Pháp luật Việt Nam Pháp luật nước ngoài2003 lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch được thực hiện; - Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; minh nhãn hiệu đã được công - Uy tín rộng rã
Trang 1Khoa Luật Dân Sự Lớp Luật Dân Sự 44B2
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ
Môn: Luật Sở hữu trí tuệ Giảng viên: Đặng Nguyễn Phương Uyên Nhóm: 8
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC A.1 Lý thuyết: 3
1 Nhận định ĐÚNG, SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn: 3 a) Khi thiết kế nhãn hiệu cho hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp phải thiết kế kết hợp dấu hiệu chữ và hình ảnh 3 b) Tổ chức nước ngoài nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ 3 c) Doanh nghiệp bị từ chối bảo hộ nhãn hiệu có quyền khiếu nại lên Cục Sở hữu trí tuệ 3 d) Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh 3
2 Trình bày điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ theo Luật SHTT 3
3 Nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật Sở hữu trí tuệ là gì So sánh với quy định pháp luật nước ngoài về tiêu chí đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng 4
A.2 Bài tập: 5
a) Theo quy định của pháp luật SHTT, việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty Marvel không? Nêu cơ sở pháp lý 5 b) Theo Tòa án xác định trong bản án số 15, Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-Men và hình cho công ty Hàng gia dụng quốc tế là đúng hay sai?
Vì sao Tòa án lại xác định như vậy? 6 c) Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu X-Men của công
ty Hàng gia dụng quốc tế có gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa không? Vì sao? 7
B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp: 8
1/ Phân tích điều kiện để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng Nhãn hiệu “INTERBRAND” có phải là nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật SHTT không? Vì sao? 8 2/ Công ty Thương Hiệu Quốc tế có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với Công
ty Interbrand không? Nêu cơ sở pháp lý 9 3/ Giả sử bạn là luật sư bảo vệ quyền lợi của công ty INTERBRAND JSC, hãy đưa ra lời
tư vấn thích hợp 9
4/ Theo quan điểm của bạn, hướng giải quyết của Tòa án trong tranh chấp này có phù hợp
không? Giải thích vì sao 10
Trang 3A.1 Lý thuyết:
1 Nhận định ĐÚNG, SAI, nêu cơ sở pháp lý và giải thích ngắn gọn:
a) Khi thiết kế nhãn hiệu cho hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp phải thiết kế kết hợp dấu hiệu chữ và hình ảnh.
Nhận định SAI CSPL: Khoản 1 Điều 72 Luật SHTT
Một trong các điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ chính là thiết kế nhãn hiệu phải là các dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Do đó, các thiết kế trên có thể là nhãn hiệu từ ngữ (chỉ bao gồm dấu hiệu từ ngữ), nhãn hiệu hình ảnh (chỉ bao gồm dấu hiệu hình ảnh) và nhãn hiệu kết hợp (kết hợp cả dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh) chứ không bắt buộc phải thiết kế nhãn hiệu kết hợp giữa dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh mới là nhãn hiệu đáp ứng điều kiện bảo hộ
b) Tổ chức nước ngoài nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ
Nhận định SAI CSPL: Điều 89 Luật SHTT
Vì tổ chức nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam thì khi nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu phải thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam chứ không thể trực tiếp nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục SHTT
trí tuệ.
Nhận định SAI CSPL: Điều 117 Luật SHTT, Điều 14 Nghị định 103/2006/NĐ-CP, điểm b khoản 21 Điều 1 Thông tư 16/2016/TT-BKHCN
Doanh nghiệp là chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu theo Điều 87 Luật SHTT chỉ có quyền khiếu nại theo quy định của Luật SHTT và theo quy định tại điểm v khoản 21 Điều
1 TT 16/2016/TT/SKHCN, quy định về các quyết định, thông báo cáo có thể bị khiếu nại Theo đó, chỉ những nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ quốc tế (Điểm 41.6g) mới có thể bị khiếu nại quyết định từ chối bảo hộ nhãn hiệu, còn các quyết định từ chối bảo hộ nhãn hiệu đối với các nhãn hiệu đăng ký thông thường thì không thể khiếu nại Casc nhãn hiệu đăng ký thông thường chỉ được khiếu nại đối với quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu
d) Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh.
Nhận định sai CSPL: Điều 95 Luật SHTT
Cụ thể căn cứ tại điềm c khoản 1 Điều 95 Luật SHTT quy định: “Chủ văn bằng bảo
hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp”.
=> Như vậy, trong trường hợp khi chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động nhưng có người thừa kế hợp pháp thì văn bằng bảo hộ nhãn hiệu vẫn còn hiệu lực.Ngoài ra, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ chấm dứt hiệu lực trong một số trường hợp khác mà pháp luật đã quy định
2 Trình bày điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ theo Luật SHTT
CSPL: Khoản 1, 2 Điều 72 Luật SHTT thì để nhãn hiệu được bảo hộ thì phải đáp ứng
được các điều kiện sau: “1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình
Trang 4vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
2 Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.
Thứ nhất: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Điều kiện này được hiểu là nhãn hiệu đó phải được nhận thức, cảm nhận bằng thị giác của con người chứ không phải là vô hình thông qua việc nhìn ngắm, quan sát nhãn hàng hóa và thấy được nhãn hiệu của hàng hóa đó để phân biệt với hàng hóa dịch vụ khác Hay nói cách khác nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng một vật chất nhất định để con người có thể nhìn thấy được Để có thể như vậy, nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng chữ viết, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên và được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Thứ hai: nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ sở
hữu nhãn hiệu với hàng hóa dịch vụ của chủ thể khác Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dế ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 74 Luật SHTT Dễ nhận biết, dễ ghi nhớ được hiểu là khi quan sát thì người tiêu dùng có thể ấn tượng và lưu lại trong trí nhớ của mình, bất kỳ ai khi đã nhìn thấy nhãn hiệu cũng đều dễ dàng nhận biết và phân biệt nhãn hiệu đó với các loại nhãn hiệu khác
3 Nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật Sở hữu trí tuệ là gì So sánh với quy định pháp luật nước ngoài về tiêu chí đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng.
Khoản 20 Điều 4 Luật SHTT quy định “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.”
Giống nhau: Đều quy định thời hạn sử dụng nhãn hiệu, số lượng người tiêu dùng liên quan biết đến nhãn hiệu là tiêu chí để đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Khác nhau:
2003
Tiêu
- Số lượng người tiêu dùng liên quan - Mức độ nhận biết của
giá bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn kinh doanh cho nhãn hiệu;
hiệu hoặc thông qua quảng cáo; - Khoảng thời gian nhãn
hiệu được sử dụng;
- Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch
vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; - Thời hạn và phạm vi
quảng cáo của nhãn hiệu, và
- Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số khu vực địa lý mà quảng cáo
Trang 6Pháp luật Việt Nam Pháp luật nước ngoài
2003 lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch được thực hiện;
- Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; minh nhãn hiệu đã được công
- Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ nhận là nhãn hiệu nổi tiếng;
- Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; tính nổi tiếng của nhãn hiệu
- Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
- Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu
Kết luận:
- Quy định những yếu tố xác định là tiêu chí đánh giá của pháp luật Trung Quốc còn quá rộng và khó nắm bắt để tìm các chứng cứ chứng minh nhãn hiệu nổi tiếng Tuy nhiên, Trung Quốc khẳng định không cần thiết phải thỏa mãn đầy đủ cả 5 tiêu chí (dấu hiệu) mà Luật đã liệt kê để một nhãn hiệu được xác định là nổi tiếng
- Quy định của Luật SHTT Việt Nam lại quy định cụ thể, chi tiết hơn nhưng Điều 75 trên đưa ra một danh sách các “tiêu chí” để đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng và không cho biết là một nhãn hiệu phải thỏa mãn một số hay tất cả các tiêu chí này mới được thừa nhận là nổi tiếng
A.2 Bài tập:
1 Đọc, nghiên cứu Bản án số 15 “Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu” (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:
a) Theo quy định của pháp luật SHTT, việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty Marvel không? Nêu cơ sở pháp lý.
Theo quy định pháp luật SHTT, việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men không xâm phạm quyền SHTT của công ty Marvel vì công ty Marvel được biết đến với khái niệm X-men là dùng cho các nhân vật trong truyện tranh, phim, trò chơi còn khái niệm X-men của công ty Hàng gia dụng dùng cho sản phẩm mỹ phẩm dành cho người Hai đối tượng này thuộc hai lĩnh vực khác nhau Theo BLDS 1995 và Nghị định 63/1996 là “không cùng loại”, nên không thể xem xét sự nhầm lẫn về xuất xứ khi sản
Trang 7phẩm được đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực khác nhau Mặt khác căn cứ vào khoản 5 Điều 73 Luật SHTT và điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/1996 có thể khẳng định nhãn hiệu X-Men của công ty hàng gia dụng quốc tế không làm cho người tiêu dùng hầm lẫn, hiểu sai đối với nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Và nhãn hiệu này không thuộc trường hợp dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu Do đó việc công ty Hàng gia dụng quốc tế sử dụng nhãn hiệu X-Men không xâm phạm đến quyền SHTT của công ty Marvel theo văn bản bản pháp luật trước đây và hiện nay
b) Theo Tòa án xác định trong bản án số 15, Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-Men và hình cho công ty Hàng gia dụng quốc tế là đúng hay sai? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?
Theo Toà án, Quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa X-men
và hình cho công ty Hàng gia dụng quốc tế của Cục SHTT là đúng Tòa án xác định như vậy vì theo Điều 71 Luật SHTT thì nhãn hiệu nếu muốn được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Phải là dấu hiệu nhìn thấy được: Tại thời điểm Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc
tế nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ““X-MEN”, hình” Đây là dấu hiệu nhìn thấy được
- Khả năng phân biệt hàng hóa của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa của chủ thể khác:
+ Tại thời điểm Công ty TNHH Hàng gia dụng quốc tế nộp đơn đăng ký nhãn hiệu
“X-MEN”, hình” ngày 27/6/20033 thì nhãn hiệu X-MEN của Công ty Marvel chưa thực hiện đăng ký tại Việt Nam
+ Tại Hoa Kỳ, nơi Công ty Marvel mang quốc tịch thì vào thời điểm ngày 27/6/2003, Marvel chưa được chứng nhận sở hữu nhãn hiệu X-MEN đối với sản phẩm thuộc nhóm 3 (hoá mỹ phẩm cho người) Người Việt Nam tại thời điểm này chưa biết đến sản phẩm nào của Công ty Marvel trong nhóm sản phẩm này nên không thể gây nhầm lẫn
+ Công ty Marvel được biết đến với khái niệm X-MEN là dùng cho các nhân vật trong truyện tranh, phim, trò chơi (thuộc lĩnh vực quyền tác giả) òn khái niệm X-MEN của Công ty Hàng gia dụng quốc tế dùng cho sản phẩm mỹ phẩm dành cho người (thuộc lĩnh vực quyền SHCN, cụ thể là nhãn hiệu) Hai đối tượng này thuộc hai lĩnh vực khá khác nhau nên theo BLDS 1995 và Nghị định 63/1996 là “không cùng loại”, nên không thể xem xét sự nhằm lẫn về xuất xứ khi sản phẩm đựợc đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực khác nhau
+ Tên gọi X-MEN của công ty Marvel không phải tên của một nhân vật cụ thể trong tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả mà X-MEN là tên chung của một nhóm người siêu anh hùng có siêu năng lực đặc biệt khác nhau Còn thôngthông của tên gọi X-MEN của Công ty Hàng gia dụng quốc tế là “Người đàn ông đích thực”, là các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp cho nam giới
⇒ Chính vì vậy, nhãn hiệu của Công ty Hàng gia dụng quốc tế không xâm phạm đến tên nhân vật, hình tượng tác phẩm của công ty Marvel thỏa mãn điều kiện được bảo hộ
và được cấp bằng bảo hộ tại Việt Nam
Trang 8c) Quan điểm của tác giả bình luận có cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế có gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa không? Vì sao?
Theo Tác giả bình luận, nhãn hiệu X-Men của công ty Hàng gia dụng quốc tế không làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn hiểu sai đối với nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Vì: + Thứ nhất, về mặt từ ngữ, từ Men” có cách phát âm giống nhau nhưng từ “X-Men” của Công ty Marvel dùng cho các nhân vật trong truyện tranh, phim, trò chơi (thuộc lĩnh vực quyền tác giả) và không phải tên của một nhân vật cụ thể trong tác phẩm, còn từ “ X-Men” của Công ty hàng gia dụng quốc tế dùng cho sản phẩm mỹ phẩm dành cho người (thuộc lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể là nhãn hiệu) Hai đối tượng này thuộc hai lĩnh vực khác nhau, “ không cùng loại”, nên không thể xem xét sự nhầm lẫn về xuất xứ khi sản phẩm được đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực khác nhau
+ Thứ hai, công ty Marvel chưa cung cấp được bằng chứng thuyết phục, chứng minh khái niệm X-Men của mình có được biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam hay không Tài liệu mà công ty Marvel cung cấp về doanh thu chưa được cơ quan có chức năng xác định Hơn nửa doanh thu về sản phẩm cũng chưa phải chứng cứ đầy đủ và thuyết phục cho thấy khái niệm X-Men của Công ty Marvel được biết đến rộng rãi Công ty Marvel
có cung cấp thông tin về việc sử dụng hình ảnh diễn viên điện ảnh Brad Pitt cũng như biểu tượng kèm theo dòng chữ Hollywood để quảng cáo sản phẩm mang nhãn hiệu X-Men nhưng cũng không cung cấp được tài liệu là hồ sơ quảng cáo, đĩa hình quảng cáo + Thứ ba, nhãn hiệu X-Men gắn trên mỹ phẩm của Công ty Hàng gia dụng quốc tế phải làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm rằng đây là mỹ phẩm do Công ty Marvel sản xuất, thực hiện Trên thực tế việc nhầm lẫn này rất khó xảy ra, vì có khái niệm X-Men của Công ty Marvel được biết đến trong lĩnh vực phim, truyện tuy nhiên trong lĩnh vực sản xuất mỹ phẩm cho nam giới thì Công ty Marvel chưa có bất kỳ sản phẩm hay thông tin nào cho thấy điều đó tại Việt Nam Như vậy, người tiêu dùng khi mua sản phẩm mang nhãn hiệu X-Men của Công ty Hàng gia dụng quốc tế không thể nhầm lẫn đó là sản phẩm của Công ty Marvel
d) Theo quan điểm của bạn, hướng giải quyết của Tòa án trong tranh chấp này có phù hợp không? Giải thích vì sao Vũ
Hướng giải quyết của Tòa là hoàn toàn hợp lý Tòa ra quyết định:
1 Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel
2 Công ty Marvel phải nộp 50.000 đồng án phí sơ thẩm
3 Cục SHTT Công ty Marvel và Công ty hàng gia dụng Việt Nam được quyền kháng kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
Việc Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Marvel là hoàn toàn có cơ sở Vì thứ nhất, tại thời điểm Công ty hàng gia dụng Việt Nam nộp hồ sơ tại cục SHTT ngày 27/6/2003 thì nhãn hiệu X-MEN của Công ty Marvel chưa thực hiện đăng ký tại Việt Nam Nội dung này được chính đại diện theo pháp luật của Công ty Marvel thừa nhận tại Tòa án Thứ hai, Theo quy định tại Điều 785 BLDS 1995, nhãn hiệu hàng hóa được xác định: là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Mà thực tế, Công ty Marvel không có sản phẩm cùng loại là mỹ
Trang 9phẩm đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam mà chỉ có những tác phẩm văn hóa như phim, truyện, trò chơi X-MEN đã đăng ký bản quyền
B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:
Đọc, nghiên cứu Bản án số 1388/2012/KDTM-ST ngày 13/09/2012 của TAND Tp HCM (gồm cả phần tình huống và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu hỏi sau đây:
1/ Phân tích điều kiện để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng Nhãn hiệu “INTERBRAND” có phải là nhãn hiệu nổi tiếng theo Luật SHTT không?
Vì sao?
Theo Điều 75 Luật SHTT, các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
“ 1 Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2 Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3 Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
4 Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5 Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
6 Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7 Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8 Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.”
Trong số các tiêu chí trên, có các tiêu chí định lượng như “số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu”; “doanh số thu” hay “số lượng” hàng hóa đã bán, dịch
vụ đã cung cấp; “số lượng quốc gia” bảo hộ nhãn hiệu cũng như công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng; “thời gian sử dụng liên tục của nhãn hiệu; “giá” trị của nhãn hiệu Ngoài ra còn
có tiêu chí định tính như “uy tín” của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.1 Tuy nhiên, tiêu chí số 2 về phạm vi lãnh thổ, tiêu chí số 6 về số lượng quốc gia bảo hộ và tiêu chí số 7 về
số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu đã trái với định nghĩa cơ bản của khoản 20 Điều 4 Luật SHTT chỉ quy định nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Theo đó, hiểu theo quy định tại Điều 4 thì để là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam thì nhãn hiệu này phải được người tiêu dùng Việt Nam biết đến và “một nhãn hiệu nước ngoài sẽ không được công nhận là nổi tiếng ở Việt Nam nếu nhãn hiệu đó không được biết đến (bởi người tiêu dùng) ở Việt Nam”2, còn các tiêu chí nêu trên tại Điều 75 lại quy định phạm vi lãnh thổ và số lượng quốc gia công nhận, bảo hộ nhãn hiệu
Đây là quy định mâu thuẫn nhau trong Luật SHTT Việt Nam mà cần xem xét và quy định rõ Bên cạnh đó, việc luật không quy định cụ thể có cần thiết phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí hay không cũng trở nên khó khăn trong việc xác định nhãn hiệu nổi tiếng Hiện nay, nhiều quan điểm cho rằng không cần phải thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí trên
1 Trang 429 Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
2 Phan Ngọc Tâm (2011), “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng”, Tạp chí khoan học pháp
lý, số 6.
Trang 10mới được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng và quan điểm này cũng được áp dụng trong nhiều vụ án tranh chấp về nhãn hiệu nổi tiếng như Bản án số 1388/2012/KDTM-ST ngày 13/09/2012 của TAND Tp HCM
Đối với bản án trên, nhãn hiệu “Interbrand” là một nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định
của Luật SHTT “Do nhãn hiệu Interbrand của Công ty Interbrand có số lượng người tiêu dùng và người sử dụng biết đến rộng rãi thông qua việc sử dụng dịch vụ và phương tiện quảng cáo liên tục từ năm 1974 tại nhiều quốc gia trên thế giới, doanh số đạt được
từ dịch vụ mang nhãn hiệu cũng như tổng số giá trị của các thương hiệu được Công ty Interbrand định giá rất lớn, dịch vụ mang nhãn hiệu đã đạt được uy tín rộng rãi, đồng thời nhãn hiệu đã được sử dụng và được biết đến tại Việt Nam thông qua các phương tiện truyền thông”; “Căn cứ vào khoản 20 Điều 4, Điều 75 Luật SHTT và khoản 2 Điều 6 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về CHCN, Cục SHTT xác nhận nhãn hiệu Interbrand của Công ty Interbrand là nhãn hiệu nổi tiếng trong lĩnh vực định giá và tư vấn xây dựng thương hiệu…” Cục SHTT xác định nhãn hiệu “đã được sử dụng và được
thừa nhận rộng rãi trên thế giới”, “đã sử dụng và được biết đến tại Việt Nam”, “có số lượng người tiêu dùng và người sử dụng biết đến rộng rãi”, “định giá rất lớn”, “đã đạt được uy tín rộng rãi”…
Vì Luật SHTT không quy định cụ thể đáp ứng một trong các tiêu chí hay đáp ứng tất
cả tiêu chí nên Cục SHTT đã ra quyết định theo hướng không cần phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tại Điều 75, đồng thời Công ty Interbrand cũng đáp ứng quy định tại khoản
20 Điều 4 Luật SHTT Do đó, việc công nhận Interbrand là nhãn hiệu nổi tiếng là hợp lý
2/ Công ty Thương Hiệu Quốc tế có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với Công ty Interbrand không? Nêu cơ sở pháp lý.
Hành vi của công ty Thương Hiệu Quốc tế có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với Công ty Interbrand
CSPL: Điều 129, 130 Luật SHTT, Điều 16, 17 Nghị định 103/2006/NĐ-CP
Theo đó hành vi sử dụng và đăng ký tên doanh nghiệp của công ty Thương Hiệu quốc
tế với tên viết tắt là Interbrand JSC có dấu hiệu “Interbrand” như là tên thương mại được xem như xâm phạm đối với quyền SHTT về đăng ký kinh doanh và sử dụng trong các tài liệu giao dịch, tài liệu của mình trùng với thương hiệu nổi tiếng Interbrand sử dụng từ trước cho cùng loại hình dịch vụ thuộc nhóm 35, 36 và 42 sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh
3/ Giả sử bạn là luật sư bảo vệ quyền lợi của công ty INTERBRAND JSC, hãy đưa
ra lời tư vấn thích hợp.
Phía bị đơn yêu cầu Tòa án xác định ngày mà nhãn hiệu nguyên đơn đạt được tình trạng nổi tiếng, trước ngày 21/3/2006, ngày mà phía bị đơn nộp nhãn hiệu, ngày tạm giả định bị đơn bắt đầu thực hiện hành vi bị nghi ngờ xâm phạm quyền nhãn hiệu nổi tiếng
và bị phán là bị đơn xâm phạm quyền nhãn hiệu nổi tiếng Căn cứ xác lập quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 103/2006/NĐ-CP và Điều 76 Luật SHTT, theo đó quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi nhãn hiệu đó theo quy định tại Điều 75 của Luật SHTT mà không cần phải thực hiện thủ tục đăng ký Việc được Giấy chứng nhận