BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG PHẠM VĂN THẮNG THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM VĂN THẮNG
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN NHI HẢI DƯƠNG
Trang 3ĐDCĐ Điều dưỡng cao đẳng
ĐDĐH Điều dưỡng đại học
ĐDTC Điều dưỡng trung cấp
ĐDV Điều dưỡng viên
ĐTLT Đào tạo liên tục
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
LỜI CẢM ƠN viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Tiêu chuẩn chức danh và chức năng, nhiệm vụ của ĐD tại Việt Nam 5
1.2.1 Nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo bồi dưỡng 5
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 6
1.2.3 Thực trạng nhân lực điều dưỡng: 7
1.3 Các văn bản chính sách liên quan đến công tác đào tạo liên tục 8
1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế 8
1.3.2 Quy định liên quan đến công tác đào tạo liên tục 10
1.3.3 Đào tạo liên tục cán bộ y tế trên thế giới 10
1.3.4 Đào tạo liên tục cán bộ y tế ở Việt Nam 11
1.4 Nhu cầu đào tạo và phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo 13
1.4.1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế 13
1.4.2 Phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế 13
1.5 Một số nghiên cứu về thực hiện nhiệm vụ và đánh giá nhu cầu đào tạo của Điều dưỡng tại Bệnh viện 15
1.6 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu 20
1.6.1 Thông tin chung về Bệnh viện Nhi Hải Dương 20
1.6.2 Cơ cấu tổ chức: 20
1.6.3 Nhiệm vụ của Bệnh viện: 20
1.6.4 Công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
HUPH
Trang 52.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 24
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.4.1 Nghiên cứu định lượng 25
2.4.2 Nghiên cứu định tính 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 26
2.5.2 Thu thập số liệu định tính: 27
2.6 Biến số nghiên cứu 28
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 1) 28
2.6.2 Biến số và chủ đề nghiên cứu định tính (Phụ lục 2): 29
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: 29
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 30
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu, sai số 30
2.9.2 Biện pháp khắc phục 30
2.10 Các bước tiến hành nghiên cứu: 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thực hiện công tác ĐTLT của Bệnh viện Nhi Hải Dương 33
3.3 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng 41
3.4 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng 50
3.5 Nhu cầu về tổ chức khóa đào tạo liên tục của điều dưỡng 57
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 59
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 59
4.2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng 59
4.2.1 Thực hiện các nhiệm vụ chung cơ bản của điều dưỡng 59
4.2.2 Thực hiện các kỹ thuật chung cơ bản của điều dưỡng 60
HUPH
Trang 64.2.3 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Hồi sức cấp cứu 61
4.2.4 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Ngoại 62
4.2.5 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa Nội 63
4.3 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng tại Bệnh viện 64
4.3.1 Các lĩnh vực ưu tiên đào tạo của ĐD tại Bệnh viện 64
4.3.2 Nhu cầu về tổ chức khóa đào tạo liên tục 68
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 70
5.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng 70
5.2 Nhu cầu đào tạo liên tục: 70
CHƯƠNG 6 KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 77
PHỤ LỤC 2:CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 84
PHỤ LỤC 3: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤCCỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNGTẠI BỆNH VIỆN 85
PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 91
PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM LẦN 1 93
PHỤ LỤC 6: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM LẦN 2 94
HUPH
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Quy trình xác định nhu cầu đào tạo 14Hình 2 Khung lý thuyết thực trạng thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng 22
HUPH
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về điều dưỡng tại các khoa lâm sàng 32
Bảng 3.2: Số lượt điều dưỡng đã tham gia đào tạo của Bệnh viện năm 2016 33
Bảng 3.3: Lĩnh vực mà điều dưỡng của Bệnh viện đã tham gia đào tạo trong các năm 2014 – 2016 34
Bảng 3.4: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về nhiệm vụ chung cơ bản 36
Bảng 3.5: Mức độ ĐD đã được đào tạo về chuyên khoa Hồi sức cấp cứu 38
Bảng 3.6: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về chuyên khoa Ngoại 39
Bảng 3.7: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về chuyên khoa Nội 40
Bảng 3.8: Mức độ thực hiện nhiệm vụ chung cơ bản của ĐD 41
Bảng 3.9: Mức độ thực hiện và mức độ tự tin thực hiện kỹ thuật chung cơ bản của ĐD 43
Bảng 3.10: Mức độ thực hiện và mức độ tự tin thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Hồi sức cấp cứu 45
Bảng 3.11: Mức độ thực hiện và mức độ tự tin thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Ngoại 47
Bảng 3.12: Mức độ thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Nội 49
Bảng 3.13 Mong muốn được ĐTLT của ĐD về kỹ thuật có mức độ tự tin thấp 51 Bảng 3.14 Mong muốn được ĐTLT của ĐD về kỹ thuật chưa được cập nhật/đào tạo đầy đủ 52 HUPH
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thời gian, địa điểm tham gia các khóa ĐTLT các năm gần đây 35
Biểu đồ 2: Mức độ điều dưỡng đã được cập nhật/đào tạo đầy đủ về các kỹ thuật chung cơ bản 37
Biểu đồ 3: Mức độ tự tin về thực hiện nhiệm vụ chung cơ bản của ĐD 42
Biểu đồ 4: Các lĩnh vực ĐD mong muốn được ĐTLT 50
Biểu đồ 5: Mong muốn được ĐTLT của ĐD về lĩnh vực chuyên môn cơ bản 53
Biểu đồ 6: Mong muốn được ĐTLT của ĐD về chuyên khoa Hồi sức cấp cứu 54
Biểu đồ 7: Mong muốn được ĐTLT của ĐD về chuyên khoa Ngoại 55
Biểu đồ 8: Mong muốn được ĐTLT của ĐD về chuyên khoa Nội 56
Biểu đồ 9: Các mong muốn về công tác tổ chức đào tạo liên tục 57
HUPH
Trang 10LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn, học viên
đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của Ban Lãnh đạo Bệnh viện Nhi Hải Dương, các thầy cô Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, các bạn học viên lớp Quản lý bệnh viện khoá 8 và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, các khoa, phòng bộ môn, các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong hai năm học qua
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới 2 giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Hồng Sơn và TS Nguyễn Thị Hoài Thu đã tận tình hướng dẫn khoa học và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích cũng như kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Lãnh đạo Bệnh viện Nhi Hải Dương
đã tạo điều kiện để tôi tham gia khóa học này, tôi xin cảm ơn tập thể Phòng Tổ chức cán bộ cùng toàn thể các anh, chị và các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên lớp Quản lý bệnh viện khoá 8 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 8/2017 nhằm mô tả thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật và xác định nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) của điều dưỡng (ĐD) tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Nhi Hải Dương Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Số liệu thu thập bằng phiếu phát vấn tự điền với 150 ĐD tại 10 khoa lâm sàng
và từ sổ sách, báo cáo về công tác đào tạo của Bệnh viện, nhập số liệu bằng phần mềm Epidata3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Nghiên cứu định tính gồm
4 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) cán bộ quản lý (CBQL) và hai cuộc thảo luận nhóm (TLN) với trưởng phòng ĐD, 05 ĐD trưởng
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với nhiệm vụ chung, có 2 nhiệm vụ có mức
độ tự tin dưới 50% và có mức độ thường xuyên thực hiện (trên 90% và 21,3%) Tỷ
lệ ĐD có mong muốn đào tạo 5 nhiệm vụ chung trên 60% Về thực hiện các kỹ thuật chung có 4 kỹ thuật có mức độ thường xuyên thực hiện trên 80% và có sự khác biệt
về mức độ tự tin giữa 2 nhóm (ĐDĐH, ĐDCĐ trên 60% và ĐDTC dưới 50%) là kỹ thuật tiêm an toàn; Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch; Kỹ thuật truyền dịch; Kỹ thuật lấy máu làm xét nghiệm Về thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Hồi sức cấp cứu: Có 2 kỹ thuật có mức độ thường xuyên thực hiện trên 90% nhưng mức độ tự tin thấp dưới 50% Có 5/6 kỹ thuật người ĐD chuyên khoa Hồi sức cấp cứu có mong muốn đào tạo từ 60% đến 100% Về thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Ngoại: Có 4 kỹ thuật
có mức độ thường xuyên thực hiện nhiệm vụ và mức độ tự tin thấp dưới 33% Tỷ lệ
ĐD Ngoại có mong muốn đào tạo 4 kỹ thuật này là trên 70% Về nhóm thực hiện kỹ thuật ĐD chuyên khoa Nội: Có 3 kỹ thuật có mức độ thường xuyên thực hiện và mức
độ tự tin thấp dưới 40% và tỷ lệ ĐD Nội có mong muốn đào tạo các kỹ thuật này trên 70%
Các nội dung cần đào tạo theo thứ tự ưu tiên dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ
và mong muốn của người ĐD như sau: (1) Chăm sóc phục hồi chức năng; (2) Kiểm soát nhiễm khuẩn; (3) Chăm sóc người bệnh toàn diện; (4) Chăm sóc bệnh nhân viêm màng não; (5) kỹ thuật truyền máu và các phế phẩm của máu; (6) chăm sóc thiết yếu sơ sinh cơ bản, (7) Chuyên môn kỹ thuật điều dưỡng; (8) Tư vấn truyền
HUPH
Trang 12thông giáo dục sức khỏe; (9) Chuẩn đạo đức nghề nghiệp; (10) nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ĐD; (11) quản lý thuốc, hồ sơ bệnh án Thời gian cho mỗi khóa học
từ 2 - 3 ngày và địa điểm tổ chức phù hợp nhất là tại bệnh viện Đối với các kỹ thuật chuyên sâu, trọng điểm của Bệnh viện như: (1) phụ giúp Bác sỹ chọc dịch não tủy; (2) Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch rốn; (3) kỹ thuật Nuôi dưỡng tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh; (4) Kỹ thuật đặt máy thở tạo áp lực dương liên tục ở trẻ sơ sinh; (5) Phụ giúp Bác sỹ đặt ống nội khí quản; (6) chăm sóc bệnh nhân đặt ống nội khí quản; (7) khâu vết thương; (8) Kỹ thuật cho bệnh nhân ăn qua sonde dạ dày; (9) kỹ thuật bó bột; (10) kỹ thuật thông tiểu Thời gian cho mỗi khóa học là 01 tháng đến 03 tháng và địa điểm mong muốn học là tại Bệnh viện Nhi Trung ương Nghiên cứu cũng đưa
ra một số khuyến nghị về công tác ĐTLT tại Bệnh viện như Bệnh viện cần chú trọng đào tạo về các kỹ thuật thực hành, đào tạo theo hình thức cầm tay chỉ việc và công tác ĐTLT nên dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu ĐTLT của ĐD
HUPH
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ y tế, việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế càng trở nên cấp thiết Các nước đều có quy định bắt buộc thầy thuốc phải cập nhật, bổ sung kiến thức liên tục, cập nhật những thông tin về kỹ năng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, tổ chức quản lý công việc, cũng như về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu Nghị quyết số 46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ “Nghề Y
là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” [29] Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, nêu bật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực y tế trong đó có các cán bộ điều dưỡng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013 hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Đến nay hầu hết các Bệnh viện Trung ương đã có trung tâm đào tạo, ở các bệnh viện tỉnh, thành phố nhiệm vụ đào tạo liên tục đang được triển khai mạnh mẽ đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân [2]
Tại các Bệnh viện, người điều dưỡng là lực lượng cán bộ chuyên môn cung cấp các dịch vụ chăm sóc trong suốt quá trình người bệnh đến khám và điều trị, là những người trực tiếp nhất với người bệnh, cung cấp dịch vụ chăm sóc liên tục 24giờ trong ngày nên có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của mọi Bệnh viện và mọi cơ sở khám chữa bệnh [33] Tổ chức Y tế thế giới đã nhận định dịch vụ chăm sóc sức khoẻ do người điều dưỡng và người hộ sinh cung cấp là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng Ngày 26/01/2011, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [22] Ở nước ta, theo đánh giá của Hội Điều dưỡng Việt Nam thì nhân lực phục
vụ công tác chăm sóc người bệnh hiện nay còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ chuyên môn Một số điều dưỡng còn thiếu tự tin, an phận, chưa tự khẳng định được mình trong thực hành chăm sóc, còn phụ thuộc vào y lệnh thầy thuốc, còn yếu về giao tiếp, về tư vấn giáo dục sức khoẻ và ngại thay đổi [18]
HUPH
Trang 14Bệnh viện Nhi Hải Dương được thành lập theo Quyết định số 2742/QĐ-UBND ngày 10/08/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương tiền thân là Khoa Nhi của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương Nhân lực điều dưỡng của Bệnh viện có 169 người trên tổng số 292 biên chế, chiếm trên 50% tổng nhân lực bệnh viện Số giường bệnh
kế hoạch được giao 270 giường bệnh, trong khi đó số giường thực kê là 538 giường Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải do đó nhân lực y tế tại Bệnh viện nói chung
và nhân lực ĐD gặp nhiều áp lực và khó khăn [10] Trong những năm qua, Ban Lãnh đạo Bệnh viện luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo cho đội ngũ cán bộ viên chức nói chung và ĐD nói riêng, nhưng công tác đào tạo cho ĐD tại BV vẫn còn một số tồn tại như: Nội dung, chương trình đào tạo còn sơ sài, chưa xác định được nội dung đào tạo cho các ĐD có trình độ khác nhau để đào tạo cho phù hợp, chưa nắm rõ được nhu cầu học tập của ĐD nên việc đào tạo chưa đạt kết quả cao và chưa đáp ứng đúng yêu cầu thực tế Câu hỏi đặt ra với các nhà quản lý bệnh viện là thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuậtcủa ĐD tại các khoa lâm sàng hiện tại như thế nào? Những kiến thức, kỹ năng gì cần phải đào tạo, cập nhật kiến thức nhằm giúp điều dưỡng đáp ứng được tốt nhiệm vụ chăm sóc người bệnh tại các khoa trong bệnh viện?
Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài“Thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật và nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2016-2017”
HUPH
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2016-2017
2 Xác định nhu cầu đào tạo liên tục để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2016-2017
HUPH
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm nguồn nhân lực ngành y tế:
Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”[5]
Theo định nghĩa nhân lực y tế của Tổ chức Y tế Thế giới, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế trong hai lĩnh vực đông và tây y, thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế ) [5]
- Điều dưỡng: Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về điều dưỡng, dưới đây là
một số định nghĩa được đa số các nước trên thế giới công nhận
Theo định nghĩa Hiệp hội điều dưỡng Mỹ (American Nurses Asociation): Điều dưỡng là chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho con người [20]
Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội
vụ, ĐD là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế
Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để
cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức y khoa liên tục (Continuing Medical Education -CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development - CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm
vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [25]
- Cơ sở ĐTLT của ngành y tế: Là các Bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác
có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế được Bộ Y tế thẩm định và công nhận theo quy định [25]
- Nhu cầu đào tạo (NCĐT): Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là
HUPH
Trang 17định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở để đánh giá nhu cầu đào tạo
Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ NCĐT chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng, yêu cầu trong công việc và cuộc sống của
họ [17]
- Xác định nhu cầu đào tạo: Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là
định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho thực hiện đánh giá NCĐT:
Đánh giá NCĐT là một quá trình tìm hiểu rõ về người tham gia và năng lực của
họ trước khi đào tạo Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với
kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có [20]
1.2 Tiêu chuẩn chức danh và chức năng, nhiệm vụ của ĐD tại Việt Nam
1.2.1 Nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo bồi dưỡng
Theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm
2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y [4]
- Có thêm nhiệm vụ thực hiện và kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc, tham gia xây dựng và thực hiện quy trình chăm sóc người bệnh
-Về sơ cứu, cấp
cứu - Thực hiện việc chuẩn bị thuốc và phương tiện cấp
cứu; tham gia hoặc thực hiện
kỹ thuật sơ cấp cứu
- Được chỉ định và thực hiện các kỹ thuật cấp cứu trong tình huống khẩn cấp như: Sốc phản vệ, cấp cứu người bệnh ngừng tim, ngừng thở
HUPH
Trang 18- Thêm nhiệm vụ tham gia xây dựng nội dung, chương trình, tài liệu và đánh giá công tác truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe
- Có thêm nhiệm vụ hỗ trợ, giám sát và chịu trách nhiệm về chuyên môn đối với việc thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng cấp thấp hơn
- Đào tạo và hướng dẫn thực hành cho sinh viên và tham gia xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo liên tục
2 Tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng
- ĐD hạng IV tốt nghiệp trung cấp trở lên
chuyên ngành ĐD
- Trình độ ngoại ngữ bậc 1 trở lên theo Thông
tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014
của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trình độ tin học
theo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11
tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền
số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng
3 năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
Tại chương II, Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của
Bộ Y tế “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”
đã quy định về nhiệm vụ của người ĐD gồm 12 nhiệm vụ chính như sau:
HUPH
Trang 19(1) Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; (2) Chăm sóc về tinh thần; (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân; (4) Chăm sóc dinh dưỡng; (5) Chăm sóc phục hồi chức năng; (6) Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh; (8) Chăm sóc người bệnh hấp hối và người bệnh tử vong; (9) Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng; (10) Theo dõi, đánh giá người bệnh; (11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; (12) Ghi chép Hồ sơ bệnh án
1.2.3 Thực trạng nhân lực điều dưỡng:
Hiện nay, cả nước có 127.190 điều dưỡng, chiếm khoảng 40% nhân lực chuyên môn của ngành y tế [26] Dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế Được sự quan tâm của Bộ Y tế, ngành Điều dưỡng đã có
sự phát triển nhanh chóng trên các lĩnh vực sau: Thiết lập hệ thống quản lý điều dưỡng
từ Bộ Y tế đến các Sở Y tế và các Bệnh viện và hệ thống tổ chức Hội Điều dưỡng ở các cấp đã phối hợp song hành, hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát huy hiệu quả Hệ thống điều dưỡng trưởng đã phát huy được vai trò quản lý chăm sóc và tham gia xây dựng các chính sách liên quan đến công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh Điều dưỡng đã trở thành một ngành học với nhiều cấp trình độ, từ trung cấp lên cao đẳng, đại học điều dưỡng và thạc sỹ điều dưỡng Các chính sách đối với người ĐD và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện: Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn quốc gia về thực hành chăm sóc ĐD; Nhà nước đã có quyết định công nhận danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân cho người ĐD, người hộ sinh Với những chinh sách hiện hành đã mở ra tương lai cho ngành điều dưỡng phát triển và người ĐD có thể yên tâm phấn đấu và tiến bộ trong nghề nghiệp Chất lượng chăm sóc người bệnh đã có nhiều chuyển biến
rõ rệt thông qua việc đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện, chuẩn hoá các kỹ thuật ĐD Vai trò và vị thế nghề nghiệp của người ĐD đã có những thay đổi cơ bản Tuy nhiên, ngành ĐD đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành
về ĐD nên phải sử dụng tới gần 70% đội ngũ giáo viên giảng dạy ĐD là bác sĩ; khoa
HUPH
Trang 20học ĐD chưa phát triển kịp với những tiến bộ của Điều dưỡng thế giới trong đào tạo Điều dưỡng; người điều dưỡng chưa được đào tạo để thực hiện thiên chức chăm sóc mang tính chủ động và chuyên nghiệp; nguồn nhân lực điều dưỡng mất cân đối [23]
1.3 Các văn bản chính sách liên quan đến công tác đào tạo liên tục
1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
Một số nội dung cơ bản của Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế [2]:
* Tổ chức hệ thống đào tạo liên tục
Để cơ sở đào tạo liên tục đáp ứng được nhu cầu, Điều 11 của Thông tư số 22/2013/TT-BYT nêu rõ:
- Năng lực chuyên môn của đơn vị: Đơn vị ĐTLT phải có chương trình và tài liệu đào tạo liên tục được Hội đồng cơ sở thông qua; có đội ngũ giảng viên có đủ trình
độ chuyên môn và được bồi dưỡng về nghiệp vụ giảng dạy y học đặc biệt là giảng dạy/hướng dẫn lâm sàng; có phương án tổ chức quản lý về đào tạo liên tục và có trang thiết bị tối thiểu phục vụ cho công tác đào tạo liên tục như số giường bệnh, số kỹ thuật Labo đang làm và trang thiết bị khác như, phòng học, thiết bị nghe nhìn cho dạy-học
* Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục:
Điều 8 của Thông tư số 22/2013/TT-BYT nêu rõ: Bộ Y tế đã ủy quyền thẩm định, phê duyệt chương trình và tài liệu đào tạo liên tục cho các Bệnh viện (BV) được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học tương ứng với mã đào tạo đã được giao Căn cứ vào chương trình được phê duyệt, các cơ sở đào tạo xây dựng tài liệu dạy-học cho phù hợp Trong mỗi bài cần có mục tiêu, nội dung và lượng giá Khi biên soạn phần nội dung, lượng giá cần bám sát theo mục tiêu đề ra
* Giảng viên đào tạo liên tục:
Thông tư số 22/2013/TT-BYT quy định là tất cả các khóa ĐTLT phải bố trí đủ giảng viên, trợ giảng đạt tiêu chuẩn để bảo đảm chất lượng đào tạo Giảng viên đào tạo liên tục là người có trình độ đại học trở lên, có nhiều kinh nghiệm thực tế và có chuyên môn phù hợp và được đào tạo về phương pháp dạy - học y học Giảng viên
HUPH
Trang 21đào tạo liên tục yêu cầu có trình độ từ đại học trở lên và chuyên môn phù hợp với yêu cầu của nội dung giảng dạy Giảng viên cũng cần phải được đào tạo về phương pháp dạy học y học hay chứng chỉ sư phạm y học theo chương trình của Bộ Y tế
* Quản lý công tác đào tạo liên tục
Thông tư số 22/2013/TT-BYT quy định các cơ sở đào tạo liên tục có trách nhiệm xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm và 5 năm của đơn vị Sau khi kế hoạch đào tạo liên tục hằng năm của đơn vị đã được phê duyệt, cơ sở đào tạo liên tục tiến hành triển khai các khóa đào tạo liên tục theo trình tự thủ tục quy định chặt chẽ tại Điều 15 của Thông tư Tại các địa phương, Sở Y tế chịu trách nhiệm quản lý công tác đào tạo liên tục ở địa phương minh, tổ chức các khoá đào tạo và số chứng chỉ ĐTLT cho cán bộ thuộc phạm vi quản lý
Các Bệnh viện là cơ sở đào tạo liên tục phải đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, chuẩn bị tốt chương trình, tài liệu, đội ngũ giảng viên trợ giảng,
cơ sở vật chất, học viên và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thực hiện triển khai khóa học có chất lượng đồng thời chịu trách nhiệm quản lý, báo cáo định kỳ về cơ quan quản lý cấp trên Ở mỗi bệnh viện cần có: Cán bộ làm công tác tổ chức và quản
lý đào tạo liên tục; tổ chức triển khai các khóa đào tạo liên tục; quản lý, lưu trữ chương trình; quản lý hồ sơ khóa học; quản lý phôi và việc cấp chứng chỉ đào tạo liên tục theo đúng quy định Chứng chỉ đào tạo liên tục do các đơn vị được cấp mã cấp 1 (mã
A, mã B và mã C) được tự in và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật Như vậy ở tỉnh chỉ có Sở Y tế mới có quyền in phôi chứng chỉ đào tạo liên tục
Quản lý chất lượng cơ sở đào tạo liên tục
Đây là một điểm mới so với trước đây, Thông tư 22/2013/TT-BYT đã nêu rõ
Bộ Y tế ban hành quy định tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng cơ sở đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế Bộ tiêu chuẩn đó bao gồm 3 loại là tiêu chuẩn cho bệnh viện trung ương, tiêu chuẩn cho viện nghiên cứu trung ương và tiêu chuẩn cho Sở Y tế Thông
tư quy định rõ trách nhiệm của Giám đốc Sở Y tế tổ chức thực hiện các quy định về bảo đảm chất lượng và chịu trách nhiệm về chất lượng ĐTLT của Sở Y tế và các đơn
vị trực thuộc và Thủ trưởng các cơ sở ĐTLT tổ chức triển khai thực hiện các quy định
về đảm bảo chất lượng và chịu trách nhiệm về chất lượng ĐTLT do cơ sở thực hiện
HUPH
Trang 221.3.2 Quy định liên quan đến công tác đào tạo liên tục
Trong ngành y tế do nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo y
khoa là đặc biệt, đặc thù nên Luật Khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 gồm 9 chương và 91 điều đã có nhiều quy định liên quan đến
công tác đào tạo nghề nghiệp cụ thể như sau [19]:
Điều 20 Điều kiện để người hành nghề khám chữa bệnh được cấp lại chứng chỉ hành nghề là phải có giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục Điều 29 Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề với người không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm liên tiếp
Điều 33 Quyền của người hành nghề
Được đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp Được tham gia bồi dưỡng trao đổi thông tin về chuyên môn và kiến thức pháp luật y tế Điều 37 Nghĩa vụ của người hành nghề: Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa liên tục nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ Y tế Điều 83 Nhà nước có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ thuật, đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề
Điều 5 Trách nhiệm của Bộ Y tế là phải tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục, bồi
dưỡng phát triển nguồn nhân lực (2e) các Bộ, ngành, UBND tỉnh phải tổ chức thực hiện đào tạo và đào tạo liên tục cho cán bộ y tế trong phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương mình ( khoản 3,4,5)
1.3.3 Đào tạo liên tục cán bộ y tế trên thế giới
Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education được viết tắt là CME)
là quá trình cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức và tiến bộ mới nhất
trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao
gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác trong lĩnh vực y tế [25]
Ngày nay nhằm thay đổi thái độ của cán bộ y tế, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa
ra thuật ngữ phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development
viết tắt là CPD) và được sử dụng rộng rãi tại các nước Âu, Mỹ Ngoài các nội dung
HUPH
Trang 23giống như của CME, CPD còn bao gồm cả các phương pháp học tập khác ngoài hình thức nghe giảng và ghi chép là các hình thức tự học và tự phát triển của từng cá nhân
Phát triển nghề nghiệp liên tục đề cập việc cán bộ y tế sau khi đã hoàn thành giai
đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tập trong suốt cuộc đời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng nhằm đáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ y tế CPD được xây dựng dựa trên nhu cầu chuyên môn của cán bộ y tế đồng thời cũng là giải pháp chính để cải thiện chất lượng Khác với đào tạo chính quy hay đào tạo sau đại học được thực hiện theo các quy định và quy tắc cụ thể thì CPD lại chủ yếu là các hoạt động học tập trên cơ sở định hướng cá nhân và thực hành để thúc đẩy nâng cao năng lực nghề nghiệp, nhằm duy trì và nâng cao năng lực từng cá thể để đáp ứng được các nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh và của hệ thống y tế Trên thực tế hiện nay ở nước ta đang đồng nhất giữa CPD và CME [2]
Tổ chức thực hiện CME giữa các nước trên thế giới rất khác nhau Tuy nhiên mọi người đều thừa nhận rằng bản thân người trong nghề phải chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện các hoạt động đào tạo liên tục Các hiệp hội y học và tổ chức chuyên môn có vai trò là người khởi xướng, cung cấp và thúc đẩy thực hiện đào tạo liên tục tại rất nhiều nước Có nhiều tổ chức cung cấp CME thậm chí không liên quan trực tiếp đến chuyên ngành y tế, chẳng hạn như các công ty cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe vì lợi nhuận, ngành công nghiệp công nghệ y, dược, các hiệp hội người tiêu dùng,…Mặc dù vậy chúng vẫn có một số đặc điểm chung, đó là phần lớn các hệ thống đều dựa trên cơ sở số giờ được đào tạo, trong đó giờ học được có thể tính tương đương với tín chỉ [2]
1.3.4 Đào tạo liên tục cán bộ y tế ở Việt Nam
1.3.4.1 Thực trạng đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam
Việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc không chỉ đối với ngành Y mà còn đối với mọi ngành nghề khác nhau Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc đào tạo liên tục trong ngành y tế, ngay từ khi chưa có Luật Khám bệnh, chữa bệnh,
Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008 về
“Hướng dẫn công tác đào liên tục đối với cán bộ y tế”, đã bước đầu triển khai khá
HUPH
Trang 24rộng rãi Sau khi khi Luật Khám bệnh chữa bệnh có hiệu lực, năm 2013 Bộ Y tế đã điều chỉnh nâng cấp tiếp tục chủ trương này để thực hiện một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh Ngày 09 tháng 8 năm 2013, Bộ trưởng đã ban hành thông tư số 22/2013/TT-BYT về việc “Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế” để thay thế thông tư 07/2008/TT-BYT Trong cả 2 thông tư trên, Bộ Y tế thống nhất chủ trương tất cả cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình Trừ một số trường hợp cán bộ cao cấp thì việc học tập được qui đổi khi tham
dự các hội thảo, hội nghị quốc tế hoặc tham gia tổ chức giảng dạy, nghiên cứu còn yêu cầu chung cho tất cả cán bộ y tế có thời gian đào tạo tối thiểu là 24 giờ thực học Những người hành nghề trong lĩnh vực khám chữa bệnh nếu 2 năm không cập nhật kiến thức y khoa liên tục sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề (theo quy định tại điều 29 Luật Khám bệnh chữa bệnh) Thủ trưởng các cơ sở y tế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức cho cán bộ viên chức của mình được học tập Điểm khác biệt của Thông tư số 22/2013/TT-BYT so với Thông tư số 07/2008/TT-BYT là yêu cầu cao hơn với những nguời hành nghề khám bệnh chữa bệnh, ủy quyền, phân quyền rộng hơn cho các cơ sở đào tạo liên tục và quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo đặc biệt là công tác kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo liên tục
1.3.4.2 Hệ thống các cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam
Trước khi thông tư số 22/2013/TT-BYT về việc “Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế” ra đời thì việc đào tạo liên tục chủ yếu do các trường y tế đảm nhận, gần đây do quá tải về số lượng tuyển sinh mới nên việc đào tạo liên tục ở các trường y càng bị hạn chế Hiện nay cả nước có trên 500.000 cán bộ y tế cần được thường xuyên đào tạo liên tục nên các trường y không có khả năng đảm nhận [2] Mặt khác thực tế cho thấy cán bộ y tế được đào tạo tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàng ngày sẽ hiệu quả hơn là đưa họ về các trường để học tập, do vậy Bộ Y tế chỉ rõ các
Sở Y tế, Bệnh viện, viện nghiên cứu Trung ương cùng với các trường phải tổ chức đào tạo liên tục cán bộ y tế Đến nay mạng lưới các cơ sở đào tạo liên tục đã được hình thành trong toàn quốc, được cấp mã số cơ sở đào tạo liên tục Theo Điều 10 của Thông tư số 22/2013/TT-BYT thì mã số cơ sở đào tạo liên tục bao gồm:
HUPH
Trang 25Mã A: Các trường y tế tổ chức các khóa đào tạo liên tục tương ứng với chương trình chính quy mà trường đang đào tạo
Mã B: Các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, tổ chức đào tạo theo nhiệm vụ
Mã C: Các sở y tế tổ chức đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế mà Sở đang quản lý
và hành nghề trên địa bàn
Việc tổ chức hệ thống đào tạo liên tục cũng được Bộ Y tế hướng dẫn kỹ càng
và đến nay nhiều Bệnh viện Trung ương, nhiều sở y tế đã thực hiện thành công Các
Sở y tế đồng bằng sông Hồng, thành phố Hồ Chí Minh và Sở y tế của 8 tỉnh duyên hải Nam Trung bộ là những tỉnh sớm hoàn thiện các điều kiện để được công nhận là
cơ sở đào tạo liên tục Theo Công văn số 748/K2ĐT- SĐH ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Cục khoa học công nghệ và đào tạo, đến nay Bộ Y tế đã cấp mã cho 510 đơn vị tham gia đào tạo liên tục trong đó: 106 cơ sở giáo dục chuyên nghiệp (Mã A), 72 đơn
vị trực thuộc (Mã B) và 63 Sở Y tế các tỉnh/thành phố và 331 đơn vị trực thuốc (Mã C) [24]
1.4 Nhu cầu đào tạo và phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo
1.4.1 Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế
Ngày nay, nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế là rất quan trọng và cần thiết Nó không chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người cán bộ y tế mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân sử dụng nguồn nhân lực [8] Theo tài liệu hướng dẫn quản lý công tác đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ y tế tuyến
cơ sở thì: “Xác định nhu cầu đào tạo nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần
đào tạo, đối tượng CBYT cần được đào tạo và kiểu đào tạo nào sẽ giúp giải quyết được các vấn đề sức khoẻ của cộng đồng Xác định nhu cầu đào tạo là bước đầu tiên trong quy trình đào tạo, nó được tiến hành trước khi lập kế hoạch đào tạo”[21]
1.4.2 Phương pháp đánh giá nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế
Đánh giá nhu cầu đào tạo (Training Need Assessment - TNA) là phương pháp xác định nếu có nhu cầu đào tạo và tồn tại, những gì đào tạo là cần thiết để lấp đầy khoảng trống Đánh giá nhu cầu đào tạo là tìm cách xác định chính xác mức độ của tình hình hiện nay thông qua các cuộc điều tra mục tiêu, phỏng vấn, quan sát, số liệu
HUPH
Trang 26thứ cấp, hội thảo Khoảng cách giữa các trạng thái hiện tại và trạng thái mong muốn
có thể chỉ ra những vấn đề mà lần lượt có thể được dịch thành nhu cầu đào tạo [8] Các dữ liệu về hiện trạng là cơ sở quan trọng để khảo sát đánh giá tác động trong các phần chu trình đào tạo Những trách nhiệm phục vụ như là các dữ liệu cơ bản Sau đây là một số kỹ thuật để có được những dữ liệu đó Đây có thể được áp dụng độc lập hoặc kết hợp [35]
Nhu cầu đào tạo = Khả năng mong muốn - Khả năng hiện tại của những người tham gia
Hình 1 Quy trình xác định nhu cầu đào tạogồm 5 bước:
(Dựa trên tài liệu tham khảo TNA (Training Needs Assessment) của JICA và một số tài liệu liên quan)
* Các bước xác định nhu cầu đào tạo được xác định như sau:
Bước 1: Phân tích vấn đề: Đây là bước đánh giá nhanh, PVS các cán bộ quản
lý khoa phòng, điều dưỡng trưởng khoa để nắm được tình hình: Mục tiêu của Bệnh viện, thực trạng thực hiện nhiệm vụ của nhân viên, trong đó có Điều dưỡng, thực trạng về kiến thức, thực hành thế nào, cần bổ sung gì để tốt hơn, Sau khi xác định các vấn đề và nhu cầu, thiết lập các mục tiêu tổng thể cho một khóa đào tạo
Bước 2: Phân tích nhu cầu: Quyết định nhóm nào cần phải đào tạo, khảo sát
nhu cầu Ưu tiên của Bệnh viện hiện tại là chú trọng vào nhóm điều dưỡng vì chăm
HUPH
Trang 27sóc người bệnh và làm hài lòng người bệnh đang được Bệnh viện ưu tiên Sau bước này, công cụ được thiết kế để thử nghiệm trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức
Bước 3: Thu thập số liệu: Rà soát các số liệu thứ cấp bằng các tài liệu đào tạo
hiện có, tiến hành khảo sát bao gồm phỏng vấn, phát vấn bằng bộ câu hỏi, quan sát tại nơi làm việc Bộ công cụ sau khi thử nghiệm được sử dụng để thu thập
Bước 4: Phân tích số liệu: Phân tích số liệu định tính và định lượng Kết quả định tính được sử dụng để làm rõ và củng cố các kết quả định lượng
Bước 5: Phản hồi: Kết quả từ định lượng được báo cáo/thông báo lại với các
cán bộ quản lý để góp ý, thẩm định, đưa ra ưu tiên đào tạo
1.5 Một số nghiên cứu về thực hiện nhiệm vụ và đánh giá nhu cầu đào tạo của Điều dưỡng tại Bệnh viện
Đã có một số nghiên cứu đánh giá năng lực thực hành nhiệm vụ của ĐD sau đào tạo tại một số Bệnh viện, dưới đây là một số nghiên cứu chủ yếu về đánh giá kiến thức, thái độ thực hành về các nhiệm vụ chuyên môn và thực hiện kỹ thuật của nhân viên ĐD tại một số Bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến cơ sở
Nghiên cứu của tác giả Trịnh Xuân Quang (2009) trong đánh giá kiến thức thực hành về an toàn truyền máu của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2009 qua phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang Kết quả: Kiến thức
và thực hành của điều dưỡng về an toàn truyền máu còn hạn chế; 58,9% điều dưỡng không biết nhiệt độ bảo quản máu, 20% điều dưỡng không làm phản ứng chéo tại giường trước khi truyền máu, 50% điều dưỡng không nhớ thời gian làm nguội máu trước truyền, 79,2% điều dưỡng không thực hiện phản ứng vi sinh vật khi truyền máu [13]
Nghiên cứu của các tác giả Ngô Ngọc Bích, Tạ Văn Trầm (2010) đã tiến hành
tìm hiểu kiến thức thái độ của điều dưỡng Bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy về công tác khử khuẩn - tiệt khuẩn dụng cụ Kết quả: Kiến thức hiểu biết về công tác tiệt khuẩn dụng cụ của điều dưỡng là 90,1%, khử khuẩn là 54,9%; qui trình khử khuẩn
là 67,6%, tiệt khuẩn 73,2% Đa số chưa xác định chính xác qui trình xử lý dụng cụ, đặc biệt là các bước khử khuẩn và làm sạch Các thông số kiến thức về nhiệt độ, thời gian tiệt khuẩn, các phương pháp khử khuẩn đạt tỉ lệ thấp [3]
HUPH
Trang 28Nghiên cứu của nhóm tác giả Huỳnh Thụy Phương Hồng, Peter Lewis, Lê Thị Tuyết Lan (2013) đã khảo sát kiến thức của ĐD về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và tìm hiểu các yếu tố liên quan tại các khoa điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính của
4 bệnh viện đa khoa lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của điều dưỡng còn hạn chế và chịu ảnh hưởng bởi trình độ điều dưỡng được đào tạo Những giải pháp khắc phục cần được chú trọng trong các nghiên cứu tiếp Cụ thể có 124 trong số 143 điều dưỡng thuộc tiêu chí lựa chọn tham gia nghiên cứu (86,7%) Kết quả thu được khi sử dụng bảng câu hỏi kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính được phát triển ở Bristol cho thấy giá trị trung bình về kiến thức của ĐD là 31,78 điểm (SD=6,01) trên 65 điểm Trình độ đào tạo được tìm thấy là yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức của điều dưỡng (p<0,05) [14] Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Diễm Thúy và cộng sự [28] tiến hành đánh giá kiến thức và kỹ năng chăm sóc bệnh nhân thở máy của ĐD khu cấp cứu khoa nhiễm trước và sau khi tham gia khóa huấn luyện được tổ chức tại khoa nhiễm Kết quả: Sau
3 tháng tổ chức khóa huấn luyện, 100% ĐD đều có kết quả đạt về kiến thức thở máy Trong đó, 24% ĐD đạt loại giỏi, 58% đạt loại khá và 18% đạt trung bình Về thực hành chăm sóc bệnh nhân thở máy, 100% ĐD đạt kết quả khá - giỏi (69% đạt loại giỏi, 31% đạt loại khá) Kết quả đánh giá chung, thì chất lượng khóa huấn luyện đạt 79% Theo đó, chăm sóc và bảo vệ bệnh nhân thở máy là công việc quan trọng của người ĐD làm việc trong khu hồi sức cấp cứu Kết quả đạt được từ khóa huấn luyện này rất đáng khích lệ Vì vậy, Bệnh viện nên thường xuyên mở thêm những lớp huấn luyện chuyên đề về “Chăm sóc bệnh nhân thở máy” để tập huấn cho các ĐD
Nghiên cứu của tác giả Đồng Nguyễn Phương Uyển và cộng sự [31] đã tiến hành nghiên cứu xác định kiến thức, thái độ và thực hành lâm sàng về phòng ngừa loét do tỳ đè của điều dưỡng tại khoa Hồi sức cấp cứu Kết quả cho thấy: Trong 81
ĐD tham gia nghiên cứu,tỷ lệ ĐD có kiến thức đúng và thái độ đúng về phòng ngừa loét do tỳ đè lần lượt là 85,2% và 80,2% Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành đúng còn thấp (43,2%) Có sự liên quan giữa kiến thức và thái độ, giữa thái độ và thực hành nhưng không tìm thấy sự liên quan giữa kiến thức đúng và thực hành đúng Kết quả cũng cho thấy rằng những ĐD được học tập về phòng ngừa loét do tỳ đè trong khoảng thời
HUPH
Trang 29gian một năm thì có kiến thức đúng cao hơn Tỷ lệ ĐD có kiến thức đúng và thái độ đúng về phòng ngừa loét do tỳ đè cao nhưng lại không tương ứng với tỷ lệ thực hành đúng
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Cúc và cộng sự trong nghiên cứu mô tả sự nhận thức và thái độ của điều dưỡng về vai trò và nhiệm vụ của điều dưỡng hành chính khoa tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương từ 02/2011 đến 07/2011, số lượng điều dưỡng trẻ chiếm tỉ lệ 63%, thâm niên công tác < 5 năm là 44,4%, trong đó 83% là nữ
và 90,1% có trình độ trung cấp Điều dưỡng chưa được đào tạo chuyên trách về công việc hành chính chiếm tỉ lệ 74,3% Điều dưỡng chưa sử dụng được vi tính là 28,2%, không biết ngoại ngữ là 25,4% Người có thu nhập <= 4 triệu đang làm điều dưỡng hành chính chiếm 95% Người có thu nhập > 4 triệu đang làm điều dưỡng hành chính
là 5%; 42,7% điều dưỡng gặp tất cả những khó khăn như: vi tính, báo cáo thống kê, giải quyết chế độ, quản lý thuốc, y dụng cụ Có 32,5% được sự hỗ trợ của điều dưỡng trưởng khoa trong khi làm điều dưỡng hành chính hoặc hỗ trợ trong công việc hành chính Số lượng điều dưỡng được qua đào tạo trước khi nhận nhiệm vụ là 4,8% Kỹ năng đã được đào tạo duy nhất là kỹ năng giao tiếp với thời gian đào tạo chỉ có 01 ngày tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương [6]
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Loan về xác định tỷ lệ điều dưỡng
có kiến thức và thực hành đúng về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ Đồng thời, xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành đúng về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ
là 60% (48/80) và 63,8% (51/80) điều dưỡng có thực hành đúng Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của điều dưỡng về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ (p > 0,05) Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức của điều dưỡng về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ (p = 0,005) Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan giữa số bệnh nhân điều dưỡng chăm sóc trung bình trong 1 ngày với thực hành về phòng ngừa nhiễm trùng vết mổ (p=0,009) [16]
Nhằm đánh giá thực trạng thái độ, phục vụ của người ĐD tại Bệnh viện và tìm
ra giải pháp kịp thời nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng, một nghiên cứu cho
HUPH
Trang 30thấy: Hơn 70% số khách hàng hài lòng với các thái độ phục vụ người bệnh của người
ĐD, ngoại trừ các thái độ phục vụ: Giới thiệu tên mình, nêu lý do tiếp xúc với bệnh nhi 34%, Chú ý đến tâm trạng của người nhà người bệnh 67,3%, Đi cùng người nhà người bệnh để làm xét nghiệm cho bệnh nhi 17,3%, Giải thích về các phương pháp chăm sóc bệnh nhi 63,5% Thái độ phục vụ người bệnh của người ĐD: Thiếu kỹ năng giao tiếp và quy trình chăm sóc người bệnh theo Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của Hội Điều dưỡng Việt Nam Một số nguyên nhân chính gây ra sự thiếu sót trong thái độ phục vụ người bệnh của người ĐD là tình trạng quá tải công việc, sự phân công công việc không hợp lý và thái độ thiếu bình tĩnh, nhẫn nại trong công việc [15]
Đánh giá nhu cầu đào tạo là rất cần thiết trong đào tạo nói chung và ĐTLT cho điều dưỡng nói riêng Mặc dù lĩnh vực về công tác điều dưỡng đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhưng về nhu cầu đào tạo lại chưa có nhiều, dưới đây là một số nghiên cứu về nhu cầu đào tạo liên tục của ĐD đã được tiến hành tại các bệnh viện ở khu vực thành thị ở New Zealand, Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện C Thái Nguyên và các phòng khám ở Malayxia
Nghiên cứu đánh giá nhu cầu ĐTLT của các ĐD tại bộ phận chăm sóc bệnh cấp tính của hai bệnh viện ở khu vực thành thị ở New Zealand của tác giả Lyn Dyson
và cộng sự đã được thực hiện vào năm 2009 với 563 ĐD và 101 ĐD chính/cao cấp Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Kết quả nghiên cứu cho thấy đã tìm thấy sự đồng nhất về một số nhu cầu học tập qua phản hồi của 2 nhóm
ĐD đó là các ĐD đều thể hiện NCĐT cao hơn về các hoạt động chăm sóc bệnh nhân trực tiếp so với nội dung về làm việc nhóm và các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp khác như thiết lập mối quan hệ với bệnh nhân, kỹ năng đánh giá về các yếu tố liên quan đến lối sống và sức khỏe gia đình Nghiên cứu đưa ra kết luận là bên cạnh việc đáp ứng các NCĐT cao về một số lĩnh vực của ĐD nói chung, những người làm quản
lý và đào tạo cũng cần chú ý để xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập liên tục đặc thù của các nhóm ĐD khác nhau [32]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mei Chan Chong và cộng sự (năm 2013) nhằm
mô tả thực hành của ĐD tại thời điểm điều tra và nhu cầu ĐTLT nói chung trong tương lai được tiến hành trên 792 ĐD ở các bệnh viện công và các phòng khám của
HUPH
Trang 31Malaysia qua phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn Bảng hỏi tự điền đã được
sử dụng để thu thập số liệu Kết quả nghiên cứu chỉ rõ có 80% (562) ĐD đã tham gia vào hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua; hội thảo là hoạt động ĐTLT phổ biến nhất chiếm 43,6% Nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng, nhà hoạch định chính sách và những nhà quản lý ĐD trong lĩnh vực ĐTLT của các cơ sở chăm sóc sức khỏe nên lập kế hoạch để các hoạt động ĐTLT đáp ứng được nhu cầu của ĐD chứ không đơn giản
chỉ dựa trên yêu cầu đào tạo của tổ chức [34]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu (2015) về đánh giá nhu cầu ĐTLT của ĐD lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Trung ương, sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp thu thập định lượng và định tính Số liệu được thu thập bằng phiếu phát vấn
tự điền với toàn bộ 224 ĐD ở các khoa lâm sàng Kết quả cho thấy, 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh được ĐD nhận định mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin dưới 50%, mong muốn đào tạo trên 60%-80%; Nhóm thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản, 2/13 nhiệm vụ được nhận định mức độ thực hiện và tự tin trên, dưới 60%, mong muốn đào tạo trên 70% Thực hiện các kỹ thuật ĐD phức tạp, 4/10 nhiệm vụ thuộc nhóm kỹ thuật phụ giúp bác sĩ chỉ đạt mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin dưới 50%; mong muốn đào tạo chiếm tỷ lệ trên 60%-80% Tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) của ĐD được nhận định mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin chiếm tỷ
lệ thấp, dưới 10,2%; mong muốn được đào tạo chiếm tỷ lệ trên 70% Thời gian cho mỗi khóa học từ 2 - 5 ngày và địa điểm tổ chức phù hợp là tại Bệnh viện [27]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2016) về thực trạng và nhu cầu đào tạo liên tục của ĐD các khoa lâm sàng tại Bệnh viện C Thái Nguyên, sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp thu thập số liệu định lượng và định tính Số liệu thu thập bằng phiếu phát vấn tự điền với 118 ĐD các khoa lâm sàng Kết quả cho thấy nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe, chăm sóc dinh dưỡng được ĐD đánh giá mức độ sử dụng và mức độ tự tin dưới 50%, mức độ ưu tiên đào tạo chiếm tỷ lệ 60% Đối với kỹ thuật chuyên sâu của ĐD thực hiện tại khoa Nội có mức độ đào tạo thấp dưới 50% Trong kỹ thuật chuyên khoa Ngoại, có 3/8 kỹ thuật có mức độ thực hiện, tự tin thấp dưới 50% Chuyên khoa Sản – Nhi có 2/8 kỹ thuật chuyên khoa có mức độ ưu tiên đào tạo cao [12]
HUPH
Trang 321.6 Sơ lược về địa điểm nghiên cứu
1.6.1 Thông tin chung về Bệnh viện Nhi Hải Dương
Bệnh viện Nhi Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa hạng II, tuyến tỉnh được thành lập theo Quyết định số 2742/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương,
đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, tiền thân là Khoa Nhi của Bệnh viện
đa khoa tỉnh Hải Dương Ngày 29 tháng 3 năm 2011, Bệnh viện được khởi công và xây dựng ra vị trí mới bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, tại xã Liên Hồng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương gồm 03 khối nhà (01 khối nhà 8 tầng, 01 khối nhà 3 tầng và
01 khối nhà 02 tầng) trên khu đất rộng gần 56.000 m2, với tổng diện tích sàn xây dựng 31.732 m2 với trang thiết bị được đầu tư hiện đại, Bệnh viện được xây dựng với quy
mô 300 giường bệnh Bệnh viện Nhi Hải Dương đã chính thức đi vào hoạt động tại
cơ sở mới kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2015
1.6.2 Cơ cấu tổ chức:
Bệnh viện đã phát triển lên 21 khoa phòng (bao gồm 06 phòng chức năng, 10 khoa lâm sàng và 5 khoa cận lâm sàng) Tổng số cán bộ bệnh viện hiện có 331 nhân viên (trong đó: 292 viên chức, 27 hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-
CP và 12 hợp đồng có thời hạn); Bác sỹ: 64 người (Bác sỹ chuyên khoa II: 05; Thạc
sỹ /Bác sỹ chuyên khoa I: 19; Bác sỹ: 40); Điều dưỡng: 169 người (Thạc sỹ Y tế công cộng: 2; Đại học, Cao đẳng: 44; Trung cấp: 123); Dược sỹ: 16 người (Dược sỹ chuyên khoa I: 3, Dược sỹ đại học: 3; Dược sỹ trung cấp: 10); Nữ hộ sinh Cao đẳng: 01 người; Kỹ thuật viên 18 người (Đại học, Cao đẳng: 9; Trung cấp 9); Khác 63 người (Thạc sỹ: 6; Đại học, Cao đẳng: 28, Trung cấp: 2); Hợp đồng 68: 27 người[10]
1.6.3 Nhiệm vụ của Bệnh viện:
Gồm 6 nhiệm vụ chính đó là:
(1) Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; (2) Đào tạo chuyên môn; (3) Nghiên cứu
khoa học; (4) chỉ đạo tuyến; (5) Quản lý kinh tế; (6) Hợp tác quốc tế
1.6.4 Công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện
Bệnh viện được giao là 270 giường bệnh kế hoạch, trong khi đó số giường bệnh thực kê là 538 giường, Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải đặc biệt vào các mùa dịch, công tác điều dưỡng còn gặp nhiều áp lực và khó khăn, số lượng bệnh nhân tăng
HUPH
Trang 33cao, số lượng ĐD tại các khoa lâm sàng không đủ để đáp ứng yêu cầu công việc, hơn nữa trình độ nhân lực điều dưỡng tại bệnh viện trình độ trung cấp chiếm số lượng lớn 71,8% lại chưa có sự phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cho từng cấp Điều dưỡng trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp đều thực hiện các nhiệm vụ giống nhau: trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, công tác hành chính, công tác dược tại các khoa lâm sàng Trong những năm gần đây công tác ĐTLT được lãnh đạo bệnh viện rất quan tâm Trong năm 2015, Bệnh viện đã mở được 8 lớp ĐTLT theo các chuyên đề khác nhau cho tổng số 835 lượt cán bộ, phần lớn là đào tạo cho ĐD, cử đi ĐTLT tại bệnh viện vệ tinh là 120 lượt cán bộ bao gồm cả Bác sỹ và ĐD Tuy nhiên nội dung đào tạo còn sơ sài, một số lĩnh vực đào tạo, lặp đi, lặp lại trong nhiều năm, chưa chú trọng đến giảng dạy thực hành lâm sàng dẫn đến tâm lý nhàm chán, học chủ yếu để đối phó điểm danh [11].Chương trình đào tạo chủ yếu là đào tạo các nội dung được chỉ đạo từ trên xuống Từ thực tế trên, công tác đào tạo nói chung và công tác đào tạo liên tục tại bệnh viện nói riêng cần được nghiên cứu, khảo sát xem nhu cầu của ĐD cần đào tạo về lĩnh vực gì, để có kế hoạch ĐTLT cho phù hợp và hiệu quả
HUPH
Trang 341.6.5 Dựa trên tổng quan các tài liệu, chúng tôi tiến hành xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu:
KHUNG LÝ THUYẾT
Hình 2 Khung lý thuyết thực trạng thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên
tục của điều dưỡng
Nhu cầu đào tạo liên tục
Đối tượng đào tạo
- Mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ
- Khó khăn, thuận lợi
- Điều dưỡng Đại học,
Điều dưỡng Cao đẳng
- Điều dưỡng Trung cấp
HUPH
Trang 35Khung lý thuyết trên đây mô tả thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật của điều dưỡng dựa trên việc đánh giá xem bản thân người điều dưỡng về kiến thức và kỹ năng thực tế được học so với yêu cầu của công việc và trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật thì mức độ thực hiện nhiệm vụ, mức độ tự tin khi thực hiện nhiệm vụ đến đâu, có những khó khăn, thuận lợi gì trong việc thực hiện nhiệm vụ tại bệnh viện Ngoài ra còn dựa trên những mong muốn thực sự của họ về việc học tập liên tục như họ muốn đào tạo những nội dung gì, muốn đào tạo ngắn hạn hay đào tạo dài hạn và địa điểm muốn đào tạo ở đâu để đáp ứng đúng nhu cầu cần phải học Từ đó xác định được NCĐT và đưa ra những định hướng quan trọng cho công tác ĐTLT bao gồm: Đối tượng đào tạo theo trình độ, nội dung đào tạo theo lĩnh vực ưu tiên, hình thức đào tạo, thời gian đào tạo và địa điểm đào tạo.Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên các tài liệu tham khảo:
- Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn công tác ĐD về chăm sóc ngườibệnh trong bệnh viện;
- Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế;
- Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ về việc Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nhiệp Điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên;
- Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 1997 của Bộ Y tế
về việc Ban hành Quy chế bệnh viện;
- Quyết định số 4825/QĐ-BYT ngày 07/9/2016 về việc ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật nhi khoa
HUPH
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
- Tất cả điều dưỡng hiện đang công tác tại 10 khoa lâm sàng của Bệnh viện Nhi Hải Dương trong thời điểm tiến hành nghiên cứu
- Sổ sách, các báo cáo tổng kết của Bệnh viện bao gồm: Báo cáo nhân lực của Phòng Tổ chức cán bộ để tìm hiểu số chứng chỉ được cấp cho các ĐD sau khi được đào tạo; Báo cáo tổng kết hoạt động đào tạo của Phòng Điều dưỡng, Báo cáo tổng kết của Phòng Kế hoạch tổng hợp trong vòng 3 năm 2014, 2015, 2016 để tìm hiểu thực trạng công tác ĐTLT, xem có bao nhiêu lớp ĐTLT cho ĐD và số lượt ĐD tham gia ĐTLT tại Bệnh viện, Bệnh viện Nhi Trung ương, các trường y tế và đại điểm khác
đã được tổ chức Các số liệu này nhằm tìm hiểu thực trạng công tác ĐTLT của Bệnh viện Nhi Hải Dương để từ đó so sánh xem các nhiệm vụ, kỹ thuật đã được đào tạo thì mức độ thực hiện công việc và mức độ tự tin khi thực hiện công việc ảnh hưởng như thế nào? Từ đó tìm hiểu xem nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng Bệnh viện
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các ĐD thuộc đối tượng nghiên cứu từ chối tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu do đi công tác, nghỉ thai sản, nghỉ phép theo quy định
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Phó giám đốc phụ trách công tác điều dưỡng
- Trưởng phòng Điều dưỡng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng phòng
Tổ chức cán bộ
- Điều dưỡng trưởng của 05 khoa lâm sàng
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập và phân tích số liệu: Từ tháng 3/2017 đến tháng 8/2017
- Địa điểm nghiên cứu: 10 khoa lâm sàng, Bệnh viện Nhi Hải Dương
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng
và nghiên cứu định tính
HUPH
Trang 37- Nghiên cứu định lượng: Thu thập số liệu qua phiếu câu hỏi tự điền và rà soát các số liệu thứ cấp thông qua các tài liệu hiện có Nghiên cứu định lượng dùng để mô
tả thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật (mức độ thường xuyên thực
hiện công việc và mức độ tự tin thực hiện công việc) của điều dưỡng lâm sàng tại
Bệnh viện Nhi Hải Dương Đồng thời nghiên cứu định lượng còn tìm hiểu nhu cầu ĐTLT của ĐD lâm sàng về thực hiện các kỹ thuật: kỹ thuật chung cơ bản, kỹ thuật chuyên khoa hồi sức cấp cứu, chuyên khoa ngoại, chuyên khoa Nội
- Nghiên cứu định tính: Được thu thập thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để làm rõ thực trạng thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu ĐTLT của ĐD lâm sàng Kết quả định tính được sử dụng để phiên giải và củng cố các kết quả định lượng
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
- Cỡ mẫu định lượng bao gồm: Toàn bộ cán bộ điều dưỡng của 10 khoa lâm
sàng đang công tác tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu đồng ý tham gia Tổng
số cán bộ ĐD lâm sàng hiện có tại Bệnh viện là 169 người Sau khi loại trừ các ĐD không đồng ý tham gia nghiên cứu, không có mặt tại thời điểm nghiên cứu do nghỉ phép, nghỉ thai sản chúng tôi chọn 150 điều dưỡng tham gia nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ, chọn tất cả các cán bộ điều dưỡng
đang công tác tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện tham gia nghiên cứu
2.4.2 Nghiên cứu định tính
- Cỡ mẫu định tính: Chọn mẫu có chủ đích 04 cán bộ quản lý gồm:
+ Phó Giám đốc phụ trách điều dưỡng; Trưởng phòng Tổ chức cán bộ; Trưởng phòng Điều dưỡng; Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp
- Chọn mẫu có chủ đích Trưởng phòng Điều dưỡng, 05 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng cho 02 cuộc thảo luận nhóm
- Phương pháp chọn mẫu:
+ Phỏng vấn sâu: Chọn chủ đích Phó giám đốc phụ trách Điều dưỡng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Trưởng phòng Điều dưỡng + Thảo luận nhóm: Chọn chủ đích trưởng phòng điều dưỡng, 05 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng trong bệnh viện gồm các khoa: Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa
HUPH
Trang 38Ngoại - Chấn thương - Phẫu thuật gây mê, Khoa Tiêu hóa – Dinh dưỡng, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Nội tổng hợp
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
- Bộ công cụ thu thập số liệu (Phụ lục 3): Được nghiên cứu viên xây dựng dựa
trên việc TLN với trưởng phòng điều dưỡng, ĐD trưởng khoa lâm sàng để tìm hiểu thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ của ĐD ở các khoa lâm sàng của Bệnh viện và những thiếu hụt về kiến thức cũng như kỹ năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các quy trình kỹ thuật cụ thể và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng của Bệnh viện về mong muốn đào tạo các nhiệm vụ, kỹ thuật, thời gian và địa điểm như thế nào để đưa vào bộ công cụ
Ngoài ra bộ công cụ được xây dựng dựa trên các nhiệm vụ của điều dưỡng theo Quyết định số 4825/QĐ-BYT ngày 07 tháng 9 năm 2016 về việc ban hành tài liệu hướng dẫn quy trình kỹ thuật nhi khoa; Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng
01 năm 2011 của Bộ Y tếHướng dẫn công tác ĐD về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên như đã phân tích ở phần tổng quan Tuy nhiên trên thực
tế qua đánh giá nhanh và Bản mô tả công việc cho ĐD của các khoa lâm sàng tại Bệnh viện, nhiệm vụ của điều dưỡng chưa có sự phân hạng rõ ràng theo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV đã quy định Chính vì thế, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ công cụ thu thập thông tin dùng chung cho tất cả các đối tượng ĐD với các nội dung là nhiệm vụ chính của ĐD
Bộ công cụ thu thập số liệu được thử nghiệm với 15 điều dưỡng tại bệnh viện (tương ứng 10% phiếu phỏng vấn) nhằm mục đích kiểm tra các câu hỏi trong bộ câu hỏi có vướng mắc gì, đã phù hợp chưa, có khó khăn, thuận lợi trong quá trình tự điền không Sau khi thử nghiệm bộ câu hỏi được điều chỉnh, chỉnh sửa nội dung: Gộp phần nội dung mong muốn được đào tạo vào phần thực hiện nhiệm vụ so với bộ câu hỏi ban đầu, để người ĐD đỡ mất thời gian hơn trong quá trình tự điền, thuận lợi hơn, tránh trùng lặp và chỉnh sửa lại một số câu hỏi cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu
HUPH
Trang 39- Phương pháp thu thập: Thu thập thông qua phát vấn bằng bộ câu hỏi tự điền
với bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
+ Đầu tiên nghiên cứu viên lập danh sách ĐD trưởng và ĐD tham gia nghiên cứu trình Lãnh đạo Bệnh viện phê duyệt
+ Sau đó nghiên cứu viên trực tiếp liên hệ với trưởng khoa và ĐD trưởng các khoa lên lịch cụ thể và tiến hành thu thập số liệu (10 khoa lâm sàng) sau khi được sự đồng ý của các khoa ĐD trưởng các khoa tập trung các ĐD về phòng giao ban của khoa theo lịch hẹn vào thời điểm cuối giờ làm việc buổi chiều Nghiên cứu viên mời các ĐD tham gia phát vấn bằng cách điền vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn; Đối tượng nghiên cứu được thông báo mục đích của nghiên cứu và giải thích rõ các thắc mắc
(nếu có); Trước khi phát phiếu, nghiên cứu viên giải thích rõ ràng ý nghĩa từng mục,
hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát theo quy định, sau đó phát phiếu để ĐD tự điền Ngay sau khi phiếu tự điền được đối tượng nghiên cứu điền xong, nghiên cứu viên rà soát phiếu và hỏi lại những thông tin chưa hợp lý và giải thích để đối tượng nghiên cứu bổ sung/điều chỉnh Sau mỗi ngày nghiên cứu viên tập hợp phiếu phát vấn
tự điền, kiểm tra phiếu về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một
số đối tượng, không có phiếu không đạt yêu cầu
2.5.2 Thu thập số liệu định tính:
- Phỏng vấn sâu: Đặt lịch hẹn người được phỏng vấn: Sử dụng phiếu hướng
dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 4) và tiến hành phỏng vấn Phó giám đốc bệnh viện,
Trưởng phòng Điều dưỡng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ để làm rõ mục tiêu nghiên cứu Các cuộc phỏng vấn tiến hành tại phòng làm việc riêng của từng cán bộ lãnh đạo theo đúng lịch hẹn, mỗi cuộc phỏng vấn sâu tiến hành trong khoảng 30 phút, học viên trực tiếp thực hiện phỏng vấn, ghi biên bản phỏng vấn, ghi âm và gỡ băng
- Thảo luận nhóm tập trung: Thảo luận nhóm được tiến hành tại hội trường giao
ban của Bệnh viện, cuộc thảo luận nhóm được tiến hành 2 lần và mỗi cuộc thảo luận nhóm tiến hành trong khoảng thời gian 45 phút, nghiên cứu viên là người chủ trì và nhân viên phòng ĐD làm thư ký, ghi chép diễn biến cuộc thảo luận
HUPH
Trang 40+ Lần 1 (Phụ lục 5): Thảo luận nhóm với trưởng phòng ĐD và ĐD trưởng các
khoa lâm sàng để tìm hiểu thực trạng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật và những thiếu hụt về kiến thức cũng như kỹ năng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các quy trình kỹ thuật cụ thể và nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng lâm sàng của Bệnh viện để xây dựng bảng hỏi
+ Lần 2 (Phụ lục 6) : Thảo luận nhóm với trưởng phòng ĐD và ĐD trưởng các
khoa lâm sàng của Bệnh viện để phiên giải và củng cố cho kết quả định lượng Sau khi thu thập và phân tích số liệu, thu được các kết quả nghiên cứu về mức độ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật và mức độ tự tin khi thực hiện các nhiệm vụ, chuyên môn kỹ thuật và nhu cầu ĐTLT của ĐD lâm sàng tại Bệnh viện Nhi, nghiên cứu viên muốn tiếp tục TLN để lý giải và làm rõ hơn các kết quả thu được, vềthực hiện nhiệm vụ chung, kỹ thuật chung; chuyên khoa Hồi sức cấp cứu, chuyên khoa Nội, chuyên khoa ngoại và về nhu cầu đào tạo liên tục cho ĐD lâm sàng tại Bệnh viện Nhi Hải Dương
2.6 Biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 1)
Dựa trên khung lý thuyết đã xây dựng và đối tượng nghiên cứu đã xác định, tiến hành lập bảng các biến số nghiên cứu Các biến số chính được sử dụng trong nghiên cứu:
- Đặc điểm chung của đối tượng như: Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
- Các biến số về thực hiện nhiệm vụ bao gồm: nhiệm vụ chăm sóc người bệnh chung; Thực hiện các kỹ thuật chung cơ bản; Thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa Hồi sức cấp cứu; Thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa Ngoại; Thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa Nội
- Nhiệm vụ thường ngày đảm nhiệm của người ĐD tại Bệnh viện Nhi đánh giá dựa trên 32 tiêu chí Mỗi tiêu chí được đánh giá với 3 mức độ thực hiện công viêc theo thứ tự từ mức không thực hiện, mức ít thực hiện, mức thường xuyên thực hiện
HUPH