chiếm 99,91% Các dân tộc khác có số lượng nhỏ (dân tộc Tày chiếm 0,05%; dân tộc Thái chiếm 0,04%)

Xác định đảm bảo an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, trong những năm qua cùng với phát triển kinh tế, huyện Vĩnh Tường đã tập trung huy động nhiều nguồn lực hỗ trợ các gia đình chính sách, tạo việc làm cho người lao động, giúp đỡ hộ nghèo có điều kiện vươn lên thoát nghèo, phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung giải quyết các chế độ chính sách đối với người có công và người hưởng chế độ bảo trợ xã hội bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng

Trong thời gian qua, huyện Vĩnh Tường đã quan tâm thực hiện tốt các chính sách đối với người dân như: Cấp thẻ BHYT, hỗ trợ kinh phí xây nhà đại

Trang 35

đoàn kết Đến nay, toàn huyện đã mua và cấp 7.331 thẻ BHYT cho hộ nghèo

và cận nghèo, tạo điều kiện để họ được chăm sóc và hỗ trợ về y tế Để giúp người dân là các hộ nghèo và cận nghèo có vốn đầu tư phát triển sản xuất, huyện đã phối hợp với Ngân hàng CSXH tạo điều kiện cho 146 hộ nghèo vay vốn với số tiền hơn 7 tỷ đồng; 152 hộ cận nghèo vay vốn với số tiền hơn 5,5

tỷ đồng; 124 hộ mới thoát nghèo với số tiền hơn 6 tỷ đồng

Bên cạnh đó, để tạo việc làm cho lao động tại địa phương, huyện luôn tạo điều kiện, khuyến khích họ tham gia các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Đồng thời, huyện đẩy mạnh tuyên truyền tới người dân về công tác xuất khẩu lao động Huyện đã tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thí điểm dạy tiếng Nhật Bản tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và các trường THPT trong huyện và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo Nhằm khuyến khích người dân tham gia xuất khẩu lao động, huyện chủ động

hỗ trợ tạo điều kiện vay vốn, thủ tục, trợ giúp pháp lý

Việc chi trả trợ cấp theo quy định của Nhà nước đối với người có công với cách mạng được thực hiện đầy đủ, kịp thời; chính quyền từ huyện đến cơ

sở thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thực hiện các chính sách, chế độ cho người có công với cách mạng Tiếp tục rà soát, cải thiện nhà ở cho người có công và thân nhân còn khó khăn về nhà ở Cùng với đó, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em luôn được các cấp ủy, chính quyền trên địa bàn huyện Vĩnh Tường quan tâm thực hiện Ngay từ đầu năm, các cơ quan đơn vị tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách, chương trình, kế hoạch về chăm sóc và bảo

vệ trẻ em; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động toàn thể nhân dân tích cực tham gia rộng rãi, thực hiện quyền của trẻ em, chung tay chống lại các hành vi bạo lực trẻ em Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để trẻ em tham gia vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục, huyện chỉ đạo các đơn vị chức năng thông qua ngày quốc tế thiếu nhi, Tết Trung thu, tháng hành động về trẻ em tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích

Trang 36

cho các em Nhân dịp tết Nguyên đán 2019, huyện tổ chức thăm và tặng 140 suất quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với số tiền là 33 triệu đồng Từ đầu năm đến nay, huyện phối hợp với quỹ Bảo trợ trẻ em hỗ trợ xây 02 nhà tình thương cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mỗi nhà trị giá 50 triệu đồng; tổ chức khám sàng lọc tim học đường cho 8.200 trẻ em dưới 3 tuổi, khối mầm non, tiểu học trên địa bàn huyện; tổ chức 4 lớp truyền thông

về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em tại các xã: Tân Tiến, Kim Xá, Yên Lập, Tuân Chính với hơn 1.500 trẻ em tham gia; tổ chức 02 lớp học bơi miễn phí cho 60 trẻ em ở 08 xã, thị trấn trong huyện

Thời gian tới, huyện Vĩnh Tường tiếp tục thực hiện tốt công tác an sinh

xã hội theo định hướng tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, lao động việc làm, đào tạo nghề, giảm nghèo; tích cực tuyên truyền, tư vấn nâng cao nhận thức cho người lao động tham gia học nghề, xuất khẩu lao động; thực hiện hiệu quả công tác đền ơn đáp nghĩa, chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công và người hưởng chế độ bảo trợ xã hội góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện

1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi

Sơn Hà là huyện miền núi ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 750,31

km2, dân số 65.937 người, mật độ dân số khoảng 88 người/km2, bao gồm các dân tộc: Kinh, H’re, Ca Dong, Xơ Đăng Ấn tượng mạnh ở huyện miền núi Sơn Hà là diện mạo nông thôn nơi đây ngày càng khởi sắc Đô thị Di Lăng được đầu tư đồng bộ, xứng tầm giữ vai trò trung tâm kinh tế - văn hóa ở miền tây Quảng Ngãi Nhiều công trình trọng điểm được tỉnh, huyện đầu tư đã tạo

cơ sở hạ tầng ban đầu cho đô thị mới Ngày nay, người dân di chuyển từ trung tâm huyện lỵ Sơn Hà đến các huyện miềm núi Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Tây, Minh Long và Tây Trà với quãng đường không quá 30 km Đây là điều kiện thuận lợi để liên kết vùng, tạo động lực phát triển kinh tế - văn hóa bền vững cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn

Trang 37

Nhiều hộ dân ở thị trấn Di Lăng cho biết: Cách đây 5 năm, thị trấn Di Lăng còn nằm trong tốp cuối tỉnh Quảng Ngãi về phát triển kinh tế - xã hội;

số hộ nghèo khá cao; cơ sở hạ tầng dường như không có gì; nhiều tuyến đường nội thị bị xuống cấp khiến việc đi lại của đồng bào rất khó khăn Tuy nhiên, chỉ trong ba năm gần đây, khi nhân dân ủng hộ, đồng tình chủ trương phát triển đô thị của huyện thì trung tâm huyện lỵ Sơn Hà đã trở thành một khu phố mới khá sầm uất Huyện đã đầu tư chợ trung tâm, hình thành bến xe, các cụm thương mại, dịch vụ buôn bán thuận lợi Điều mà người dân phấn khởi hiện nay là được chuyển đổi ngành, nghề, có việc làm thường xuyên và mức sống được nâng cao Phố mới đã có một công viên cây xanh, giải phóng khu vực trước đây bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Công viên Di Lăng hiện trở thành trung tâm vui chơi giải trí, rộng 8.850 m2, được đầu tư đồng bộ các hạng mục như đường nội bộ, sân vườn, điện chiếu sáng và hệ thống thoát nước… Khu tái định cư Mang Cành, xã Sơn Trung được huyện đầu tư hạ tầng đồng bộ như đường nội bộ, hệ thống cấp, thoát nước, khu sinh hoạt văn hóa, sân bóng… với kinh phí hơn 1,1 tỷ đồng Đây là điểm tái định cư mới đã được quy hoạch trên 3 ha với 55 lô, đã bố trí cho người dân làm nhà ở (mỗi lô khoảng từ 350 - 370 m2), hỗ trợ tiền làm nhà 15,8 triệu đồng/hộ Hiện nay, đã có hơn 30 hộ đồng bào vùng cao khó khăn di dời đến đây làm nhà ở khang trang, đầu tư sản xuất có hiệu quả và ổn định cuộc sống lâu dài

Trong thời gian qua, công tác bảo đảm ASXH cho người dân được chú trọng, nhất là đối với công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm ASXH cho các

hộ nghèo với sự tham gia của các cấp, các ngành Công tác rà soát hộ nghèo

là cơ sở để thực hiện chế độ BHYT, chính sách ASXH nên được huyện quan tâm, chỉ đạo thực hiện sát sao

Có thể thấy, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững làm tiền đề xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ đột phá trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp Sản xuất nông - lâm - thủy sản đã đi vào chiều sâu

Trang 38

với nhiều mô hình phát triển trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Nông dân được chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật một cách căn bản và ứng dụng trong sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa đạt chất lượng cao Nhiều loại cây trồng chủ lực được thay đổi giống mới phù hợp với từng chân đất, đã tăng năng suất, chất lượng và trở thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao, góp phần tăng thu nhập và giảm nghèo cho nhiều hộ nông dân

Những năm qua, với nhận thức BHXH, BHYT là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách ASXH của Ðảng và Nhà nước, BHXH huyện luôn bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần bảo đảm ASXH Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT bằng nhiều phương thức, hình thức linh hoạt, hiệu quả, làm chuyển biến rõ nét nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách BHXH, BHYT; đây là chính sách xã hội quan trọng, trụ cột của hệ thống ASXH, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội Từ đó nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân trong việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người dân của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Thứ nhất, hoạt động bảo đảm ASXH cho người dân phải đặt dưới sự

lãnh chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, được triển khai đồng bộ, hiệu quả, xác định bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài

Để bảo đảm ASXH cho người dân trên địa bàn huyện cần có sự quan tâm chỉ đạo, giám sát của Huyện ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể chính trị xã hội, phải phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, đề cao vai trò, chịu trách nhiệm của cá nhân Quá trình thực hiện các chính sách ASXH phải có

Trang 39

sự thống nhất quản lý của Nhà nước và các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện tới cơ sở Từ các chính sách của Nhà nước, của tỉnh, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, UBND huyện đưa ra những biện pháp phù hợp với địa bàn và phù hợp với từng thời điểm, từng giai đoạn phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương

Trong quá trình thực thi chính sách ASXH ở huyện hiện nay, chúng ta cần xác định đúng vai trò của Nhà nước, của các cấp, các ngành trong việc cung cấp các điều kiện và bảo đảm thực thi chính sách ASXH đối với người dân Đồng thời, cần phải huy động, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội trong quá trình giám sát thực thi chính sách ASXH ở huyện theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng đảng, xây dựng chính quyền Thường xuyên tổ chức đối thoại với nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phát hiện những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực thi chính sách ASXH để có những giải pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm chất lượng, hiệu quả của các chính sách ASXH, đúng đối tượng, đúng chính sách

Thứ hai, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong

việc bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện

Kinh nghiệm của các địa phương thực hiện tốt việc bảo đảm ASXH cho người dân cho thấy việc phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đóng vai trò vô cùng quan trọng Việc tận dụng và phát huy các nguồn lực sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển, trong đó có yếu tố nội lực đóng vai trò quyết định trực tiếp, nguồn lực bên ngoài giữ vai trò quan trọng Nội lực được tăng cường sẽ đảm bảo thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực

Trang 40

Nguồn lực để bảo đảm ASXH rất đa dạng, có từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn nhân lực, nguồn vốn, khoa học công nghệ hiện đại, chủ trương, chính sách… Việc phát huy nội lực đặt ra hàng loạt các vấn đề về quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là phát huy nguồn lực con người Với tư cách là nguồn lực cộng đồng và nguồn lực cá nhân: Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tiềm lực trong nhân dân, đi đôi với việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước Phải tranh thủ được sự đồng thuận của nhân dân trong quá trình thực thi chính sách ASXH Việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính phải công khai, minh bạch, hiệu quả, tránh lãng phí, tiêu cực làm mất niềm tin trong nhân dân

Trong quá trình đô thị hóa nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, huyện cần đẩy mạnh chính sách quy hoạch, mở rộng thị trường, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường đầu tư phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong việc triển khai, thực thi chính sách ASXH

Thứ ba, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân và của cả cộng

đồng trong bảo đảm an sinh xã hội cho người dân trên địa bàn huyện, đặc biệt đẩy mạnh khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đóng góp vào hệ thống an sinh xã hội trên địa bàn huyện

Để thực hiện đảm bảo ASXH trên địa bàn huyện không thể không nói đến Nhà nước, vì Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ban hành cách chính sách ASXH và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH Hệ thống chính sách ASXH không thể tự nó hình thành và vận động phát triển mà cần phải có Nhà nước Con đường Việt Nam lựa chọn đó là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để hạn chế những tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, Nhà nước cần tham gia quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ban hành và tổ chức thực thi các chính sách ASXH và phúc lợi xã hội để bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w