1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện vân đồn

87 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lực lượng này đã kế thừa và phát huy những giá trị cao quý của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay họ ngày càng có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện, h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN THỊ PHƯỜNG

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH

TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

MÃ NGÀNH: 8310110

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN HỢP

Hà Nội, 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Quảng Ninh , ngày tháng năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Phường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập, nghiên cứu Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:

Thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Hợp

Các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi thực hiện luận văn này

Sự giúp đỡ của Lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 5

1.1 Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 5 1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 10

1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 15

1.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 17

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 17

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Vân Đồn trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 26

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn 27

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 27

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 30

2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, mẫu nghiên cứu khảo sát 34

Trang 5

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 34

2.2.3 Tổng hợp, xử lý số liệu 35

2.2.4 Phân tích số liệu 35

2.3.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Đặc điểm của phụ nữ ở huyện Vân Đồn 37

3.1.1 Đặc điểm về độ tuổi 37

3.1.2 Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động 38

3.1.3 Phụ nữ trong các ngành nghề ở huyện Vân Đồn 38

3.2 Vai trò của phụ nữ trong tham gia các hoạt động chính quyền, hoạt động xã hội huyện Vân Đồn 39

3.2.1 Phụ nữ tham gia công tác, xây dựng Đảng, Chính quyền 39

3.2.2 Phụ nữ trong tham gia sinh hoạt đoàn thể 41

3.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Vân Đồn 43

3.3.1 Vai trò của phụ nữ trong quản lý điều hành sản xuất 43

3.3.2.Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 44

3.3.3.Vai trò của phụ nữ tham gia công tác xã hội 49

3.3.4 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật 53

3.3.5 Vai trò trong kiểm soát các nguồn lực của hộ 54

3.3.6.Vai trò trong công tác chăm sóc sức khỏe gia đình 57

3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Vân Đồn 58

3.4.1 Nhân tố chủ quan 58

3.4.2 Nhân tố khách quan 60

3.5 Đánh giá chung về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Vân Đồn 62

Trang 6

3.5.1 Kết quả đạt được 62

3.5.2 Hạn chế 62

3.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 63

3.6 Một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Vân Đồn 64

3.6.1 Quan điểm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ 64

3.6.2 Một số giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình huyện Vân Đồn 65

3.6.3 Khuyến nghị 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích các loại đất năm 2019 27

Bảng 2.2 Phân bố dân số Vân Đồn phân theo xã (giai đoạn 2017-2019) 32

Bảng 2.3 Giá trị sản xuất giai đoạn 2017-2019 33

Bảng 3.1 Thống kê lao động nữ trong các nhóm tuổi trên địa bàn 37

huyện Vân Đồn giai đoạn 2017-2019 37

Bảng 3.2 Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động 38

Bảng 3.3 Ngành nghề của phụ nữ 38

Bảng 3.4 Phụ nữ tham gia lãnh đạo nhiệm kỳ 2015-2020 40

Bảng 3.5 Cơ cấu phụ nữ tham gia các hoạt động đoàn thể năm 2019 41

Bảng 3.6 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ phân theo nhóm hộ ở vùng nghiên cứu 43

Bảng 3.7 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp 45

trong các hộ ở các điểm nghiên cứu 45

Bảng 3.8 Phân công lao động hoạt động dịch vụ 46

trong các hộ ở các địa điểm nghiên cứu 46

Bảng 3.9 Phân công lao động hoạt động tái sản xuất 48

và hoạt động khác trong các hộ ở các địa điểm nghiên cứu 48

Bảng 3.10 Phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo tại các xã nghiên cứu 51

Bảng 3.11 Phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng tại địa điểm nghiên cứu 52 Bảng 3.12 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu 53

Bảng 3.13 Tình hình tài chính tại vùng nghiên cứu 55

Bảng 3.14 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 56

Bảng 3.15 Công tác chăm sóc sức khỏe gia đình 57 Bảng 3.16 Quan điểm của các hộ điều tra về các vấn đề liên quan đến phụ nữ 60

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ

Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng

đã và đang ngày càng khẳng định vị thế và vai trò to lớn của mình trong đời sống kinh tế - xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước

và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, người phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy sự đóng góp của người phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, vẫn còn khoảng cách giữa nam giới và phụ nữ trong phát triển Phụ nữ và trẻ em gái nghèo, sống ở vùng sâu, vùng xa, người tàn tật hay dân tộc thiểu số tiếp tục là những đối tượng chịu thiệt thòi Do vậy, bất bình đẳng giới về cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập,

Trang 10

cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ, chưa thật sự tạo điều kiện cho phụ nữ vươn lên là vấn đề đang diễn ra phức tạp Vì vậy, cần có những chính sách bổ sung chú trọng vào giải quyết nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ

Huyện Vân Đồn, với 50,6% dân số là phụ nữ Lực lượng này đã kế thừa

và phát huy những giá trị cao quý của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay họ ngày càng có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện, họ tham gia trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, công việc gia đình Tuy nhiên, phụ nữ huyện Vân Đồn vẫn còn gặp khá nhiều cản trở trong phát triển kinh tế gia đình: sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình Họ hầu như tham gia vào tất cả các lĩnh vực sản xuất, nhưng họ không được hưởng nhiều quyền lợi như ra những quyết định lớn trong gia đình, đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bên cạnh đó còn phải đảm đương hết công việc nội trợ trong gia đình, hy sinh nhiều quyền lợi của bản thân song những người đàn ông rất ít quan tâm và đánh giá tích cực

Xuất phát từ thực trạng nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế hộ gia

đình, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong phát triển

kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh

tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn

Trang 11

kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn

- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung:

+ Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất

+ Vai trò của phụ nữ trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng

+ Phụ nữ và vấn đề tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật

+ Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động

- Phạm vi về không gian: huyện Vân Đồn

- Phạm vi về thời gian:

+ Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2017 đến năm 2019

+ Thu thập số liệu sơ cấp 2020

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh

Trang 12

triển kinh tế hộ gia đình

- Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Vân Đồn thời gian tới

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Đặt vấn đề, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 1.1 Cơ sở lý luận về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

1.1.1 Một số khái niệm

a Giới tính và giới

- Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Nữ giới vốn có chức năng sinh

lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới (Tổ chức Lao động quốc tế, 2002)

- Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ

em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính (Tổ chức Lao động quốc tế, 2002)

Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80

“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ "Giới"

đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể

Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục

Trang 14

thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể

"Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng

về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội

Nguồn gốc và những khác biệt về giới

Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái sản xuất con người và xã hội Sự khác biệt về giới đã quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong xã hội

Bắt đầu từ khi sinh ra là đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là bé trai hay

bé gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình như bé trai thích đá bóng còn bé gái thích nhảy dây…

Những tri thức xã hội cũng hướng theo sự khác biệt về giới khi trẻ lớn lên bắt đầu đi học Chẳng hạn như nam giới được hướng theo những ngành kỹ thuật, phải có thể lực tốt và tư duy cao Còn nữ giới có thể lực yếu hơn thường được hướng theo các ngành nữ công và những ngành cần có sự khéo léo, tỉ mỉ… Tất cả các tác động vô tình hay hữu ý của xã hội đều làm tăng sự khác biệt về giới trong xã hội Tuy nhiên, người ta lại thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới

Phụ nữ thường được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm,

họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới là cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng co phần khác hơn nam giới

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn

về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội

và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Để thay đổi quan

Trang 15

hệ giới các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan hệ giới (Nguyễn Quốc Tuấn, 2012)

Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau

để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội

đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các

hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với giới cũng co sự khác nhau

Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nước trên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội, kết quả là thực hiện các mục tiêu “Bình đẳng nam nữ” để giải phóng sức lao động và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức

độ bình đẳng đo tuỳ thuộc vào từng Quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của

sự phát triển đối với mỗi nước trên thể giới

Trang 16

hiện, vì vậy không được nhìn nhận đúng mức và bị đánh giá thấp Trong quan

hệ với người chồng, người phụ nữ đóng vai trò thụ động, là người thực hiện, còn nam giới là người chủ động, người ra lệnh để phụ nữ thực hiện Quyền hành trong gia đình nảy sinh lại dựa vào nguồn phân phối bất công trong vòng gia đình, sự bất công về quyền lực, thiên về giới nam, cũng định hình việc phân chia quyền lực Chính sách XĐGN: Chính sách XĐGN là một kiểu chính sách xã hội Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giải quyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp với bản chất xã hội - chính trị phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất

là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân (Nguyễn Quốc Tuấn, 2012)

b Phát triển

Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 17

Gia đình là khái niệm dựa trên tiêu thức thứ nhất Hai tiêu thức sau không nhất thiết phải có trong khái niệm gia đình Bởi vì một số thành viên trong gia đình khi trưởng thành có thể tách ra cư trú và làm ăn ở nhiều nơi khác nhau và có cơ sở kinh tế riêng Tuy vậy, họ vẫn được coi là người trong một gia đình Đối với khái niệm hộ còn có những quan niệm khác nhau Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: Tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công - tức là lấy tiêu thức “ii” làm chính

Khi nghiên cứu về phát triển kinh tế hộ gia đình ở một số nước Châu

Âu, Megree (1989) cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhom người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở chung cùng một ngôi nhà, ăn chung một mâm cơm và co chung một ngân quỹ” Về phương diện thống kê các nhà nghiên cứu Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và co chung một ngân quỹ” Những quan điểm này đề cập chủ yếu đến tiêu thức “ii” và “iii” Tiêu thức “i” không phải là điều nhất thiết Tuy vậy, một số quan điểm khác lại chú trọng đến tính huyết thống trong khái niệm hộ Đại diện cho quan điểm này là các giáo sư trường Đại học Lisbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ tại một số nước Châu Á cho rằng: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng” Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc thân tộc Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành một khái niệm chung là hộ gia đình

e Kinh tế hộ gia đình

Khái niệm: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: “ Các

Trang 18

nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về

cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt

động với một trình độ không hoàn chỉnh cao”

Kinh tế hộ là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: Kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp

tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa

Về đất đai: Là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ gia đình, đặc biệt là nơi có tỷ lệ nông hộ cao Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn

1.1.2 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

1.1.2.1 Vai trò của phụ nữ trong trong hoạt động sản xuất

Hoạt động này liên quan đến sản xuất hàng hóa, dịch vụ, trao đổi hàng hóa và mua bán, làm ruộng, làm thuê, tự tổ chức công việc … Hoạt động sản xuất là loại hoạt động được trả công hay tạo ra thu nhập Phụ nữ và nam giới đều có khả năng tham gia vào hoạt động sản xuất, song phần lớn chức năng và trách nhiệm đối với từng loại hoạt động thường khác nhau và tùy thuộc vào phân công lao động theo giới Hoạt động sản xuất của người phụ nữ thường bị đánh giá thấp hơn so với nam giới và người phụ nữ cũng tham gia làm những công việc tương ứng với nam giới nhưng họ lại được trả công thấp hơn hẳn Đây là điểm bất hợp lý trong việc nhìn nhận xem xét vai trò của người phụ nữ

Trang 19

trong hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập để góp phần phát triển kinh tế gia đình Bên cạnh đó, do bị đánh giá một cách hạn chế nên người phụ nữ cũng ít

có cơ hội được tiếp cận và quản lý các nguồn lực như vốn, kỹ thuật

…(Nguyễn Quốc Tuấn, 2012)

Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:

Trong lao động sản xuất: phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ Thế nhưng họ lại có rất ít hoặc không có quyền sở hữu trong gia đình Đây là sự bất công lớn đối với lao động nữ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước, các vùng, các miền còn kém phát triển cả về kinh tế và nhận thức

1.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng

Hoạt động tái sản xuất liên quan đến việc chăm sóc và duy trì hộ gia đình Nó liên quan đến việc mang thai, chăm sóc con cái, chăm lo cuộc sống của gia đình … Tái sản xuất là loại hoạt động thiết yếu để duy trì cuộc sống của con người Trên thực tế, loại hoạt động này rất ít khi được coi là “hoạt động chính” mà thường là “công việc không lương” và thường do phụ nữ đảm nhiệm

Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội (Nguyễn Quốc Tuấn, 2012)

Trang 20

Hoạt động cộng đồng: Là hoạt động liên quan đến những hoạt động tập thể như cải thiện điều kiện và môi trường sống tại cộng đồng Loại hoạt động này ít khi được coi là đem lại lợi ích về kinh tế Trên thực tế, vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng, nhất là khu vực nông thôn không được đánh giá cao,

họ thường ít được bày tỏ quan điểm, nhu cầu của mình cũng như ít được tham gia vào quá trình ra quyết định về các hoạt động ở cộng đồng, trong đó có công tác xóa đói giảm nghèo Khi xem xét mối quan hệ giới trong một cộng đồng nhất thiết phải phân tích vai trò giới đang tồn tại trong cộng đồng đó và

sự phân công lao động theo giới ở 3 loại hình trên Lý thuyết giới cũng cho rằng sự phân công vai trò xuất phát từ sự thuận lợi về sinh học và sự phân công của xã hội Ngoài ra, phân công lao động theo giới còn gắn liền với các giá trị chuẩn mực xã hội, đặc trưng về văn hóa và khác nhau về thời gian, không gian Vai trò giới còn thể hiện sự mềm dẻo và thích nghi với những thay đổi của điều kiện thực hiện các chức năng của mình chính là cơ sở của công bằng xã hội và hiệu quả xã hội Trong hoạt động xóa đói giảm nghèo, cách tiếp cận về giới xem xét tình trạng nghèo đói của phụ nữ trong tương quan so sánh với nam giới và đặt vấn đề phụ nữ cần được quan tâm một cách bình đẳng như là đối tượng và chủ thể của công tác giảm nghèo Cách tiếp cận này gợi ý việc công nhận vai trò sản xuất của phụ nữ và tìm cách đáp ứng các nhu cầu giới thực tế, tập trung vào việc tạo thu nhập ở quy mô nhỏ Ngoài ra, cần phải nâng cao quyền bình đẳng cho phụ nữ trong việc tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng chính là hệ quả của khả năng tiếp cận, sử dụng các nguồn lực như thông tin, sản xuất, lao động … Với quan điểm này,

sự độc lập về kinh tế và chính trị sẽ tạo ra sức mạnh quyền lực cho người phụ

nữ và củng cố lòng tin của họ khi đưa ra quyết định trong xóa đói giảm nghèo Quan niệm phát triển “bắt đầu từ người nghèo khổ”: Một số nhà nghiên cứu

về sự tăng trưởng kinh tế ở những nước chậm phát triển và những nước đang

Trang 21

phát triển trong nửa cuối thế kỷ 20 đã tập trung vào vấn đề nghèo đói và tăng trưởng kinh tế Một trong những kết luận có tính phương pháp luận đối với các quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở những nước này là: hãy bắt đầu từ người nghèo khổ (Robert Chambers, 1991) Theo quan điểm này, tăng trưởng kinh tế bắt đầu không phải bắt đầu từ việc vay vốn hay đổi mới kỹ thuật đơn thuần mà là từ việc tìm hiểu những khó khăn, những mối quan tâm của người nghèo và tìm cách giúp người nghèo phát triển năng lực để tự họ xóa đói, giảm nghèo Cách tiếp cận này đã được Robert Chambers, Amartya Sen và các đồng sự viết thành sách xuất bản vào những năm 1980 Sự nghèo khổ biểu hiện ra là sự thiếu thốn các phương tiện vật chất để sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của cá nhân và gia đình Nhưng thất học, ốm đau, bệnh tật, sự cô lập cũng có thể gây thất nghiệp và giảm thu nhập dẫn đến nghèo đói Dựa vào đó các tác giả này đã phác họa vòng luẩn quẩn của đói nghèo và gọi nó là “bẫy nghèo khổ” Tính chất phức tạp của mối quan hệ nhân quả và nhất là mối liên

hệ nhiều chiều giữa các yếu tố của sự nghèo khổ tạo thành một cái vòng luẩn quẩn nghèo khổ hay cái bẫy nghèo khổ Thực chất, đó là cách gọi một mạng lưới gồm nhiều yếu tố, có mối tương tác chặt chẽ với nhau đến mức chỉ cần vướng vào một mối quan hệ nào đó là đủ để người ta bị rơi vào tình cảnh nghèo khổ như rơi vào một cái bẫy khó thoát ra được Bẫy nghèo khổ nhấn mạnh bốn yếu tố chủ yếu - thiếu quyền lực, dễ bị tổn thương, ốm yếu, cô lập Trên thực tế, số lượng các mắt xích của bẫy nghèo khổ có thể kéo dài, bao gồm các yếu tố như học vấn thấp, thất nghiệp, mất mùa, thiên tai, bệnh dịch

và nhiều yếu tố khác nữa, tùy thuộc vào tình huống xã hội cụ thể Cần thấy rằng, các yếu tố tạo nên vòng luẩn quẩn hay cái bẫy nghèo khổ có thể còn nhiều hơn nữa, ví dụ yếu tố thất nghiệp, tệ nạn xã hội và nhiều yếu tố khác Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn là việc phân tích khoa học về sự nghèo khổ sẽ giúp làm rõ các tác nhân và các hậu

Trang 22

quả của sự nghèo khổ, các cơ chế duy trì sự nghèo khổ Trên cơ sở đó, có thể gợi ra suy nghĩ về các chiến lược xóa đói giảm nghèo và giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội nảy sinh trong cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội

Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản

Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình

1.1.2.3 Phụ nữ và vấn đề tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ

có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học,

kỹ thuật và công nghệ mới

Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một ưu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn (Nguyễn Thị Thanh Hòa, 2013)

Trang 23

1.1.2.4 Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động

Trong xã hội hiện nay, người phụ nữ ngoài việc thực hiện thiên chức, vai trò, trách nhiệm của mình ở gia đình còn phải không ngừng học hỏi, rèn luyện để trở thành người có văn hóa, có tri thức, có kỹ năng sống và khả năng biết tính toán, có sức khoẻ tốt để tiếp cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học, kiến thức thực tiễn để phục vụ công tác

Về quyền ra quyết định chính trong các hoạt động đối với những vấn đề

quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia vụ gia đình Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tư cách là người giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết định quan trọng (Nguyễn Thị Thanh Hòa, 2013)

1.1.2.5 Sử dụng quỹ thời gian của giới

Trước yêu cầu ngày càng cao của thời kì mới, người phụ nữ đã, đang và

sẽ thực hiện hài hòa hai vai: việc nhà, việc nước để vừa có cơ hội phát triển cho bản thân, vừa giữ gìn hạnh phúc gia đình Nếu như người phụ nữ không biết cách sắp xếp, sao nhãng dần những trách nhiệm vốn thuộc về mình như chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục con cái, thì dần dần sẽ có khoảng cách giữa các thành viên trong gia đình Chính vì vậy, người phụ nữ hiện đại cần biết cách cân bằng giữa trách nhiệm gia đình với việc tham gia các hoạt động xã hội Bên cạnh đó, cũng cần đổi mới trong quan niệm về sự “đảm đang” của người phụ nữ, không nên bó hẹp trong “khuôn khổ” của gia đình (Nguyễn Thị Thanh Hòa, 2013)

1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế

hộ gia đình

1.1.3.1 Yếu tố khách quan

- Quan niệm của xã hội

Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công

Trang 24

việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của

họ cho xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ

và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế

- Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ

Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như

ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn

và sự hiểu biết xã hội

- Khả năng tiếp nhận thông tin

Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để

họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân hạn chế tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác

1.1.3.2 Yếu tố chủ quan

- Yếu tố về sức khoẻ

Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của

Trang 25

mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn

- Những yếu tố thuộc về thiên chức, ngộ nhận

Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ quan

do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ

nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái… là việc của phụ nữ Họ

tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi

họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần

1.2 Cơ sở thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế

hộ gia đình

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Hòa An, tỉnh Cao bằng

Thời gian qua, với các hoạt động vận động, hỗ trợ phụ nữ sáng tạo khởi nghiệp, phát triển kinh tế, trao phương tiện sinh kế cho phụ nữ nghèo của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) huyện Hòa An đã và đang mở ra cơ hội cho nhiều phụ nữ tại địa phương vươn lên, khẳng định vai trò của mình trong xây dựng kinh tế gia đình, làm giàu chính đáng

Hội hiện có 9.275 hội viên tham gia sinh hoạt Từ phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, nhiều gia đình do chị em làm chủ hộ trên địa bàn huyện đã từng bước thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng Để khuyến khích hội viên đẩy mạnh phong trào, Hội LHPN huyện đã có nhiều cách làm như: Tạo điều kiện để chị em tham gia các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật,

Trang 26

dạy nghề phù hợp, hỗ trợ vay vốn, cây giống, con giống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, liên kết sản xuất Duy trì và nhân rộng các mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao như: Chăn nuôi trâu, bò sinh sản, bò vỗ béo, nuôi lợn,

gà, kinh doanh dịch vụ…

Hội đã áp dụng khoa học kỹ thuật để trồng nhiều loại rau quả sạch như:

cà chua, đỗ, dưa lê, dưa chuột, rau cải bắp… nhiều hộ gia đình đã đưa sản phẩm bán ra thị trường bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm

Năm 2019, các cấp Hội đã xây dựng thêm 7 mô hình phụ nữ phát triển kinh tế, liên kết sản xuất, an toàn thực phẩm tại 4 xã với 284 hội viên tham gia; giúp nhau 445 ngày công lao động, cho nhau mượn 13,5 ha đất trồng thuốc lá và cấy vụ xuân; cho nhau mượn 80 triệu đồng không tính lãi Cùng với đó, Hội rà soát danh sách các hội viên có nhu cầu khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh để lập kế hoạch giúp đỡ Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án 939

“Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp” và đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giới thiệu

về các nội dung hoạt động của Đề án Lựa chọn 2 mô hình sản xuất, kinh doanh và lập hồ sơ về kế hoạch kinh doanh tham gia Ngày hội Phụ nữ sáng tạo - khởi nghiệp do Hội LHPN tỉnh tổ chức

Để có nguồn vốn phát triển sản xuất, các cấp Hội đã phối hợp với Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện giải ngân 7 tỷ 436 triệu đồng cho 179 hộ vay, nâng tổng dư nợ lên trên 99 tỷ đồng; phối hợp ủy thác cho 62 hội viên vay vốn Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2 tỷ 779 triệu đồng để phát triển kinh tế gia đình

Các cơ sở hội còn vận động hội viên tiết kiệm tại chi hội, tổ được 532 triệu đồng tạo nguồn vốn phát triển sản xuất, nâng tổng số quỹ lên gần 3 tỷ đồng với 507 hội viên vay Hội viên phụ nữ tham gia thực hiện tiết kiệm theo

tổ tiết kiệm và vay vốn Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện

Trang 27

1 tỷ 712 triệu đồng; 100% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ bằng nhiều hình thức

Thông qua các phong trào thi đua, các hội viên đã phát huy nội lực, khả năng sáng tạo, tinh thần quyết tâm của mình để phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững Qua đó, từng bước nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình

và xã hội

1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ

Xác định phụ nữ là lực lượng lao động lớn của xã hội, sự vào cuộc có trách nhiệm của chị em sẽ tác động lớn đối với sự phát triển của từng gia đình, địa phương, thời gian qua, các cấp Hội Phụ nữ đã phát huy nội lực, khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của các tầng lớp phụ nữ trong thực hiện phong trào thi đua và mang lại hiệu quả rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện

Với tinh thần đổi mới, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ trong tham gia phát triển kinh tế, các cấp Hội Phụ nữ đã phát huy tốt vai trò kết nối, khai thác nguồn lực, vận động hội viên tham gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới phát triển hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả Bên cạnh

đó, các cấp Hội đã tập trung tổ chức khảo sát thực trạng đời sống, việc làm và nắm bắt nhu cầu của các đối tượng phụ nữ, lập kế hoạch và triển khai thực hiện để đánh giá đúng đối tượng phụ nữ có khả năng, tiềm năng phát triển kinh tế, có giải pháp, hoạt động hỗ trợ cụ thể, phù hợp, đặc biệt ưu tiên giúp

đỡ phụ nữ làm chủ về kinh tế Hội Phụ nữ tập trung vận động, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên phụ nữ đổi mới tư duy, cách làm, mạnh dạn tham gia chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, phát triển các mô hình sản xuất có hiệu quả, thân thiện với môi trường; hỗ trợ phụ nữ tiếp cận nguồn vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập; mở rộng các loại hình tiết kiệm, quan tâm đầu tư xây dựng, nhân rộng mô hình

Trang 28

sản xuất kinh doanh giỏi,giúp nhau liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Đặc biệt, các cấp Hội Phụ nữ đã tích cực giáo dục, vận động phụ nữ xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nỗ lực, phấn đấu vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, khơi dậy sức sáng tạo của phụ nữ, đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển của quê hương

Bằng nhiều giải pháp cụ thể, hình thức phù hợp, các cấp Hội đã hỗ trợ, giúp đỡ 17.765 hộ phụ nữ nghèo, trong đó có 10.083 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, giúp 52,1% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ thoát nghèo Mặt khác, thông qua các phong trào “Thực hành tiết kiệm theo gương Bác”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”, các cấp Hội đã phát huy tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng, hình thành thói quen tiết kiệm thường xuyên; chia

sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế; hỗ trợ, giúp nhau về giống, vốn, ngày công lao động

Ngoài ra, Hội Phụ nữ các cấp cũng đã khai thác và quản lý hiệu quả các nguồn vốn tín dụng Với nguồn vốn quản lý là 990.440 triệu đồng, các cấp Hội Phụ nữ đã cho 48.881 phụ nữ vay để phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nhiều mô hình phát triển kinh tế của các nhóm phụ nữ, thực hiện hiệu quả mục tiêu hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo Đi đôi với hỗ trợ vốn vay, các cấp Hội đã tranh thủ khai thác các chương trình, dự án tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả; phối hợp với các ngành chức năng tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy, hải sản, kỹ thuật chế biến thực phẩm; tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trong và ngoài tỉnh; đồng thời hỗ trợ, vận động phụ nữ khôi phục, mở mang các ngành nghề, dịch vụ nông thôn, xây dựng và nhân rộng mô hình phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi Cùng với đó, các cấp Hội đã tập huấn nghề, kỹ năng quản

lý kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm của các nữ chủ doanh nghiệp thành đạt, thành lập các tổ hợp tác, xây dựng chuỗi giá trị, liên

Trang 29

kết sản xuất kinh doanh với tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp nữ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, thu hút lao động nữ; giúp nữ chủ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay; tạo điều kiện để các hộ sản xuất kinh doanh khởi sự doanh nghiệp, tăng thu nhập, giải quyết việc làm, đóng góp cho

sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.2.1.3 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Bình

Xác định phụ nữ là lực lượng lao động lớn của xã hội, sự vào cuộc có trách nhiệm của chị em sẽ tác động lớn đối với sự phát triển của từng gia đình, địa phương, thời gian qua, các cấp Hội Phụ nữ đã phát huy nội lực, khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của các tầng lớp phụ nữ trong thực hiện phong trào thi đua và mang lại hiệu quả rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là trong phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

Với tinh thần đổi mới, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ trong tham gia phát triển kinh tế, các cấp Hội Phụ nữ đã phát huy tốt vai trò kết nối, khai thác nguồn lực, vận động hội viên tham gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới phát triển hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả Bên cạnh

đó, các cấp Hội đã tập trung tổ chức khảo sát thực trạng đời sống, việc làm và nắm bắt nhu cầu của các đối tượng phụ nữ, lập kế hoạch và triển khai thực hiện để đánh giá đúng đối tượng phụ nữ có khả năng, tiềm năng phát triển kinh tế, có giải pháp, hoạt động hỗ trợ cụ thể, phù hợp, đặc biệt ưu tiên giúp

đỡ phụ nữ làm chủ về kinh tế Hội Phụ nữ tập trung vận động, hướng dẫn, hỗ trợ hội viên phụ nữ đổi mới tư duy, cách làm, mạnh dạn tham gia chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, phát triển các mô hình sản xuất có hiệu quả, thân thiện với môi trường; hỗ trợ phụ nữ tiếp cận nguồn vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập; mở rộng các loại hình tiết kiệm, quan tâm đầu tư xây dựng, nhân rộng mô hình sản xuất kinh doanh giỏi,giúp nhau liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Đặc

Trang 30

biệt, các cấp Hội Phụ nữ đã tích cực giáo dục, vận động phụ nữ xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nỗ lực, phấn đấu vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, khơi dậy sức sáng tạo của phụ nữ, đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển của quê hương

Bằng nhiều giải pháp cụ thể, hình thức phù hợp, các cấp Hội đã hỗ trợ, giúp đỡ 17.765 hộ phụ nữ nghèo, trong đó có 10.083 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, giúp 52,1% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ thoát nghèo Mặt khác, thông qua các phong trào “Thực hành tiết kiệm theo gương Bác”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”, các cấp Hội đã phát huy tinh thần tương thân, tương ái trong cộng đồng, hình thành thói quen tiết kiệm thường xuyên; chia

sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế; hỗ trợ, giúp nhau về giống, vốn, ngày công lao động

Ngoài ra, Hội Phụ nữ các cấp cũng đã khai thác và quản lý hiệu quả các nguồn vốn tín dụng Với nguồn vốn quản lý là 990.440 triệu đồng, các cấp Hội Phụ nữ đã cho 48.881 phụ nữ vay để phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nhiều mô hình phát triển kinh tế của các nhóm phụ nữ, thực hiện hiệu quả mục tiêu hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo Đi đôi với hỗ trợ vốn vay, các cấp Hội đã tranh thủ khai thác các chương trình, dự án tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả; phối hợp với các ngành chức năng tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy, hải sản, kỹ thuật chế biến thực phẩm; tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi trong và ngoài tỉnh; đồng thời hỗ trợ, vận động phụ nữ khôi phục, mở mang các ngành nghề, dịch vụ nông thôn, xây dựng và nhân rộng mô hình phụ nữ sản xuất kinh doanh giỏi Cùng với đó, các cấp Hội đã tập huấn nghề, kỹ năng quản

lý kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm của các nữ chủ doanh nghiệp thành đạt, thành lập các tổ hợp tác, xây dựng chuỗi giá trị, liên kết sản xuất kinh doanh với tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, hỗ trợ doanh

Trang 31

nghiệp nữ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, thu hút lao động nữ; giúp nữ chủ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay; tạo điều kiện để các hộ sản xuất kinh doanh khởi sự doanh nghiệp, tăng thu nhập, giải quyết việc làm, đóng góp cho

sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Tin rằng, với lực lượng hùng hậu, mạng lưới tổ chức Hội vững mạnh và truyền thống của các thế hệ phụ nữ quê hương “Hai giỏi”, hội viên phụ nữ trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục phát huy vai trò trong phát triển kinh tế, giảm nghèo, chung sức cùng Đảng bộ và Nhân dân toàn tỉnh phấn đấu đưa Quảng Bình phát triển nhanh, bền vững

1.2.1.4 Kinh nghiệm của huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

Những năm qua, các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) huyện Kiên Lương đã vận động cán bộ, hội viên phụ nữ (HVPN) thực hiện có hiệu quả nhiều phong trào thi đua (PTTĐ), phát huy vai trò, sức sáng tạo của phụ nữ góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả các PTTĐ, Hội LHPN huyện đã tổ chức ký kết giao ước thi đua đến 100% cơ sở hội Các PTTĐ được phát động gắn với ngày lễ, ngày truyền thống của Hội, các sự kiện chính trị của địa phương, đơn vị Song song đó, hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng thông qua các mô hình, giao lưu, tham quan học tập kinh nghiệm, câu lạc bộ của phụ nữ, hội thi, hội nghị biểu dương những tấm gương tiêu biểu qua đó góp phần thúc đẩy PTTĐ lan toả sâu rộng 5 năm qua các cấp hội trong huyện đã đẩy mạnh PTTĐ ở địa phương làm dấy lên nhiều phong trào sôi nổi, khơi dậy tinh thần yêu nước và phát huy truyền thống tốt đẹp của Phụ

nữ Việt Nam, phát huy tính năng động, sáng tạo của phụ nữ trong công tác hội Đồng thời, các cấp hội tích cực phối hợp với các ngành, đoàn thể khai thác các nguồn hỗ trợ giúp HVPN có điều kiện phát triển kinh tế, vươn lên trong cuộc sống Trong quá trình triển khai PTTĐ, các cấp hội luôn sáng tạo trong đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, giúp cán bộ, HVPN phát

Trang 32

huy tiềm năng trong tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế -

xã hội của huyện

Trong phát triển kinh tế, các cấp hội vận động HVPN tích cực lao động sáng tạo thông qua các mô hình: “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Phụ nữ làm kinh tế giỏi”, “Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”, “Tổ phụ nữ tiết kiệm”, tham gia các lớp đào tạo nghề, hỗ trợ tư vấn việc làm và tiếp cận các thông tin chính sách về lao động, việc làm Bên cạnh đó, các cấp hội còn phối hợp với các ngành liên tổ chức 66 lớp dạy nghề ngắn hạn cho cho 2.591 lượt HVPN tham gia; giới thiệu việc làm 4.163 HVPN lao động trong và ngoài tỉnh Nhằm tiếp tục “Đẩy mạnh việc Học tập, làm theo, tư tương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh”, Hội đã phát động cán bộ, HVPN biến nhận thức thành hành động, mang lại hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao nhận thức, tạo thành phong trào hoạt động “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, với cách làm cụ thể, sáng tạo, phù hợp với thực tế của từng địa phương, nhất là trong lĩnh vực thực hành tiết kiệm được hình thành qua các mô hình như: “Tổ phụ nữ nuôi heo đất”; “Hủ gạo tình thương”; “Tiết kiệm điện sinh hoạt”; “Tận dụng đất trống trồng rau xanh”; “Tổ phụ nữ góp vốn xoay vòng không tính lãi giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”… Các mô hình theo gương Bác mang lại hiệu quả thiết thực, vì vậy đã được HVPN đồng tình hưởng ứng, góp phần giúp HVPN nâng cao nhận thức, trình độ mọi mặt, tự tin, năng động, linh hoạt trong lao động, học tập, công tác, phấn đấu vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Qua 5 năm 2015-2019, các cấp hội đã thành lập được 483 tổ xoay vòng vốn,

tổ tiết kiệm theo gương Bác… có 11.084 thành viên tham gia, với số vốn huy động được trên 6,9 tỷ đồng, từ các phong trào tiết kiệm trên đã giúp cho 1.927 lượt HVPN vay phát triển kinh tế

Để tổ chức triển khai có hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và

Trang 33

công tác từ thiện xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện giai đoạn 2020-2025, Hội LHPN huyện đã kịp thời triển khai kế hoạch phát động đăng ký PTTĐ “Chung tay vì người nghèo và công tác từ thiện xã hội” và kế hoạch “Hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo bền vững” trên địa bàn huyện Hàng năm, các cấp hội phối hợp cùng ban giảm nghèo cùng cấp khảo sát hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí mới, phát động mỗi chi hội đăng ký giúp 2 hộ nghèo, cận nghèo do phụ nữ làm chủ

hộ thoát nghèo, qua phát động đến nay đã đăng ký giúp 389 hộ, trong đó đã có

121 HVPN được thoát nghèo

Công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện và xây dựng gia đình hạnh phúc là một trong những chương trình quan trọng mà các cấp hội đặc biệt quan tâm Để thực hiện hiệu quả chương trình này, các cấp hội tập trung đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cán bộ, HVPN về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc hỗ trợ phụ nữ học tập, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Hội LHPN xã Bình An là một trong những điển hình thực hiện tốt các PTTĐ của hội Hội LHPN xã Bình An có 7 chi hội với 55 tổ phụ nữ, với 1.984 hội viên Toàn xã có 44 hộ nghèo, trong đó có 23 hộ nghèo do phụ

nữ làm chủ, đời sống của một số còn gặp khó khăn Từ thực tế trên Hội đã tổ chức nhiều hoạt động giúp HVPN nâng cao đời sống, Hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện tín chấp cho 762 hộ vay số tiền trên 18,6 tỷ đồng; phối hợp Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn giải ngân cho 6 hộ vay chương trình khởi nghiệp với số tiền 120 triệu đồng “Ngoài việc tranh thủ các nguồn vốn vay từ các ngân hàng, hội còn vận động hội viên thực hành tiết kiệm giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống Bên cạnh đó, Hội còn xây dựng 5 mô hình “Hủ gạo tình thương”, hỗ trợ gạo hàng tháng, hỗ trợ đột xuất cho hộ nghèo, khó khăn, người già neo đơn, bệnh tật Qua những

Trang 34

phong trào này đã giúp phần nào khó khăn cho HVPN, giúp họ vươn lên trong cuộc sống”

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Vân Đồn trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Qua bài học kinh nghiệm của một số địa phương trong nước, tác giả rút

ra một số bài học trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh

tế hộ tại huyện Vân Đồn như sau:

Thứ nhất, Cần nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo về bình đẳng giới, về giải phóng phụ nữ và vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn nói riêng

Thứ hai, Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phụ nữ giúp nhau phát triển kinh

tế gia đình, làm kinh tế giỏi, động viên khuyến khích phụ nữ tham gia thực hiện xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng

Thứ ba, Tăng cường nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao trình độ năng lực cho phụ nữ nông dân

Thứ tư, Nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động của hội Liên hiệp phụ nữ các cấp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế

Trang 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

a Vị trí địa lý

Vân Đồn là một huyện hải đảo nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Ninh, hợp thành bởi 2 quần đảo Cái Bầu và Vân Hải Phía Bắc và phía Đông Bắc giáp huyện Tiên Yên, huyện Đầm Hà; phía Đông Nam giáp huyện Cô Tô và vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả, thành phố Hạ Long và vùng vịnh

Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh

Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cái Rồng, 11 xã với hơn

80 làng mạc (6 xã trên đảo Cái Bầu là các xã Đông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Đoàn Kết, Đài Xuyên, Vạn Yên; 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải là các xã Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi) Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện, thị trấn Cái Rồng cách thành phố Hạ Long 40km về phía Tây, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái khoảng trên 100km về phía Đông Vân Đồn cách Thủ đô Hà Nội 175km, cách thành phố Hải Phòng 80km

b Diện tích, khí hậu, thủy văn, đất đai

Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích các loại đất năm 2019

III Đất chưa sử dụng 5.452,02

Nguồn: Chi cục thống kê thành phố Cẩm Phả

Trang 36

Vân Đồn có nhiều vùng tiểu khí hậu, lượng mưa bình quân trên 2000mm mỗi năm, độ bức xạ lớn, nhiều sương mù, mưa phùn và gió bão lớn

Đất của Vân Đồn khá rộng, còn ở dạng tương đối hoang sơ và khá đa dạng, gồm đất liền, hải đảo, đất mặt và cả thềm lục địa Đây là điều kiện tốt

để tổ chức quy hoạch, xây dựng phát triển Tuy nhiên, cần có một quy hoạch thống nhất, dài hạn để sử dụng hiệu quả và tránh sử dụng đất một cách manh mún, lãng phí

c Các nguồn tài nguyên

Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của Vân Đồn tương đối lớn để phát triển các ngành dịch vụ và du lịch biển đảo chất lượng cao

- Tài nguyên du lịch biển

Vân Đồn nằm trọn trong vịnh Bái Tử Long (kề sát vịnh Hạ Long) với nhiều kỳ quan thiên nhiên kỳ thú, có nhiều đảo đá, hang động, bãi tắm đẹp, có những di tích lịch sử - văn hoá đặc sắc, nằm gần các trung tâm phát triển công nghiệp và đô thị lớn của tỉnh (giáp thành phố Cẩm Phả, gần thành phố Hạ Long, nằm trên tuyến du lịch Hải Phòng - Hạ Long, nằm trên tuyến quốc lộ

18 nối Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái) Vân Đồn có thế mạnh phát triển mạnh các loại hình du lịch cơ bản sau:

Sở hữu nhiều di tích lịch sử văn hoá đã và đang được xếp hạng như khu

di tích đình Quan Lạn, phế tích thương cảng Vân Đồn (xã Quan Lạn), đền Cặp Tiên; nhiều kỳ quan đảo đá, hang động có ý nghĩa lịch sử như hang Soi Nhụ, hang Hà Giắt, hang Nhà Trò; Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng - biển,Vườn Quốc gia Bái Tử Long Vân Đồn có tiềm năng lớn phát triển du lịch văn hoá

- lịch sử trong quần thể du lịch Hạ Long - Bái Tử Long

Vân Đồn có nhiều bãi tắm đẹp (như bãi biển Sơn Hào, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng) với không khí trong lành, yên tĩnh, không có bụi khói

Trang 37

công nghiệp tạo thành các điểm nghỉ mát, hoạt động thể thao - du lịch biển; là điều kiện lý tưởng phát triển du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp

Nối liền với vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên thế giới, Vân Đồn có tiềm năng lớn cho phát triển du lịch tham quan danh thắng quần thể du lịch vịnh

Hạ Long - vịnh Bái Tử Long Đồng thời đây cũng sẽ là điểm du lịch có tác dụng lan toả của du lịch Hạ Long trong thời gian tới, khi du lịch tại Hạ Long được đòi hỏi phải mở rộng quy mô và không gian

- Tài nguyên khoáng sản

Vân Đồn có một số tài nguyên khoáng sản như đá vôi, than đá, cát, sắt, vàng đã từng được tổ chức khai thác từ lâu

Than đá đã được khai thác tại mỏ Kế Bào từ thời Pháp; tuy nhiên, đến nay đã dừng khai thác quy mô công nghiệp do ảnh hưởng xấu tới môi trường

và chất lượng than không cao do cấu trúc vỉa phức tạp Điểm quặng sắt Thâm Câu (Cái Bầu) được đánh giá có trữ lượng khoảng 790.000 tấn tài nguyên; ước đoán 1,2 triệu tấn đã được khai thác trong 2 thời kỳ 1930 - 1940 và 1950 -

1960 Mỏ cát trắng Vân Hải thuộc loại mỏ lớn, có trữ lượng 5,764 triệu tấn, hiện đang khai thác cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất kính, thủy tinh một cách có hiệu quả Vàng có ở đảo Cái Bầu là vàng sa khoáng và vàng trong đới quặng sắt chưa khai thác

- Tài nguyên rừng

Rừng ở Vân Đồn phong phú với nhiều chủng loại Đặc biệt, vườn Quốc gia Bái Tử Long gồm những khu rừng nguyên sinh quý giá (như Rừng Trà Ngọ, rừng Trâm Minh Châu, rừng Ba Mùn) và rừng ngập mặn là nguồn tài nguyên cần được giữ gìn và khai thác hợp lý

Vân Đồn có 68% diện tích đất tự nhiên là rừng và đất rừng Rừng trên nhiều đảo xưa có nhiều lâm sản, trong đó có nhiều loại gỗ quí như lim, lát, sến,

Trang 38

táu, nghiến, mun, kim giao, đặc biệt là gỗ mần lái (làm đình Quan Lạn) không thấy có ở các nơi khác; nhiều chim thú quý như khỉ lông vàng, vọoc đầu bạc, đại bàng đất, công, trĩ, hươu sao, lợn rừng… Đặc biệt đảo Ba Mùn là một vùng rừng nguyên sinh, từ năm 1977 đã được Nhà nước qui định là rừng cấm Quốc gia (TTCP 1977), nay lại được Chính phủ ra quyết định thành lập Vườn quốc gia Bái Tử Long (TTCP 2001) Đây là một trong 25 Vườn quốc gia của

cả nước còn nguyên vẹn hệ sinh thái đa dạng sinh học

- Tài nguyên biển

Biển không chỉ mang lại nguồn lợi lớn về du lịch mà còn là điều kiện khá thuận lợi để Vân Đồn phát triển kinh tế đa dạng, bao gồm vận tải biển; đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải - đặc sản chất lượng cao Vân Đồn có thềm lục địa rộng khoảng 1.620km2 (gấp 3 lần diện tích đất nổi của khu) nằm trong vịnh Bái Tử Long nên huyện Vân Đồn có một ngư trường rộng lớn trong vùng biển vịnh Bắc bộ với nhiều vũng vịnh, bãi triều ven biển và rừng ngập mặn tạo nên nguồn lợi thuỷ, hải sản và tài nguyên biển khá phong phú, nhiều chủng loại hải sản quý, có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao (tập trung ở vùng quần đảo Vân Hải, có khả năng cho phép khai thác hàng chục ngàn tấn mỗi năm) đã và đang mang lại nguồn lợi to lớn cho dân cư trên đảo

Nghề đánh cá biển có truyền thống lâu đời Nghề nuôi trồng hải sản có

từ những năm 90 của thế kỷ XX và phát triển rất nhanh, nhất là nghề nuôi nhuyễn thể Hiện đã có một số doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào nuôi trai lấy ngọc xuất khẩu, nuôi tu hài, nuôi hàu (bằng thức ăn tự nhiên) đem lại hiệu quả cao mà không ảnh hưởng đến môi trường biển

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội

a Đặc điểm văn hóa, xã hội

Vân Đồn là địa phương có truyền thống giữ nước vẻ vang với nhiều trận đánh đuổi quân Tống, quân Thanh và các toán giặc biển Trung Hoa tràn

Trang 39

vào cướp phá Vân Đồn cũng ghi dấu nhiều cuộc khởi đánh vào đồn binh Pháp và bọn Pháp ở mỏ Kế Bào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Thời

kỳ đó, vùng đảo từng là hậu cứ của Cẩm Phả - Cửa Ông và là vùng chiến tranh du kích kiên cường Thời chống Mỹ, vùng đảo là căn cứ an toàn của tàu Hải quân và là cửa ngõ giao lưu hàng hải khi cảng Hải Phòng và cảng Hòn Gai bị phong toả Xã Ngọc Vừng và toàn huyện đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang

Vân Đồn là địa danh có từ lâu đời Theo sử sách chép lại thì năm 980 trấn Triều Dương đã có Vân Đồn Năm 1149 vua Lý Anh Tông chính thức lập trang Vân Đồn thành cảng ngoại thương đầu tiên ở nước ta Như vậy, Vân Đồn là thương cảng cổ nhất Việt Nam, đã từng là cảng ngoại thương phồn thịnh và hoạt động trong hơn 4 thế kỷ Những di chỉ còn lại cũng cho thấy Vân Đồn có truyền thống văn hoá đặc sắc Tiêu biểu, tại Hang Soi Nhụ có di chỉ thời trung kỳ đồ đá mới; nhiều di chỉ còn cho thấy từ thời Đông Hán, người Trung Quốc đã đến đây buôn bán

Ngoài các di tích khảo cổ, hệ thống công trình tâm linh tại Vân Đồn cũng rất đồ sộ Tiêu biểu là cụm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật đình, chùa, nghè xã Quan Lạn đã được liệt hạng ngày 14/7/1990 và các công trình tôn thờ những liệt sỹ người địa phương có từ lâu đời

Về phong tục và lễ hội, một vốn văn hoá phi vật thể phong phú còn lưu giữ được đến ngày nay là tục hát nhà tơ, hát đám cưới, đặc biệt là hát cưới trên thuyền với lời ca và giai điệu trữ tình Vân Đồn còn duy trì những lễ hội

có giá trị văn hóa dân tộc như lễ hội Quan Lạn, có đua thuyền với quy cách tổ chức độc đáo, trì lễ hội Đại Phan của người dân tộc Sán Dìu,

Trang 40

(Nguồn: Thống kê Huyện Vân Đồn)

Quy mô dân số của huyện Vân Đồn đến ngày 31/12/2019 là 46.560 người Trong đó dân số thị trấn là 9.607 người, chiếm 20,63% tổng dân số toàn huyện; dân số nông thôn là 36.953 người, chiếm 79,37% Trong tổng số dân cư năm 2019, dân số nam chiếm 49,06%, nữ chiếm gần 50,94% Tốc độ tăng tự nhiên cho cả thời kỳ 2017 - 2019 trung bình khoảng 1,09-1,85%/năm

và biến động không đều qua các năm Tỷ lệ tăng dân số năm 2019 là 1,09%

Mật độ dân số năm 2019 là: 80 người/km2

Ngày đăng: 10/05/2021, 20:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm