Vậy làm thế nào để nâng cao khả năng giao tiếp văn hóa nghề nghiệp cho điều dưỡng, đây còn là vấn đề còn nhiều bức xúc và bất cập mà đội ngũ NVYT của Trung tâm Y tế (TTYT) huyện Giồng Riềng, trong đó có các điều dưỡng cần quan tâm, tìm cách khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị ngày càng có chất lượng tốt hơn về mọi mặt. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát thực trạng giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đối với Nb điều trị nội trú tại TTYT huyện Giồng Riềng năm 2022” nhằm mục tiêu sau:
Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022
- Người bệnh điều trị tại BV được thông báo ra viện trong khoản thời gian nghiên cứu
- Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc NB.
2.1.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đã nhập viện và điều trị tại 8 khoa lâm sàng, bao gồm Ngoại Tổng hợp, Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, Truyền Nhiễm, Hồi sức và CSSKSS Thời gian nằm viện của họ từ 03 ngày trở lên, đã hoàn tất thanh toán và chuẩn bị ra viện, đồng thời đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tất cả điều dưỡng viên đều trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại 8 khoa lâm sàng, bao gồm Ngoại Tổng hợp, Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, Truyền Nhiễm, Hồi sức và Chăm sóc sức khỏe sinh sản.
- Người bệnh không biết chữ hoặc tình trạng sức khỏe không thuận lợi với quá trình khai thác thông tin nghiên cứu.
- Điều dưỡng được ký hợp đồng lao động dưới 6 tháng, ĐD nghỉ trong thời gian thai sản, ĐD đang đi học dài hạng.
- Nghiên cứu cắt ngang có phân tích mô tả, kết hợp phương pháp định lượng và định tính.
Cỡ mẫu: được áp dụng theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ.
Z 2 (1-α/2) x p(1-p) N d 2 N: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
Z: trị số phân phối chuẩn tương ứng 1,96 với α = 0,05 (xác suất sai lầm loại 1), độ tin cậy 95%.
Chọn p = 0,8 theo nghiên cứu của tác giả Trần Tấn An năm 2019 [12] Tỷ lệ giao tiếp của ĐD đạt 80%. d là khoảng sai lệch với d = 0,05.
Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 246 Để đảm bảo tính chính xác và tránh trường hợp người tham gia cung cấp thông tin thiếu hoặc sai, chúng ta đã cộng thêm 5% Cuối cùng, nghiên cứu này có tổng cộng 255 người bệnh tham gia.
2.2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
- Tổng số 96 Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc NB tại 8 khoa lâm sàng.
Tất cả mẫu thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
Các biến số nghiên cứu
2.2.4.1 Các biến số liên quan:
2.2.4.1.1 Thông tin chung của NB:
- Hình thức chi trả viện phí.
- Số lần nằm viện trong năm nay:
- Số ngày nằm viện trong đợt điều trị này:
Các biến số về các kỹ năng giao tiếp ứng xử.
2.2.4.2 Thông tin liên quan đến ĐD: Các yếu tố ảnh hưởng đến GTUX của ĐD với NB.
2.2.4.2.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
- Số lượng NB chăm sóc hàng ngày
- Sự hỗ trợ của đồng nghiệp
* Yếu tố quản lý, chính sách:
+ Khen thưởng/chế tài liên quan đến giao tiếp ứng xử.
2.2.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu.
Tiêu chuẩn đánh giá giao tiếp ứng xử của điều dưỡng tại TTYT huyện Giồng Riềng được thể hiện qua phiếu khảo sát, trong đó mỗi câu hỏi có 05 mức độ đánh giá khác nhau.
+ Nhóm giao tiếp ứng xử được đánh giá không đạt gồm 3 mức độ: Mức 1, mức 2 và mức 3 (từ 1 đến 3 điểm).
+ Nhóm giao tiếp ứng xử được đánh giá đạt gồm 2 mức độ: Mức 4 và mức
+ Điểm giao tiếp ứng xử đạt khi có từ 4 đến 6 đánh giá kỹ năng được đánh giá đạt.
+ Điểm giao tiếp ứng xử đạt cho từng kỹ năng khi có từ 50% số tiêu chí trong từng kỹ năng được đánh giá đạt.
2.2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:
- Thông qua Phiếu khảo sát được Hội đồng Khoa học Kỹ thuật TTYT huyện Giồng Riềng phê duyệt (phụ lục 1) và (Phụ lục 2), (Phụ lục 3).
Sử dụng bộ công cụ phiếu phát vấn và bộ câu hỏi phỏng vấn, thảo luận nhóm là cần thiết để phân tích kết quả từ việc xử lý sơ bộ số liệu nghiên cứu định lượng.
NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Sử dụng phiếu phát vấn và bộ câu hỏi phỏng vấn thảo luận nhóm để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng (GTUX) của dịch vụ với người bệnh (NB) dựa trên kết quả xử lý sơ bộ số liệu nghiên cứu định tính.
2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 9, nghiên cứu viên tiến hành thu thập số liệu định lượng bằng cách chọn ngẫu nhiên bệnh nhân xuất viện từ thứ 2 đến thứ 6 Mỗi ngày, hai bệnh nhân ngẫu nhiên được khảo sát từ các khoa như Ngoại Tổng hợp, Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, Truyền Nhiễm, Hồi sức và CSSKSS.
Nghiên cứu viên sẽ đến từng khoa để thông báo cho người bệnh về mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu theo quy định Nếu người bệnh đồng ý tham gia, họ sẽ ký vào giấy đồng ý và tiến hành trả lời các câu hỏi trong [Phụ lục 4].
Bước 2: Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn Người tham gia (NB) được mời đến phòng hành chính của khoa để trả lời phỏng vấn Nghiên cứu viên sẽ thông báo về mục đích, ý nghĩa và đối tượng nghiên cứu, đồng thời hướng dẫn NB cách điền phiếu khảo sát Phiếu khảo sát được phát cho NB tự điền, và cần nhắc nhở họ không trao đổi thông tin trong quá trình điền để đảm bảo tính khách quan.
Sau khi người bệnh hoàn thành phiếu, điều tra viên sẽ thu thập và làm sạch số liệu Quá trình làm sạch diễn ra ngay sau phỏng vấn, trong đó điều tra viên kiểm tra và nếu phát hiện thiếu sót, có thể yêu cầu người bệnh cung cấp thông tin bổ sung trực tiếp hoặc qua điện thoại.
Để nâng cao kỹ năng giao tiếp ứng xử của điều dưỡng tại Trung tâm, cần thu thập số liệu định tính nhằm đánh giá thực trạng giao tiếp ứng xử hiện tại Bên cạnh đó, cần xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp của điều dưỡng với bệnh nhân để từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả giao tiếp.
Vào tháng 9, từ ngày 26 đến 30, một sự kiện quan trọng đã được tổ chức trong 5 ngày tại phòng hành chính của 8 khoa lâm sàng, bao gồm các khoa Ngoại Tổng hợp, Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, Truyền Nhiễm, Hồi sức và CSSKSS.
- Phiếu hướng dẫn phát vấn gồm có: Trưởng phòng điều dưỡng, tổ trưởng
Tổ quản lý chất lượng, Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng khoa đã sử dụng phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm để thu thập thông tin từ điều dưỡng Nguồn thông tin này được ghi nhận từ các cuộc phỏng vấn do nhóm nghiên cứu thực hiện.
Sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu định lượng và định tính, tiến hành thảo luận nhóm trong 60 phút tại Hội trường lớn của Trung tâm Biên bản cuộc thảo luận sẽ được ghi lại, với chủ đề tài làm người chủ trì và công sự phụ trách ghi chép nội dung.
2.2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu.
- Tiến hành kiểm tra làm sạch tất cả các phiếu phỏng vấn ngay khi thu về.
Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 và Epidata, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả để đánh giá thực trạng GTUX tại Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng.
- Tiến hành kiểm tra làm sạch tất cả các phiếu phỏng vấn ngay khi thu về.
- Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 và Epidata.
- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp.
2.2.7 Sai số và biện pháp khắc phục
- Sai số ngẫu nhiên có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu.
Đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tiến hành phỏng vấn và thảo luận, đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích, ý nghĩa và nội dung của nghiên cứu, và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý của họ.
Tất cả thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu sẽ được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu được thực hiện khi được Hội đồng khoa học Kỹ thuật củaTTYT thông qua.
Thông tin chung của NB
Bảng 3.1: Đặc điểm của NB tham gia nghiên cứu
Thông tin chung Số lượng
Thu nhập cá nhân Khó khăn
Công nhân viên chức Nông dân
Buôn bán Học sinh, sinh viên Khác
Nơi cư trú Thành thị
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Trên cấp 3
Số lần nằm viện trong năm nay
Số ngày nằm viện trong đợt điều trị này
Nghiên cứu tại TTYT Huyện Giồng Riềng cho thấy trong số 255 bệnh nhân điều trị nội trú, tỷ lệ nam giới là 41.2% và nữ giới là 58.8% Nhóm tuổi từ 60 trở lên có tỷ lệ cao nhất, phản ánh đúng cơ cấu bệnh tật và độ tuổi dễ mắc bệnh Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người dân tộc Kinh (69%), nông dân (45.9%) và sống ở nông thôn (80.8%) Hơn nữa, 65.9% bệnh nhân có thu nhập ổn định, trong khi 34.1% gặp khó khăn, và phần lớn chỉ có trình độ học vấn từ cấp 2 (45.9%) Tỷ lệ bệnh nhân ở vùng nông thôn cao do điều kiện đi lại khó khăn và trình độ học vấn thấp, dẫn đến sự thiếu quan tâm đến chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật Ngược lại, bệnh nhân ở khu vực thành thị có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn, thường đăng ký điều trị tại các cơ sở y tế tuyến trên hoặc phòng khám tư nhân, do đó tỷ lệ bệnh nhân cư trú tại thành phố thấp hơn.
Trong năm nay, 69,8% bệnh nhân chỉ nằm viện 1 lần, trong khi 19,6% nằm viện 2 lần và 19,6% nằm viện từ 3 lần trở lên Thời gian nằm viện chủ yếu từ 3-5 ngày (37,3%), tiếp theo là từ 5-9 ngày (33,3%) và chỉ 29,4% nằm viện trên 10 ngày, cho thấy đánh giá của bệnh nhân về chất lượng dịch vụ y tế là tương đối khách quan Hơn 94,5% bệnh nhân điều trị tại bệnh viện có bảo hiểm y tế, cho thấy mức độ bao phủ bảo hiểm y tế tại Tiền Giang khá tốt và bệnh nhân có khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn.
3.2 Kết quả đánh giá của NB về GTUX của ĐD:
Bảng 3.2 Đánh giá của NB về cách thức GTUX của ĐD
Tỉ lệ (%) của điều dưỡng (ĐD) có lời chào và hỏi tên khi tiếp xúc là 71,8%, trong khi 28,2% không thực hiện ĐD xưng hô với bệnh nhân (NB) một cách lịch sự và phù hợp đạt 87,8%, còn 12,2% không đáp ứng tiêu chuẩn này Tỉ lệ ĐD giới thiệu tên và chức danh với NB là 72,2%, trong khi 27,8% không thực hiện Cuối cùng, 81,2% ĐD có thông báo nội dung cuộc giao tiếp với NB, còn 18,8% không thông báo.
Khi giao tiếp ĐD luôn dùng câu có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ 212 83,1 43 16,9
Trong giao tiếp, điều dưỡng (ĐD) thường sử dụng các cụm từ lịch sự như "xin mời", "cảm ơn", và "xin lỗi" với tỷ lệ 82,7% ĐD cũng thường động viên và chia sẻ với người bệnh (NB) khi họ lo lắng hoặc đau đớn, đạt tỷ lệ 83,1% Cuối cùng, ĐD luôn chào và cảm ơn NB khi kết thúc cuộc giao tiếp, với tỷ lệ 81,6%.
Bảng 3.2 cho thấy, bệnh nhân (NB) đánh giá cao cách giao tiếp của điều dưỡng, với 87,8% cho rằng việc xưng hô lịch sự và phù hợp là quan trọng nhất Tiếp theo, 83,1% cho biết điều dưỡng luôn sử dụng câu có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ và động viên, chia sẻ khi bệnh nhân lo lắng, đau đớn Việc sử dụng các cụm từ lịch sự như "xin mời", "cảm ơn", "xin lỗi" đạt 82,7% Ngoài ra, 81,6% bệnh nhân cảm thấy hài lòng khi điều dưỡng chào và cảm ơn họ sau cuộc giao tiếp Việc thông báo nội dung cuộc giao tiếp với bệnh nhân đạt 72,2%, trong khi 72,4% điều dưỡng giới thiệu tên và chức danh của mình Cuối cùng, tỷ lệ chào hỏi và hỏi tên bệnh nhân khi tiếp xúc là thấp nhất, chỉ đạt 71,8%.
Biểu đồ 3.1 Đánh giá của NB về cách thức giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Kết quả đánh giá của NB về kỹ năng nói và lắng nghe của điều dưỡng
3.3 Kết quả đánh giá của NB về kỹ năng nói và lắng nghe của điều dưỡng
Bảng 3.3 Đánh giá của NB về kỹ năng nói và lắng nghe của điều dưỡng.
Kỹ năng nói và lắng nghe Đạt Không đạt n % n %
Khi giao tiếp âm lượng nói của điều dưỡng vừa đủ nghe (Không quá to,không quá nhỏ) 213 83,5 42 16,5
Khi giao tiếp tốc độ nói của điều dưỡng vừa đủ nghe (Không quá nhanh, không quá chậm) 214 83,9 41 16,1
Khi giao tiếp điều dưỡng sử dụng từ ngữ dễ hiểu, phù hợp 216 84,7 39 15,3 Điều dưỡng có thái độ lắng nghe khi NB trao đổi 195 76,5 60 23,5
Bảng 3 cho thấy, bệnh nhân (NB) đánh giá cao kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng, với tỷ lệ sử dụng từ ngữ dễ hiểu đạt 84,7% Tốc độ nói của điều dưỡng được cho là vừa đủ nghe, không quá nhanh hay quá chậm, đạt 83,9% Âm lượng nói cũng được đánh giá là phù hợp, với tỷ lệ 83,5% Tuy nhiên, thái độ lắng nghe của điều dưỡng khi bệnh nhân trao đổi chỉ đạt 76,5%, cho thấy cần cải thiện hơn nữa trong khía cạnh này.
Biểu đồ 3.2 Đánh giá của NB về kỹ năng nói và lắng nghe của điều dưỡng.
Biểu đồ 3.2 cho thấy, NB đánh giá kỹ năng nói và lắng nghe của điều dưỡng đạt82%, không đạt18%.
Đánh giá của NB về kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng
Bảng 3.4 Đánh giá của NB về kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng
Kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng rất quan trọng trong việc tương tác với bệnh nhân Đạt được 77,3% điều dưỡng thể hiện nét mặt, cử chỉ và ánh mắt phù hợp khi giao tiếp với bệnh nhân Ngoài ra, 84,7% điều dưỡng mặc trang phục y tế gọn gàng, sạch sẽ và mang bảng tên theo quy định, điều này góp phần tạo sự tin tưởng và thoải mái cho bệnh nhân.
Khi thăm khám, thực hiện thủ thuật, điều dưỡng sắp xếp vị trí kín đáo, phù hợp 200 78,4 55 21,6
Khi thăm khám, thực hiện thủ thuật, điều dưỡng giữ khoảng cách phù hợp với NB 209 82 46 18
Đánh giá của NB về kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng
Biểu đồ 3.3 Đánh giá của NB về kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng Đạt Không đạt
Biểu đồ 3.4 cho thấy, NB đánh giá kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng đạt 80.6%, không đạt 19.4%.
3.5 Đánh giá của NB về kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng
Bảng 3.5 Đánh của NB về kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng
Kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng được đánh giá qua các tiêu chí sau: 82% điều dưỡng hỏi từng câu một một cách ngắn gọn và rõ nghĩa; 83,9% điều dưỡng nêu câu hỏi dễ hiểu, phù hợp với nhu cầu của người bệnh; 83,1% điều dưỡng đặt câu hỏi phù hợp với nội dung cần hỏi; và 78,4% điều dưỡng dành thời gian cho người bệnh trả lời sau khi hỏi.
Bảng 3.5 chỉ ra rằng, bệnh nhân (NB) đánh giá cao kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng, với tỷ lệ cao nhất là 83,9% cho việc nêu câu hỏi dễ hiểu Tiếp theo, 83,1% bệnh nhân cho rằng câu hỏi phù hợp với nội dung cần hỏi Tỷ lệ 82% cho thấy bệnh nhân đánh giá cao việc hỏi từng câu một, với câu hỏi ngắn gọn và rõ nghĩa Tuy nhiên, tỷ lệ thấp nhất là 78,4% cho việc dành thời gian cho bệnh nhân trả lời sau khi hỏi.
Biểu đồ 3.4 Đánh giá của NB về kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng
Biểu đồ 3.4 cho thấy, NB đánh giá kỹ năng kỹ năng đặt câu hỏi và phản
81.9% ĐạtKhông đạt hồi của điều dưỡng đạt 81.9%, không đạt 18.1 %
Kết quả đánh giá của NB về kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng
Bảng 3.6 Đánh giá của NB về kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng
Kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng được đánh giá cao, với 84,3% điều dưỡng cung cấp thông tin cụ thể và dễ hiểu cho người bệnh Họ cũng khuyến khích người bệnh đặt câu hỏi, đạt tỷ lệ 78,4% Điều dưỡng trả lời rõ ràng và đầy đủ mọi thắc mắc của người bệnh với 83,9% Họ dành thời gian để người bệnh nói câu cuối trước khi kết thúc giao tiếp, đạt 82,7% Cuối cùng, điều dưỡng kiểm tra lại sự tiếp nhận thông tin đã cung cấp cho người bệnh với tỷ lệ 83,5%.
Bảng 3.6 cho thấy rằng, bệnh nhân (NB) đánh giá cao kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng (ĐD) với tỷ lệ 84,3% cho việc cung cấp thông tin cụ thể và dễ hiểu ĐD cũng được đánh giá cao trong việc trả lời rõ ràng, đầy đủ và chính xác mọi thắc mắc của NB với tỷ lệ 83,9% Ngoài ra, việc kiểm tra lại sự tiếp nhận thông tin đã cung cấp cho NB đạt 83,5%, và dành thời gian cho NB nói câu cuối trước khi kết thúc cuộc giao tiếp là 82,7% Tuy nhiên, tỷ lệ khuyến khích NB đặt câu hỏi thấp nhất, chỉ đạt 78,4%.
Biểu đồ 3.5 Đánh giá của NB về kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng
* Nhận xét: Biểu đồ 3.5 cho thấy, NB đánh giá kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng đạt 82.4%, không đạt 17.6%
Kết quả đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Bảng 3.7 Đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Đánh giá chung của bệnh nhân cho thấy điều dưỡng đã cung cấp thông tin về sức khỏe khi cần thiết với tỷ lệ đạt 84,3% Họ cũng hướng dẫn cách tự chăm sóc và phòng ngừa biến chứng với tỷ lệ 85,5% Tuy nhiên, chỉ có 79,6% bệnh nhân hài lòng với quá trình điều trị khi điều dưỡng hỏi ý kiến Bệnh nhân được tạo điều kiện để bày tỏ ý kiến với lãnh đạo và người quản lý, nhưng tỷ lệ này chỉ đạt 77,6% Cuối cùng, đánh giá về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 82,7%.
Bảng 3.7 cho thấy, bệnh nhân (NB) đánh giá cao giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng trong việc hướng dẫn tự chăm sóc và phòng ngừa biến chứng với tỷ lệ 85,5% Ngoài ra, tỷ lệ cung cấp thông tin về sức khỏe khi có nhu cầu đạt 84,3% Đánh giá chung của bệnh nhân về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 82,7%, cho thấy sự hài lòng trong quá trình chăm sóc.
17.6% ĐạtKhông đạt điều trị 79,6%; được tạo điều kiện bày tỏ ý kiến của mình với lãnh đạo, người quản lý khi có nhu cầu góp ý là thấp nhất 77,6%.
Biểu đồ 3.6 Đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Biểu đồ 3.6 cho thấy, Tổng hợp đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 82.8%, không đạt 18.2%.
Tổng hợp đánh giá của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Bảng 3.8 Tổng hợp đánh giá của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Giao tiếp ứng xử Đạt Không đạt n % n %
1 A Cách thức giao tiếp ứng xử 8 5/8 211 82,7 44 17,3
2 B Kỹ năng nói và lắng nghe 4 3/4 209 82 46 18
3 C Kỹ năng giao tiếp không lời 4 3/4 196 76,9 59 23,1
4 D Kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi 4 3/4 210 82,4 45 17,6
5 E.Kỹ năng cung cấp thông tin 5 3/5 215 84,3 40 15,6
Bảng 3.8 cho thấy tổng hợp đánh giá của người bệnh về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 81,6%, tỷ lệ này gần tương đương với các kỹ năng khác Kỹ năng cung cấp thông tin đạt tỷ lệ cao nhất là 84,3%, trong khi đó tỷ lệ thấp nhất được ghi nhận ở các kỹ năng khác.
Biểu đồ 3.7 Tổng hợp đánh giá của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Tổng hợp tỷ lệ giao tiếp ứng xử không đạt/đạt về các kỹ năng giao tiếp ứng xử của điều dưỡng: 6 nội dung, 1 kết quả tổng hợp.
- Cách thức giao tiếp ứng xử đạt 80.4%.
- Kỹ năng nói và lắng nghe đạt 82%.
- Kỹ năng giao tiếp không lời đạt 80.6%.
- Kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi đạt 81.9%.
- Kỹ năng cung cấp thông tin đạt 82.4%.
- Đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 82,8%.
- Kết quả tổng hợp đạt 81,7%.
3.9 Những số yếu tố ảnh hưởng về giao tiếp ứng xử của ĐD với NB theo nghiên cứu định lượng
3.9.1 Thông tin chung của ĐD
Bảng 3.9 Bảng thông tin chung của ĐD
Cách thức GTUX Kỹ năng nói và lắng nghe
Kỹ năng giao tiếp không lời
Kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi
Kỹ năng cung cấp thông tin Đánh giá chung 0
Thâm niên công tác < 5 năm
Trình độ chuyên môn Đại học Cao đẳng Trung học
Tỷ lệ nữ trong nhóm nhân viên y tế (NVYT) chiếm 65.6%, trong khi nam giới chỉ chiếm 34.4% Nhóm tuổi từ 30-39 có tỷ lệ cao nhất là 62.5% Thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 24%, và trình độ chuyên môn đại học đạt tỷ lệ cao nhất là 53.1%.
3.9.2 Kết quả yếu tố ảnh hưởng của môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị đến GTUX của ĐD với NB:
Bảng 3.10 Đánh giá của ĐD các yếu tố ảnh hưởng của môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị đến GTUX của ĐD với NB:
Không Đạt (Ảnh hưởng) Đạt (Không ảnh hưởng) n % n %
1 Phòng làm việc khang trang, sạch sẽ, thoáng mát 12 12.5% 84 87.5%
2 Trang thiết bị văn phòng, bàn ghế làm 13 13.5% 83 86.5% việc đầy đủ, các thiết bị cũ, lạc hậu được thay thế kịp thời.
3 Có bố trí phòng trực cho NVYT 11 11.5% 85 88.5%
4 Phân chia thời gian trực và làm việc ngoài giờ hành chính hợp lý 9 9.4% 87 90.6%
Các trang bị bảo hộ cho NVYT (quần áo, khẩu trang, găng tay ) đầy đủ, không bị cũ, nhàu nát, không bị hạn chế sử dụng.
Môi trường học tập tạo điều kiện cho
NVYT cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ: thư viện, phòng đọc, tra cứu thông tin, truy cập internet
7 Môi trường làm việc bảo đảm an toàn cho
8 Bệnh viện bảo đảm an ninh, trật tự cho
Người bệnh và người nhà có thái độ tôn trọng, hợp tác với NVYT trong quá trình điều trị.
Bảng 3.10 chỉ ra rằng, điều dưỡng nhận thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng điều trị của điều dưỡng với bệnh nhân, trong đó có sự đầy đủ của trang bị bảo hộ cho nhân viên y tế (quần áo, khẩu trang, găng tay) đạt 92.7% Thời gian trực và làm việc ngoài giờ hành chính được phân chia hợp lý với 90.6% Môi trường làm việc đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế đạt 88.6%, cùng với việc bố trí phòng trực cho nhân viên y tế đạt 88.5% Phòng làm việc cần khang trang, sạch sẽ và thoáng mát, đồng thời môi trường học tập cũng cần tạo điều kiện cho nhân viên y tế cập nhật kiến thức với thư viện, phòng đọc, tra cứu thông tin và truy cập internet đạt 87.5% Cuối cùng, trang thiết bị văn phòng và bàn ghế làm việc cần đầy đủ, các thiết bị cũ, lạc hậu cần được thay thế kịp thời, và bệnh viện cần đảm bảo an ninh, trật tự cho nhân viên y tế làm việc với tỷ lệ 86.5%.
Biểu đồ 3.8 thể hiện đánh giá của đội ngũ điều dưỡng về các yếu tố môi trường, cơ sở vật chất và trang thiết bị ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế đối với người bệnh, với kết quả phân loại thành hai nhóm: đạt và không đạt.
Biểu đồ 3.8 cho thấy, Điều dưỡng nhận thấy yếu tố không ảnh hưởng đến GTUX của Đ D đối với người bệnh chiếm 88.1%, yếu tố ảnh hưởng chiếm 11.9%.
3.9.3 Kết quả yếu tố sự hỗ trợ của đồng nghiệp làm việc ảnh hưởng đến GTUX của với NB.
Bảng 3.11 Đánh giá của ĐD các yếu tố ảnh hưởng của sự hỗ trợ của đồng nghiệp đến GTUX của ĐD với NB:
Không Đạt (Ảnh hưởng) Đạt (Không ảnh hưởng) n % n %
1 Đồng nghiệp có ý thức hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ chung 7 7.3% 89 92.7%
2 Môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết 8 8.3% 88 91.7%
3 Đồng nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ nhau trong công việc.
4 Đồng nghiệp quan tâm, giúp đỡ nhau trong cuộc sống 8 8.3% 88 91.7%
Bảng 3.11 cho thấy rằng sự hỗ trợ của đồng nghiệp có ảnh hưởng lớn đến giá trị trải nghiệm của điều dưỡng với bệnh nhân Cụ thể, 92.7% điều dưỡng nhận thấy đồng nghiệp có ý thức hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ nhau trong công việc Bên cạnh đó, 91.7% cho rằng môi trường làm việc thân thiện, đoàn kết và sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống cũng đóng vai trò quan trọng.
Biểu đồ 3.9 Đánh giá của ĐD về yếu tố ảnh hưởng của sự hỗ trợ của đồng nghiệp đến GTUX của ĐD với NB: Đạt Không đạt
Biểu đồ 3.8 cho thấy, Điều dưỡng nhận thấy yếu tố không ảnh hưởng của sự hỗ trợ của đồng nghiệp đến GTUX của Đ D đối với người bệnh chiếm 92.2%
%, yếu tố ảnh hưởng chiếm 7.8 %.
Những số yếu tố liên quan về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng với NB
Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu định tính
Trưởng phòng điều dưỡng và Tổ trưởng tổ quản lý chất lượng chịu trách nhiệm về các quy định, tập huấn và đào tạo liên quan đến lĩnh vực điều dưỡng, cũng như việc nâng cao kỹ năng giao tiếp và ứng xử của nhân viên điều dưỡng.
Trưởng khoa và điều dưỡng trưởng khoa từ các khoa có lượng bệnh nhân đông đảo có cái nhìn đa dạng và cụ thể về thực trạng giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng Các điều dưỡng tham gia nghiên cứu tại các khoa lâm sàng hàng ngày đều tích cực giao tiếp và chăm sóc bệnh nhân.
Nhận định của các đối tượng trong nghiên cứu như sau:
- Yếu tố ĐD: Tuổi, giới, khoa, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác,
+ Sau khi phỏng vấn 96 ĐD của 8 khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu cho rằng:
Tuổi tác và thâm niên công tác của ĐD là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến giao tiếp và ứng xử, vì kinh nghiệm thực tế không thể tự có được.
92.2% nhiên có được mà phải qua rèn luyện, va chạm tình huống cụ thể Đối với điều dưỡng trẻ mới ra trường thì yếu tố này không có nhiều
Ý thức và thái độ của người điều dưỡng là yếu tố quan trọng hàng đầu, phản ánh tính cách và lòng yêu nghề của nhân viên.
Trình độ chuyên môn vững vàng và kiến thức tốt giúp người điều dưỡng tự tin hơn trong giao tiếp và ứng xử Khi có chuyên môn vững, họ sẽ giao tiếp hiệu quả hơn, tự tin hơn và tạo được lòng tin với bệnh nhân và người nhà.
- Yếu tố môi trường: Số lượng NB chăm sóc hàng ngày, sự hỗ trợ của đồng nghiệp, cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều cho rằng yếu tố bệnh đông là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến giao tiếp của điều dưỡng Khi số lượng bệnh nhân tăng cao nhưng nhân lực chăm sóc hạn chế, điều dưỡng phải ưu tiên thực hiện chuyên môn để đáp ứng yêu cầu chăm sóc và điều trị Trong bối cảnh này, việc giao tiếp đạt chuẩn mực trở nên khó khăn Áp lực công việc khiến điều dưỡng mệt mỏi, dẫn đến giao tiếp không hiệu quả Thời gian tiếp xúc giữa điều dưỡng và bệnh nhân rất hạn chế, do đó, yếu tố nhân lực ít trong khi bệnh đông là vấn đề lớn nhất cần được giải quyết.
+ Với sự hỗ trợ của đồng nghiệp là một yếu tố quan trọng để giảm gánh nặng cho điều dưỡng.
Trang thiết bị và máy móc phục vụ nhu cầu bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến công việc và tâm lý của điều dưỡng Việc sử dụng các thiết bị không đạt tiêu chuẩn có thể dẫn đến sự không hài lòng trong công việc của điều dưỡng, đồng thời làm tiêu tốn thời gian quý báu của họ.
- Yếu tố quản lý, chính sách:
Quy định và tập huấn về giao tiếp ứng xử tại TTYT được thực hiện thường xuyên và duy trì, nhận được sự quan tâm đặc biệt từ lãnh đạo Trung tâm Các hoạt động kiểm tra giám sát và khen thưởng/chế tài liên quan đến giao tiếp ứng xử cũng được chú trọng để nâng cao chất lượng giao tiếp trong tổ chức.
Hàng năm, có các buổi tập huấn nhắc nhở về quy tắc ứng xử, trong đó lãnh đạo và nhân viên ký cam kết thực hiện Ban đầu, quy định này chỉ mang tính hình thức, nhưng dần dần đã ăn sâu vào nhận thức của từng cá nhân, giúp họ nhận ra sự cần thiết phải thay đổi trong giao tiếp và ứng xử.
Chăm sóc điều dưỡng là yếu tố then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng Đánh giá ý kiến của người bệnh về giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng không chỉ giúp xác định chất lượng dịch vụ chăm sóc mà còn tạo điều kiện cho việc điều chỉnh các kế hoạch và hoạt động quản lý trong đơn vị, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu 255 bệnh nhân điều trị nội trú tại TTYT cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm 58.8%, với nhóm tuổi từ 60 trở lên có tỷ lệ cao nhất, phản ánh đúng cơ cấu bệnh tật tại TTYT Đặc biệt, 76.5% bệnh nhân đến từ vùng nông thôn, trong đó 45.9% có trình độ học vấn chỉ từ cấp 2 Tỷ lệ bệnh nhân ở vùng nông thôn cao do điều kiện đi lại khó khăn và nhận thức về chăm sóc sức khỏe còn hạn chế Ngược lại, bệnh nhân ở khu vực thành thị có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn, thường lựa chọn điều trị tại các cơ sở y tế tuyến trên hoặc bệnh viện tư nhân, dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân ở thành phố thấp hơn.
Trong năm nay, 69,8% bệnh nhân chỉ nằm viện một lần, trong khi 19,6% nằm viện hai lần và 10,6% nằm viện từ ba lần trở lên Thời gian nằm viện chủ yếu dao động từ 3-5 ngày (37,3%), tiếp theo là từ 5-9 ngày (33,3%), và chỉ có 29,4% bệnh nhân nằm viện trên 10 ngày Đặc biệt, 94,5% bệnh nhân điều trị tại Trung tâm Y tế có bảo hiểm y tế, cho thấy mức độ bao phủ bảo hiểm y tế tại Giồng Riềng khá tốt, giúp bệnh nhân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế hơn.
Kết quả đánh giá của người bệnh (NB) về giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng cho thấy tính khách quan cao, nhờ vào sự đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ của nhóm NB, điều này thể hiện sự toàn diện trong thông tin được cung cấp.
Khảo sát thực trạng giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đối với NB điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng TTYT huyện Giồng Riềng
4.2.1 Cách thức giao giao tiếp ứng xử
Theo nghiên cứu, tỷ lệ đánh giá chung về cách thức giao tiếp ứng xử đạt 82,8%, thấp hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (2016) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, nơi có tỷ lệ đạt 87,8% từ 425 bệnh nhân Trong các yếu tố cụ thể, “Điều dưỡng xưng hô với bệnh nhân lịch sự, phù hợp” đạt tỷ lệ cao nhất là 87,8%, vượt qua kết quả của Lý Thị Ngọc Vỹ (84,9%).
Tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, nghiên cứu đã quan sát 300 cuộc giao tiếp giữa điều dưỡng và bệnh nhân (NB) ở các thời điểm khác nhau Kết quả cho thấy tỷ lệ giao tiếp cao nhất là khi bệnh nhân ra viện (82%), tiếp theo là khi tiếp nhận vào khoa (78%), tại phòng khám (74%), trong quá trình thực hiện phẫu thuật, thủ thuật (72%), và thấp nhất là khi dùng thuốc (68%).
Kết quả giao tiếp với người bệnh (NB) trong phiên trực đạt 94%, tuy nhiên, con số này thấp hơn so với các thời điểm khác Điều này cho thấy mức độ giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng với NB có sự khác biệt tùy thuộc vào thời điểm thực hiện công việc Do đó, cần xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng thời điểm để nâng cao hiệu quả giao tiếp và ứng xử với NB.
Hạn chế lớn nhất trong giao tiếp là việc chào hỏi và hỏi tên, với tỷ lệ chỉ đạt 71,8%, thấp hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (76,5%) Kết quả từ nghiên cứu định tính cũng cho thấy rằng nhiều điều dưỡng vẫn còn ngại ngùng và có phần máy móc trong cách tiếp xúc.
4.2.2 Kỹ năng nói và lắng nghe
Trong giao tiếp ứng xử, việc học hỏi không ngừng là rất quan trọng, bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp và điều chỉnh âm lượng cũng như tốc độ nói Thái độ lắng nghe tốt khi trao đổi với người bệnh (NB) là yếu tố then chốt, đặc biệt khi giải thích tình trạng sức khỏe, thực hiện kỹ thuật chuyên môn và giao tiếp thông thường Nghiên cứu cho thấy 82% điều dưỡng thực hiện tốt kỹ năng nói và lắng nghe.
Tỷ lệ điều dưỡng có thái độ lắng nghe khi bệnh nhân trao đổi chỉ đạt 76,5%, thấp hơn mong đợi Kết quả này vẫn cao hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ, với tỷ lệ 72,7%.
[11] Trong ngành y, lắng nghe được ví là phương pháp chữa bệnh bằng tai, trong công tác chăm sóc của điều dưỡng việc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của
NB là hết sức cần thiết, giúp cho quá trình chăm sóc NB đạt hiệu quả hơn.
Lắng nghe không chỉ thể hiện sự tôn trọng đối với bệnh nhân mà còn xây dựng niềm tin, sự đồng cảm và hình ảnh tích cực cho nhân viên y tế Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các đối tượng đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc lắng nghe, đặc biệt là thái độ lắng nghe Nhiều người cho rằng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, việc ưu tiên thực hiện kỹ thuật chuyên môn thường được đặt lên hàng đầu, dẫn đến việc ít chú trọng đến việc trao đổi và lắng nghe bệnh nhân.
4.2.3 Kỹ năng giao tiếp không lời
Giao tiếp không lời, hay ngôn ngữ cơ thể, bao gồm cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, nét mặt và phong cách bên ngoài của con người, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ấn tượng và cảm xúc Nghiên cứu cho thấy rằng người bệnh (NB) đánh giá kỹ năng giao tiếp không lời của điều dưỡng là thấp nhất, chỉ đạt 77.3% Đặc biệt, các yếu tố như nét mặt, cử chỉ và ánh mắt được cho là chưa phù hợp trong giao tiếp với người bệnh, ảnh hưởng đến hình ảnh của một điều dưỡng chuyên nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đạt được là 77,3%, cao hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (75,1%) nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Quang, nơi tỷ lệ đạt luôn trên 78,4% ở các thời điểm khác nhau.
4.2.4 Kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi Đây là một kỹ năng quan trọng trong giao tiếp ứng xử Giúp điều dưỡng khai thác tình trạng, tiền sử bệnh tật cũng như trao đổi thông tin hàng ngày, nó ảnh hưởng đến kết quả điều trị, chăm sóc NB Đánh giá kỹ năng đặt câu hỏi và phản hồi của điều dưỡng đạt 81.9% Trong đó thấp nhất là dành thời gian cho
Kết quả khảo sát cho thấy 78,4% người bệnh (NB) trả lời sau khi được hỏi Nghiên cứu định tính cũng cho thấy tất cả các nội dung đều tốt, nhưng thời gian dành cho NB trả lời sau khi hỏi chưa đạt yêu cầu Các đối tượng cho rằng thời gian làm chuyên môn hạn chế khiến họ không thể lắng nghe NB một cách đầy đủ Họ nhận thức rõ rằng việc không nghe NB trao đổi có thể dẫn đến thiếu sót trong chuyên môn và làm giảm thiện cảm của NB Do đó, cần có biện pháp cải thiện kỹ năng giao tiếp ứng xử để nâng cao năng lực chuyên môn của điều dưỡng.
4.2.5 Kỹ năng cung cấp thông tin
Việc cung cấp thông tin không chỉ phản ánh kỹ năng giao tiếp mà còn thể hiện trình độ chuyên môn của điều dưỡng Nhân viên y tế cần thường xuyên cập nhật kiến thức và rèn luyện kỹ năng Kết quả đánh giá cho thấy kỹ năng cung cấp thông tin của điều dưỡng đạt 82,4%, trong đó khả năng cung cấp thông tin cụ thể và dễ hiểu cho bệnh nhân cao nhất là 84,3% Mặc dù kết quả này cao hơn nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (77,6%) nhưng thấp hơn nghiên cứu của Đinh Ngọc Toàn (85,7%) Sự cải thiện này là nhờ nỗ lực chung của toàn thể nhân viên TTYT và hiệu quả từ các khóa tập huấn về giao tiếp và giáo dục sức khỏe Về khả năng trả lời thắc mắc của bệnh nhân, tỷ lệ đạt 83,9%, thấp hơn so với thời điểm bệnh nhân ra viện (90%) nhưng tương đương ở các thời điểm khác (84%) Kết quả kiểm tra lại thông tin cung cấp cho bệnh nhân đạt 83,5%, trong khi thời gian dành cho bệnh nhân nói câu cuối là 82,7%, cao hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ Tuy nhiên, tỷ lệ khuyến khích bệnh nhân đặt câu hỏi chỉ đạt 78,4%, cho thấy kiến thức của điều dưỡng còn hạn chế và thiếu tự tin Điều này cần được cải thiện để nâng cao chất lượng giao tiếp với bệnh nhân trong tương lai.
4.2.6 Đánh giá chung của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Đánh giá chung của người bệnh (NB) về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng đạt 82,8%, cao hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (80,9%) Các vấn đề như hướng dẫn tự chăm sóc, phòng ngừa biến chứng và cung cấp thông tin sức khỏe đều đạt trên 80% Tuy nhiên, hai vấn đề về sự hài lòng trong quá trình điều trị (79,6%) và khả năng bày tỏ ý kiến với lãnh đạo (77,6%) đều dưới 80%, cho thấy nhu cầu được hỏi ý kiến của NB còn hạn chế Cần có biện pháp khắc phục như tổ chức nhiều cuộc họp hội đồng NB, gặp gỡ lãnh đạo, và tăng cường phương tiện tiếp nhận phản ánh để nâng cao sự hài lòng của NB.
4.2.7 Tổng hợp đánh giá của NB về giao tiếp ứng xử của điều dưỡng
Đánh giá từ người bệnh về kỹ năng giao tiếp ứng xử của điều dưỡng cho thấy kết quả tổng hợp đạt 81,6%, với kỹ năng Cách thức giao tiếp ứng xử đạt 80,4% Mặc dù đa số các chỉ số đều trên 80%, kết quả này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Lý Thị Ngọc Vỹ (84,5%) Sự khác biệt này có thể xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và phương pháp đánh giá khác nhau.
Nghiên cứu cho thấy rằng thực hành giao tiếp ứng xử của điều dưỡng tại TTYT chưa có sự cải thiện đáng kể Để nâng cao kỹ năng này, điều dưỡng cần thường xuyên rèn luyện và trao dồi Nghiên cứu cũng cung cấp cho lãnh đạo TTYT cái nhìn tổng quan về tình hình giao tiếp của điều dưỡng, từ đó giúp họ điều chỉnh chính sách và kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng giao tiếp ứng xử cho điều dưỡng và toàn bộ nhân viên y tế tại đơn vị.
Một số hạn chế trong nghiên cứu
Nghiên cứu chưa tiến hành đánh giá giao tiếp ứng xử của điều dưỡng thông qua quan sát, dẫn đến việc chưa phản ánh chính xác kỹ năng thực hành giao tiếp trong cung cấp dịch vụ.
Chưa có nghiên cứu sâu về giao tiếp ứng xử đối với từng nhóm đối tượng tại đơn vị, cần xem xét các yếu tố liên quan để có cái nhìn toàn diện hơn.
KẾT LUẬN
1 Thực trạng GTUX của ĐD với NB tại các khoa lâm sàng thuộc TTYT huyện Giồng Riềng năm 2022.
- Nghiên cứu chỉ ra rằng đánh giá của NB về GTUX của ĐD đạt 81,7%.
- Thực hành GTUX của ĐD theo đánh giá của NB ở các tiêu chí đa số đều đạt trên 80%, chỉ có kỹ năng giao tiếp không lời chỉ đạt 80.6%.
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp của ĐD với NB tại các khoa lâm sàng TTYT huyện Giồng Riềng năm 2022.
+ Đối tượng tham gia giao tiếp đa số trong tỉnh, có sự tương đồng về văn hóa.
+ BV có mục tiêu chung để phát triển bền vững
+ ĐD có ý thức trách nhiệm và lòng yêu nghề.
+ Sự hỗ trợ tương đối tốt của đồng nghiệp.
+ BV thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn về GTUX cho toàn thể NVYT.
+ Quá tải BV, gây thiếu nhân lực tạm thời.
+ Cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa đảm bảo.
+ Thiếu các biện pháp chế tài cũng như khen thưởng đi sâu đến cá nhân.
+ Thu nhập của NVYT còn thấp.
+ Vấn đề bạo hành y tế gây áp lực đối với NVYT.
KHUYẾN NGHỊ
- Tăng cường học tập, rèn luyện để nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng giao tiếp nhất là kỹ năng giao tiếp không lời.
Để đảm bảo nguồn nhân lực hiệu quả, cần lập kế hoạch cụ thể và tăng cường sự phối hợp giữa các khoa phòng Đồng thời, cần tham mưu cho ban giám đốc bệnh viện nhằm tạo ra môi trường làm việc thuận lợi và tốt nhất cho nhân viên.
- Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao kỹ năng giao tiếp cho NVYT Nhất là kỹ năng giao tiếp không lời.
- Có đề án nhân lực phù hợp.
- Đảm bảo cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị phục vụ chuyên môn.