KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n = 114)
TT Đặc tính Tần số Tỷ lệ
3 Trình độ chuyên môn Bác sĩ 27 23,7 Điều dưỡng 87 76,3
5 Số năm công tác trong chuyên ngành
6 Khoa công tác Cấp cứu 45 39,5
Hồi sức tích cực và chống độc 69 60,5
Bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ giới tính trong nhân lực điều dưỡng tương đối đồng đều, với nam chiếm 42,1% và nữ 57,9% Độ tuổi trung bình là 31,76 ± 8,08, trong đó độ tuổi từ 22 – 29 chiếm tỷ lệ cao nhất (49,1%) và tỷ lệ người từ 50 tuổi trở lên chỉ là 3,5% Nhân lực điều dưỡng chủ yếu là người trẻ, điều này mang lại sự năng động và khả năng tiếp thu công việc nhanh, nhưng cũng đồng nghĩa với kinh nghiệm chuyên môn còn thấp, với 40,4% có dưới 5 năm kinh nghiệm Về trình độ chuyên môn, điều dưỡng lâm sàng chiếm 76,3%, gấp 3 lần so với bác sĩ (23,7%), và tỷ lệ nhân viên có trình độ dưới đại học là 72,8%, cao gấp 3 lần so với trình độ từ đại học trở lên (27,2%).
Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ
3.2.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ của bác sĩ
3.2.1.1 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ
Bảng 3.2: Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ (n = 27)
Mức độ thực hiện nhiệm vụ
Mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện chưa thường xuyên
Không tự tin Tự tin
A1 Tiếp nhận bệnh nhân ban đầu 2 7,7 24 92,3 3 11,5 23 88,5
A2 Điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện 6 23,1 20 76,9 8 30,8 18 69,2
A3 Tổ chức đánh giá, phân loại bệnh, triển khai cấp cứu, ổn định hoặc vận chuyển người bệnh
A4 Hợp tác tốt các bộ phận cấp cứu trong hệ thống cấp cứu của bệnh viện
A5 Bàn giao người bệnh, y lệnh đầy đủ, chính xác 0 0 26 100 2 7,7 24 92,3
A6 Ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án và bảng theo dõi của bác sĩ
A7 Hội chẩn với đồng nghiệp và lãnh đạo để phát hiện các trường hợp vượt quá khả năng giải quyết, đảm bảo an toàn cho người bệnh
A8 Giao tiếp bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời với người bệnh, gia đình và đồng nghiệp
A9 Hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh và gia đình người bệnh 1 3,8 25 96,2 1 3,8 25 96,2
Lắng nghe và chia sẻ thông tin cần thiết về người bệnh một cách chính xác và hiệu quả thông qua giao tiếp bằng lời, chữ viết và phương tiện điện tử, đồng thời đảm bảo tuân thủ nguyên tắc bảo mật.
A11 Giao tiếp trong tình huống trở ngại giao tiếp như người già, trẻ em, người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói, người dân tộc
Trong tình huống giao tiếp khó khăn với người bệnh kích động hoặc những đối tượng dễ bị tổn thương, cần phải xử trí một cách nhạy bén Việc chuẩn bị tâm lý cho người bệnh và gia đình trước khi cung cấp thông tin là rất quan trọng để đảm bảo sự an toàn và hỗ trợ tốt nhất cho họ.
Bảng 3.2 cho thấy 100% bác sĩ tự tin trong các kỹ năng như bàn giao người bệnh, ghi chép diễn biến bệnh án và hội chẩn với đồng nghiệp Tuy nhiên, các kỹ năng như điều động phối hợp với các đơn vị khác (76,9%) và giao tiếp trong tình huống khó khăn (84,6%) lại ít được thực hiện và bác sĩ cũng ít tự tin Kết quả này chỉ ra sự không tương đồng giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và sự tự tin của bác sĩ.
Kỹ năng HUPH thể hiện sự tự tin mặc dù ít được thực hiện Đặc biệt, kỹ năng (A4) hợp tác hiệu quả với các bộ phận cấp cứu trong hệ thống bệnh viện cho thấy rằng, mặc dù chỉ 84,6% bác sĩ tự đánh giá là ít thực hiện, nhưng họ lại có mức độ tự tin cao lên đến 92,3% về kỹ năng này.
Trong nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác, hầu hết các bác sĩ thể hiện sự tự tin và thường xuyên áp dụng các kỹ năng này Tuy nhiên, kết quả khảo sát chỉ mang tính tương đối do thiếu chuẩn mực đánh giá cụ thể, dựa trên quan điểm cá nhân Nghiên cứu định lượng của PVS cũng cho thấy kết quả tương tự: “Do đặc thù công việc của khoa, đa số đều rất tự tin khi thực hiện nhiệm vụ” (PVS CBQL).
3.2.1.2 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ
Bảng 3.3: Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ (n = 27)
Mức độ thực hiện nhiệm vụ
Mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện chưa thường xuyên
Không tự tin Tự tin
B1 Nhận định và kiểm soát ban đầu bệnh nhân cấp cứu 1 3,8 25 96,2 1 3,8 25 96,2
B2 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân suy hô hấp cấp 1 3,8 25 96,2 1 3,8 25 96,2
B3 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngừng tuần hoàn 3 11,5 23 88,5 1 3,8 25 96,2
B4 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc giảm thể tích 4 15,4 22 84,6 1 3,8 25 96,2
B5 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc tim 2 7,7 24 92,3 6 23,1 20 76,9
B6 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn 6 23,1 20 76,9 3 11,5 23 88,5
B7 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương 7 26,9 19 73,1 6 23,1 20 76,9
B8 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân hội chứng gan thận 3 11,5 23 88,5 7 26,9 19 73,1
B9 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngộ độc 5 11,5 23 88,5 6 23,1 20 76,9
B10 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan
B11 Chẩn đoán và xử trí trạng thái động kinh 5 19,2 21 80,8 6 23,1 20 76,9
Bảng 3.3 cho thấy các bác sĩ thực hiện thường xuyên các nhiệm vụ và tự tin trong nhóm kỹ năng lâm sàng, với tỷ lệ cao nhất ở kỹ năng nhận định và kiểm soát ban đầu bệnh nhân cấp cứu (96,2%) và chẩn đoán bệnh nhân suy hô hấp cấp (96,2%) Tuy nhiên, kỹ năng chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương (73,1%) và sốc nhiễm khuẩn (76,9%) lại ít được thực hiện và có mức tự tin thấp Nghiên cứu chỉ ra sự tương đồng giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và tự tin, nhưng cũng có kỹ năng như chẩn đoán sốc tim (92,3% thực hiện, 76,9% tự tin) và chẩn đoán hội chứng gan thận (88,5% thực hiện, 73,1% tự tin) mà bác sĩ thực hiện thường xuyên nhưng lại thiếu tự tin Điều này phản ánh đặc thù công việc căng thẳng, yêu cầu cấp cứu tức thời, dẫn đến mức độ tự tin cao và tinh thần trách nhiệm của nhân viên y tế trong khoa.
3.2.2 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng lâm sàng
3.2.2.1 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng
Bảng 3.4: Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng (n = 87)
Mức độ thực hiện nhiệm vụ
Mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện chưa thường xuyên
Không tự tin Tự tin
C1 Tiếp nhận ban đầu bệnh nhân cấp cứu 6 6,8 82 93,2 3 3,4 85 96,6
C2 Điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện 29 33,0 59 67,0 12 13,6 76 86,4
C3 Tổ chức đánh giá, phân loại bệnh, triển khai cấp cứu, ổn định hoặc vận chuyển người bệnh
C4 Hợp tác tốt các bộ phận cấp cứu trong hệ thống cấp cứu của bệnh viện
C5 Bàn giao người bệnh, thực hiện y lệnh đầy đủ, chính xác 2 2,3 86 97,7 3 3,4 85 96,6
C6 Ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án 2 2,3 86 97,7 0 0 88 100
C7 Trao đổi với đồng nghiệp và lãnh đạo để phát hiện các trường hợp vượt quá khả năng giải quyết, đảm bảo an toàn cho người bệnh
C8 Giao tiếp bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời với người bệnh, gia đình và đồng nghiệp
C9 Hướng dẫn, tư vấn cho bệnh nhân và gia đình người bệnh 3 3,4 85 96,6 1 1,1 87 98,9
Lắng nghe và chia sẻ thông tin cần thiết về người bệnh một cách chính xác và hiệu quả thông qua giao tiếp bằng lời, chữ viết và phương tiện điện tử, đồng thời đảm bảo tuân thủ nguyên tắc bảo mật.
C11 Giao tiếp trong tình huống trở ngại giao tiếp như người già, trẻ em, người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói, người dân tộc
Trong tình huống giao tiếp khó khăn với người bệnh kích động hoặc những đối tượng dễ bị tổn thương, việc xử trí cần được thực hiện một cách nhạy bén Cần chuẩn bị tâm lý cho người bệnh và gia đình trước khi cung cấp thông tin, nhằm đảm bảo họ cảm thấy an toàn và được hỗ trợ.
C13 Bảo quản, sử dụng thuốc, y dụng cụ theo quy định 1 1,1 87 98,9 9 10,2 79 89,8
Trong nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác, các điều dưỡng lâm sàng thể hiện sự tự tin và thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ quan trọng như bàn giao người bệnh và thực hiện y lệnh với tỷ lệ 97,7% Họ cũng ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án (97,7%) và bảo quản, sử dụng thuốc, y dụng cụ theo quy định (98,9%) Những kỹ năng này là bắt buộc và phản ánh thực tế công việc của điều dưỡng Mặc dù hầu hết các kỹ năng đều được thực hiện với sự tự tin, nhưng cần chú ý đến kỹ năng giao tiếp trong các tình huống khó khăn, như với người già, trẻ em, hoặc những người gặp khó khăn về nghe, nhìn, nói (69,3%), cũng như xử trí trong các tình huống giao tiếp khó khăn với bệnh nhân kích động và những đối tượng dễ bị tổn thương.
HUPH cho thấy rằng 79,5% các điều dưỡng lâm sàng ít thực hiện các kỹ năng giao tiếp, dẫn đến sự thiếu tự tin trong quá trình thực hiện Điều này cho thấy rằng các kỹ năng giao tiếp là một thách thức lớn đối với họ.
Nhìn chung, điều dưỡng lâm sàng thể hiện sự tự tin và thực hiện tốt các kỹ năng giao tiếp và cộng tác Theo PVS, khoa có sự đa dạng và phong phú về bệnh, giúp điều dưỡng tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tế Tuy nhiên, nhược điểm là thời gian chăm sóc bệnh nhân hạn chế, đặc biệt vào khoảng thời gian từ 17 – 22 giờ khi lượng bệnh đông, dẫn đến việc giao tiếp và ứng xử với bệnh nhân bị ảnh hưởng Đặc thù của khoa với lượng bệnh đông và nặng yêu cầu nhân viên làm việc nhanh nhẹn và tự tin trong mọi tình huống.
3.2.2.2 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng
Bảng 3.5: Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng (n = 87)
Mức độ thực hiện nhiệm vụ
Mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện chưa thường xuyên
Không tự tin Tự tin
D1 Nhận định, kiểm soát và chăm sóc ban đầu bệnh nhân cấp cứu 7 8,0 81 92,0 0 0 88 100
D2 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân suy hô hấp 4 4,5 84 95,5 0 0 88 100
D3 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngừng tuần hoàn 4 4,5 84 95,5 1 1,1 87 98,9
D4 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc giảm thể tích 9 10,2 79 89,8 5 5,7 83 94,3
D5 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc tim 16 18,2 72 81,8 13 14,8 75 85,2
D6 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn 13 14,8 75 85,2 10 11,4 78 88,6
D7 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân chấn thương 8 9,1 80 90,9 4 4,5 84 95,5
D8 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận 15 17,0 73 83,0 11 12,5 77 87,5
D9 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngộ độc 6 6,8 82 93,2 7 8,0 81 92,0
D10 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân có trạng thái động kinh 9 10,2 79 89,8 7 8,0 81 92,0
D11 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan
D12 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hôn mê 8 9,1 80 90,9 1 1,1 87 98,9
Bảng 3.5 cho thấy rằng trong nhóm kỹ năng lâm sàng, các điều dưỡng lâm sàng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ và tự tin, đặc biệt là trong các kỹ năng cấp cứu như (D2) cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân suy hô hấp cấp (95,5%) và (D3) cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngừng tuần hoàn (95,5%) Ngược lại, các kỹ năng như (D5) cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc tim (81,8%), (D8) cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận (83%), và (D6) cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn (88,6%) được thực hiện ít thường xuyên hơn, dẫn đến sự thiếu tự tin Kết quả nghiên cứu định tính cũng xác nhận rằng đa số điều dưỡng tại khoa có kỹ năng làm việc tốt và luôn cập nhật các tiêu chuẩn cấp cứu Có sự tương đồng giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin của nhân viên trong khoa, cho thấy họ làm việc hiệu quả và tự tin.
Trong kỹ năng cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan, chỉ có 92% điều dưỡng cho rằng họ thực hiện đầy đủ và thường xuyên, nhưng 100% điều dưỡng lại tự tin vào kỹ năng này Kết quả cho thấy một số nhân viên điều dưỡng trẻ có sự tự tin thái quá trong công việc, với một số em làm việc rất tự tin nhưng lại không đạt yêu cầu khi kiểm tra lại Tuy nhiên, những trường hợp này không nhiều.
3.2.3 Những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ
3.2.3.1 Những khó khăn của bác sĩ khi thực hiện nhiệm vụ
Bảng 3.6: Những khó khăn của bác sĩ khi thực hiện nhiệm vụ (n = 27)
(1) Trang thiết bị, dụng cụ, thuốc chưa đầy đủ 18 69,2 8 30,8
(2) Nguồn nhân lực còn thiếu 20 76,9 6 23,1
(3) Hệ thống quy trình chưa rõ ràng 3 11,5 23 88,5
(4) Kinh nghiệm chuyên môn còn thiếu 10 38,5 16 61,5
(5) Áp lực từ phía bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 21 80,8 5 19,2
(6) Chưa được tập huấn, cập nhật kiến thức thường xuyên 9 34,6 17 65,4
Bảng 3.6 chỉ ra ba nguyên nhân chính gây khó khăn cho bác sĩ trong công việc: (1) Thiếu trang thiết bị, dụng cụ và thuốc (69,2%); (2) Thiếu nguồn nhân lực (76,9%); và (3) Áp lực từ bệnh nhân và người nhà (80,8%) Theo PVS lãnh đạo khoa, công việc luôn quá tải và áp lực rất lớn, đặc biệt khi bệnh nhân cấp cứu thường trong tình trạng nặng, cần thăm khám và điều trị ngay Tâm lý nôn nóng của bệnh nhân và người nhà tạo ra sức ép lớn, và tình trạng thiếu nhân lực càng làm tăng thêm áp lực này.
Khảo sát cho thấy hệ thống quy trình chuyên môn trong bệnh viện rất rõ ràng, giúp bác sĩ thực hiện nhiệm vụ một cách dễ dàng Chỉ có 11,5% bác sĩ cho rằng quy trình của bệnh viện chưa rõ ràng.
3.2.3.2 Những khó khăn của điều dưỡng khi thực hiện nhiệm vụ
Bảng 3.7: Những khó khăn của điều dưỡng khi thực hiện nhiệm vụ (n = 87)
(1) Trang thiết bị, dụng cụ, thuốc chưa đầy đủ 51 58,0 37 42,0
(2) Nguồn nhân lực còn thiếu 70 79,5 18 20,5
(3) Hệ thống quy trình chưa rõ ràng 6 6,8 82 93,2
(4) Kinh nghiệm chuyên môn còn thiếu 30 34,1 58 65,9
(5) Áp lực từ phía bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 85 96,6 3 3,4
(6) Chỉ định của bác sĩ chưa rõ ràng 22 25,0 66 75,0
(7) Chưa được tập huấn, cập nhật kiến thức thuờng xuyên 13 14,8 75 85,2
Xác định nhu cầu đào tạo liên tục
3.3.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của bác sĩ
3.3.1.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ
Bảng 3.8: Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ (n = 27)
Mức độ cập nhật/đào tạo Nhu cầu được đào tạo liên tục
Chưa được đào tạo đầy đủ Đã được cập nhật/ Đào tạo đầy đủ
Không có nhu cầu Có nhu cầu
A1 Tiếp nhận bệnh nhân ban đầu 5 19,2 21 80,8 7 26,9 19 73,1
A2 Điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện 6 23,1 20 76,9 4 15,4 22 84,6
A3 Tổ chức đánh giá, phân loại bệnh, triển khai cấp cứu, ổn định hoặc vận chuyển người bệnh
A4 Hợp tác tốt các bộ phận cấp cứu trong hệ thống cấp cứu của bệnh viện
A5 Bàn giao người bệnh, y lệnh đầy đủ, chính xác 5 19,2 21 80,8 9 34,6 17 65,4
A6 Ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án và bảng theo dõi của bác sĩ
A7 Hội chẩn với đồng nghiệp và lãnh đạo để phát hiện các trường hợp vượt quá khả năng giải quyết, đảm bảo an toàn cho người bệnh
A8 Giao tiếp bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời với người bệnh, gia đình và đồng nghiệp
A9 Hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh và gia đình người bệnh 5 19,2 21 80,8 6 23,1 20 76,9
Lắng nghe và chia sẻ thông tin cần thiết về người bệnh một cách chính xác và hiệu quả thông qua giao tiếp bằng lời, chữ viết và phương tiện điện tử, đồng thời đảm bảo tuân thủ nguyên tắc bảo mật.
A11 Giao tiếp trong tình huống trở ngại giao tiếp như người già, trẻ em, người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói, người dân tộc
Trong tình huống giao tiếp khó khăn với người bệnh kích động hoặc những đối tượng dễ bị tổn thương, việc chuẩn bị tâm lý cho cả người bệnh và gia đình là rất quan trọng trước khi cung cấp thông tin.
Bảng 3.8 cho thấy trong nhóm năng lực giao tiếp, có sự khác biệt rõ rệt giữa mức độ đào tạo và nhu cầu đào tạo Nhiều kỹ năng có mức độ đào tạo thấp nhưng lại có nhu cầu cao, như: (A11) Giao tiếp với người già, trẻ em và những người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói (65,4%); (A10) Lắng nghe và chia sẻ thông tin cần thiết về người bệnh một cách hiệu quả và bảo mật (73,1%); (A2) Điều động và phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện (76,9%); (A12) Xử trí tình huống giao tiếp khó với người bệnh kích động và dễ bị tổn thương (76,9%) PVS lãnh đạo khoa cũng nhận định rằng nhu cầu đào tạo và tự đào tạo của nhân viên rất cao, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự học và rèn luyện kiến thức hàng ngày.
Các kỹ năng bàn giao người bệnh và ghi chép diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án có tỷ lệ được đào tạo cao, lần lượt là 65,4% và 69,2% Tuy nhiên, nhu cầu đào tạo cho những kỹ năng này lại thấp, có thể do các bác sĩ đã quen thuộc và thực hiện chúng một cách thành thạo, dẫn đến việc không cần cập nhật kỹ năng.
3.3.1.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ
Bảng 3.9: Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ (n = 27)
Mức độ cập nhật/đào tạo Nhu cầu được đào tạo liên tục
Chưa được đào tạo đầy đủ Đã được cập nhật/ Đào tạo đầy đủ
Không có nhu cầu Có nhu cầu
B1 Nhận định và kiểm soát ban đầu bệnh nhân cấp cứu 3 11,5 23 88,5 5 19,2 21 80,8
B2 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân suy hô hấp cấp 3 11,5 23 88,5 5 19,2 21 80,8
B3 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngừng tuần hoàn 4 15,4 22 84,6 5 19,2 21 80,8
B4 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc giảm thể tích 4 15,4 22 84,6 5 19,2 21 80,8
B5 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc tim 4 15,4 22 84,6 4 15,4 22 84,6
B6 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn 3 11,5 23 88,5 4 15,4 22 84,6
B7 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương 6 23,1 20 76,9 6 23,1 20 76,9
B8 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân hội chứng gan thận 6 23,1 20 76,9 4 15,4 22 84,6
B9 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngộ độc 6 23,1 20 76,9 4 15,4 22 84,6
B10 Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan
B11 Chẩn đoán và xử trí trạng thái động kinh 4 15,4 22 84,6 6 23,1 20 76,9
Bảng 3.9 cho thấy mức độ đào tạo của bác sĩ trong nhóm kỹ năng lâm sàng dao động từ 80,8% đến 88,5% Ba kỹ năng lâm sàng có mức đào tạo thấp hơn là: (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương (76,9%); (B8) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân hội chứng gan thận (76,9%); và (B9) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngộ độc (76,9%) Nhu cầu đào tạo về nhóm kỹ năng này cũng dao động từ 80,8% đến 84,6%, với hai kỹ năng có nhu cầu đào tạo thấp hơn là: (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương (76,9%) và (B11) Chẩn đoán và xử trí trạng thái động kinh (76,9%) Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự tương đồng giữa mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo, với hầu hết bác sĩ đều có nhu cầu đào tạo bất kể mức độ đào tạo hiện tại Sự khác biệt chỉ xuất hiện ở kỹ năng (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương, nơi mà mặc dù mức độ thực hiện nhiệm vụ và tự tin chưa cao, nhưng nhu cầu đào tạo lại không bằng các kỹ năng khác.
Kết quả phỏng vấn sâu (PVS) cho thấy sự phù hợp với nghiên cứu định lượng, khi nhấn mạnh rằng nhân viên trong khoa luôn được cập nhật và đào tạo liên tục Cụ thể, trung bình mỗi hai tuần, khoa tổ chức buổi sinh hoạt khoa học vào sáng thứ hai, trong đó mỗi bác sĩ sẽ trình bày một chuyên đề nhằm cập nhật kiến thức và đào tạo lẫn nhau cho các đồng nghiệp trong khoa.
3.3.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng
3.3.2.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng
Bảng 3.10: Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng (n = 87)
Mức độ cập nhật/đào tạo Nhu cầu được đào tạo liên tục
Chưa được đào tạo đầy đủ Đã được cập nhật/ Đào tạo đầy đủ
Không có nhu cầu Có nhu cầu
C1 Tiếp nhận ban đầu bệnh nhân cấp cứu 1 1,1 87 98,9 18 20,5 70 79,5
C2 Điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện 12 13,6 76 86,4 17 19,3 71 80,7
C3 Tổ chức đánh giá, phân loại bệnh, triển khai cấp cứu, ổn định hoặc vận chuyển người bệnh
C4 Hợp tác tốt các bộ phận cấp cứu trong hệ thống cấp cứu của bệnh viện
C5 Bàn giao người bệnh, thực hiện y lệnh đầy đủ, chính xác 1 1,1 87 98,9 7 8,0 81 92,0
C6 Ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án 0 0 88 100 6 6,8 82 93,2
C7 Trao đổi với đồng nghiệp và lãnh đạo để phát hiện các trường hợp vượt quá khả năng giải quyết, đảm bảo an toàn cho người bệnh
C8 Giao tiếp bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời với người bệnh, gia đình và đồng nghiệp
C9 Hướng dẫn, tư vấn cho bệnh nhân và gia đình người bệnh 0 0 88 100 14 15,9 74 84,1
Lắng nghe và chia sẻ thông tin cần thiết về người bệnh một cách chính xác và hiệu quả thông qua giao tiếp bằng lời, chữ viết và phương tiện điện tử, đồng thời đảm bảo tuân thủ nguyên tắc bảo mật.
C11 Giao tiếp trong tình huống trở ngại giao tiếp như người già, trẻ em, người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói, người dân tộc
Trong tình huống giao tiếp khó khăn với người bệnh kích động hoặc những đối tượng dễ bị tổn thương, việc chuẩn bị tâm lý cho cả người bệnh và gia đình là rất quan trọng trước khi cung cấp thông tin.
C13 Bảo quản, sử dụng thuốc, y dụng cụ theo quy định 0 0 88 100 7 8,0 81 92,0
Nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác của điều dưỡng lâm sàng cho thấy được đào tạo tương đối đầy đủ với tỷ lệ trung bình đạt 93,3%, trong khi nhu cầu đào tạo vẫn cao ở mức 87% Một số kỹ năng khó vẫn có mức đào tạo thấp, như giao tiếp trong tình huống trở ngại (64,8%), xử trí trong tình huống giao tiếp khó (77,3%), và điều động, phối hợp với các đơn vị (86,4%) là những kỹ năng mà các điều dưỡng lâm sàng rất mong muốn được đào tạo thêm.
(C1) Tiếp nhận ban đầu bệnh nhân cấp cứu là các điều dưỡng lâm sàng ít có nhu cầu được đào tạo so với các kỹ năng còn lại
Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy kỹ năng giao tiếp ứng xử là rất quan trọng trong cấp cứu, bên cạnh kỹ năng chuyên môn Bệnh nhân và người nhà luôn mong muốn được chăm sóc và điều trị chu đáo Do đó, việc đào tạo và kiểm tra thường xuyên các kỹ năng giao tiếp cho nhân viên y tế là cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ.
3.3.2.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng
Bảng 3.11: Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng (n = 87)
Mức độ cập nhật/đào tạo Nhu cầu được đào tạo liên tục
Chưa được đào tạo đầy đủ Đã được cập nhật/ Đào tạo đầy đủ
Không có nhu cầu Có nhu cầu
D1 Nhận định, kiểm soát và chăm sóc ban đầu bệnh nhân cấp cứu 0 0 88 100 5 5,7 83 94,3
D2 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân suy hô hấp 1 1,1 87 98,9 7 8,0 81 92,0
D3 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngừng tuần hoàn 0 0 88 100 4 4,5 84 95,5
D4 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc giảm thể tích 1 1,1 87 98,9 3 3,4 85 96,6
D5 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc tim 1 1,1 87 98,9 3 3,4 85 96,6
D6 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn 0 0 88 100 5 5,7 83 94,3
D7 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân chấn thương 0 0 88 100 4 4,5 84 95,5
D8 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận 4 3,5 84 73,7 8 9,1 80 90,9
D9 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngộ độc 3 2,6 85 74,6 6 6,8 82 93,2
D10 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân có trạng thái động kinh 1 1,1 87 98,9 5 5,7 83 94,3
D11 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan
D12 Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hôn mê 1 1,1 87 98,9 9 10,2 79 89,8
Bảng 3.11 cho thấy nhóm kỹ năng lâm sàng của các điều dưỡng lâm sàng được đào tạo khá tốt với mức trung bình 95%, tuy nhiên nhu cầu đào tạo vẫn rất cao, đạt 93,6% Hai kỹ năng lâm sàng có mức đào tạo thấp hơn là (D8) Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận (73,7%) và (D9) Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngộ độc (74,6%) Mặc dù kỹ năng (D8) chưa được thực hiện và tự tin cao, nhưng nhu cầu đào tạo của điều dưỡng trong nghiên cứu lại không bằng các kỹ năng khác Kết quả PVS cho thấy điều dưỡng chỉ được đào tạo tại chỗ một cách thỉnh thoảng, chưa được mở rộng, trong khi lĩnh vực y tế chăm sóc con người rất đặc biệt và cần được đào tạo liên tục.
3.3.3 Những lý do ảnh hưởng đến sự tham gia đào tạo liên tục
Bảng 3.12: Những lý do ảnh hưởng đến sự tham gia đào tạo liên tục (n = 114)
(1) Không nhận thấy cần thiết và phù hợp với công việc 4 3,5 109 95,6
(3) Không đủ thông tin về khóa học 14 12,3 100 87,7
(4) Thiếu kinh phí cơ sở 21 18,4 93 81,6
(5) Giảng viên thiếu kinh nghiệm và kiến thức 7 6,1 107 93,9
(6) Các khóa tập huấn nặng lý thuyết, ít thực tế 46 40,4 68 59,6
(7) Điều kiện cơ sở vật chất lớp học không đảm bảo 3 2,6 111 97,4
Bảng 3.12 chỉ ra rằng có nhiều lý do khiến các bác sĩ và điều dưỡng viên từ chối tham gia khóa học, trong đó hai lý do chính là không đủ thời gian (38,6%) và các khóa tập huấn nặng lý thuyết, ít thực tế (40,4%) Kết quả nghiên cứu định lượng đã xác nhận rằng yếu tố thời gian là một rào cản lớn đối với sự tham gia của họ Một số ý kiến từ phỏng vấn cho thấy: “Khó khăn ở chỗ làm ca kíp, trực gác nhiều, anh em gần như mệt mỏi, về nhà còn lo cơm áo gạo tiền, con cái Em nào giỏi lắm cũng chỉ tranh thủ được khoảng 2 – 3 tiếng đọc tài liệu” và “Các buổi báo cáo khoa học hay chuyên đề đôi khi chỉ là những con số mang tính lý thuyết, không thực tế.”
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ đối tượng cho rằng điều kiện cơ sở vật chất lớp học không đảm bảo (2,6%) và không nhận thấy sự cần thiết cũng như sự phù hợp với công việc (3,5%).
3.3.4 Mong muốn của bác sĩ, điều dưỡng lâm sàng về công tác đào tạo liên tục
Bảng 3.13: Mong muốn của bác sĩ, điều dưỡng lâm sàng về công tác đào tạo liên tục (n = 114)
Số lần ĐTLT trong năm
> 3 lần hoặc theo nhu cầu 13 11,4
Thời gian đào tạo phù hợp
Hình thức đào tạo phù hợp
Học trực tiếp theo hình thức tập trung 67 58,8
Học từ xa (qua mạng, cầu truyền hình) 0 0
Kết hợp giữa trực tiếp và từ xa 47 41,2 Địa điểm đào tạo phù hợp
Các trường đào tạo y dược 7 6,1
Phương pháp đào tạo phù hợp?
Kết hợp lý thuyết và thực hành 102 89,5
Trong năm, hầu hết các bác sĩ và điều dưỡng lựa chọn phương án đào tạo 2 lần (43,9%) hoặc 3 lần (35,1%) Một chuyên gia cho biết: “Theo tôi, đào tạo hàng quý là đủ, không cần thiết phải thực hiện hàng ngày hoặc hàng tháng.”
Theo khảo sát, 57% bác sĩ và điều dưỡng lựa chọn thời gian đào tạo từ 2 đến 5 ngày, với ý kiến cho rằng "thời gian đào tạo cho một khóa ngắn ngày thì khoảng 1 tuần đổ lại là được." Chỉ có 3,5% người tham gia chọn thời gian đào tạo trên 30 ngày, cho biết rằng "thường đào tạo dài hạn là gửi đi đào tạo, đào tạo tại chỗ dài nhất là khoảng 5 ngày, ví dụ như liên tục các đợt đào tạo về kỹ năng hoặc cập nhật các kiến thức."
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả đã khảo sát thực trạng thực hiện nhiệm vụ về năng lực giao tiếp, cộng tác và kỹ năng lâm sàng của bác sĩ, điều dưỡng tại hai khoa CC, HSTC&CĐ của BVĐK tỉnh Khánh Hòa năm 2017, nhằm xác định nhu cầu đào tạo lâm sàng cho đối tượng này Thông tin định lượng được thu thập qua phiếu tự điền từ 114 đối tượng nghiên cứu, cùng với thông tin định tính từ phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và các khoa liên quan Đối tượng nghiên cứu không có sự chênh lệch rõ ràng về giới tính, với 48 nam (42,1%) và 66 nữ (57,9%), tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Kim Phượng về cán bộ cấp phòng trong hệ thống y tế công lập tại Khánh Hòa năm 2016, cho thấy không có sự khác biệt lớn về giới tính trong số cán bộ quản lý khoa phòng.
Sự tương đồng trong cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu có thể phản ánh sự bình đẳng giới hiện nay Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người trẻ, với nhóm tuổi từ 22 – 29 chiếm 49,1% và nhóm từ 30 – 39 chiếm 36,0% Độ tuổi trung bình là 31,76 ± 8,09, với độ tuổi cao nhất là 55 và thấp nhất là 22 Kết quả phỏng vấn cho thấy nhân sự trong khoa rất trẻ, có khoảng trống thế hệ do nhân viên lớn tuổi đã nghỉ hưu Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường tại Trạm Y tế xã Yên Sơn năm 2016 cũng cho thấy độ tuổi 31 – 40 chiếm 30,3%, và 20 – 30 chiếm 24,85% Với hơn 50% là người trẻ, họ có sức khỏe, năng động và nhiệt tình, tạo ra nhu cầu và khả năng học tập cao.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các cán bộ mới ra trường làm việc tại bệnh viện, dẫn đến kinh nghiệm chuyên môn còn hạn chế; trong đó, 40,4% có kinh nghiệm dưới 5 năm và chỉ 5,3% có trên 20 năm Phân bố kinh nghiệm chuyên môn phù hợp với độ tuổi của nhóm nghiên cứu, cho thấy nhu cầu học tập và nâng cao trình độ liên tục là rất cao Các ý kiến từ cán bộ quản lý cũng khẳng định rằng nhân lực trẻ, ít kinh nghiệm sẽ có nhu cầu đào tạo liên tục lớn.
Nhóm đối tượng ĐDLS có trình độ chuyên môn cao, đạt 76,3%, gấp ba lần so với tỷ lệ bác sĩ chỉ 27% Trình độ học vấn của nhóm này cũng phản ánh sự phân bố của trình độ chuyên môn, với tỷ lệ người có trình độ dưới đại học chiếm ưu thế (trung cấp 48,2% và cao đẳng 24,6%), cao gấp ba lần so với nhóm có trình độ từ đại học trở lên (đại học 19,3% và sau đại học 7,9%) Sự chênh lệch về số lượng bác sĩ so với ĐDLS một phần là do quy định về cơ cấu nhân lực trong bệnh viện.
Tỷ lệ nhân viên của khoa HSTC&CĐ cao hơn khoa CC (60,5% so với 39,5%), điều này phản ánh tính chất công việc khác nhau giữa hai khoa Bệnh nhân tại khoa HSTC&CĐ thường có tình trạng nặng hơn, do đó cần nhiều nhân sự hơn để đảm bảo hoạt động hiệu quả Một cán bộ quản lý cũng nhận định rằng mức độ làm việc của nhân viên tại khoa HSTC&CĐ rất căng thẳng, với thái độ làm việc luôn khẩn trương nhằm phục vụ tốt công tác khám chữa bệnh.
Thực trạng thực hiện nhiệm vụ
4.2.1 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ, mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ của bác sĩ
4.2.1.1 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ
Nghiên cứu cho thấy các bác sĩ thường xuyên thực hiện nhiệm vụ trong nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác, đặc biệt là các kỹ năng quan trọng như bàn giao người bệnh và y lệnh một cách đầy đủ, chính xác Họ cũng ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án và bảng theo dõi, đồng thời thực hiện hội chẩn với đồng nghiệp và lãnh đạo để phát hiện các trường hợp bất thường.
Các bác sĩ tại BVĐK tỉnh Khánh Hòa thường xuyên thực hiện các kỹ năng chuyên môn cơ bản, nhưng ít chú trọng đến các kỹ năng giao tiếp trong những tình huống khó khăn Những năng lực như điều động, phối hợp với các đơn vị khác và giao tiếp với bệnh nhân gặp khó khăn về nghe, nhìn, nói, hoặc những đối tượng dễ bị tổn thương thường không được thực hiện nhiều Điều này một phần do thực tế là bệnh viện hạng I này chủ yếu tiếp nhận bệnh nhân từ bên ngoài và ít khi chuyển bệnh nhân đi, dẫn đến việc các bác sĩ tập trung vào kỹ năng chuyên môn hơn là kỹ năng giao tiếp.
Kết quả khảo sát cho thấy có ít sự tương đồng giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin của các bác sĩ Chỉ một số kỹ năng như điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện, giao tiếp trong tình huống khó khăn, và xử trí trong các tình huống giao tiếp khó mới thể hiện mối liên hệ này Đặc biệt, kỹ năng hợp tác với các bộ phận cấp cứu trong hệ thống cấp cứu của bệnh viện được đánh giá là có mức độ tự tin cao, mặc dù 15,4% bác sĩ tự nhận là ít thực hiện Điều này có thể do họ hiểu sai về hình thức phối hợp, không nhận ra rằng sự hợp tác có thể diễn ra qua nhiều cách khác nhau Sự tự tin cao trong kỹ năng này cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp thường xuyên giữa các bộ phận trong khoa cấp cứu.
HUPH hợp và tiếp nhận bệnh nhân, vì thế họ phải thường xuyên phối hợp các bộ phận để xử trí kịp thời
Nhìn chung, hầu hết bác sĩ đều thể hiện năng lực giao tiếp và cộng tác một cách đầy đủ và tự tin Tuy nhiên, kết quả khảo sát chỉ mang tính tương đối do thiếu chuẩn mực đánh giá cụ thể, và chỉ dựa trên quan điểm cá nhân Kết quả từ việc thực hiện phỏng vấn sâu cũng cho thấy sự phù hợp tương tự.
4.2.1.2 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ Ở nhóm kỹ năng lâm sàng thì các BS hầu như thực hiện tốt các nhiệm vụ, đạt tỷ lệ khá cao (> 80%) Trong đó, các nhóm kỹ năng được hầu hết các BS thực hiện thường xuyên nhất: (B1) Nhận định và kiểm soát ban đầu bệnh nhân cấp cứu; (B2) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân suy hô hấp cấp; (B5) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc tim Khi thực hiện công tác chuyên môn, do đặc thù công việc ở 2 khoa nên các
Theo khảo sát, các bác sĩ thường xuyên thực hiện nhiều kỹ năng, nhưng nhóm kỹ năng như (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương và (B6) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn lại ít được áp dụng Nguyên nhân có thể do các bác sĩ ít gặp trường hợp bệnh nhân có triệu chứng này trong công việc chuyên môn, dẫn đến mức độ thực hiện nhiệm vụ thấp Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và sự tự tin của bác sĩ; những kỹ năng lâm sàng được thực hiện thường xuyên như (B1) Nhận định và kiểm soát ban đầu bệnh nhân cấp cứu và (B2) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân suy hô hấp cấp đi kèm với sự tự tin cao Ngược lại, các kỹ năng ít được thực hiện như (B6) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương lại đi kèm với mức độ tự tin thấp Một số kỹ năng như (B5) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân sốc tim có 92,3% bác sĩ cho rằng thực hiện thường xuyên nhưng chỉ 76,9% tự tin, tương tự với (B8) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân hội chứng gan thận với 88,5% bác sĩ thực hiện đầy đủ nhưng chỉ 73,1% tự tin, cho thấy đây là những kỹ năng khó.
HUPH cho thấy rằng mặc dù các bác sĩ thường xuyên gặp phải những trường hợp bệnh nhân khó khăn, họ vẫn cảm thấy thiếu tự tin trong việc thực hiện các kỹ năng lâm sàng Điều này xuất phát từ đặc thù công việc với áp lực cao và yêu cầu cấp cứu tức thời, dẫn đến mức độ tự tin và thực hiện nhiệm vụ của nhân viên y tế tại khoa rất cao Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016) mặc dù không cùng mục tiêu nhưng cũng cho thấy kết quả tương tự về mức độ tự tin và thực hiện nhiệm vụ, đồng thời chỉ ra rằng mức độ tự tin trong quản lý y tế cơ sở tương ứng với tần suất thực hiện nhiệm vụ.
4.2.2 Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng lâm sàng
4.2.2.1 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng
Nghiên cứu cho thấy các điều dưỡng lâm sàng (ĐDLS) thực hiện tốt nhiệm vụ trong nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác, đặc biệt là các kỹ năng như bàn giao người bệnh, ghi chép diễn biến vào hồ sơ bệnh án, và bảo quản, sử dụng thuốc theo quy định Điều này phản ánh thực tế rằng những kỹ năng này là bắt buộc và thường xuyên được áp dụng ĐDLS cũng thể hiện sự tự tin cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ này Tuy nhiên, cần chú ý đến các kỹ năng giao tiếp trong tình huống khó khăn, như với người già, trẻ em, hoặc những người gặp khó khăn về nghe, nhìn, nói, cũng như xử trí trong các tình huống giao tiếp khó khăn với bệnh nhân kích động và những đối tượng dễ bị tổn thương.
Nghiên cứu cho thấy rằng các điều dưỡng viên (ĐDLS) thường thiếu tự tin trong việc thực hiện các kỹ năng cần thiết, mặc dù họ thực hiện chúng khá thường xuyên Cụ thể, 98,8% ĐDLS bảo quản và sử dụng thuốc theo y lệnh, nhưng chỉ có 89,8% cảm thấy tự tin với công việc này Điều này có thể được giải thích bởi quan điểm chủ quan của họ Ngoài ra, kỹ năng điều động và phối hợp với các đơn vị khác chỉ được thực hiện bởi 86,4% ĐDLS, mặc dù họ tự tin khi thực hiện Đặc thù của lĩnh vực cấp cứu và hồi sức khiến ĐDLS phải chịu sự chỉ đạo của bác sĩ và thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân trong tình huống khó khăn, điều này ảnh hưởng đến sự tự tin của họ Tuy nhiên, khi được lãnh đạo bởi các PVS, ĐDLS trong các khoa này thường thể hiện sự tự tin và trách nhiệm cao trong công việc Tổng quan, nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác của ĐDLS cho thấy họ thường xuyên thực hiện và có mức độ tự tin khá cao.
4.2.2.2 Mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng
Theo nghiên cứu của BS, ĐDLS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong nhóm kỹ năng lâm sàng, đặc biệt là cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân suy hô hấp cấp (D2) và ngừng tuần hoàn (D3) Do đặc thù của khoa CC và khoa HSTC&CĐ, ĐDLS thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân có triệu chứng này, dẫn đến việc họ thực hiện các kỹ năng này một cách thường xuyên Ngược lại, nhóm kỹ năng cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân sốc tim (D5) ít được thực hiện hơn.
Cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận và sốc nhiễm khuẩn là những kỹ năng khó, yêu cầu trình độ chuyên môn cao, do đó tỷ lệ thực hiện ở bác sĩ sẽ cao hơn điều dưỡng Kỹ năng cấp cứu bệnh nhân ngừng hô hấp và tuần hoàn được chú trọng đào tạo, và điều dưỡng cũng tự tin với những kỹ năng này Nghiên cứu cho thấy có sự tương đồng giữa mức độ thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin; những kỹ năng lâm sàng thường xuyên thực hiện như cấp cứu bệnh nhân suy hô hấp và ngừng tuần hoàn khiến điều dưỡng tự tin hơn Ngược lại, các kỹ năng ít thực hiện như cấp cứu bệnh nhân sốc tim và hội chứng gan thận lại kém tự tin Một số kỹ năng như nhận định, kiểm soát và chăm sóc ban đầu bệnh nhân cấp cứu, mặc dù chưa thực hiện thường xuyên, nhưng điều dưỡng vẫn rất tự tin Sự tự tin là cần thiết, nhưng quá tự tin mà không có chuyên môn vững chắc có thể ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và điều trị.
4.2.3 Những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ
Nghiên cứu chỉ ra ba nguyên nhân chính gây khó khăn cho bác sĩ và điều dưỡng là: thiếu trang thiết bị, dụng cụ và thuốc; thiếu nguồn nhân lực; và áp lực từ bệnh nhân cùng người nhà Trong bối cảnh bệnh viện nhà nước, việc đầu tư vào trang thiết bị và cơ sở vật chất vẫn còn hạn chế.
Bệnh viện HUPH đang đối mặt với nhiều thách thức do nguồn kinh phí hạn hẹp, dẫn đến thiếu thốn phương tiện, dụng cụ và thuốc men cần thiết cho công tác chuyên môn Ngân sách cho nhân sự cũng bị giới hạn, khiến số lượng nhân viên y tế trong khoa không đủ để đáp ứng nhu cầu, dẫn đến tình trạng quá tải Mỗi nhân viên phải chăm sóc cho nhiều bệnh nhân, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và sự hài lòng của bệnh nhân cùng người nhà Đặc thù công việc tiếp nhận bệnh nhân nặng và cấp cứu tạo ra áp lực lớn, khiến các bác sĩ và điều dưỡng gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Xác định nhu cầu đào tạo liên tục
4.3.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của bác sĩ
4.3.1.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của bác sĩ Đối với nhóm năng lực giao tiếp, cộng tác, nhìn vào kết quả nghiên cứu ta có thể thấy chỉ số về mức độ đào tạo đầy đủ của bác sĩ ở nhóm năng lực này chưa thực sự cao Mức độ được đào tạo đẩy đủ dao động trong khoảng 76,9% – 88,5%, tuy nhiên có một số kỹ năng có mức đào tạo đầy đủ khá thấp: (A11) Giao tiếp trong tình huống trở ngại giao tiếp như người già, trẻ em, người gặp khó khăn về nghe – nhìn – nói, người dân tộc; (A10) Lắng nghe, chia sẻ chính xác, có hiệu quả các thông tin cần thiết về người bệnh qua trao đổi bằng lời, chữ viết, phương tiện điện tử và không vi phạm nguyên tắc bảo mật Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện nhiệm vụ tương đồng với nhu cầu đào tạo, các nhóm năng lực bác sĩ thường xuyên thực hiện thì có mức nhu cầu đào tạo thấp: (A5) Bàn giao người bệnh, y lệnh đầy đủ, chính xách; (A6) Ghi chép đầy đủ diễn biến của người bệnh vào hồ sơ bệnh án và bảng theo dõi của bác sĩ Ngược lại các năng lực yêu cầu khả năng xử trí tốt nhưng chưa được đào tạo đầy đủ thì có nhu cầu đào tạo cao: (A2) Điều động, phối hợp với các đơn vị trong và ngoài bệnh viện; (A10) Lắng nghe, chia sẻ chính xác, có hiệu quả các thông tin cần thiết về người bệnh qua trao đổi bằng lời, chữ viết,
HUPH sử dụng phương tiện điện tử mà không vi phạm nguyên tắc bảo mật Giao tiếp trong các tình huống khó khăn như với người già, trẻ em, và những người gặp khó khăn về nghe, nhìn, nói là rất quan trọng Việc xử trí trong các tình huống giao tiếp khó, như với bệnh nhân kích động và những đối tượng dễ bị tổn thương, cần chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân và gia đình trước khi cung cấp thông tin Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy không có sự tương đồng giữa mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo; một số kỹ năng được đào tạo chưa đầy đủ nhưng lại ít có nhu cầu, trong khi một số kỹ năng khác đã được đào tạo đầy đủ lại ít được quan tâm Điều này có thể do quan điểm chủ quan của đối tượng nghiên cứu, cho rằng những kỹ năng thường xuyên thực hiện cần được cập nhật nhiều hơn Kết quả tương tự cũng được ghi nhận từ các cán bộ lãnh đạo khoa, cho thấy bác sĩ thường tự đào tạo và có nhu cầu đào tạo cao Môi trường làm việc áp lực đã thúc đẩy nhân viên có ý thức và mong muốn nâng cao khả năng giao tiếp với bệnh nhân và đồng nghiệp.
4.3.1.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục về các kỹ năng lâm sàng của bác sĩ Ở nhóm kỹ năng lâm sàng thì mức độ được đào tạo của các BS, qua khảo sát dao động trong khoảng 80,8% – 88,5% Có 3 kỹ năng lâm sàng có mức đào tạo thấp hơn các kỹ năng khác đó là: (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương; (B8) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân hội chứng gan thận; (B9) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân ngộ độc Các kỹ năng này thuộc về kỹ năng khó, ít thực hiện nên mức độ được đào tạo và cập nhật chưa được đầy đủ Nhu cầu đào tạo về nhóm kỹ năng lâm sàng của BS cũng dao động từ 80,8% – 84,6%, có 2 kỹ năng có nhu cầu đào tạo thấp hơn: (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương; (B11) Chẩn đoán và xử trí trạng thái động kinh Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự tương đồng giữa mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo Hầu hết đều có nhu cầu được đào tạo mà không phụ thuộc vào mức độ được đào tạo của các kỹ năng Ở đây chỉ tìm thấy sự khác biệt ở kỹ năng (B7) Chẩn đoán và xử trí bệnh nhân chấn thương, tuy mức độ
Mặc dù HUPH chưa thực hiện nhiệm vụ ở mức cao và mức độ tự tin cũng như đào tạo chưa đạt yêu cầu, nhưng nhu cầu đào tạo của các bác sĩ trong nghiên cứu lại không cao như các kỹ năng khác Điều này có thể do sự ngẫu nhiên trong mẫu nghiên cứu và quan điểm cá nhân của đối tượng Theo ý kiến của các lãnh đạo khoa, hầu hết nhân viên, không chỉ bác sĩ hay điều dưỡng, đều được bệnh viện tổ chức đào tạo khoảng 2 tuần/lần thông qua các buổi sinh hoạt khoa học Mỗi bác sĩ trong khoa cũng phải báo cáo chuyên đề hàng tuần để cập nhật kiến thức cho nhân viên Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016), cho thấy 100% trưởng Trạm Y tế xã và 99,25% cán bộ Trạm Y tế xã mong muốn được đào tạo trong giai đoạn 2016 – 2020.
4.3.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng
4.3.2.1 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các năng lực giao tiếp, cộng tác của điều dưỡng lâm sàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDLS được đào tạo tốt trong nhóm năng lực giao tiếp và cộng tác, với tỷ lệ đào tạo các kỹ năng đơn giản đạt từ 96,6% đến 100% Tuy nhiên, một số kỹ năng khó như giao tiếp trong tình huống trở ngại (C11) và xử trí trong tình huống giao tiếp khó (C12) có mức đào tạo thấp Đặc biệt, không có sự tương đồng giữa mức độ đào tạo và nhu cầu đào tạo, khi hầu hết đều mong muốn được đào tạo thêm, đặc biệt là các năng lực yêu cầu khả năng xử trí tốt như giao tiếp với người gặp khó khăn và trao đổi với đồng nghiệp để đảm bảo an toàn cho người bệnh.
Trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe, việc xử trí trong tình huống giao tiếp khó khăn với người bệnh kích động và các đối tượng dễ bị tổn thương là rất quan trọng Để đảm bảo chất lượng điều trị, cần chuẩn bị tâm lý cho người bệnh và gia đình trước khi cung cấp thông tin Nhu cầu đào tạo kỹ năng này là cần thiết, vì nếu không được đào tạo đầy đủ, điều dưỡng sẽ gặp khó khăn trong các tình huống tương tự Mặc dù nhóm năng lực điều dưỡng đã thực hiện các nhiệm vụ như bàn giao người bệnh, thực hiện y lệnh và ghi chép diễn biến bệnh nhân thường xuyên, nhưng vẫn có nhu cầu cao về đào tạo để nâng cao kỹ năng chuyên môn Điều này cho thấy sự thiếu tự tin trong công việc của họ, tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2010) về nhu cầu đào tạo trong công tác cộng đồng và quản lý tại các Trạm Y tế.
4.3.2.2 Mức độ được đào tạo và nhu cầu đào tạo liên tục các kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng lâm sàng
Nhóm kỹ năng lâm sàng của điều dưỡng viên được đào tạo tốt, với tỷ lệ đào tạo từ 97,7% đến 100% Tuy nhiên, hai kỹ năng có mức đào tạo thấp hơn là cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận (D8) và cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân ngộ độc (D9) Nhu cầu đào tạo về nhóm kỹ năng lâm sàng rất cao, dao động từ 92% đến 96,6%, với ba kỹ năng có nhu cầu thấp hơn: cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan (D11), cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hôn mê (D12), và cấp cứu và chăm sóc bệnh nhân hội chứng gan thận (D8) Mặc dù kỹ năng D8 có mức độ thực hiện, tự tin và đào tạo chưa cao, nhưng nhu cầu đào tạo của điều dưỡng viên cho kỹ năng này vẫn không bằng các kỹ năng khác, cho thấy đây là một kỹ năng khó và đòi hỏi trình độ cao.
HUPH có độ chuyên môn cao, dẫn đến việc ĐDLS ít được thực hiện và nhu cầu đào tạo nâng cao tay nghề không cao Trong quá trình phỏng vấn, các cán bộ lãnh đạo khoa chỉ nêu ra yêu cầu chung cho công tác ĐTLT mà chưa đi sâu vào từng kỹ năng lâm sàng Kết quả nghiên cứu phản ánh ý kiến chủ quan và không thể kiểm soát hết thực tế Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy sự tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016), khi đội ngũ điều dưỡng và kỹ thuật viên tại Trạm Y tế xã mong muốn được đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2010) cũng cho thấy rằng nhiệm vụ chuyên môn vẫn được đội ngũ điều dưỡng ưu tiên cao.
4.3.3 Những lý do ảnh hưởng đến sự tham gia đào tạo liên tục
Nhiều bác sĩ và điều dưỡng lâm sàng từ chối tham gia khóa học do hai lý do chính: thiếu thời gian và các khóa tập huấn thường nặng về lý thuyết, ít thực hành.
Do đặc thù công việc, các bác sĩ và điều dưỡng viên phải làm việc theo ca, dẫn đến tình trạng mệt mỏi do khối lượng bệnh nhân đông và chủ yếu là bệnh nặng Thời gian hạn chế do công việc và gia đình khiến họ khó tham gia các khóa học, mặc dù rất mong muốn cập nhật kiến thức mới Thêm vào đó, những buổi hội thảo và báo cáo chuyên đề thường mang tính lý thuyết, không thu hút được sự quan tâm của nhân viên Trong năm qua, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức nhiều khóa học cấp cứu cho bác sĩ và điều dưỡng, nhưng chủ yếu là lý thuyết, ít thực hành, khiến cho họ không hứng thú với việc học tập.
4.3.4 Mong muốn và lý do cần được đào tạo liên tục
4.3.4.1 Mong muốn được đào tạo liên tục
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều mong muốn được đào tạo liên tục, cho thấy tinh thần học hỏi của các bác sĩ và điều dưỡng là rất cao nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh Các cán bộ quản lý khoa nhận định rằng đào tạo liên tục là trách nhiệm và quy định bắt buộc, với yêu cầu mỗi nhân viên phải hoàn thành 24 giờ đào tạo trong vòng 2 năm và có giấy chứng nhận Bệnh viện đã triển khai phần mềm quản lý để theo dõi tình hình đào tạo, giúp nhân viên nhận thức rõ tầm quan trọng của việc này Họ không chỉ tuân thủ quy định của bệnh viện và Bộ Y tế mà còn mong muốn nâng cao kiến thức chuyên môn Ngoài những kiến thức bắt buộc, nhiều bác sĩ và điều dưỡng còn có nhu cầu học hỏi thêm để cải thiện năng lực bản thân và phục vụ công việc tốt hơn Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng hầu hết nhân viên ở mọi trình độ đều khao khát được đào tạo liên tục.
Đối tượng nghiên cứu cho thấy rằng số lần đào tạo liên tục trong năm chủ yếu là 2 lần (43,9%) hoặc 3 lần (35,1%) Nhân viên y tế cần được cập nhật kiến thức và nâng cao tay nghề, nhưng do thời gian hạn hẹp và tính chất công việc nặng nhọc, họ chỉ cần đào tạo vài lần trong năm Kết quả này khác với nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016), khi mà đa số chỉ cần 1 lần đào tạo trong năm Sự khác biệt này có thể hiểu được do nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường tập trung vào cán bộ Trạm Y tế xã, nơi công việc nhẹ nhàng hơn và nhu cầu cập nhật kiến thức không cao Ngược lại, cán bộ y tế trong lĩnh vực Cấp cứu - Hồi sức tích cực và chống độc có nhu cầu đào tạo cao hơn do áp lực công việc và bệnh nhân nặng.
Thời gian đào tạo phù hợp: có 57% đối tượng nghiên cứu chọn phương án đào tạo trong khoảng thời gian từ 2 – 5 ngày; chỉ 3,5% chọn thời gian đào tạo trên
Trong bối cảnh thời gian hạn hẹp và chính sách đào tạo tại bệnh viện chủ yếu là ngắn hạn, việc tổ chức các khóa học dài ngày cho bác sĩ chỉ diễn ra trong những trường hợp đặc biệt nhằm nâng cao năng lực Hầu hết các bệnh viện hiện nay kết hợp với Trung tâm cấp cứu 115 của Sở Y tế để tổ chức đào tạo ngắn hạn, mời giảng viên về giảng dạy Điều này dẫn đến nhu cầu đào tạo ngắn ngày từ đội ngũ điều dưỡng, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Nghiên cứu cũng cho thấy rằng phần lớn cán bộ Trạm Y tế lựa chọn thời gian khóa học từ 5 – 7 ngày, phù hợp với kết quả của Nguyễn Đức Trường (2016).
Hình thức đào tạo phù hợp trong ngành y là học trực tiếp, với 58,8% đối tượng nghiên cứu lựa chọn hình thức này, trong khi không ai chọn học từ xa do tính chất đặc thù và rủi ro liên quan đến tính mạng con người Học tập trung không chỉ giúp nhân viên y tế trao đổi kinh nghiệm mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc học Tuy nhiên, do quỹ thời gian hạn hẹp, phương án đào tạo kết hợp giữa hình thức tập trung và từ xa đang được nhiều người lựa chọn Về địa điểm đào tạo, 92,1% đối tượng nghiên cứu chọn học tại bệnh viện, vì điều này thuận tiện cho công việc và đi lại Các bác sĩ và điều dưỡng thường gặp khó khăn trong việc sắp xếp thời gian tham gia khóa học do đặc thù công việc và chính sách tài chính của bệnh viện không hỗ trợ đào tạo xa Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016) cũng nhấn mạnh rằng địa điểm học nên được mở tại Trung tâm y tế huyện và BVĐK huyện để tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại.
Phương pháp đào tạo kết hợp giữa lý thuyết và thực hành được 89,5% đối tượng nghiên cứu lựa chọn, cho thấy đây là phương pháp tối ưu để tiếp thu kiến thức mới và ứng dụng hiệu quả Đào tạo cần phải đáp ứng đúng nhu cầu của bác sĩ và điều dưỡng, tránh việc chỉ tuân thủ quy định về thời gian mà không đạt hiệu quả cao Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào tính thiết thực của nội dung giảng dạy và trình độ giảng viên, không chỉ dựa vào việc thực hiện đủ thời gian đào tạo theo quy định của Bộ Y tế Kết quả từ các cuộc phỏng vấn với cán bộ lãnh đạo khoa cũng khẳng định nhận định này.
Bàn luận về phương pháp nghiên cứu
4.4.1 Ưu điểm của nghiên cứu
Nghiên cứu này có ưu điểm là khảo sát một vấn đề mới, không theo lối mòn của các nghiên cứu trước, đồng thời tuân thủ định hướng của chủ đề Mặc dù còn mới, nghiên cứu có thể làm tiền đề cho các nghiên cứu tương tự ở nhiều địa bàn khác nhau, từ đó xây dựng kế hoạch và chiến lược đào tạo phù hợp cho các bác sĩ và điều dưỡng Lĩnh vực này hiện rất quan trọng trong điều trị, do đó nhu cầu đào tạo lâm sàng cũng cần được chú trọng Đây là lý do chính để tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu này.
Nghiên cứu đã triển khai các biện pháp nhằm giảm thiểu sai số thông tin, bao gồm việc xây dựng bộ câu hỏi tự điền và bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu với sự góp ý từ các chuyên gia trong lĩnh vực CC, HSTC&CĐ Bộ công cụ này đã được thử nghiệm và điều chỉnh trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức Các phiếu điều tra được kiểm tra ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn, và nếu thông tin thu thập chưa đầy đủ hoặc không hợp lý, nghiên cứu viên sẽ yêu cầu đối tượng điều chỉnh, bổ sung Trước khi thu thập dữ liệu, nghiên cứu viên đã giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu, nhấn mạnh rằng nó không nhằm đánh giá xếp loại thi đua của các BS, ĐDLS mà chỉ để đánh giá nhu cầu đào tạo của họ, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch ĐTLT.
4.4.2 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang nên chỉ cho kết quả tại thời điểm nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng được thực hiện với cỡ mẫu nhỏ và đặc tính không đồng nhất, do đó không thể đại diện cho tổng thể Mục đích chính của nghiên cứu là khảo sát và đánh giá thực trạng thực hiện năng lực chuyên môn.
Khi nghiên cứu BS và ĐDLS, kết quả thường mang tính chủ quan do mẫu không có đặc tính tương đồng Việc xây dựng bộ câu hỏi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm những điểm chung giữa hai chuyên ngành: CC và HSTC&CĐ.
Nghiên cứu định tính chỉ tập trung vào đối tượng cán bộ quản lý (CBQL) mà không phỏng vấn các đối tượng chính như bác sĩ (BS) và điều dưỡng lâm sàng (ĐDLS), dẫn đến kết quả nghiên cứu chưa phản ánh đúng nhu cầu thực tế của các đối tượng này.
Việc tiếp cận đối tượng quản lý cấp cao và bác sĩ gặp nhiều khó khăn, khiến cho đối tượng nghiên cứu không có nhiều thời gian dành cho nghiên cứu viên Do đó, chất lượng của bộ câu hỏi tự điền và băng ghi âm thu thập được chưa đạt yêu cầu cao.
Nghiên cứu vấn đề còn khá mới nên không có đủ nguồn tài liệu tham khảo để so sánh, đối chiếu
4.4.3 Định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng địa bàn và đối tượng nghiên cứu, tập trung vào các bác sĩ và điều dưỡng lâm sàng tại các bệnh viện trong tỉnh Cần xác định rõ ràng các phân nhóm giữa bác sĩ và điều dưỡng, cũng như tách biệt giữa hai khoa cấp cứu và hồi sức tích cực Để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, cỡ mẫu cần phải lớn, từ đó có thể đưa ra những kết luận chính xác và xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp.