1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tuân thủ quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện lao và bệnh phổi trà vinh năm 2020

93 33 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tuân thủ quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh năm 2020
Tác giả Lê Văn Hậu
Người hướng dẫn TS.BS Cao Mỹ Phượng
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Các khái niệm và định nghĩa (15)
      • 1.1.1. Khái niệm về đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (15)
      • 1.1.2. Khái niệm sự tuân thủ (15)
      • 1.1.3. Khái niệm về nhiễm khuẩn bệnh viện (15)
      • 1.1.4. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện (16)
      • 1.1.5. Nhiễm khuẩn huyết trên người bệnh đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên5 1.1.6. Tiêm an toàn (16)
      • 1.1.7. Vai trò của điều dưỡng trong quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (18)
      • 1.1.8. Quy trình kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (19)
    • 1.2. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài (21)
      • 1.2.1. Nghiên cứu trên thế giới (21)
      • 1.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam (23)
    • 1.3. Thông tin về bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Trà Vinh (25)
    • 1.4. Khung lý thuyết (27)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
      • 2.1.1. Cấu phần định lượng (28)
      • 2.1.2. Cấu phần định tính (28)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (28)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (28)
    • 2.4. Cỡ mẫu (29)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng (29)
      • 2.4.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính (29)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (30)
      • 2.5.1. Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành bộ công cụ nghiên cứu (30)
      • 2.5.2. Thu thập số liệu định lượng (30)
      • 2.5.3. Thu thập số liệu định tính (31)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (32)
      • 2.6.1. Các biến số nghiên cứu định lượng (32)
      • 2.6.2. Chủ đề nghiên cứu định tính (32)
    • 2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (32)
      • 2.7.1. Tuân thủ quy trình tốt trong nghiên cứu (32)
      • 2.7.2. Tuân thủ quy trình không tốt trong nghiên cứu (32)
      • 2.7.3. Người điều dưỡng tuân thủ quy trình tốt trong nghiên cứu (32)
      • 2.7.4. Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (33)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (33)
      • 2.8.1. Xử lý số liệu sau khi thu thập (33)
      • 2.8.2. Phân tích số liệu định lượng (33)
      • 2.8.3. Phân tích số liệu định tính (34)
    • 2.9. Đạo đức của nghiên cứu (34)
    • 2.10. Sai số và biện pháp khắc phục (34)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng ngiên cứu (36)
      • 3.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới của điều dưỡng (36)
      • 3.1.2. Đặc điểm về quá trình công tác của điều dưỡng (36)
      • 3.1.3. Đặc điểm về trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên (37)
      • 3.1.4. Phân bố theo khoa làm việc của điều dưỡng (38)
      • 3.1.5. Đặc điểm thời gian đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng (38)
    • 3.2. Thực trạng tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (39)
      • 3.2.2. Tỷ lệ chung của điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của 1 lượt quan sát (39)
      • 3.2.3. Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của cả 3 lượt quan sát theo từng khoa (40)
      • 3.2.4. Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng nội dung của quy trình (41)
      • 3.2.5. Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung chuẩn bị người bệnh (41)
      • 3.2.6. Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung thực hành đặt Catheter (42)
      • 3.2.7. Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung thực hành (46)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (47)
      • 3.3.1. Yếu tố ảnh hưởng giữa khoa công tác của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (47)
      • 3.3.2. Yếu tố ảnh hưởng giữa thời gian và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng (47)
      • 3.3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng được ghi nhận từ kết quả phỏng vấn sâu (48)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (54)
    • 4.1. Đặc điểm về thông tin chung của điều dưỡng viên thực hiện quy trình đặt (54)
    • 4.2 Thực hành của điều dưỡng viên về thực hiện quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (56)
      • 4.2.1. Tỷ lệ điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước khi thực hiện kỹ thuật đặt (56)
      • 4.2.2. Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ các bước trong quy trình trước khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (56)
    • 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên (59)
      • 4.3.1. Yếu tố ảnh hưởng giữa cá nhân và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng (59)
      • 4.3.2. Yếu tố ảnh hưởng giữa khoa công tác và sự tuân thủ quy trình của điều dưỡng (60)
      • 4.3.4. Hạn chế của nghiên cứu (62)
  • KẾT LUẬN (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (66)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh

Hồ sơ bệnh án của người bệnh điều trị nội trú

- Tiêu chí chọn: Điều dưỡng được lãnh đạo khoa phân công nhiệm vụ chăm sóc người bệnh và có chứng chỉ hành nghề

Hồ sơ bệnh án của người bệnh được điều dưỡng thực hiện đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên tại thời điểm quan sát

Cán bộ quản lý bệnh viện bao gồm lãnh đạo phụ trách công tác điều dưỡng, điều dưỡng trưởng bệnh viện và điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng Điều dưỡng viên là những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện.

Trong thời gian nghiên cứu, một số điều dưỡng viên không có mặt tại bệnh viện do đang nghỉ thai sản hoặc đi học Ngoài ra, một số điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu chưa sở hữu chứng chỉ hành nghề.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020

Tại 03 khoa lâm sàng bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh, gồm có: Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, khoa Nội A, khoa Nội B.

Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

2.4.1.1 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 01 tỷ lệ:

Trong đó: n: là số lần quan sát

Z = 1,96 (α =0,05, với độ tin cậy 95%) p = 0,066 (tỷ lệ tuân thủ qui trình đặt Catheter mạch máu ngoại biên) [1] d = 0,05 sai số cho phép

Trong nghiên cứu này, chúng tôi có tổng cộng 95 lần quan sát Dựa trên ước tính tỷ lệ từ chối tham gia và phiếu khảo sát không hợp lệ do thông tin không đầy đủ, khoảng 10%, số lượng mẫu cần khảo sát được điều chỉnh lên thành 105.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn toàn bộ 35 điều dưỡng đang làm việc tại bệnh viện để tham gia vào việc chăm sóc người bệnh Mỗi điều dưỡng sẽ được quan sát thực hiện quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cho bệnh nhân trong 03 lượt khác nhau.

2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện 09 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 01 lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác điều dưỡng, 01 điều dưỡng trưởng bệnh viện, 03 điều dưỡng trưởng khoa, và 02 điều dưỡng viên có tuân thủ tốt cùng 02 điều dưỡng viên tuân thủ không tốt Kết quả định lượng không chỉ ra cụ thể điều dưỡng nào thực hiện tốt và điều dưỡng nào không thực hiện tốt.

Chọn có chủ đích những người có hiểu biết chuyên môn, thẳng thắn và sẵn sàng chia sẻ thông tin chính theo tiêu chí chọn.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành bộ công cụ nghiên cứu

Xây dựng bộ công cụ điều tra bao gồm bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát điều dưỡng thực hiện quy trình kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, dựa trên quy trình hướng dẫn kỹ thuật tiêm thuốc hiện đang áp dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh, cùng với các bảng kiểm do Bộ Y tế ban hành.

Bảng kiểm quan sát điều dưỡng thực hiện đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cho người bệnh (Phụ lục 1)

Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 2, 3, 4)

Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu định lượng là bước quan trọng trong quá trình thu thập dữ liệu Sau khi xây dựng phiếu điều tra, Điều tra viên sẽ tiến hành thử nghiệm với 03 Điều dưỡng viên để đánh giá tính phù hợp và khả thi của công cụ Dựa trên kết quả thử nghiệm, nội dung bộ công cụ sẽ được chỉnh sửa và in ấn để phục vụ cho việc điều tra chính thức.

Để hoàn thiện công cụ nghiên cứu định tính, ĐTV sẽ thực hiện phỏng vấn thử với một điều dưỡng trưởng và một điều dưỡng viên nhằm kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi Sau đó, ĐTV sẽ tiến hành chỉnh sửa bộ câu hỏi trước khi thực hiện phỏng vấn chính thức.

2.5.2 Thu thập số liệu định lượng

Nhóm điều tra viên bao gồm 03 thành viên: một học viên cao học giữ vai trò điều tra viên chính, cùng với một giám sát viên từ phòng điều dưỡng và một giám sát viên từ khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh.

Nghiên cứu viên đã có buổi trao đổi trực tiếp với hai giám sát viên để thảo luận về mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và thống nhất cách đánh giá trong quá trình thực hành của điều dưỡng.

Tiến hành quan sát thực hành đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng viên cho người bệnh tại buồng bệnh Dựa vào danh sách điều dưỡng viên do điều dưỡng trưởng các khoa phân công, bao gồm họ tên, thời gian và lịch phân công công việc, điều tra viên thu thập thông tin cần thiết.

Quan sát bắt đầu từ khi soạn dụng cụ đến khi điều dưỡng hoàn thành kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Việc quan sát thực hành trực tiếp được thực hiện mà không thông báo trước, nhằm đảm bảo đối tượng nghiên cứu không biết thời điểm và quy trình được chọn Quan sát sẽ tiếp tục cho đến khi mỗi điều dưỡng thực hiện đủ 03 lượt đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên Nếu quan sát chưa hoàn thành, điều tra viên sẽ quay lại vào ngày khác cho đến khi đạt yêu cầu Điều tra viên sẽ dựa vào lịch phân công chăm sóc hàng ngày của từng khoa và chỉ chọn những điều dưỡng làm ngày để quan sát, không chọn điều dưỡng trực, với tổng mẫu quan sát là 105 lượt.

2.5.2.2 Thu thập số liệu thứ cấp

Sau khi quan sát điều dưỡng thực hiện việc đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cho bệnh nhân, ĐTV đã xem xét hồ sơ bệnh án của từng bệnh nhân để ghi chép thông tin vào phiếu điều tra về hồ sơ chăm sóc của điều dưỡng.

2.5.3 Thu thập số liệu định tính Điều tra viên cũng là học viên trực tiếp thực hiện Phỏng vấn sâu (PVS) 09 đối tượng có chủ đích, cung cấp thông tin chính theo hướng dẫn PVS (Phụ lục 2; Phụ lục 3; Phụ lục 4) Điều tra viên gặp xin ý kiến chấp thuận tham gia nghiên cứu của các đối tượng nghiên cứu và đưa phiếu đồng ý tham gia PVS (Phụ lục 5) Để tránh bỏ sót thông tin và thu thập số liệu được tốt hơn, Điều tra viên sử dụng máy ghi âm (được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu) kết hợp với ghi chép nội dung chính Thời gian cho phỏng vấn sâu là khoảng 20 phút đến 30 phút Mỗi cuộc PVS có một biên bản phỏng vấn riêng và được lưu giữ lại làm tài liệu thu thập được

Các biến số nghiên cứu

2.6.1 Các biến số nghiên cứu định lượng

(Xem phần định nghĩa biến số Phụ lục 4)

2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

Mục đích của phỏng vấn sâu là thu thập thông tin chi tiết nhằm nghiên cứu và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng tại bệnh viện.

- Yếu tố quản lý: Quan tâm của lãnh đạo bệnh viện; Quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, giám sát việc tuân thủ quy trình tại bệnh viện

- Yếu tố thuộc cá nhân Điều dưỡng: Áp lực và sự hài lòng với công việc; Thái độ của người điều dưỡng với người bệnh

- Yếu tố khác: Sự phối hợp của đồng nghiệp trong khoa; tình trạng bệnh của người bệnh lúc thực hành đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ: rất kém, kém, trung bình, khá và tốt, tương ứng với các tỷ lệ phần trăm < 20%, 20% đến 39%, 40% đến 59%, 60% đến 79% và ≥ 80% Do quy trình này có tính xâm lấn, việc thực hiện đúng quy trình là rất quan trọng Vì vậy, trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn tiêu chí thực hành đạt ≥ 80%.

2.7.1 Tuân thủ quy trình tốt trong nghiên cứu

Tuân thủ quy trình trong nghiên cứu là thực hành đạt ≥ 80% của 22 tiêu chí trong phiếu điều tra (Phụ lục 1)

2.7.2 Tuân thủ quy trình không tốt trong nghiên cứu

Không tuân thủ quy trình trong nghiên cứu là thực hành đạt < 80% của 22 tiêu chí trong phiếu điều tra (Phụ lục 1)

2.7.3 Người điều dưỡng tuân thủ quy trình tốt trong nghiên cứu

Người điều dưỡng thực hành tuân thủ tốt quy trình trong nghiên cứu là người điều dưỡng có cả 3 lượt quan sát đều đạt ≥ 80%

2.7.4 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Bảng kiểm kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên bao gồm 22 bước Mỗi bước thực hiện đúng sẽ được tính là “1 điểm” và được xem là “Đạt”, trong khi thực hiện không đúng hoặc không thực hiện sẽ được tính là “0 điểm” và được xem là “Không đạt”.

Phiếu điều tra trong nghiên cứu gồm 22 tiêu chí với số điểm đạt tối đa là 22 điểm, được chia thành 03 nhóm:

- Thực hành chuẩn bị NB với số điểm đạt tối đa là 3 điểm

- Thực hành kỹ thuật tiêm đặt kim luồn với số điểm đạt tối đa là 17 điểm

- Thực hành sau đặt Catheter với số điểm đạt tối đa là 2 điểm

Để đạt được mức tuân thủ quy trình trong nghiên cứu tối thiểu là 80% (tương đương 18 điểm), cần thực hiện 3 lượt quan sát ngẫu nhiên Nếu cả 3 lượt quan sát đều đạt tuân thủ tốt quy trình hoặc tổng số điểm của 3 lượt quan sát đạt từ 54 điểm trở lên, thì quy trình được coi là tuân thủ tốt.

Tuân thủ tốt quy trình của ĐDV xét theo từng nhóm tiêu chí như sau:

- Thực hành chuẩn bị NB, người ĐD đạt tuân thủ tốt quy trình khi 03 lượt quan sát có tổng số điểm đạt cho phần thực hành này là ≥ 8 điểm

Kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên đã được thực hành với sự tuân thủ quy trình tốt Qua 03 lượt quan sát, tổng số điểm đạt được cho phần thực hành này cho thấy hiệu quả cao trong việc thực hiện kỹ thuật.

Sau khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, người điều dưỡng cần thực hành đúng quy trình Để đạt được tuân thủ tốt, tổng số điểm cho phần thực hành này trong 03 lượt quan sát phải đạt từ 5 điểm trở lên.

Phương pháp phân tích số liệu

2.8.1 Xử lý số liệu sau khi thu thập

Tất cả các số liệu sau khi thu thập đều được kiểm tra, làm sạch và hoàn thiện ngay trong ngày

2.8.2 Phân tích số liệu định lượng

Dữ liệu được làm sạch và nhập vào phần mềm Epidata 3.1, sau đó được phân tích bằng SPSS 20.0 Phương pháp phân tích mô tả được sử dụng để tính tỷ lệ phần trăm cho các biến định tính, cũng như tính toán giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất và độ lệch chuẩn.

HUPH được trình bày dưới dạng ± SD cho các biến liên tục Sự khác biệt giữa các tỷ lệ được so sánh bằng kiểm định χ2, trong khi các biến định lượng được so sánh trung bình bằng test t-Student Mọi khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

2.8.3 Phân tích số liệu định tính

Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm và chuyển đổi thành văn bản Word một cách chính xác Thông tin được tóm tắt, mã hóa và tổng hợp theo các chủ đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu.

Đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này không thực hiện can thiệp vào đối tượng nghiên cứu và chỉ được tiến hành sau khi được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 200/2020/YTCC-HD3 về các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu, vào ngày 07 tháng 5 năm 2020.

Nghiên cứu được sự chấp thuận và ủng hộ của Ban Giám đốc, cán bộ, nhân viên làm việc tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh

Các đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo và giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Sự tham gia là hoàn toàn tự nguyện, và mọi thông tin cung cấp sẽ được bảo mật Kết quả nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, và việc công bố kết quả phải có sự đồng ý của các đối tượng tham gia.

Sai số và biện pháp khắc phục

Trong nghiên cứu này có thể gặp các sai số như sau:

- Sai số do thu thập thông tin;

- Nhập liệu có thể không chính xác

Biện pháp khắc phục sai số:

- Trước khi tiến hành điều tra, đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục tiêu của nghiên cứu và được động viên khuyến khích tham gia

Bộ câu hỏi được thiết kế một cách dễ hiểu và rõ ràng, phù hợp với hình thức phỏng vấn và quan sát, nhằm thu thập thông tin trung thực một cách tối đa.

ĐTV thực hiện điều tra thử nhằm kiểm tra tính phù hợp và hoàn thiện phiếu điều tra, đồng thời đảm bảo sử dụng thành thạo phiếu trước khi tiến hành điều tra chính thức.

Để đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, ĐTV cần đứng ở vị trí phù hợp để quan sát thực hành của ĐDV mà không để họ nhận ra mình đang bị theo dõi Điều này giúp tránh ảnh hưởng đến các kỹ thuật thực hành của ĐDV Mặc dù mục tiêu nghiên cứu và việc thu thập số liệu đã được thông báo trước, ĐDV không biết thời điểm nào và lần thực hành nào sẽ được chọn để đưa vào nghiên cứu.

Sau mỗi buổi điều tra, ĐTV sẽ kiểm tra tính chính xác của thông tin trong các phiếu điều tra để kịp thời thực hiện điều tra bổ sung khi phát hiện sai sót.

- Làm sạch số liệu sau mỗi buổi điều tra Nhập lại 10% số phiếu để kiểm tra tính chính xác trước khi phân tích số liệu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng ngiên cứu

3.1.1 Đặc điểm về tuổi và giới của điều dưỡng

Bảng 3.1: Tỷ lệ về tuổi và giới của điều dưỡng

Thông tin của điều dưỡng Tần số (n = 35) Tỷ lệ (%)

Trong số 35 điều dưỡng viên thực hiện quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, 68,6% thuộc nhóm tuổi từ 30 - 39, 25,7% dưới 30 tuổi và 5,7% từ 40 tuổi trở lên, với tuổi trung bình là 31,7 Đặc biệt, nữ giới chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 77,1% (27/35).

3.1.2 Đặc điểm về quá trình công tác của điều dưỡng

Bảng 3.2: Thời gian công tác của điều dưỡng

Thông tin của điều dưỡng Tần số (n = 35) Tỷ lệ (%)

Nhóm ĐDV có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm 22,9%, trong khi nhóm có thâm niên từ 5-10 năm chiếm 71,4% Nhóm có thâm niên trên 10 năm chỉ chiếm 5,7% Trung bình, số năm công tác của ĐDV là 6,9 năm.

3.1.3 Đặc điểm về trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên

Bảng 3.3: Đặc điểm về trình độ chuyên môn của điều dưỡng

Thông tin của điều dưỡng Tần số (n = 35) Tỷ lệ (%)

Trong nghiên cứu về 35 ĐDV, phần lớn có trình độ chuyên môn cao đẳng, chiếm 77,1% (27/35) Tỷ lệ ĐDV có trình độ đại học và trung học lần lượt là 17,2% và 5,7%.

3.1.4 Phân bố theo khoa làm việc của điều dưỡng

Bảng 3.4: Đặt điểm phân bố theo khoa lâm sàng của điều dưỡng

Khoa công tác Tần số (n = 35) Tỷ lệ (%)

Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trà Vinh có 4 phòng chức năng và 8 khoa, bao gồm 3 khoa lâm sàng Tại đây, 35 điều dưỡng viên thực hiện quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên cho bệnh nhân Khoa Nội B có tỷ lệ điều dưỡng viên cao nhất, chiếm 40,0%, trong khi khoa HSTC-CĐ có tỷ lệ thấp nhất với 28,6%, và khoa Nội A chiếm 31,4%.

3.1.5 Đặc điểm thời gian đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng

Bảng 3.5: Thời gian đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Thời gian 1 lượt đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên Giây

Thời gian trung bình ± độ lệch chuẩn ( ± SD) 47,9 ± 11,8

Trong 105 lượt quan sát quy trình đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên cho người bệnh, thời gian trung bình thực hiện là 47,9 giây, với thời gian ngắn nhất là 30 giây và dài nhất là 69 giây.

Thực trạng tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

3.2.1 Tỷ lệ chung của điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của cả 3 lượt quan sát

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ chung của điều dưỡng tuân viên thủ tốt quy trình cả 3 lượt quan sát

Tỷ lệ ĐDV đạt Tuân thủ tốt quy trình của cả 3 lượt quan sát là 8,6 % (3/35), còn lại 91,4% là Tuân thủ chưa tốt quy trình (32/35)

3.2.2 Tỷ lệ chung của điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của 1 lượt quan sát

Bảng 3.6: Tỷ lệ chung của điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của 1 lượt quan sát

Thực hiện quy trình trong 1 lần quan sát

Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy trình trong một lần quan sát đạt 39,0%, với điểm trung bình là 17,4 và độ lệch chuẩn là 1,3 Điểm thấp nhất ghi nhận là 14, trong khi điểm cao nhất là 21.

3.2.3 Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của cả 3 lượt quan sát theo từng khoa

Bảng 3.7: Tỷ lệ tuân thủ tốt quy trình của điều dưỡng cả 3 lượt quan sát theo khoa lâm sàng

Tuân thủ quy trình Tốt Không tốt Chung n % n % n %

Trong tổng số 35 điều dưỡng viên của 3 khoa lâm sàng tại bệnh viện, khoa HSTC-CĐ có tỷ lệ điều dưỡng viên thực hiện tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cao nhất với 20% (2/10) Khoa Nội A đạt 9,1% (1/11), trong khi khoa Nội B không có điều dưỡng nào thực hiện tốt quy trình trong cả 3 lượt quan sát.

3.2.4 Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng nội dung của quy trình

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng nội dung của quy trình

Trong số 35 điều dưỡng tham gia quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, tỷ lệ thực hành kỹ thuật đạt cao nhất với 80% Tỷ lệ sau thực hành đạt 51,4%, trong khi tỷ lệ chuẩn bị người bệnh chỉ đạt 20%, cho thấy cần cải thiện trong khâu chuẩn bị.

3.2.5 Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung chuẩn bị người bệnh

Chuẩn bị người bệnh Thực hành kỹ thuật Sau thực hành kỹ thuật

Bảng 3.8: Tỷ lệ tuân thủ theo từng bước trong nội dung chuẩn bị người bệnh

Nội dung Chuẩn bị người bệnh

Xác định đúng người bệnh 105 100 0 0,0

Thông báo và giải thích cho người bệnh kỹ thuật chuẩn bị thực hiện 51 48,6 54 51,4 Đánh giá tình trạng tĩnh mạch ngoại biên trước khi đặt Catheter 72 68,6 33 31,4

Tỷ lệ xác định đúng người bệnh của điều dưỡng đạt 100% (105/105) Tuy nhiên, tỷ lệ đánh giá tình trạng tĩnh mạch ngoại biên trước khi đặt catheter chỉ đạt 68,6% Đặc biệt, bước thông báo và giải thích kỹ thuật cho người bệnh có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 48,6%.

3.2.6 Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung thực hành đặt Catheter

Bảng 3.9: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ theo từng bước trước khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Mang dụng cụ đầy đủ đến giường bệnh 104 99,0 1 1,0

Chuẩn bị tư thế cho người bệnh phù hợp, bọc lộ vị trí tiêm 104 99,0 1 1,0

Cột Garo trên nơi tiêm 3-5cm/5-10cm 101 96,2 4 3,8

Trong quy trình, tỷ lệ tuân thủ các bước sát khuẩn tay nhanh chỉ đạt 22,9% và rửa tay thường quy là 41% Tuy nhiên, bước mang khẩu trang được điều dưỡng tuân thủ tuyệt đối với tỷ lệ 100% Các bước khác như mang dụng cụ đầy đủ đến giường bệnh và chuẩn bị tư thế cho người bệnh đạt tỷ lệ 99,0%, trong khi bước cột Garo trên nơi tiêm đạt 3-5cm/5-10cm và mang găng tay sạch có tỷ lệ tuân thủ là 96,2%.

Bảng 3.10: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ theo từng bước sát khuẩn da trước khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Nội dung thực hành đặt Catheter

Sát khuẩn da vùng tiêm (ít nhất 3 lần) 38 36,2 67 63,8

Sát khuẩn da vùng tiêm đúng cách (để khô da giữa 2 lần sát khuẩn và trước khi tiêm) 47 44,8 58 55,2

Để đảm bảo an toàn trong quá trình tiêm, việc sát khuẩn da vùng tiêm cần được thực hiện ít nhất 3 lần Tỷ lệ thực hiện sát khuẩn đúng cách, bao gồm việc để da khô giữa các lần sát khuẩn và trước khi tiêm, của điều dưỡng đạt 36,2% và 44,8%.

Bảng 3.11: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ theo từng bước khi đâm kim qua da

Nội dung thực hành đặt Catheter

Căng da nơi tiêm 104 99,0 1 1,0 Đâm kim qua da vào tĩnh mạch, tạo 1 góc

Thấy máu chảy ra ở chuôi kim  dừng lại không luồn kim 105 100 0 0,0

Lùi nòng kim khoảng 0.5-1cm và tiếp tục luồn kim nhẹ nhàng vào trong lòng mạch, sau đó rút bỏ nòng kim

Dùng ống bơm tiêm chứa sẵn dung dịch

NaCl 0.9% rút nhẹ thấy có máu rồi sau đó bơm vào lòng mạch

Gắn khóa lưu kim hoặc truyền dịch nếu có chỉ định 105 100 0 0,0

Tỷ lệ các bước đâm kim qua da vào tĩnh mạch, thấy máu chảy ra ở chuôi kim

Dừng lại, tháo dây Garo, và gắn khóa lưu kim hoặc truyền dịch theo chỉ định của điều dưỡng là bước quan trọng cần tuân thủ 100% Tuy nhiên, việc xác định catheter nằm trong lòng mạch bằng cách sử dụng ống bơm tiêm chứa dung dịch NaCl 0.9% có tỷ lệ tuân thủ thấp, chỉ đạt 47,6%.

Bảng 3.12: Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ bước cố đinh Catherter

Nội dung thực hành đặt Catheter

Cố định Catherter chắc chắn 104 99,0 1 1,0

Tỷ lệ bước Cố định Catherter chắc chắn được điều dưỡng thực hiện tốt đạt 99%

3.2.7 Tỷ lệ tuân thủ của điều dưỡng theo từng bước trong nội dung thực hành sau khi đặt Catheter

Bảng 3.13: Tỷ lệ tuân thủ theo từng nội dung thực hành sau khi đặt Catheter

Nội dung sau thực hành đặt Catheter

Thu dọn dụng cụ, phân loại rác thải đúng qui định 97 92,4 8 7,6

Ghi giờ, ngày, tên điều dưỡng thực hiện 50 47,6 55 52,4

Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy định trong việc thu dọn dụng cụ và phân loại rác thải đạt 92,4% Tuy nhiên, tỷ lệ ghi chép giờ, ngày và tên điều dưỡng thực hiện chỉ đạt 47,6%, cho thấy cần cải thiện trong công tác ghi chép.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

3.3.1 Yếu tố ảnh hưởng giữa khoa công tác của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Bảng 3.14: Yếu tố ảnh hưởng giữa khoa công tác của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Kết quả kiểm định Chi-Square cho thấy khoa Hồi sức tích cực - Chống độc có tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cao nhất, đạt 20%, trong khi đó khoa Nội A chỉ đạt 9,1% và các khoa nội khác có tỷ lệ thấp hơn.

Kết quả phân tích cho thấy không có sự ảnh hưởng giữa khoa công tác của điều dưỡng và sự tuân thủ quy trình, với giá trị p = 0,225, lớn hơn 0,05, mặc dù có sự khác biệt về kết quả ở từng khoa.

3.3.2 Yếu tố ảnh hưởng giữa thời gian và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng

Bảng 3.15: Yếu tố ảnh hưởng giữa thời gian và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng

Thời gian thực hiện kỹ thuật

Tốt Không P ± SD ± SD Thời gian trung bình 58,7 ± 7,6 49,6 ± 11,9 F = 1,66 * 0,206

Thời gian điều dưỡng thực hiện quy trình từ khi sát khuẩn da bệnh nhân đến khi cố định Catheter không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, với giá trị p = 0,206 > 0,05 cho thấy sự tuân thủ quy trình là tốt.

3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng được ghi nhận từ kết quả phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu với các lãnh đạo và điều dưỡng viên tại bệnh viện nhằm tìm hiểu các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên Mục tiêu là xây dựng giải pháp hỗ trợ cho điều dưỡng, giúp họ thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ trong chăm sóc người bệnh, từ đó nâng cao chất lượng khám và điều trị tại bệnh viện.

- Nhóm chủ đề về trang thiết bị, cơ sở vật chất:

Mặc dù bệnh viện đã trang bị đầy đủ các phương tiện và dụng cụ cần thiết để đảm bảo vô trùng và phòng ngừa lây chéo, nhưng vẫn còn một số trang thiết bị chưa đạt tiêu chuẩn an toàn Cụ thể, xe tiêm thuốc nhỏ chỉ có 2 tầng gây khó khăn trong việc sắp xếp dụng cụ Ngoài ra, trong phòng bệnh và hành lang chưa có bồn rửa tay, chỉ có một chai dung dịch sát khuẩn cho cả dãy hành lang, khiến điều dưỡng gặp khó khăn trong việc rửa tay khi chăm sóc bệnh nhân Điều này buộc họ phải quay về phòng hành chính để rửa tay, gây cản trở trong quá trình chăm sóc.

Bệnh viện hiện đang sử dụng xe tiêm thuốc nhỏ với chỉ 2 tầng, điều này gây khó khăn cho ĐDV trong việc sắp xếp dụng cụ khi thực hiện kỹ thuật chăm sóc.

Bệnh viện chưa lắp đặt bồn rửa tay tại phòng bệnh và hành lang của khoa lâm sàng, gây khó khăn cho nhân viên y tế trong việc rửa tay sau khi chăm sóc bệnh nhân và di chuyển giữa các bệnh nhân Hiện tại, bồn rửa tay chỉ có ở phòng hành chính của khoa.

Bệnh viện đã trang bị bồn rửa tay, xà phòng và dung dịch sát khuẩn tay nhanh, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho nhân viên y tế và bệnh nhân Cụ thể, trong phòng bệnh và ngoài hành lang chưa có bồn rửa tay và dung dịch sát khuẩn, gây khó khăn cho điều dưỡng trong việc rửa tay khi di chuyển chăm sóc giữa các bệnh nhân.

Để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, bệnh viện cần đầu tư vào việc thay mới xe tiêm thuốc đạt tiêu chuẩn, đồng thời đảm bảo mỗi phòng bệnh đều được trang bị đầy đủ bồn rửa tay, xà phòng và dung dịch sát khuẩn tay nhanh.

Bệnh viện cung cấp đầy đủ vật tư y tế cho nhu cầu khám và điều trị, nhưng vẫn còn thiếu một số dụng cụ và kích cỡ đa dạng, như Catheter tĩnh mạch chỉ có size 18G và 20G, trong khi nhiều bệnh nhân nặng có tĩnh mạch nhỏ và sâu Việc sử dụng Catheter size lớn gặp khó khăn và dễ gây vỡ mạch Hơn nữa, quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên chưa đảm bảo vô khuẩn do bệnh viện vẫn sử dụng băng keo cá nhân thay vì băng dán vô khuẩn đầu kim.

Bệnh viện chỉ cung cấp catheter tĩnh mạch với kích thước 18G và 20G, trong khi có nhiều trường hợp bệnh nặng và bệnh nhân có tĩnh mạch nhỏ, sâu Việc sử dụng catheter kích thước lớn trong những trường hợp này không chỉ khó khăn trong việc đặt mà còn dễ dẫn đến tình trạng vỡ mạch.

“Bệnh viện chưa cung cấp băng dán vô khuẩn đầu kim mà chỉ dùng băng keo cá nhân nên không đảm bảo vô khuẩn cho người bệnh (ĐDT khoa)

Đề nghị bệnh viện cung cấp thêm các kích cỡ Catheter tĩnh mạch đa dạng như 20G và 22G, đồng thời trang bị băng dán vô khuẩn cho đầu kim, nhằm hỗ trợ điều dưỡng thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn.

- Nhóm chủ đề quản lý:

Bệnh viện chuyên khoa hạng II trực thuộc Sở Y tế tỉnh Trà Vinh có 100 giường bệnh và khoảng 100 nhân viên Bệnh viện có một bác sĩ phó Giám đốc phụ trách chuyên môn và chủ tịch Hội đồng điều dưỡng Để quản lý công tác điều dưỡng, bệnh viện đã thành lập Phòng điều dưỡng, tuy nhiên, việc phân bổ chỉ tiêu cho phòng chưa đáp ứng đủ nhu cầu chức năng nhiệm vụ theo quy chế bệnh viện.

Tôi là Bác sĩ phó Giám đốc bệnh viện, phụ trách chuyên môn và chủ tịch Hội đồng điều dưỡng Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân, và việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật là yếu tố quyết định thành công của ca điều trị Do đó, tôi luôn chú trọng đến công tác điều dưỡng.

Phòng điều dưỡng hiện tại chưa có Trưởng phòng, chỉ có một phó trưởng phòng phụ trách chung, dẫn đến việc không thường xuyên kiểm tra và giám sát Mặc dù lãnh đạo bệnh viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật, đặc biệt là quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, nhưng vẫn còn một số khó khăn như quá tải công việc hàng ngày và tình trạng thiếu điều dưỡng cục bộ do bệnh đông bất thường tại một số khoa Điều này ảnh hưởng đến kết quả tuân thủ quy trình chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng.

BÀN LUẬN

Đặc điểm về thông tin chung của điều dưỡng viên thực hiện quy trình đặt

Nghiên cứu 35 điều dưỡng tại 3 khoa lâm sàng cho thấy khoa Nội B có tỷ lệ điều dưỡng cao nhất 40,0% do số giường bệnh kế hoạch lớn nhất (50 giường), trong khi khoa Hồi sức tích cực - chống độc có tỷ lệ thấp nhất 28,6% vì số giường bệnh kế hoạch chỉ 10 giường Tỷ lệ điều dưỡng nữ chiếm 77,1%, phù hợp với nghiên cứu của Huỳnh Thị Mỹ Thanh (2014) nhưng thấp hơn so với Huỳnh Văn Bạn (2018) và Lê Thị Kim Oanh (2012) Ngành điều dưỡng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và phẩm chất đạo đức, do đó, phần lớn điều dưỡng viên là nữ giới, phản ánh tính chất chăm sóc người bệnh cần sự dịu dàng và kiên nhẫn.

Nhóm tuổi từ 30 – 39 chiếm tỷ lệ cao nhất với 68,6% (24/35), trong khi nhóm tuổi dưới 30 chỉ chiếm 25,7% (9/35) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Huỳnh Văn Bạn (2018), trong đó nhóm tuổi 30 – 39 chiếm 45,3% và nhóm dưới 30 chiếm 34,9% Tuy nhiên, tỷ lệ nhóm tuổi 30 – 39 trong nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2012) lại cao hơn nhiều, đạt 98,1% Kể từ khi bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh được thành lập vào năm 2011, nhu cầu tuyển dụng đội ngũ nhân viên đã gia tăng.

Bệnh viện HUPH hiện có đội ngũ điều dưỡng trẻ, với độ tuổi trung bình là 31,7, trong đó độ tuổi nhỏ nhất là 24 và lớn nhất là 41 Cơ sở vật chất khang trang và trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội Số lượng bệnh nhân vào viện ngày càng đông, yêu cầu bệnh viện phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu Ngày nay, điều dưỡng không chỉ thực hiện y lệnh của bác sĩ mà còn là một nghề độc lập, đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị Để đảm bảo sự hài lòng của bệnh nhân, đội ngũ điều dưỡng cần có tay nghề vững, nhanh nhẹn và khả năng học hỏi nâng cao chuyên môn Tỷ lệ điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 5 năm là 22,9%, từ 5 - 10 năm chiếm 71,4%, và trên 10 năm là 5,7%, phù hợp với tuổi đời của bệnh viện và nghiên cứu của Huỳnh Thị Mỹ Thanh và cộng sự.

Nhu cầu chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện An Giang năm 2014 đòi hỏi sự liên tục và chuyên nghiệp Để đáp ứng yêu cầu này, đội ngũ điều dưỡng cần được trẻ hóa, đảm bảo có đủ kiến thức và kỹ năng Mục tiêu của các bệnh viện là nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân, yêu cầu điều dưỡng viên phải có sức khỏe tốt và thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn.

Tỷ lệ điều dưỡng có văn bằng chuyên môn cao đẳng đạt 77,1% (27/35), trong khi điều dưỡng trung học chỉ chiếm 5,75% (2/30) Tỷ lệ điều dưỡng có trình độ đại học là 17,2% (6/35), và hiện tại bệnh viện chưa có điều dưỡng có trình độ sau đại học So với nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Bạn (2018), tỷ lệ điều dưỡng có trình độ cao đẳng cao hơn 3,8%, trong khi tỷ lệ điều dưỡng trung học và đại học thấp hơn 64,2% và 30,4%.

Tỷ lệ điều dưỡng có trình độ cao đẳng trở lên tại HUPH đạt 21,4%, cao hơn so với nghiên cứu của Huỳnh Thị Mỹ Thanh (2014) Điều này cho thấy đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện luôn nỗ lực học hỏi và nâng cao chuyên môn, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc bệnh nhân và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

Thực hành của điều dưỡng viên về thực hiện quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

4.2.1 Tỷ lệ điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước khi thực hiện kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

Nguyên tắc chăm sóc người bệnh yêu cầu điều dưỡng viên xác định đúng người bệnh trước khi thực hiện bất kỳ thủ thuật nào Trong quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên, điều dưỡng cần chuẩn bị người bệnh, thông báo và giải thích kỹ thuật trước khi thực hiện, cũng như đánh giá tình trạng người bệnh Tuy nhiên, tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi, do bệnh nhân thường mãn tính và điều trị lâu dài, điều dưỡng có thể bỏ qua một số bước chuẩn bị Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ xác định đúng người bệnh đạt 100% (105/105 lần quan sát), trong khi tỷ lệ đánh giá tình trạng tĩnh mạch ngoại biên trước khi đặt Catheter là 68,6% (72/105), và tỷ lệ thông báo, giải thích cho người bệnh chỉ đạt 48,6% (51/105).

4.2.2 Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ các bước trong quy trình trước khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên Để đạt được hiệu quả chăm sóc người bệnh khi điều dưỡng viên thực hiện thủ thuật trên người bệnh được tốt thì người điều dưỡng cũng cần phải bảo vệ chính mình và những người xung quanh các bước liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn trong quy trình đặt Catheter đặt tĩnh mạch ngoại biên như mang khẩu trang, rửa tay, sát

Kết quả khảo sát 105 lượt điều dưỡng viên (ĐDV) cho thấy tỷ lệ mang khẩu trang đạt 100% (105/105), trong khi tỷ lệ rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh chỉ đạt 41% (43/105) và 22,9% (24/105) Những con số này thấp hơn so với tỷ lệ rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh trong nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Bạn (2018).

Tỷ lệ thực hiện mang găng tay sạch của điều dưỡng viên đạt 96,2% (101/105), cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây, như của Nguyễn Kim Sơn (2014) với tỷ lệ 62,5% và 63,1%, cũng như nghiên cứu của Huỳnh Văn Bạn (2018) với 70,8% và Forberg U (2014) với 70%.

Đa số điều dưỡng viên trong bệnh viện nhận thức rõ rằng việc không tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm khuẩn tại chỗ khi thực hiện thủ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên Tuy nhiên, do cơ sở vật chất chưa đầy đủ, thói quen và áp lực công việc, nhiều điều dưỡng thường bỏ qua các bước như rửa tay và sát khuẩn tay nhanh Mặc dù tỷ lệ điều dưỡng thực hiện tốt các bước chuẩn bị cho thủ thuật đạt 99,0% và tỷ lệ thực hiện tốt bước cột Garo là 96,2%, nhưng việc lơ là trong khâu vệ sinh vẫn là một vấn đề cần được cải thiện.

Tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy trình sát khuẩn da vùng tiêm ít nhất 3 lần trước khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên chỉ đạt 36,2% (38/105) Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Huỳnh Văn Bạn (2018) với tỷ lệ 33% và thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh (2012) là 67,9% Việc thực hiện đúng bước sát khuẩn, bao gồm để da khô giữa các lần sát khuẩn, là rất quan trọng.

Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện tiêm tại HUPH đạt 44,8% (47/105), tương đương với nghiên cứu của Huỳnh Văn Bạn (2018) là 44,3% Việc sát khuẩn da vùng tiêm trước khi đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên là rất quan trọng để đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn và giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn Điều dưỡng viên cần chú ý đến nguyên tắc vô khuẩn trong quá trình thực hiện Quan sát cho thấy, nếu điều dưỡng thực hiện sát khuẩn da ít nhất 3 lần nhưng không để da khô giữa các lần sát khuẩn, thì quy trình sẽ không đạt yêu cầu Một số điều dưỡng viên cho rằng do phải chăm sóc nhiều bệnh nhân và thực hiện nhiều thủ thuật cùng lúc, họ thường phải làm nhanh và bỏ qua một số bước trong quy trình.

Các bước thực hành khi điều dưỡng đâm kim qua da đạt tỷ lệ cao, cụ thể là căng da nơi tiêm đạt 99,0% (104/105) và đâm kim vào tĩnh mạch với góc 30 độ đạt 100% (105/105) Khi thấy máu chảy ra ở chuôi kim, điều dưỡng dừng lại không luồn kim, tháo dây Garo, lùi nòng kim khoảng 0,5-1cm và tiếp tục luồng kim vào lòng mạch, đạt tỷ lệ 100% (105/105) Tuy nhiên, bước sử dụng ống bơm tiêm với dung dịch NaCl 0,9% có tỷ lệ tuân thủ thấp, do điều dưỡng có thể nghĩ rằng khi thấy máu chảy ra thì Catheter đã vào lòng mạch, dẫn đến việc bỏ qua bước này Cuối cùng, bước gắn khoá lưu Catheter và cố định Catheter được điều dưỡng tuân thủ gần như tuyệt đối 100%.

Trong quy trình cuối cùng, điều dưỡng tuân thủ tốt việc thu dọn dụng cụ và phân loại rác thải y tế với tỷ lệ 92,4% (97/105) Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ ghi giờ, ngày, và tên điều dưỡng chỉ đạt 47,6% (50/105) Điều dưỡng viên cho biết họ thường hoàn thiện thủ tục hành chính sau khi chăm sóc bệnh nhân, dẫn đến nguy cơ ghi chép không đầy đủ hoặc sai lệch thông tin trong hồ sơ bệnh án.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên chỉ đạt 39,0% trong 105 lần quan sát, với mức trung bình là 17,4/22 bước Không có điều dưỡng viên nào thực hiện 100% các bước, và chỉ 8,6% thực hành tốt quy trình trong cả 3 lượt quan sát Tiêu chí đánh giá của chúng tôi yêu cầu điều dưỡng viên phải đạt trung bình ≥ 18/22 bước, chặt chẽ hơn so với nhiều nghiên cứu khác Mặc dù tiêu chí đánh giá chưa đồng nhất, nhưng kết quả cho thấy thói quen từ môi trường làm việc có thể dẫn đến việc sao nhãng tuân thủ quy trình, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn liên quan đến Catheter.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên

4.3.1 Yếu tố ảnh hưởng giữa cá nhân và sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng

Nghiên cứu cho thấy, trong việc tuân thủ quy trình, nhóm điều dưỡng nữ có tỷ lệ thực hiện tốt là 11,1% (3/35), cao hơn so với nhóm điều dưỡng nam với tỷ lệ 0% (0/35) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p=0,339 > 0,05).

Nhóm điều dưỡng dưới 30 tuổi có tỷ lệ tuân thủ tốt là 11,1% (1/9), trong khi nhóm từ 30-39 tuổi đạt 8,3% (2/24), và nhóm ≥ 40 tuổi không có ai tuân thủ tốt (0/2) Mặc dù có sự khác biệt về tỷ lệ phần trăm, kết quả phân tích thống kê cho thấy những thông tin này cần được xem xét kỹ lưỡng.

HUPH kê thì chưa thấy có yếu tố ảnh hưởng giữa tuổi và việc tuân thủ thực hiện tốt quy trình (p=0,886>0,05)

Phân tích kinh nghiệm làm việc cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình của các nhóm làm việc dưới 5 năm, 5-10 năm và trên 10 năm lần lượt là 0%, 8% và 50% Mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ phần trăm, nhưng số lượng điều dưỡng viên (ĐDV) tuân thủ quy trình không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm (p=0,079>0,05) Tương tự, nhóm có trình độ chuyên môn trung học, cao đẳng và đại học cũng cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể về số lượng (p=0,712>0,05) Điều này cho thấy đội ngũ ĐDV của bệnh viện luôn nêu cao tinh thần học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn (2014) và Huỳnh Văn Bạn (2018), cho thấy sự tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên không bị ảnh hưởng bởi yếu tố cá nhân của điều dưỡng.

4.3.2 Yếu tố ảnh hưởng giữa khoa công tác và sự tuân thủ quy trình của điều dưỡng Điều dưỡng công tác tại khoa HSTC-CĐ có tỷ lệ tuân thủ quy trình tốt đạt 20% (2/10), Khoa Nội A và Khoa Nội B có tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ tốt quy trình lần lượt là 9,1% (1/11), 0% (0/14), điều dưỡng làm việc tại khoa HSTC-CĐ có tỷ lệ tuân thủ tốt quy trình cao hơn 2 khoa còn lại tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng này không có ý nghĩa thống kê sau khi phân tích (p = 0,225 > 0,05)

Thời gian đặt Catheter được tính từ khi điều dưỡng sát khuẩn da bệnh nhân đến khi hoàn thành việc cố định kim, với thời gian ngắn nhất là 30 giây và dài nhất là 69 giây Thời gian trung bình cho quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên là 58,7 ± 7,6 giây, trong khi thời gian trung bình cho quy trình thực hiện không tốt là 49,6 ± 11,9 giây Phân tích thống kê cho thấy yếu tố thời gian không ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy trình của điều dưỡng (p = 0,206 > 0,05).

4.3.3 Yếu tố ảnh hưởng giữa nhận định cá nhân tới sự tuân thủ tốt quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên của điều dưỡng

Sau khi phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện và các điều dưỡng viên tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trà Vinh, chúng tôi đã tìm hiểu về quy trình kỹ thuật đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên cho bệnh nhân trong năm 2020 Nghiên cứu cũng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình này Kết quả ghi nhận cho thấy một số thông tin quan trọng về tình hình thực hiện quy trình.

Về yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất

Mặc dù bệnh viện đã đầu tư và trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị và vật tư y tế cho điều dưỡng, nhưng vẫn còn một số vấn đề cần cải thiện để đảm bảo quy trình đặt catheter tĩnh mạch được tuân thủ tốt Cụ thể, bệnh viện chưa trang bị đủ bồn rửa tay và xà phòng diệt khuẩn tại khu vực buồng bệnh, gây bất tiện cho điều dưỡng trong việc thực hiện rửa tay thường quy khi chăm sóc bệnh nhân.

Về yếu tố quản lý

Bệnh viện đã thiết lập quy trình hướng dẫn kỹ thuật điều dưỡng và theo dõi giám sát điều dưỡng, phân bổ chỉ tiêu cho từng khoa/phòng dựa trên kế hoạch giường bệnh Tuy nhiên, việc kiểm tra và giám sát điều dưỡng chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến quá tải trong công việc hàng ngày Hơn nữa, bệnh viện chưa có quy chế khen thưởng cho nhân viên, bao gồm cả điều dưỡng, tạo ra tâm lý lơ là và thiếu trách nhiệm Điều này khiến điều dưỡng viên cảm thấy không có sự giám sát, không được khen thưởng khi làm đúng và không bị phạt khi làm sai.

Yếu tố thuộc cá nhân điều dưỡng

Đội ngũ điều dưỡng trẻ với trình độ chuyên môn cao hứa hẹn mang lại kết quả chăm sóc bệnh nhân tốt và an toàn, đồng thời nâng cao sự hài lòng của người bệnh tại bệnh viện Ngoài ra, lãnh đạo có thể xem xét điều động và phân bổ thêm nhân lực để cải thiện chất lượng dịch vụ.

HUPH tiêu cho những khoa/phòng còn thiếu nhân sự như: phòng điều dưỡng, khoa nội A, khoa nội B

Với tinh thần yêu nghề và nhiệt huyết, các điều dưỡng viên luôn sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp trong công việc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ quy trình đặt Catheter tĩnh mạch ngoại biên Tuy nhiên, một số yếu tố bất lợi như tình trạng bệnh nặng, người bệnh suy kiệt và tâm lý không hợp tác của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng.

4.3.4 Hạn chế của nghiên cứu

Sự hiện diện của điều tra viên tại điểm thu thập thông tin có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, vì điều này khiến ĐD viên thực hiện quy trình một cách nghiêm túc hơn Các cuộc phỏng vấn sâu dựa trên bộ câu hỏi theo chủ đề thu thập nhận xét và quan điểm cá nhân, nhưng đối tượng nghiên cứu có thể trả lời không phản ánh đúng hành động thực tế của họ, dẫn đến sai lệch thông tin.

Do thời gian nghiên cứu hạn chế, chúng tôi chưa thể kết hợp việc nghiên cứu thực trạng chăm sóc Catheter sau khi đặt cho bệnh nhân, thời gian lưu Catheter và tình trạng nhiễm khuẩn liên quan đến Catheter.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN