1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“khảo sát thực trạng kiến thức và thực hành về rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng ....

50 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát thực trạng kiến thức và thực hành về Rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng thuộc Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng năm 2022
Trường học Trung Tâm Y Tế Huyện Giồng Riềng
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nghĩa Hành
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 683,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phần đáng kể trong việc giảm thiểu thời gian và chi phí điều trị cho người bệnh. Vì vậy, việc người điều dưỡng có thói quen thực hành rửa tay tốt sẽ bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân người điều dưỡng và những người xung quanh, đồng thời góp phần vào việc phòng chống NKBV. Vậy thực sự những người điều dưỡng đã được trang bị đầy đủ kiến thức cũng như kỹ năng thực hành rửa tay như thế nào? Mặc khác yếu tố nào ảnh hưởng đến việc nhiễm khuẩn bệnh viện do bàn tay NVYT gây nên cũng cần được phân tích để đánh giá được mức độ tuân thủ quy trình RTTQ của NVYT trong điều trị và chăm sóc người bệnh. Tại Trung tâm Y tế huyện Giồng

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn Bệnh viện (NKBV) là hậu quả không mong muốn trongthực hành khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc người bệnh Nhiểm khuẩn bệnhviện làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian điều trị,tăng chi phí điều trị làm ảnh hưởng đến sức khỏe và kinh tế của người dân

Nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề lớn cho sự an toàn của ngườibệnh không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn ở các nước phát triển, đâycũng là một vấn nạn thời sự Nghiên cứu điều tra cắt ngang NKBV tại 55 cơ

sở y tế của 4 nước trên thế giới đại diện cho các khu vực, công bố tỷ lệNKBV là 8,7% và ước tính ở bất cứ thời điểm nào cũng có hơn 1.4 triệungười bệnh trên thế giới mắc NKBV [5] Tại Việt Nam, kết quả điều tra năm

1998, trong 12 bệnh viện toàn quốc cho thấy tỷ lệ NKBV là 11,5% Chính vìvậy, kiểm soát NKBV phải là một vấn đề ưu tiên hàng đầu tại các cơ sở chămsóc sức khỏe trong việc đảm bảo an toàn người bệnh Trong đó, việc tuân thủrửa tay thường quy của NVYT là biện pháp chính đã được chứng minh là cóhiệu quả và là một yếu tố quan trọng trong kiểm soát NKBV [3]

Theo WHO và BYT, mọi vi sinh vật như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng,nấm,….đều có thể gây NKBV Tuy nhiên, vi khuẩn là căn nguyên phổ biếnnhất và thường đã kháng kháng sinh hoặc ít nhất cũng có mức độ kháng caohơn ở cộng đồng [2]

Rửa tay giống như một liều vắc xin tự chế, nó đơn giản, hiệu quả làmgiảm thiểu sự lây lan của mầm bệnh Rửa tay thường xuyên, đặc biệt là trước

và sau các hoạt động điều trị, chăm sóc người bệnh là một trong những cáchtốt nhất để loại bỏ vi trùng, không bị bệnh, và ngăn chặn sự lây lan của mầmbệnh cho người khác [6] Tỷ lệ NKBV và tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở NVYT cómối liên quan nghịch, nếu tuân thủ rửa tay càng tăng thì NKBV càng giảm vàngược lại Nhiều nghiên cứu cũng xác định sát khuẩn tay là biện pháp quan

Trang 2

trọng nhất để dự phòng lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế [6].

Năm 2006 BYT đã phát động chiến dịch “Bàn tay nhân viên y tế sạch” và rửa

tay hiện nay được coi là chiến lược quan trọng để giảm tỷ lệ NKBV TạiTrung tâm Y tế huyện Giồng Riềng đã thực hiện quy trình RTTQ (Theo vănbản số 7517/BYT ngày 12 tháng 10 năm 2007)

Thực trạng vệ sinh bàn tay tại Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng thờigian qua còn tồn tại nhiều bất cập Tỷ lệ rửa tay còn thấp do nhiều yếu tố khácnhau như thiếu phương tiện rửa tay, hệ thống lavabo chưa trang bị đầy đủ tại

các phòng bệnh Trung tâm chưa tổ chức “Hội thi rửa tay” cho nhân viên y tế

để giúp nâng cao kiến thức và ý thức trong việc tuân thủ vệ sinh tay,… việcthực hiện quy trình RTTQ đối với NVYT càng trở nên quan trọng, nó gópphần đáng kể trong việc giảm thiểu thời gian và chi phí điều trị cho ngườibệnh Vì vậy, việc người điều dưỡng có thói quen thực hành rửa tay tốt sẽ bảo

vệ sức khỏe cho chính bản thân người điều dưỡng và những người xungquanh, đồng thời góp phần vào việc phòng chống NKBV Vậy thực sự nhữngngười điều dưỡng đã được trang bị đầy đủ kiến thức cũng như kỹ năng thựchành rửa tay như thế nào? Mặc khác yếu tố nào ảnh hưởng đến việc nhiễmkhuẩn bệnh viện do bàn tay NVYT gây nên cũng cần được phân tích để đánhgiá được mức độ tuân thủ quy trình RTTQ của NVYT trong điều trị và chămsóc người bệnh Tại Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng từ trước đến naychưa có nghiên cứu nào đánh giá kiến thức và thái độ thực hành về rửa taythường quy của điều dưỡng Với những lý do trên, nhằm góp phần nâng caokiến thức, thái độ thực hành vệ sinh tay cho điều dưỡng trong quá trình chăm

sóc người bệnh Do đó nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “khảo

sát thực trạng kiến thức và thực hành về rửa tay thường quy của điều

dưỡng tại các khoa lâm sàng thuộc Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng năm 2022” nhằm mục tiêu:

Trang 3

1 Xác định tỷ lệ điều dưỡng tại các khoa lâm sàng có kiến thức và thực hành đúng về rửa tay thường quy

2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành chưa đúng về rửa tay thường quy của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vai trò của rửa tay thường quy tại bệnh viện

Vệ sinh tay là đặc biệt quan trọng cho những người làm việc trong lĩnhvực y tế, nhưng nó cũng là một thực tế quan trọng đối với công chúng Mọingười có thể bị nhiễm bệnh đường hô hấp như: Cúm, cảm lạnh thông thường

Ví dụ: nếu họ không rửa tay trước khi chạm vào mắt, mũi hay miệng

Làm sạch bàn tay ngăn ngừa nhiễm trùng Giữ tay sạch sẽ ngăn ngừabệnh tật ở nhà, ở trường và tại nơi làm việc Thực hành vệ sinh tay là biệnpháp quan trọng trong phòng ngừa tại cơ sở y tế, các tổ chức công cộng và antoàn cho thực phẩm của chúng ta

Các chuyên gia y tế khẳng định, bàn tay NVYT khi khám bệnh, điềutrị, chăm sóc người bệnh có thể chứa nhiều tác nhân gây bệnh thậm chí nhiềumầm bệnh nguy hiểm đe dọa tính mạng Vì vậy, vệ sinh bàn tay là việc làmthường quy nhưng cũng là giải pháp hàng đầu trong kiểm soát NKBV

Theo WHO ước tính hiện nay trên thế giới có 59 triệu NVYT, tươngđương với hơn 100 triệu bàn tay chạm vào người bệnh mỗi ngày và có hơn1,4 triệu người mắc nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế Đặc biệt ở cácnước phát triển có 5 - 10% tổng số các bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn liên quanđến chăm sóc y tế, còn ở các nước đang phát triển nguy cơ này cao gấp từ 1 -

20 lần [2]

Tại Việt Nam, điều tra năm 2005 tại 19 bệnh viện trên toàn quốc chothấy tỷ lệ NKBV chiếm 5,7% trong đó nhiễm khuẩn viêm phổi bệnh việnđứng hàng đầu là 55,4%, tiếp đến là nhiễm khuẩn vết mổ 13,6%, nhiễm khuẩntiết niệu 9,7%, nhiễm khuẩn tiêu hóa 7,9%, nhiễm khuẩn da và mô mềm5,9%,…Theo đánh giá của các chuyên gia y tế với tình trạng quá tải bệnhviện như hiện nay nếu cán bộ y tế không thực hiện tốt vệ sinh bàn tay thì tình

Trang 5

trạng NKBV ngày càng gia tăng nhanh chóng [2].

Trong những năm gần đây BYT đã phát động phong trào vệ sinh bàntay ở cả bệnh viện và cộng đồng Theo nhiều báo cáo của các chuyên giaKSNK trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ratrong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh,trong đó có rửa tay bằng xà phòng là biện pháp cơ bản nhất Theo đó, chỉ mộtđộng tác rửa tay sạch đã làm giảm rủi ro nhiễm khuẩn tiêu chảy tới 47%,nhiễm khuẩn đường hô hấp tới 19 - 45% Các nghiên cứu cho thấy, bàn taycủa một người có thể mang tới 4,6 triệu mầm bệnh Những hành vi quenthuộc của nhiều người như: đưa tay dụi mắt, miệng, cầm đồ vật bẩn nhưngkhông rửa sạch,… đã vô tình làm cầu nối giúp những vị khách không mời dễdàng vào cơ thể gây nhiều bệnh nguy hiểm Các bệnh hay gặp như đau mắt,tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp cấp,….thường mắc phải cũng chính là do thựchiện vệ sinh kém [2]

Tổ chức Y tế Thế giới - WHO (2007) trên cơ sở những khuyến cáo củaTrung tâm Kiểm soát và phòng chống bệnh Hoa Kỳ CDC (2002), Đức - Pháp(2002) và ý kiến của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu trên thếgiới dựa vào các kết quả nghiên cứu khoa học đã đưa ra khuyến cáo [2]:

- Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất trongKSNK, do đó cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay

- Sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn là phương pháp nhanhnhất, hiệu quả nhất trong KSNK bệnh viện

Vệ sinh tay là biện pháp đầu tiên của 9 biện pháp phòng ngừa chuẩntrong chăm sóc người bệnh Chính vì vậy, năm 2008 Liên Hợp quốc đã chọnngày 15 tháng 10 hàng năm là ngày thế giới rửa tay với xà phòng

Trang 6

1.2 Tầm quan trọng của rửa tay thường quy

1.2.1 Bàn tay là trung gian truyền bệnh

Chăm sóc người bệnh là nhiệm vụ chính và là thiên chức của ngườiđiều dưỡng Tại các bệnh viện, điều dưỡng là lực lượng không thể thiếu trongcông tác chăm sóc người bệnh, một điều dưỡng có thể chăm sóc từ một chođến nhiều người bệnh, trong quá trình chăm sóc đôi bàn tay của điều dưỡngrất dễ bị ô nhiễm với các tác nhân gây bệnh từ người bệnh truyền qua Mức

độ ô nhiễm phụ thuộc vào loại thao tác và thời gian thực hiện thao tác trênngười bệnh Ví dụ: sau các thao tác như xoay trở người bệnh, bắt mạch, đohuyết áp, lấy nhiệt độ cơ thể, động chạm vào vai người bệnh trên đôi tay sẽ có

từ 100 đến 1000 khuẩn lạc Klebsiella SPP Sau các hoạt động như tiêm,truyền tĩnh mạch, chăm sóc đường thở, sau khi tiếp xúc với các chất bài tiếtcủa người bệnh trên đôi tay sẽ có khoảng 300 khuẩn lạc (UFs) Các nhà khoahọc đã chỉ ra rằng trên 1cm2 da người chứa tới 40.000 vi khuẩn, đặc biệt cácnghiên cứu tìm thấy trên bàn tay của một người có thể mang tới 4,6 triệu mầmbệnh [4]

Năm bước bàn tay phát tán mầm bệnh [4]:

- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật

- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT

- Mầm bệnh sống trên da tay

- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn

- Da tay nhiễm khuẩn, phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật.Trên da tay thường có cả hai loại vi khuẩn: vi khuẩn thường trú và vikhuẩn vãng lai [4]:

- Các vi khuẩn thường trú có độc tính thấp, ít khi gây nhiễm trùng quacác tiếp xúc thông thường, song chúng có thể gây độc tính qua các thủ thuậtxâm lấn vào người bệnh

Trang 7

- Các vi khuẩn vãng lai là những tác nhân gây nhiễm trùng bệnh việnphổ biến, thường tồn tại trên da không quá 28 tiếng Chúng không có khảnăng nhân lên trên da và dễ bị loại bỏ bằng rửa tay với nước xà phòng.

1.2.2 Hiệu quả của rửa tay thường quy và mối liên quan với NKBV 1.2.2.1 Khái niệm

Rửa tay là làm sạch tay bằng nước với xà phòng thường hoặc xà phòngkhử khuẩn và chà xát tay với dung dịch có chứa cồn Rửa tay là nội dung cơbản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhất trong kiểm soát lâytruyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám chữa bệnh [3]

Rửa tay là một biện pháp loại bỏ các tác nhân gây bệnh ra khỏi da, làrửa tay dưới bất kỳ hình thức nào đúng hoặc không đúng theo quy trìnhRTTQ 6 bước của BYT trong công văn số: 7517/BYT - ĐTr ngày 12 tháng 10năm 2007 về việc hướng dẫn quy trình RTTQ và sát khuẩn tay nhanh bằngdung dịch chứa cồn Các cơ hội rửa tay tương ứng với 5 thời điểm rửa tay củaBYT ban hành [2]:

1 Trước khi tiếp xúc với người bệnh

2 Trước khi làm thủ thuật vô trùng

3 Sau khi tiếp xúc với máu và dịch

cơ thể

4 Sau khi tiếp xúc người bệnh

5 Sau khi đụng chạm vào những

vùng xung quanh người bệnh

Hình 1.1: 5 thời điểm rửa tay thường quy

Do vai trò quan trọng của rửa tay trong phòng ngừa NKBV Năm 1996,

BYT đã ban hành “Quy trình rửa tay thường quy” Năm 2007 dựa trên hướng

dẫn mới nhất của WHO về phương pháp RTTQ và sát khuẩn tay bằng cồn

Trang 8

BYT đã mời các chuyên gia y tế và chuyên gia KSNK sửa đổi quy trìnhRTTQ cho phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Hình 1.2 Quy trình rửa tay thường quy 1.2.2.2 Mục đích của rửa tay thường quy

- Làm sạch và loại bỏ vi khuẩn vãng lai trên bàn tay.

- Đảm bảo cho người bệnh và NVYT

- Góp phần làm giảm tỷ lệ NKBV

Rửa tay là biện pháp quan trọng nhất trong việc phòng ngừa NKBV vìđôi bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan truyền các tác nhân gây nhiễmkhuẩn đã được nghiên cứu rất nhiều và không còn là vấn đề tranh cãi, rửa tayđược coi là phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất với chi phí thấp nhất, đơngiản và dễ thực hiện tại cộng đồng giúp giảm thiểu khả năng lây lan của nhiềuloại mầm bệnh khác nhau nên nó được coi là một loại vaccine tự chế [3]

Theo số liệu điều tra của WHO tại 47 bệnh viện của 14 nước đại diệncho các khu vực khác nhau, tỉ lệ NKBV là 8,7% Ở nước ta, theo tài liệu củaBYT thống kê tại 11 bệnh viện năm 2002 tỷ lệ NKBV là 6,8% Thực hành rửatay của NVYT là một trong những giải pháp hàng đầu được WHO khuyến

Trang 9

cáo nhằm tăng cường kiểm soát NKBV và phòng ngừa các bệnh lây truyềncho NB và NVYT trong quá trình cung cấp dịch vụ y tế [3].

1.2.2.3 Hiệu quả của rửa tay thường quy

Rửa tay đúng hoặc không đúng theo quy trình RTTQ cho thấy hiệu quả

có sự khác biệt hoàn toàn rõ rệt, trong một nghiên cứu Nguyễn Thị An vàcộng sự tại bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2010: nghiên cứu cho thấy việc rửa tayđúng theo quy trình đã làm giảm thiểu vi khuẩn trên bàn tay của NVYT Nhânviên y tế thực hiện rửa tay theo đúng quy trình thì vi khuẩn còn 11%, NVYTrửa tay không đúng quy trình thì vi khuẩn còn đến 32% Điều này một lần nữakhẳng định sự cần thiết rửa tay của NVYT và kỹ thuật rửa tay cần thực hiệnđúng theo quy trình hướng dẫn để đảm bảo cho đôi bàn tay của NVYT luôn

an toàn đối với người bệnh, bản thân, đồng nghiệp và cộng đồng

1.2.3 Nhiễm khuẩn bệnh viện

1.2.3.1 Định nghĩa

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Nhiễm khuẩn bệnh viện là nhữngnhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian người bệnh điều trị tại bệnh viện vànhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không nằm trong giai đoạn ủbệnh tại thời điểm nhập viện Nhiễm khuẩn bệnh viện thường xuất hiện sau

48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện” [2]

Theo CDC: “Nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiễm khuẩn xuất hiện lần đầutiên trong khoảng thời gian từ 48 giờ đến 4 ngày sau khi người bệnh đã nhậpviện hay vào một cơ sở y tế” [6]

Để chẩn đoán NKBV người ta thường dựa vào định nghĩa và tiêu chuẩnchẩn đoán cho từng vị trí NKBV (sơ đồ 1), ví dụ như nhiễm khuẩn vết mổ sauphẩu thuật, nhiễm khuẩn máu có liên quan đến dụng cụ đặt trong lòng mạch,nhiễm khuẩn đường tiết niệu,…Hiện nay theo hướng dẫn từ Trung tâm kiểmsoát và bệnh tật tại Hoa kỳ (CDC) và các Hội nghị quốc tế đã mở rộng định

Trang 10

nghĩa ca bệnh cho các vị trí nhiễm khuẩn khác nhau và hiện đang được ápdụng để giám sát NKBV trên toàn cầu Dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng vàsinh học các nhà khoa học đã xác định có khoảng 50 loại NKBV khác nhau

có thể xảy ra tại bệnh viện [6]

Thời gian nằm viện

Đối với người bệnh

- Các yếu tố nội sinh (do chính bản thân người bệnh): người bệnh mắcbệnh mãn tính, mắc các bệnh tật làm suy giảm khả năng phòng vệ của cơ thể,những người bệnh dùng thuốc kháng sinh kéo dài, trẻ sơ sinh non tháng vàngười già dễ bị NKBV Các vi sinh vật cư trú trên da, các hốc tự nhiên của cơthể người bệnh có thể gây nhiễm trùng cơ hội, đặc biệt khi cơ thể bị giảm sức

đề kháng

- Các yếu tố ngoại sinh như: Vệ sinh môi trường, nước, không khí, chấtthải, quá tải bệnh viện, nằm ghép, dụng cụ y tế, các phẫu thuật, các can thiệpthủ thuật xâm lấn,…

- Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ của NVYT: tuân thủ các nguyêntắc vô khuẩn, đặc biệt là vấn đề rửa tay của NVYT

Đối với nhân viên y tế

- Tai nạn rủi ro từ kim tiêm và vật sắc nhọn nhiễm khuẩn

- Bắn máu và dịch từ người bệnh vào niêm mạc mắt, mũi, miệng khilàm thủ thuật

Trang 11

- Da tay không lành lặn tiếp xúc với máu và dịch sinh học của NB cótác nhân gây bệnh.

Các tác nhân vi sinh vật

- Vi khuẩn: Vi khuẩn gây NKBV trong vài thập kỷ qua đã có nhiềuthay đổi, các vi khuẩn gây bệnh chủ yếu hiện nay là S.aureus và các trựckhuẩn gam (-) Bên cạnh đó là Staphylococcus aureus, Suphylococcussaprophyticus, Beta-hemolitic, Enterobacteriaceae, chủng Acinetobacter spp,

vi khuẩn thuộc giống Klebsiclla spp,…

- Virus: Thường gặp ở trẻ em hơn người trưởng thành và mang nguy cơdịch cao Một số virus có thể gây NKBV như virus viêm gan B, C, các virushợp bào hô hấp, SARS, virus đường ruột (Enteroviruses) và một số loại viruskhác như: Cytomegalovirus, HIV, Ebola, influenza, Herpes virus vàVaricella-zoster virus

- Nấm: Thường xuất hiện do điều trị kháng sinh kéo dài và bệnh nhân

bị suy yếu hệ miễn dịch: Aspergillus spp, Cryprococcus neoformans,Cryprosporidium

- Ký sinh trùng: Giardialamblia có thể lây truyền dễ dàng giữa ngườitrưởng thành và trẻ em

Đường lây truyền

- Lây qua đường tiếp xúc là đường lây nhiễm quan trọng và phổ biếnnhất là tiếp xúc trực tiếp (tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây bệnh) và lâynhiễm qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung gian chứa tác nhân gâybệnh) [5]

- Lây nhiễm qua đường giọt bắn: khi các tác nhân gây bệnh chứa trongcác giọt nhỏ bắn ra khi người bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện bắn vào kết mạcmắt, niêm mạc mũi, miệng của người tiếp xúc; các tác nhân gây bệnh truyềnnhiễm có trong các giọt bắn có thể truyền bệnh từ người sang người trong một

Trang 12

khoảng cách ngắn (<1 mét) Các giọt bắn có kích thước rất khác nhau, thường

> 5µm, có khi lên tới 30 µm hoặc lớn hơn Một số tác nhân gây bệnh quađường giọt bắn cũng có thể truyền qua đường tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúcgián tiếp [5]

- Lây qua đường không khí xảy ra do các giọt bắn li ti chứa tác nhângây bệnh, có kích thước <5µm Các giọt bắn li ti phát sinh ra khi người bệnh

ho hay hắt hơi, sau đó phát tán vào không khí và lưu chuyển đến một khoảngcách xa, trong một thời gian dài tùy thuộc vào các yếu tố môi trường Nhữngbệnh có khả năng lây truyền bằng đường không khí như lao phổi, sởi, thủyđậu, đậu mùa, cúm, quai bị, Sars khi có làm thủ thuật tạo khí dung,… [6]

1.3 Các nghiên cứu về đánh giá việc tuân thủ RTTQ của NVYT 1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới về kiến thức, thực hành RTTQ của NVYT

1.3.1.1 Các nghiên cứu về kiến thức

Tay bị ô nhiễm có thể đóng vai trò then chốt trong việc phát triển và lâylan các bệnh nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe Do đó thực hànhrửa tay được thực hiện với kỹ thuật đầy đủ cùng với thời gian và hóa chấtthích hợp là một công việc thiết yếu cho sự an toàn của người bệnh Hạn chếtrong việc thực hành rửa tay bởi những quan niệm sai lầm hoặc thiếu kiếnthức của NVYT có thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượngchăm sóc người bệnh

Năm 2014, một nghiên cứu khác về kiến thức rửa tay của Maheshwari

và cộng sự ở thành phố Bhopal, Ấn Độ cho biết 75% điều dưỡng biết rằngviệc không rửa tay của NVYT là đường lây truyền chính NKBV; 65% trả lờiđúng 6 bước rửa tay; 83% khẳng định đeo găng sạch không là biện pháp thaythế cho rửa tay; nghiên cứu cũng chỉ ra thời điểm thích hợp nhất thực hiệnhành động rửa tay nhằm ngăn ngừa lây nhiễm vi khuẩn sang người bệnh:

Trang 13

trước khi chạm vào người bệnh (98.8%), sau khi tiếp xúc máu và dịch tiết(83.8%), sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh người bệnh (70%), trướckhi thực hiện thủ thuật vô trùng (90%); 30% lựa chọn rửa tay bằng cồn trướckhi thực hiện kỹ thuật tiêm, truyền, 82.5% đồng ý lựa chọn cả hai phươngthức rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc cồn sau khi tháo găng, 57.5% trảlời rửa tay bằng nước với xà phòng sau khi phơi nhiễm với máu, dịch tiết; chỉ

có 25% điều dưỡng biết thời gian cần thiết tối thiểu để rửa tay bằng cồn là 20giây; 35% điều dưỡng trả lời đúng rửa tay bằng cồn có tác dụng diệt vi khuẩntốt hơn rửa tay bằng xà phòng với nước, 75% cho rằng NVYT cần có kiếnthức và đào tạo về rửa tay cũng như tham gia các khóa huấn luyện thườngxuyên về thực hành rửa tay [17]

1.3.1.2 Các nghiên cứu về thực hành

Một nghiên cứu khác của Kwalec A và cộng sự năm 2014 tại trườngĐại học Y khoa Wroclaw BaLan, cho thấy trong số 93.8% sinh viên được đàotạo về rửa tay thì có 35.7% số sinh viên không sát khuẩn tay trước mỗi lầnkhám cho người bệnh [16]

Năm 2016, tại một trường đại học Y khoa ở Mississippi, nghiên cứucủa Jess L Rush và cộng sự đã chỉ ra một cách để tăng cường rửa tay đó làgiám sát, phản hồi và nhân rộng mô hình nghiên cứu can thiệp Trong 3 lầnquan sát, chia ra 3 đợt, tỷ lệ tham gia rửa tay tăng tương ứng từ 55.1% -89.9% [18]

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về kiến thức, thực hành RTTQ của NVYT

1.3.2.1 Các nghiên cứu về kiến thức

Trong những năm gần đây, kiểm soát NKBV là một trong những việctrọng yếu của tất cả các bệnh viện Trong đó việc rửa tay của NVYT là tiêuchí đầu tiên

Trang 14

Một nghiên cứu ở bệnh viện Đống Đa, Hà Nội năm 2010 của tác giảHoàng Thị Xuân Hương về đánh giá kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ rửatay của NVYT đã chỉ ra được kiến thức rửa tay tăng đáng kể từ 59.5% trướccan thiệp, 82.5% sau can thiệp Sau can thiệp tỷ lệ kiến thức đạt ở nam là64.3% , nữ là 82.5%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0.05); có sựkhác biệt về tỷ lệ kiến thức đạt trước và sau can thiệp tại các khoa: Y học cổtruyền (từ 52.9% lên 94.1%), Khoa Truyền nhiễm (từ 64.3% lên 90%), KhoaNhi (từ 56.2% lên 92.3%) [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh năm 2012 về thực trạng và cácyếu tố liên quan đến rửa tay thường quy của điều dưỡng viên bệnh viện XanhPôn Hà Nội cho thấy 71% điều dưỡng có kiến thức tốt về thực hành rửa tay,điều dưỡng khoa Ngoại có kiến thức tốt hơn điều dưỡng Khoa Nội (63.6% sovới 36.4%) [1]

1.3.2.2 Các nghiên cứu về thực hành

Cũng trong năm 2010, một nghiên cứu khác của Hoàng Thị XuânHương về đánh giá kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại

bệnh viện Đống Đa, Hà Nội, trước và sau khi triển khai dự án “Tăng cường

vệ sinh bệnh viện năm 2010 - 2011”, trong tổng số 190 đối tượng tham gia

nghiên cứu trước can thiệp và 160 đối tượng sau can thiệp; tỷ lệ tuân thủ rửatay tương ứng từ 53.1% lên 60.4% có ý nghĩa với p < 0.05; phương thức rửatay được NVYT sử dụng nhiều nhất là rửa bằng cồn/dung dịch sát khuẩn cóchứa cồn (82.1% sau can thiệp) so với các phương thức rửa tay khác, sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê (p < 0.001) [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh năm 2012 về thực trạng và cácyếu tố lien quan đến RTTQ của điều dưỡng viên bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội,cho thấy tỷ lệ tuân thủ các cơ hội rửa tay là 58% [1]

Trang 15

Ở bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc, trong nghiên cứu của tác giả PhùngVăn Thùy cũng về rửa tay thường quy (2014) đưa ra tỷ lệ tuân thủ rửa tay:39.5%, thấp hơn trong nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền: 52.9% [12]; tỷ lệ tuânthủ rửa tay cao nhất sau tiếp xúc máu, dịch của bệnh nhân (76.4%), còn trongnghiên cứu Hoàng Thị Hiền: 100% và thấp nhất ở cơ hội sau đụng chạm đồvật, bề mặt xung quanh người bệnh (66.2%) [11]; cách thức rửa tay phổ biến

là sát khuẩn tay nhanh với cồn/ dung dịch chứa cồn (71.13%) [13]

Ở nghiên cứu của Phùng văn Thùy (Vĩnh Phúc - 2014) chỉ ra NVYT cókiến thức đạt trong nhóm có trình độ học vấn đại học và sau đại học cao hơnnhóm có trình độ trung cấp và cao đẳng; NVYT ở khối Ngoại, Sản có kiếnthức đạt cao hơn khối Nội Trình độ học vấn và kiến thức của NVYT là haiyếu tố cá nhân liên quan đến tuân thủ rửa tay thường quy; tỷ lệ thực hành rửatay thường quy đạt ở nhóm có trình độ học vấn đại học và sau đại học cao hơnnhóm có trình độ trung cấp và cao đẳng, tỷ lệ thực hành RTTQ trong nhómkiến đạt cao hơn trong nhóm chưa đạt Qua nghiên cứu định tính, liên quanđến tuân thủ RTTQ còn có: các yếu tố thúc đẩy NVYT tăng cường tuân thủRTTQ (các quy định về RTTQ; công tác tập huấn, kiểm tra, giám sát; quyđịnh về thi đua khen thưởng; sự sẵn có và dễ tiếp cận của các phương tiện rửatay); các yếu tố cản trở: quá nhiều cơ hội rửa tay, quá tải công việc, phươngtiện rửa tay thiếu hoặc không phù hợp [13]

Một nghiên cứu khác của Bùi Kim Nhung năm 2015,cho thấy yếu tốtuổi liên quan đến kiến thức rửa tay (NVYT thuộc nhóm tuổi lớn hơn hoặcbằng 30 có kiến thức chưa đạt cao gấp 4.6 lần so với nhóm tuổi dưới 30); yếu

tố thái độ liên quan đến tuân thủ rửa tay, NVYT có thái độ tích cực tuân thủrửa tay cao gấp 2.7 lần so với nhóm NVYT có thái độ chưa tích cực; các yếu

tố cản trở rửa tay: quá tải công việc, phương tiện rửa tay thiếu/ không phùhợp; nghiên cứu đưa ra việc để thúc đẩy sự tuân thủ rửa tay của NVYT cần

Trang 16

tăng cường tập huấn về rửa tay; quan tâm, giám sát có phản hồi về tuân thủrửa tay của NVYT; bổ sung thêm phương tiện phục vụ rửa tay [12].

Trang 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: tại 8 khoa lâm sàng (Hồi sức, Ngoại Tổng hợp,

Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, Truyền Nhiễm, Chăm sóc sức

khỏe sinh sản) thuộc Trung tâm Y tế huyện Giồng Riềng.

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

2.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu: điều dưỡng viên (Điều dưỡng, Y sĩ,

Hộ sinh) đang công tác tại 8 khoa lâm sàng thuộc Trung tâm Y tế huyệnGiồng Riềng

2.1.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh tại 8 khoa lâm sàng thuộcTrung tâm Y tế huyện Giồng Riềng, tại thời điểm nghiên cứu

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2.2 Tiêu chí loại trừ:

Điều dưỡng không trực tiếp chăm sóc người bệnh (điều dưỡng làmhành chánh, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, đi học dài hạn hoặc nghỉ không hưởnglương)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng

Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ để điều tra kiến thức và thựchành về rửa tay thường quy Tất cả điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh

Trang 18

được mời tham gia vào nghiên cứu tại 8 khoa lâm sàng của Trung tâm (Hồisức, Ngoại Tổng hợp, Nội Tim mạch, Nội Tổng hợp, Nhi, Lão Học, TruyềnNhiễm, Chăm sóc sức khỏe sinh sản) với tổng số là 96 điều dưỡng.

2.2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Tiến hành phỏng vấn điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, mục đích để tìmhiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến rửa tay thường quy tại Trung tâm Y tế

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu thuận tiện

- Chọn ngẫu nhiên điều dưỡng thực hiện rửa tay thường quy đúng với 5thời điểm rửa tay tại các khoa lâm sàng, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

Các biến số nghiên cứu

2.2.4.1 Các biến số liên quan đến định lượng

2.2.4.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

- Giới

- Nhóm tuổi

- Trình độ học vấn

- Thâm niên công tác

2.2.4.1.2 Các biến số về kiến thức rửa tay thường quy

- Kiến thức chung về rửa tay thường quy

- Thực hiện đúng thứ tự các bước trong quy trình rửa tay thường quy

- Thời gian một lần rửa tay thường quy

- Dung dịch rửa tay phù hợp

2.2.4.1.3 Các biến số về thực hành rửa tay thường quy

- Tuân thủ rửa tay thường quy vào 5 thời điểm hợp lý

- Tỷ lệ rửa tay thường quy theo quy trình rửa tay thường quy 6 bướctrước khi tiếp xúc người bệnh

Trang 19

- Tỷ lệ rửa tay thường quy theo quy trình rửa tay thường quy 6 bướctrước khi thực hiện thủ thuật vô trùng.

- Tỷ lệ rửa tay thường quy theo quy trình rửa tay thường quy 6 bướcsau khi tiếp xúc người bệnh

- Tỷ lệ rửa tay thường quy theo quy trình rửa tay thường quy 6 bước sautiếp xúc máu và dịch cơ thể

- Tỷ lệ rửa tay thường quy theo quy trình rửa tay thường quy 6 bướcsau khi tiếp đụng chạm vào những vùng xung quanh ngườ bệnh

2.2.4.2 Thông tin liên quan đến định tính: Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành của điều dưỡng về rửa tay thường quy.

2.2.4.2.1 Yếu tố đào tạo: đào tạo, tập huấn về rửa tay thường quy.

2.2.4.2.2 Yếu tố cung cấp phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ: đánh

giá của điều dưỡng viên về sự đáp ứng số lượng, phương tiện, trang thiết bị,dụng cụ được cung cấp

2.2.4.2.3 Yếu tố quản lý, hệ thống tổ chức: Công tác tổ chức thực hiện

hướng dẫn RTTQ Công tác kiểm tra, giám sát của lãnh đạo Trung tâm y tế,của phòng điều dưỡng trong việc thực hành RTTQ, các hình thức thưởngphạt, động viên khuyến khích đối với cá nhân và tập thể đã được triển khai

2.2.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu.

2.2.4.3.1 Đánh giá kiến thức.

Đo lường kiến thức về RTTQ của điều dưỡng được thực hiện bằngphương pháp phát vấn tự điền vào bộ câu hỏi Sử dụng bộ công cụ đánh giákiến thức về rửa tay gồm 20 câu hỏi tự điền

Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là 20 điểm Kiến thức đượcđánh là đạt khi số điểm lớn hơn hoặc bằng 13 điểm (≥ 2/3 số điểm tuyệt đối),chưa đạt khi số điểm dưới 13 điểm (Phụ lục 4)

2 2.4.3.2 Đánh giá thực hành.

Trang 20

Đánh giá thực hành rửa tay/sát khuẩn tay theo số cơ hội rửa tay củađiều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp quan sát điền vào bảng kiểmtheo mẫu của WHO (Quan sát không tham gia) Nghiên cứu không đánh giámức độ giảm NKBV mà chỉ lý luận tuân thủ RTTQ sẽ làm giảm NKBV.

Dựa trên tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của NVYT của WHO, ta cócông thức:

Số lần rửa tay của NVYT trong thời gian quan sát

TLRT = x 100 Tổng số cơ hội phải rửa tay của NVYT trong thời gian quan sátRửa tay: Rửa tay dưới bất kỳ hình thức nào đúng hoặc không đúng theoquy trình RTTQ 6 bước của BYT ban hành [14]

Cơ hội rửa tay được WHO định nghĩa là “Một thời điểm khi có nguy cơlây truyền mầm bệnh thực tế hoặc tiềm tàng từ một bề mặt (hoặc bệnh nhân)này tới bề mặt (hoặc bệnh nhân khác) thông qua bàn tay”

Tuân thủ RTTQ đúng, đủ trong nghiên cứu bao gồm:

Có rửa tay khi có cơ hội phải rửa tay Các cơ hội rửa tay trong phạm vinghiên cứu tương ứng với 5 thời điểm rửa tay của BYT ban hành [14]

- Phải rửa tay với nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có chứacồn/cồn Thời gian rửa tay với nước và xà phòng là khoảng 30 - 40 giây, vớidung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn là từ 20 - 30 giây (theo quy định củaBYT)

- Thực hiện rửa tay theo 6 bước quy trình RTTQ của BYT

Không tuân thủ rửa tay thường quy bao gồm:

- Thiếu 6 bước trong quy trình RTTQ

- Thời gian rửa tay không theo quy định của BYT

2.2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:

Trang 21

Bộ câu hỏi phát vấn được xây dựng theo tiêu chuẩn của WHO (Phụ lục2) ngoài phần thông tin chung, bộ câu hỏi bao gồm 20 câu đánh giá kiến thức

về RTTQ

- Bảng kiểm quan sát được xây dựng trên bộ công cụ và cách tiến hànhđánh giá tuân thủ rửa tay của WHO (Phụ lục 3) Bảng kiểm trong đó có ghi 5thời điểm cần rửa tay khi chăm sóc người bệnh để quan sát xem điều dưỡng

có tuân thủ rửa tay tại thời điểm đó hay không, có rửa tay bằng nước với xàphòng (30 - 45 giây) hoặc sát khuẩn tay bằng cồn/dung dịch chứa cồn (20 - 30giây) theo đúng quy trình 6 bước quy trình RTTQ hay không và đánh dấu vàophiếu

2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.2.1 Thu thập số liệu định lượng

Đánh giá kiến thức về RTTQ của điều dưỡng được thực hiện bằngphương pháp phát vấn với bộ công cụ đo lường kiến thức về rửa tay với bộcâu hỏi gồm 20 câu Đối tượng nghiên cứu điền vào bộ câu hỏi được thiết kếsẵn Nhóm điều tra viên được tập huấn và thống nhất về cách sử dụng vàchấm điểm bộ công cụ đánh giá kiến thức về rửa tay thường quy Trước khitiến hành điều tra trên toàn bộ mẫu, bộ câu hỏi được điều tra trên 5 điềudưỡng và điều chỉnh cho phù hợp Điều tra viên giải thích rõ mục đích nghiêncứu, thông tin thu được rất quan trọng đối với nghiên cứu, để đảm bảo tínhchính xác và tin cậy của thông tin đề nghị điều dưỡng viên hợp tác Sau đó,điều tra viên phát phiếu và giám sát các điều dưỡng viên tự điền phiếu, sau 20phút thu lại phiếu khảo sát Điều tra viên kiểm tra lại phiếu khảo sát để đảmbảo không có thông tin nào bị bỏ sót

Xác định tỷ lệ tuân thủ RTTQ theo số cơ hội rửa tay của điều dưỡng viênđược thực hiện bằng phương pháp quan sát không tham gia có sử dụng bảngkiểm theo mẫu của WHO Nhóm nghiên cứu bao gồm 2 - 3 điều dưỡng là

Trang 22

những người có kiến thức, kinh nghiệm trong việc giám sát tuân thủ rửa tay

và thời gian công tác dài tại Trung tâm nên biết rõ họ đang quan sát ai Nhómquan sát viên tách nhau đi các khoa để quan sát (Phụ lục 3) Các quan sát viênchọn thời điểm khi điều dưỡng chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàngcủa trung tâm Khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu, quan sát viên thực hiệnquan sát điều dưỡng thực hiện chăm sóc người bệnh tại 8 khoa lâm sàng củaTrung tâm

Các quan sát viên dùng bảng kiểm đánh giá tuân thủ RTTQ (Phụ lục 4)khi quan sát cơ hội rửa tay/sát khuẩn tay, mỗi đối tượng nghiên cứu đượcquan sát 2 đợt, mỗi đợt kéo dài từ 15 - 20 phút để đảm bảo có ít nhất 6 cơ hội

mà đối tượng nghiên cứu cần rửa tay/sát khuẩn tay Người quan sát chọn vị tríquan sát tại phòng tiêm hoặc phòng hành chính, không gây sự chú ý của đốitượng nghiên cứu nhưng vẫn có thể quan sát được đầy đủ các hoạt động màđối tượng nghiên cứu thực hiện chăm sóc trên người bệnh Mỗi khi có cơ hộirửa tay/sát khuẩn tay bằng nước với xà phòng (30 - 45 giây) hoặc cồn/dungdịch chứa cồn (20 - 30 giây) theo đúng quy trình 6 bước hay không được đánhvào phiếu quan sát để đảm bảo chất lượng của số liệu thu thập được và tránhnhững sai số do quá trình thu thập số liệu

2.2.5.2.2 Thu thập số liệu định tính:

Kết quả phỏng vấn do nghiên cứu viên thực hiện Tiến hành thảo luậnnhóm với các điều tra viên, cử thư ký ghi biên bản, nghiên cứu viên và cácđiều tra viên thống nhất nội dung, hướng dẫn thảo luận, cách tiến hành thảoluận Nội dung thảo luận theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nhằm tìm hiểu cácyếu tố liên quan đến thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng như yếu tố thôngtin, trang bị phương tiện dụng cụ tiêm, yếu tố tổ chức, quản lý, chế độ độngviên, khuyến khích, chế tài, xử phạt, môi trường làm việc

2.2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu.

Trang 23

2.2.6.1 Nghiên cứu định lượng

- Tiến hành kiểm tra làm sạch tất cả các phiếu phát vấn ngay khi thu về

- Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 Sử dụng cácthuật toán thống kê mô tả để mô tả thực trạng RTTQ tại Trung tâm Y tếhuyện Giồng Riềng Xác định tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức và thực hành vềRTTQ đạt

2.2.6.2 Nghiên cứu định tính

- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp

- Kết quả phỏng vấn do nghiên cứu viên thực hiện Tiến hành thảo luậnnhóm với các điều tra viên, cử thư ký ghi biên bản, nghiên cứu viên và cácđiều tra viên thống nhất nội dung, hướng dẫn thảo luận, cách tiến hành thảoluận Nội dung thảo luận theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nhằm tìm hiểu cácyếu tố liên quan đến thực hành rửa tay thường quy của điều dưỡng như yếu tốthông tin, trang bị phương tiện dụng cụ, yếu tố tổ chức, quản lý, chế độ độngviên, khuyến khích, chế tài, xử phạt, môi trường làm việc

2.2.7 Sai số và biện pháp khắc phục

- Sai số ngẫu nhiên có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu

- Việc lựa chọn ĐDV có trình độ kiến thức, giỏi tay nghề được tập huấn

kỹ năng quan sát, phát vấn, ghi chép một cách chu đáo, thận trọng góp phầnhạn chế sai sót

- Tạo không khí thoải mái cho điều dưỡng mạnh dạn thảo luận, đánh giánhất là đối với các vấn đề còn tồn tại của Trung tâm trong RTTQ

2.3 Đạo đức y học trong nghiên cứu

- Nghiên cứu này được tiến hành sau khi đề cương được Hội đồng xétduyệt đề cương nghiên cứu khoa học Sở Y tế tỉnh Kiên Giang thông qua

- Đối với điều tra viên: Nghiên cứu kỹ bộ câu hỏi, cách điều tra, thu thập

số liệu (cả về phương pháp phát vấn, ghi chép cẩn thận)

Trang 24

- Đối với đối tượng được phỏng vấn, phát vấn:

+ Được giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, phỏng vấn đểđối tượng hiểu rõ và chấp nhận hợp tác

+ Tạo điều kiện tốt nhất để đối tượng hiểu rõ câu hỏi và trả lời trungthực, rõ ràng

- Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu luôn được giữ bí mật

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

- Thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm tỷ lệ 24% Nhóm tuổi từ

30 - 40 tuổi có tỷ lệ cao nhất, kết quả này cho thấy điều dưỡng tại Trung tâm

Y tế huyện Giồng Riềng là đội ngũ trẻ, nhạy bén, năng động, có kinh nghiệmtrong công tác

3.2 Kiến thức và thực hành rửa tay thường quy của điều dưỡng khoa lâm sàng

3.2.1 Kiến thức về rửa tay thường quy

Ngày đăng: 28/07/2023, 12:48

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w