ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh không có suy giảm nhận thức sẽ được thông báo ra viện sau thời gian điều trị nội trú tại BVLKTW từ ngày thứ 3 trở đi, tại 08 khoa lâm sàng bao gồm: Tim mạch can thiệp, Ngoại, Nội chung, Ung bướu, và Phục hồi chức năng.
Hô hấp, Nội tiết – Cơ xương khớp, Thần kinh – Alzheimer, Sức khỏe tâm thần) vào thời điểm nghiên cứu bởi các lý do sau:
Bệnh nhân tại khoa Hồi sức tích cực và Cấp cứu đột quỵ đều trong tình trạng nặng và cần thở máy, khiến người nhà bị hạn chế vào khu vực này Do đó, việc đánh giá hoạt động chăm sóc của điều dưỡng cần được thực hiện thông qua quan sát Trong nghiên cứu này, tôi chỉ có thể thực hiện quan sát tại 8 khoa lâm sàng khác do giới hạn về thời gian và nguồn lực.
Người nhà của bệnh nhân suy giảm nhận thức sẽ được thông báo về việc ra viện sau thời gian điều trị nội trú tại BVLKTW, bắt đầu từ ngày thứ 3 tại 8 khoa lâm sàng đã nêu Đội ngũ điều dưỡng viên trực tiếp sẽ hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân tại 8 khoa lâm sàng này.
Báo cáo về tình hình nhân lực điều dưỡng từ phòng Điều dưỡng, cùng với danh sách ĐDV trực tiếp tại 08 khoa lâm sàng, đã được tổng hợp trong bảng phân công chăm sóc hàng ngày.
Bệnh nhân không đủ điều kiện tham gia nghiên cứu nếu vào viện dưới 3 ngày, chưa được thông báo ra viện, từ chối tham gia, là nhân viên bệnh viện hoặc là thân nhân của cán bộ nhân viên bệnh viện.
Trong quá trình nghiên cứu, điều dưỡng không tham gia trực tiếp vào công tác chăm sóc người bệnh do nhiều lý do như đi học dài hạn, ốm đau, nghỉ phép, đang trong thời gian nghỉ thai sản hoặc hậu sản, hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Phó Giám đốc chuyên môn của Bệnh viện
- Trưởng/phó khoa của 4 khoa lâm sàng
- Điều dưỡng trưởng của 8 khoa lâm sàng
- Điều dưỡng viên trực tiếp CSNB tại 8 khoa lâm sàng.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 8 khoa lâm sàng của Bệnh viện Lão Khoa Trung ương, bao gồm các chuyên khoa: Tim mạch can thiệp – Ngoại, Nội chung, Ung bướu, Phục hồi chức năng, Tim mạch – Hô hấp, Nội tiết – Cơ xương khớp, Thần kinh – Alzheimer, và Sức khỏe tâm thần.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03 năm 2018 đến tháng 09 năm 2018.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính qua hai giai đoạn: giai đoạn định lượng trước và giai đoạn định tính sau Kết quả từ nghiên cứu định tính sẽ bổ sung và giải thích cho các kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
- Danh sách ĐDV trực tiếp CSNB tại 08 khoa lâm sàng nêu trên
- Bảng phân công chăm sóc hàng ngày
➢ Cỡ mẫu cho phỏng vấn người bệnh/người nhà người bệnh a Công thức và cỡ mẫu
✓ n: số người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện để phỏng vấn
✓ p: là tỷ lệ NB đánh giá được ĐDV chăm sóc tốt với p = 0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất
- Dựa vào các chỉ số và công thức trên tính được cỡ mẫu là 196
Để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu, cần cộng thêm 10% vào cỡ mẫu để dự phòng cho một tỷ lệ nhất định những người bệnh không muốn tham gia hoặc không thể tiếp cận Do đó, cỡ mẫu tính toán được cho nghiên cứu là n!6.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thanh (2015) tại BVLKTW, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện bị suy giảm nhận thức là 51%.
+ Số người bệnh trả lời phỏng vấn là 106
+ Số người nhà bệnh nhân trả lời phỏng vấn là 110
Do nhiều yếu tố khách quan trong quá trình thu thập số liệu, kết quả thực tế cho thấy có 203 bệnh nhân tham gia phỏng vấn.
+ Số người bệnh trả lời phỏng vấn là 104
+ Số người nhà bệnh nhân trả lời phỏng vấn là 99 b Chọn mẫu
Sau khi xác định cỡ mẫu tổng là n = 216, chúng ta tiến hành tính số mẫu cần chọn cho từng khoa bằng công thức: (số giường thực kê của mỗi khoa / tổng số giường thực kê của 8 khoa) x 216 Kết quả này sẽ cho ra số người bệnh của khoa được chọn vào nghiên cứu, sau đó nhân với 51% để tính số người nhà bệnh nhân tham gia trả lời Cuối cùng, ta có số người bệnh trả lời của từng khoa (xem Phụ lục 8).
Tại thời điểm nghiên cứu, NCV tiến hành thu thập danh sách bệnh nhân nằm viện từ ngày thứ 3 trở đi để đủ số mẫu cần thiết cho khoa Đối với người cao tuổi, sau khi được chọn vào nghiên cứu, sẽ thực hiện đánh giá chức năng nhận thức Nếu bệnh nhân có dấu hiệu suy giảm nhận thức, sẽ tiến hành phỏng vấn người chăm sóc bệnh nhân hàng ngày trong suốt thời gian nằm viện.
- Cách đánh giá chức năng nhận thức của người bệnh:
Bảng Đánh giá Mini-Cog, bao gồm test nhớ 3 từ và test vẽ đồng hồ, đã được chuẩn hóa sang tiếng Việt và hiện đang được sử dụng như một trắc nghiệm thường quy tại BVLKTW để đánh giá các rối loạn nhận thức ở người cao tuổi.
+ Bước 1: Người khám đọc chậm rãi, rõ ràng cho bệnh nhân nghe 3 từ quen thuộc, sau đó nhắc lại sau 5 phút Ví dụ: Hải phòng, Bóng bàn, Màu xanh
Nếu bệnh nhân có thể nhắc lại đầy đủ và chính xác cả 3 từ trong vòng 5 phút, không cần thực hiện bước 2 Ngược lại, nếu bệnh nhân chỉ nhắc lại được 1 hoặc 2 từ, bước 2 sẽ được tiến hành.
Mỗi từ nhắc lại đúng được cho 1 điểm
+ Bước 2: Người khám yêu cầu người cao tuổi vẽ mặt đồng hồ với đủ các chữ số và kim đồng hồ chỉ 11 giờ 10 phút
Vẽ đồng hồ đúng theo yêu cầu được cho 2 điểm, vẽ không đúng được 0 điểm
✓ Từ 0-2 điểm: Có suy giảm nhận thức
✓ Từ 3-5 điểm: Không có suy giảm nhận thức
➢ Cỡ mẫu cho quan sát trực tiếp ĐDV
Phương pháp chọn mẫu được thực hiện bằng cách lựa chọn toàn bộ điều dưỡng viên trực tiếp tại 08 khoa lâm sàng, đảm bảo đáp ứng các tiêu chí của đối tượng nghiên cứu Tổng cộng có 68 điều dưỡng tham gia, với 136 lượt quan sát quy trình tiêm tĩnh mạch được ghi nhận (phụ lục 9).
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
- Tiến hành 05 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) : 1 Phó Giám đốc Bệnh viện, chọn chủ đích 02 lãnh đạo khoa lâm sàng khu nhà C,02 lãnh đạo khoa lâm sàng khu nhà
- Tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm (TLN) bao gồm:
+ TLN 1: Chọn chủ đích 08 điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK) của 8 khoa lâm sàng
+ TLN 2: Chọn chủ đích 08 điều dưỡng trực tiếp CSNB tại 08 khoa lâm sàng Lựa chọn 8 ĐDV tham gia TLN 2 đảm bảo cân đối các tiêu chuẩn:
• Trình độ: Đại học, Cao đẳng, Trung cấp
• Thâm niên công tác: < 10 năm, 10 - 15 năm, ≥ 15 năm
• Vị trí: điều dưỡng trưởng nhóm, điều dưỡng viên
• Sẵn sàng chia sẻ thông tin.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Báo cáo về tình hình nhân lực năm 2018 của Phòng Điều dưỡng, kết quả hoạt động của bệnh viện năm 2017, và các hoạt động của Phòng Điều dưỡng trong năm 2017 đã được học viên trực tiếp thu thập.
2.5.1.2 Thu thập thông tin về công tác CSNB của điều dưỡng tại 08 khoa lâm sàng trong bệnh viện qua phỏng vấn người bệnh/NNNB bằng bộ câu hỏi Được học viên trực tiếp thu thập và có sự hỗ trợ thu thập một phần thông qua các điều tra viên (ĐTV)
- Phương pháp: Phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn
- Công cụ thu thập số liệu:
Phiếu phỏng vấn được thiết kế nhằm khảo sát ý kiến của người bệnh và người nhà về nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại khoa điều trị Bộ câu hỏi phỏng vấn được xây dựng dựa trên các nhiệm vụ chuyên môn theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, đồng thời tham khảo từ các tác giả như Dương Thị Bình Minh và Nguyễn Hồng Mai.
[11] về công tác CSNB của điều dưỡng, có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với hoạt động CSNB tại BVLKTW Bộ câu hỏi gồm 2 phần (Phụ lục 3)
Phần I: Thông tin chung của người bệnh, người chăm sóc chính
Phần II: Các nội dung chăm sóc
- Chăm sóc tinh thần cho người bệnh
- Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Theo dõi, đánh giá người bệnh
- Chăm sóc phục hồi chức năng
- Thực hiện y lệnh thuốc (thuốc viên, tiêm, truyền)
- Thực hiện y lệnh cận lâm sàng, thủ thuật (xét nghiệm, siêu âm, X- quang, )
- Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh
Bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thử nghiệm trên 10 bệnh nhân/NNNB và được chỉnh sửa để phù hợp với thực tế, giúp dễ hiểu hơn trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức.
- Thực hiện đánh giá chức năng nhận thức của người bệnh
- Phỏng vấn từng người bệnh/NNNB được mời tại giường bệnh khi không có mặt nhân viên của khoa, ĐTV không mặc áo blouse
- Các đối tượng nghiên cứu sẽ được ĐTV thông báo mục đích của nghiên cứu và trả lời những câu hỏi nếu đối tượng nghiên cứu cần làm rõ
ĐTV thực hiện phỏng vấn người bệnh/NNNB dựa trên nội dung phiếu phỏng vấn, ghi chú vào ô tương ứng với câu trả lời Trong quá trình phỏng vấn, nếu có câu trả lời nào chưa rõ ràng, ĐTV cần hỏi lại và thống nhất với người bệnh/NNNB ngay lập tức.
- ĐTV kiểm tra và làm sạch số liệu trước khi nộp lại cho giám sát viên
Giám sát viên thực hiện nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ các điều tra viên (ĐTV) trong quá trình khảo sát, đồng thời kiểm tra tính chính xác của thông tin trong các phiếu khảo sát Khi phát hiện thông tin không phù hợp, giám sát viên yêu cầu ĐTV bổ sung thông tin cần thiết.
Năm ĐTV, bao gồm ba cán bộ từ phòng Điều dưỡng và hai cán bộ từ phòng Nghiên cứu khoa học, đã có kinh nghiệm tham gia các đề tài nghiên cứu và phỏng vấn Các ĐTV không mặc áo blouse trong quá trình phỏng vấn và đã được đào tạo về thực hành phỏng vấn người bệnh/NNNB, đồng thời thống nhất phương pháp điều tra Giám sát viên là nghiên cứu viên chính.
2.5.1.3 Quan sát hoạt động của ĐDV
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, chúng tôi chỉ quan sát trực tiếp quy trình tiêm tĩnh mạch của điều dưỡng Đây là kỹ thuật thường quy, được thực hiện hàng ngày và hầu hết bệnh nhân nằm viện đều được chỉ định sử dụng thuốc tiêm.
✓ Phương pháp: Quan sát trực tiếp
Công cụ thu thập số liệu được thực hiện theo quy trình tiêm tĩnh mạch dựa trên Bảng kiểm của Quyết định 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế, liên quan đến các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn và tiêm an toàn Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Ngọc về đánh giá kỹ năng thực hành ba quy trình kỹ thuật chuyên môn trong chăm sóc người bệnh, cùng với các tài liệu của tác giả Nguyễn Hồng Mai, đã cung cấp cơ sở cho bảng kiểm quy trình tiêm tĩnh mạch hiện đang áp dụng tại BVLKTW.
✓ Cách thức tổ chức thu thập số liệu quan sát trực tiếp điều dưỡng:
- Thời điểm quan sát: vào các ngày trong tuần; không thực hiện quan sát vào thứ 7, chủ nhật và các ngày nghỉ và ngày lễ
+ Trong giờ hành chính: thời gian sáng từ 8 giờ đến 10 giờ, chiều từ 14 giờ đến 16 giờ
+ Ngoài giờ hành chính: từ 19 giờ 30 phút đến 20 giờ 30 phút
- ĐDV đồng ý tham gia nghiên cứu, biết mình được giám sát nhưng không biết được thời gian giám sát khi nào
Giám sát viên sử dụng phiếu quan sát đã được thiết kế để theo dõi mỗi ĐDV thực hiện kỹ thuật hai lần, cả trong giờ làm việc và ngoài giờ Quá trình quan sát diễn ra liên tục cho đến khi tất cả điều dưỡng chăm sóc tại khoa được giám sát đầy đủ.
Bài quan sát được thực hiện bởi 08 điều dưỡng trưởng khoa, những người có kinh nghiệm trong việc giám sát và kiểm tra công tác chăm sóc người bệnh hàng ngày của đội ngũ điều dưỡng.
Các quan sát viên đã được đào tạo kỹ lưỡng về bộ công cụ, đảm bảo sự thống nhất trong cách quan sát và đánh giá mức độ đạt được Họ sử dụng bảng kiểm hướng dẫn tiêu chí đánh giá đã được thiết kế sẵn cùng với bảng kiểm quy trình kỹ thuật điều dưỡng hiện đang áp dụng tại BVLKTW.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng để khám phá các yếu tố tác động đến việc thực hiện chăm sóc sức khỏe bệnh nhân (CSNB) của điều dưỡng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác CSNB tại bệnh viện.
Phiếu hướng dẫn PVS được sử dụng để phỏng vấn Lãnh đạo bệnh viện và trưởng/phó khoa lâm sàng (Phụ lục 5) Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 phút, diễn ra tại phòng làm việc của ĐTNC vào thời gian thuận tiện và được ghi âm Học viên sẽ trực tiếp thực hiện phỏng vấn, ghi biên bản và gỡ băng.
Phiếu hướng dẫn TLN cho ĐDTK (Phụ lục 6) và ĐDV (Phụ lục 7) được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu, với các cuộc TLN được tổ chức tại phòng giao ban của BVLKTW.
Các biến số nghiên cứu (Phụ lục 11)
2.6.1 Phương pháp xác định các biến số nghiên cứu
Các biến số trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên 12 nhiệm vụ chuyên môn CSNB theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, đồng thời tham khảo từ các tác giả như Dương Thị Bình Minh (2012) tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, Nguyễn Thị Thùy Trâm (2014) tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre, và Nguyễn Hồng Mai (2016) tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn, tỉnh Bình Định.
Các biến số chung trong nghiên cứu bao gồm thông tin về người bệnh tham gia, thông tin về người chăm sóc bệnh nhân, và thông tin về điều dưỡng tham gia nghiên cứu.
Các biến số quan trọng trong việc đánh giá công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng bao gồm chăm sóc tinh thần, dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân hàng ngày, theo dõi và đánh giá tình trạng người bệnh, phục hồi chức năng, sử dụng thuốc viên, kỹ năng tiêm, thực hiện y lệnh cận lâm sàng và thủ thuật, cùng với tư vấn và hướng dẫn giáo dục sức khỏe.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng bao gồm công tác tổ chức chăm sóc người bệnh, điều kiện làm việc, sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện hoặc khoa đối với công tác điều dưỡng, cùng với các chế độ và chính sách khuyến khích điều dưỡng.
2.7 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá các nội dung CSNB của điều dưỡng qua phỏng vấn người bệnh/NNNB Đánh giá các nội dung chăm sóc qua việc khảo sát ý kiến người bệnh/NNNB về công tác CSNB của điều dưỡng được tham khảo từ tác giả Dương Thị Bình Minh, Nguyễn Hồng Mai [16] về tiêu chuẩn đánh giá các nội dung CSNB có chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình của đơn vị và được tính như sau:
Có 03 mức độ đánh giá được xếp theo thứ tự 1, 2, 3 cho mỗi một câu hỏi:
1 Thực hiện tốt/đầy đủ
2 Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa đầy đủ
3 Không thực hiện Ở mức độ 2: Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa đầy đủ thì phỏng vấn và ghi lại các thông tin chưa tốt/chưa đầy đủ
Chăm sóc tinh thần bao gồm 06 câu hỏi, và được coi là “đạt” khi tất cả 06 câu (A1→A5) đều được người bệnh đánh giá ở mức độ 1 hoặc 2 Nếu chỉ có một câu được đánh giá ở mức độ 3, thì sẽ được xem là “chưa đạt”.
Mục B Chăm sóc dinh dưỡng, gồm 07 câu hỏi, được mô tả kết quả chăm sóc dinh dưỡng riêng theo từng câu
Mục C Chăm sóc vệ sinh, gồm 07 câu hỏi, được mô tả kết quả chăm sóc vệ sinh riêng theo từng câu
Theo dõi đánh giá người bệnh, gồm 02 câu hỏi, được tính:“đạt” khi cả
02 câu ( D1,D2) đều được người bệnh đánh giá đạt mức độ 1 hoặc ở mức độ 2; chỉ một câu ở mức độ 3 tính: “chưa đạt”
Mục E Chăm sóc phục hồi chức năng gồm 03 câu hỏi, được mô tả kết quả riêng theo từng câu
Việc sử dụng thuốc cho người bệnh được đánh giá qua 06 câu hỏi Để được coi là “đạt”, tất cả 06 câu (F1→ F6) phải được người bệnh đánh giá ở mức độ 1 hoặc 2 Nếu có bất kỳ một câu nào được đánh giá ở mức độ 3, kết quả sẽ được xem là “chưa đạt”.
Mục G Thực hiện y lệnh cận lâm sàng, gồm 03 câu hỏi, được mô tả kết quả riêng theo từng câu
Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh, gồm 06 câu hỏi, được mô tả kết quả riêng theo từng câu
2.7.2 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá khi quan sát trực tiếp điều dưỡng
Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch sử dụng kim với góc 30 độ so với bề mặt da, nhằm đưa thuốc vào tĩnh mạch Việc tiêm cần chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, và đảm bảo da vùng tiêm nguyên vẹn.
• Khái niệm tiêm an toàn:
Theo Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế, tiêm an toàn được định nghĩa là một quy trình tiêm đảm bảo an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm
- Không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm
- Không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng
• Nguyên tắc thực hành tiêm
Để đảm bảo an toàn cho người bệnh, cần thực hiện 5 đúng: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng đường tiêm Việc này cần được thực hiện tại hai thời điểm quan trọng: khi chuẩn bị phương tiện thuốc tiêm và trước khi tiến hành tiêm.
Trước khi tiêm, cần hỏi người bệnh về tiền sử dị ứng thuốc và thức ăn để đảm bảo an toàn Luôn mang theo hộp thuốc chống sốc khi đi tiêm Trong quá trình tiêm, nên bơm thuốc chậm và theo dõi sắc mặt của người bệnh để phát hiện kịp thời các phản ứng bất thường.
Phòng chống xơ hóa cơ hoặc đâm kim vào dây thần kinh:
- Chọn vùng da tiêm mềm mại, không có tổn thương, không có sẹo lồi lõm
- Xác định đúng vị trí tiêm
- Tiêm đúng góc độ và độ sâu
- Không tiêm nhiều lần vào cùng một vị trí trên cùng một người bệnh [8]
- Luôn hỏi người bệnh tiền sử dị ứng, dùng thuốc để tránh tương tác thuốc
- Bảo đảm đúng kỹ thuật vô khuẩn trong tiêm, truyền
- Chuẩn bị thuốc và phương tiện tiêm ở môi trường sạch, không bụi, không vấy máu hoặc dịch
- Loại bỏ kim tiêm đã đụng chạm vào bất kỳ bề mặt nào không vô khuẩn [8]
Tiêu chuẩn đánh giá điều dưỡng trong quy trình tiêm tĩnh mạch được xác định dựa trên bảng kiểm của Quyết định 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ Y tế, liên quan đến Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn, đặc biệt là Mục 6 về tiêm an toàn Bài viết của tác giả Đỗ Thị Ngọc cũng nhấn mạnh việc đánh giá thực hiện ba quy trình chuyên môn của điều dưỡng, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.
[21] và tác giả Nguyễn Hồng Mai về tiêu chuẩn đánh giá CSNB của điều dưỡng
Quy trình đánh giá bao gồm ba mức độ: “Thực hiện tốt”, “Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa đầy đủ” và “Không thực hiện” Kết quả cuối cùng được phân loại thành hai nhóm: “đạt” và “chưa đạt”.
+ Thực hiện tốt: Đạt điểm tối đa so với điểm chuẩn, khi ĐDV thực hiện đầy
HUPH đủ quy trình và các bước thao tác đúng kỹ thuật
Mặc dù đã thực hiện đúng quy trình, nhưng vẫn còn một số bước bị bỏ sót, dẫn đến việc đạt điểm số so với điểm chuẩn chưa hoàn hảo Tuy nhiên, những thiếu sót này không ảnh hưởng đến chất lượng quy trình và không gây nguy hại cho người bệnh.
+ Không thực hiện: cho 0 điểm
+ Bảng kiểm kỹ thuật tiêm tĩnh mạch, gồm 19 bước được tính tổng điểm là
22, được tớnh “đạt” khi tổng điểm ≥ 11 điểm và bước 1,2,11,14 cú điểm đạt ẵ điểm chuẩn trở lên; “chưa đạt” khi tổng điểm < 11 điểm và bước 1,2,11,14 có bước không thực hiện.
Sơ đồ nghiên cứu
BN/NNBN điều trị nội trú tại 08 khoa lâm sàng → (n) Đánh giá chức năng nhận thức của NB
Phỏng vấn NB theo bộ câu hỏi được thiết kế
Phỏng vấn NNBN theo bộ câu hỏi được thiết kế
Phỏng vấn sâu/thảo luận nhóm Lãnh đạo bệnh viện, trưởng khoa, điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên
Lập danh sách điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc NB tại 08 khoa lâm sàng
Quan sát điều dưỡng viên thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch (trong giờ và ngoài
Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập, số liệu định lượng sẽ được làm sạch và nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epi Data 3.1 Tiếp theo, dữ liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện các thông tin mô tả và phân tích thống kê.
+ Phần mô tả: thể hiện tần số của các biến trong nghiên cứu
Các phương pháp thống kê như kiểm định X², tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% được áp dụng để phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố như tuổi tác, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác của điều dưỡng, và số lượng bệnh nhân chăm sóc trung bình mỗi ngày với kết quả thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng.
- Các thông tin định tính được gỡ băng theo từng cuộc TLN và PVS và trích dẫn ý kiến tiêu biểu trong phần trình bày kết quả nghiên cứu.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu này được triển khai sau khi được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận (Công văn số 353/2018/YTCC-HD3 ngày 09/05/2018)
- Nghiên cứu được Ban Lãnh đạo BVLKTW quan tâm, ủng hộ và đã được Hội đồng đạo đức của BV Lão khoa TW chấp thuận (104/HĐĐĐ ngày 29/01/2018)
Các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu, và họ tự nguyện tham gia Họ cũng có quyền rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào và vì bất kỳ lý do nào.
- Tất cả những thông tin cung cấp được giữ bí mật, chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu không sử dụng cho mục đích khác HUPH
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
3.1.1 Thông tin chung của người bệnh, người chăm sóc tham gia nghiên cứu Bảng 3 1: Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu (n 3)
Thông tin Tần sô (n) Tỷ lệ (%)
Nơi cư trú Nông thôn 86 42,4
Tình trạng hôn nhân Ở với vợ/chồng 158 77,8
Số lần nằm viện tại
Trong nghiên cứu với 203 bệnh nhân, 58,1% là nữ giới, 53,2% đã nghỉ hưu và 57,6% sống tại khu vực thành thị Đáng chú ý, 77,8% bệnh nhân đang sống cùng vợ/chồng, trong khi 86,6% là những người lần đầu nhập viện tại Bệnh viện lão khoa Tỷ lệ bệnh nhân có bảo hiểm y tế gần như đạt 92,1%.
< 60 60 - 70 71 - 80 >= 80 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ theo nhóm tuổi của người bệnh tham gia nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Trong số 203 người bệnh tham gia nghiên cứu thì nhóm tuổi từ
Bảng 3.2 Thông tin chung về người chăm sóc người bệnh (n)
Thông tin Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Mối quan hệ với người bệnh
Trong số 99 người tham gia phỏng vấn, 89,9% là người nhà của bệnh nhân và 74,7% là nữ giới Nhóm tuổi từ 41-60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,6%.
3.1.2 Thông tin chung về điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.3 Thông tin chung của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (nh)
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%) Giới
Từ Cao đẳng trở lên
Số người bệnh chăm sóc trung bình/ngày
Trong nghiên cứu với 68 điều dưỡng, có 89,2% là nữ giới, với độ tuổi trung bình là 28,38± 3,55 Đặc biệt, nhóm dưới 30 tuổi chiếm 66,7% Phần lớn điều dưỡng có trình độ trung cấp (72,1%), và tỷ lệ điều dưỡng chăm sóc trên 4 bệnh nhân mỗi ngày đạt 54,4%.
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ về thâm niên công tác của điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Biểu đồ 3.2 cho thấy trong số 68 điều dưỡng tham gia nghiên cứu thì tỷ lệ có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm đa số (70,7%)
3.2 Đánh giá hoạt động CSNB của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng
3.2.1 Kết quả hoạt động CSNB của điều dưỡng qua phỏng vấn người bệnh/NNNB
NB được Điều dưỡng tiếp đón chu đáo , xếp giường ngay khi vào khoa
NB được Điều dưỡng giới thiệu tên trong quá trình chăm sóc
Thái độ, hành vi, lời nói của điều dưỡng trong giao tiếp với NB
NB được Điều dưỡng viên quan tâm, hỏi thăm, động viên
NB được Điều dưỡng giải đáp thắc mắc
Thực hiện tốt Thực hiện nhưng chưa tốt Không thực hiện
Biểu đồ 3 3 Đánh giá công tác chăm sóc tinh thần người bệnh (n 3)
Biểu đồ 3.3 cho thấy việc điều dưỡng giới thiệu tên cho bệnh nhân có 57,1%
NB đánh giá là chưa thực hiện, 16,3% NB đánh giá thực hiện chưa tốt Tiếp đến là
Tại HUPH, việc điều dưỡng thăm hỏi và động viên bệnh nhân (NB) vẫn còn gần 30% NB đánh giá rằng điều dưỡng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt Tuy nhiên, các tiêu chí như sự tiếp đón chu đáo, việc xếp giường ngay, thái độ, hành vi và lời nói của điều dưỡng, cũng như khả năng giải đáp thắc mắc của điều dưỡng đều được NB đánh giá cao, với tỷ lệ trên 84%.
Nghiên cứu định tính cho thấy việc giới thiệu tên của điều dưỡng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc Cụ thể, trong những tình huống bệnh nhân diễn biến, nhân viên thường chỉ tập trung vào chuyên môn mà không giới thiệu tên Hơn nữa, trong một phòng bệnh, điều dưỡng chỉ giới thiệu tên một lần, không đảm bảo rằng tất cả bệnh nhân đều được biết tên của họ.
Việc giới thiệu tên cho bệnh nhân là rất quan trọng, nhưng thường bị bỏ qua do thói quen tập trung vào các thủ tục cần thực hiện ngay Đôi khi, sự chủ quan về việc đeo biển tên và thông tin chức danh của nhân viên cũng khiến chúng ta quên mất việc này.
Bảng 3 4 Công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh của điều dưỡng
Nội dung Tần số ( n) Tỷ lệ (%)
NB được Điều dưỡng giải thích, hướng dẫn chế độ ăn uống theo bệnh tật
Thực hiện nhưng chưa tốt
NB được Điều dưỡng viên hướng dẫn và giúp đỡ báo ăn tại khoa Dinh dưỡng
Thực hiện nhưng chưa tốt
NB được Điều dưỡng chăm sóc thăm hỏi về tình hình ăn uống hàng ngày
Thực hiện nhưng chưa tốt
Người bệnh phải ăn uống qua ống thông không? (hoặc có thấy bệnh nhân cùng phòng/khoa?)
Người trực tiếp cho người bệnh ăn qua ống thông Điều dưỡng
Người nhà chăm sóc người bệnh
NB cần hỗ trợ ăn uống không? (hoặc có thấy
Người trực tiếp hỗ trợ người bệnh ăn uống Điều dưỡng
Người nhà chăm sóc người bệnh
Bảng 3.4 chỉ ra rằng tỷ lệ không thực hiện và thực hiện kém trong công tác điều dưỡng, đặc biệt là việc giải thích và hướng dẫn chế độ ăn uống cho bệnh nhân, vẫn còn cao.
Theo khảo sát, có 44,3% bệnh nhân chưa được thực hiện các biện pháp chăm sóc dinh dưỡng, trong khi 6,9% thực hiện không đạt yêu cầu Đối với việc thăm hỏi tình hình ăn uống hàng ngày, 38,9% bệnh nhân chưa được chăm sóc và 5,9% thực hiện không tốt Ngoài ra, 24,7% bệnh nhân chưa nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ từ điều dưỡng viên trong việc báo ăn tại khoa Dinh dưỡng, với 2,0% thực hiện không tốt Đáng chú ý, 49,3% người tham gia khảo sát cho biết đã thấy bệnh nhân ăn qua ống thông dạ dày, trong đó 75% là người nhà và 25% là điều dưỡng Hơn nữa, 71,4% người trả lời cho rằng cần hỗ trợ cho bệnh nhân trong việc ăn uống, với chỉ 8,28% cho biết điều dưỡng đã hỗ trợ, còn lại là sự hỗ trợ từ người nhà.
Nghiên cứu định tính cho thấy nhân viên y tế nhận thức rằng việc chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế.
“Ở khoa em thì thực sự vấn đề chăm sóc về dinh dưỡng cũng không được nhiều, không thực hiện đồng bộ” (TLN2-ĐDV)
Nhiều vấn đề trong chăm sóc sức khỏe xuất phát từ tâm lý của bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế Đặc biệt, người Việt Nam, đặc biệt là các cụ lớn tuổi, thường có xu hướng muốn con cái chăm sóc mình thay vì nhờ đến sự giúp đỡ từ người ngoài.
Nhiều bệnh nhân lớn tuổi thường khó tính và không đồng ý cho nhân viên y tế phục vụ, mà yêu cầu gia đình can thiệp Dù người nhà đã cố gắng giải thích và động viên, nhưng bệnh nhân vẫn không chấp nhận sự chăm sóc từ nhân viên Do đó, trong nhiều trường hợp, nhân viên y tế buộc phải để người nhà vào hỗ trợ khi bệnh nhân không đồng ý.
Hoặc do nhân lực mỏng mà điều dưỡng không thể thực hiện hết được
Chúng tôi thực hiện việc cho bệnh nhân ăn qua xông cả trong và ngoài giờ Tuy nhiên, với bệnh nhân cấp 2 và cấp 3 trong khoa, chúng tôi không đủ nhân lực để hỗ trợ ăn cho tất cả bệnh nhân khi cần Thiếu hụt nhân lực là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng phục vụ của chúng tôi.
NB được Điều dưỡng tư vấn, hướng dẫn vệ sinh cá nhân hàng ngày
NB được thay ga trải giường, quần áo định kỳ
Thực hiện tốt Thực hiện nhưng chưa tốt Không thực hiện
Biểu đồ 3 4 Đánh giá công tác chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày cho người bệnh
Biểu đồ 3.4 chỉ ra rằng 92,6% người tham gia nghiên cứu đánh giá cao công tác Điều dưỡng trong việc tư vấn và hướng dẫn vệ sinh cá nhân hàng ngày Tuy nhiên, 59,6% người được hỏi cho biết họ không được thay ga trải giường và quần áo định kỳ trong thời gian nằm viện, điều này không tuân thủ theo quy định.
Nghiên cứu định tính cho thấy rằng việc thực hiện hướng dẫn vệ sinh cá nhân cho bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng, được các điều dưỡng thực hiện hàng ngày Bệnh nhân cũng được thay ga và quần áo định kỳ vào các ngày thứ 2, 4, 6 hoặc khi bị bẩn Tuy nhiên, một số bệnh nhân không nhớ lịch thay hoặc vắng mặt vào thời điểm thay đổi quần áo mới, dẫn đến việc không thực hiện được.
Biểu đồ 3 5 Tỷ lệ người bệnh cần hỗ trợ về chăm sóc cá nhân
Biểu đồ 3.5 chỉ ra rằng 61% người tham gia nghiên cứu nhận thấy bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tự thực hiện vệ sinh cá nhân và cần sự hỗ trợ từ người khác.
Biểu đồ 3 6 Đánh giá công tác chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày cho người bệnh không tự thực hiện được
Kết quả quan sát thực hành của điều dưỡng
Bảng 3 8 Công tác chăm sóc thực hiện y lệnh tiêm tĩnh mạch trong giờ hành chính cho bệnh nhân của điều dưỡng (n6)
Không thực hiện n % n % n % Điều dưỡng rửa tay thường quy/Sát khuẩn tay nhanh 42 61,8 13 19,1 13 19,1
Kiểm tra lại thuốc, sát khuẩn ống thuốc dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc 40 58,8 27 39,7 1 1,5
Xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc 66 97,1 2 2,9 0 0
Rút thuốc vào bơm tiêm 68 100 0 0 0 0
Thay kim tiêm, đuổi khí, cho vào bao đựng bơm tiêm vô khuẩn 56 82,4 12 17,6 0 0
Bộc lộ vùng tiêm, xác định vị trí tiêm 65 95,6 3 4,4 0 0 Đặt gối kê tay dưới vùng tiêm, đặt dây ga rô phía trên vị trí tiêm 50 73,5 16 23,5 2 2,9
Buộc dây garo trên vùng truyền 57 83,8 11 16,2 0 0
Cầm bơm tiêm đuổi khí (nếu còn khí);
Căng da đâm kim chếch 30 độ so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch
Kiểm tra có máu vào bơm tiêm, tháo dây garo 65 95,6 3 4,4 0 0
Bơm thuốc từ từ vào tĩnh mạch đồng thời quan sát theo dõi người bệnh, theo dõi vị trí tiêm có phồng không
Hết thuốc rút kim nhanh, kéo chệch da nơi tiêm Cho bơm kim tiêm vào hộp an toàn
Dùng bông gòn khô đè lên vùng tiêm phòng chảy máu 66 97,1 2 2,9 0 0
Tháo găng bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm (nếu đi găng) 66 97,1 2 2,9 0 0
Giúp người bệnh trở lại tư thế thoải mái, dặn người bệnh những điều cần thiết
Thu dọn dụng cụ, rửa tay
Ghi phiếu thực hiện thuốc 46 67,6 22 32,4 0 0
Theo bảng 3.8, trong 19 bước của quy trình tiêm tĩnh mạch thực hiện trong giờ hành chính, có 4 bước không được điều dưỡng thực hiện Bước rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh có tỷ lệ không thực hiện cao nhất, lên tới 19,1% Các bước khác như kiểm tra lại thuốc, sát khuẩn ống thuốc, dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc chỉ có tỷ lệ không thực hiện là 1,5%; đặt gối kê tay dưới vùng tiêm và đặt dây ga rô phía trên vị trí tiêm là 2,9%; giúp người bệnh trở lại tư thế thoải mái và dặn người bệnh những điều cần thiết cũng chỉ đạt 1,5% Tuy nhiên, 100% điều dưỡng đã thực hiện các bước còn lại.
Khoảng 1/3 số điều dưỡng vẫn thực hiện không tốt một số bước quan trọng trong quy trình, với tỷ lệ thực hiện 5 đúng chỉ đạt 26,5%, sát khuẩn vùng tiêm 38,2%, và thu dọn dụng cụ, rửa tay, ghi phiếu thực hiện thuốc 32,4% Tuy nhiên, có 4 bước mà tỷ lệ thực hiện tốt đạt trên 95%, bao gồm xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc, bộc lộ vùng tiêm và xác định vị trí tiêm, kiểm tra có máu vào bơm tiêm và tháo dây garo, cũng như dùng bông gòn khô đè lên vùng tiêm để phòng chảy máu và tháo găng bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm Đặc biệt, 100% điều dưỡng thực hiện tốt bước rút thuốc vào trong bơm tiêm.
Bảng 3 9 Công tác chăm sóc thực hiện y lệnh tiêm tĩnh mạch ngoài giờ hành chính cho bệnh nhân của điều dưỡng (n6)
Không thực hiện n % n % n % Điều dưỡng rửa tay thường quy/Sát khuẩn tay nhanh 29 42,6 21 30,9 18 26,5
Kiểm tra lại thuốc, sát khuẩn ống thuốc dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc
Xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc 66 97,1 1 1,5 1 1,5
Rút thuốc vào bơm tiêm 67 98,5 1 1,5 0 0
Thay kim tiêm và đuổi khí, sau đó cho vào bao đựng bơm tiêm vô khuẩn Bộc lộ vùng tiêm và xác định vị trí tiêm Đặt gối kê tay dưới vùng tiêm và dây ga rô phía trên vị trí tiêm.
Buộc dây garo trên vùng truyền 53 77,9 15 22,1 0 0
Cầm bơm tiêm đuổi khí (nếu còn khí); Căng da đâm kim chếch 30 độ so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch
Kiểm tra có máu vào bơm tiêm, tháo dây garo 66 97,1 2 2,9 0 0
Bơm thuốc từ từ vào tĩnh mạch đồng thời quan sát theo dõi người bệnh, theo dõi vị trí tiêm có phồng không
Hết thuốc rút kim nhanh, kéo chệch da nơi tiêm Cho bơm kim tiêm vào hộp an toàn
Dùng bông gòn khô đè lên vùng tiêm phòng chảy máu 68 100 0 0 0 0
Tháo găng bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm (nếu đi găng) 65 95,6 3 4,4 0 0
Giúp người bệnh trở lại tư thế thoải mái, dặn người bệnh những điều cần thiết
Thu dọn dụng cụ, rửa tay
Ghi phiếu thực hiện thuốc 48 70,6 20 29,4 0 0
Theo bảng 3.9, quy trình tiêm tĩnh mạch ngoài giờ hành chính của điều dưỡng cho thấy có 8/19 bước chưa được thực hiện đầy đủ Trong đó, bước sát khuẩn tay trước khi tiêm có tỷ lệ không thực hiện cao nhất (26,5%) Tiếp theo là các bước như đặt gối kê tay dưới vùng tiêm và đặt dây ga rô phía trên vị trí tiêm (8,8%), cùng với việc bộc lộ và xác định vị trí tiêm (5,9%) Ngược lại, có 7 bước được thực hiện tốt với tỷ lệ trên 95%, bao gồm xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc (97,1%), rút thuốc vào bơm tiêm (98,5%), cầm bơm tiêm đuổi khí (nếu còn khí), căng da đâm kim chếch 30 độ so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch (95,6%), và kiểm tra có máu.
HUPH thực hiện quy trình bơm tiêm bằng cách tháo dây garo (97,1%) và bơm thuốc từ từ vào tĩnh mạch, đồng thời theo dõi tình trạng người bệnh và kiểm tra vị trí tiêm có bị phồng hay không (97,1%) Sau khi hoàn tất, tháo găng tay và bỏ vào vật đựng chất thải lây nhiễm (nếu có sử dụng găng) (95,6%).
Biểu đồ 3.10 Đánh giá chung công tác chăm sóc thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân của điều dưỡng
Biểu đồ 3.10 cho thấy rằng 77,2% quy trình tiêm tĩnh mạch của điều dưỡng đạt yêu cầu, với tỷ lệ thành công trong giờ hành chính là 80,9% và ngoài giờ hành chính là 73,5%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện CSNB của ĐD
3.4.1 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của điều dưỡng với việc thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch
Bảng 3 10 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân với việc thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch của ĐD
Tiêm tĩnh mạch chưa đạt
Tiêm tĩnh mạch đạt OR
(CI 95%) p Tần số % Tần số %
Số người bệnh chăm sóc trung bình/ngày
Bảng 3.10 chỉ ra rằng giới tính, trình độ học vấn, thâm niên công tác, độ tuổi, số lượng bệnh nhân được chăm sóc trung bình mỗi ngày và thời điểm thực hiện quy trình không có mối liên quan đến việc thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch của điều dưỡng (p>0,05).
Nghiên cứu từ 5 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh của Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng của BVLKTW.
3.4.2 Nguồn nhân lực Đa số các ý kiến cho rằng hiện nay trình độ nhân lực điều dưỡng khi làm việc tại Bệnh viện lão khoa là khác nhau do được đào tạo ở nhiều trường khác nhau thuộc nhiều hình thức đào tạo và trình độ đào tạo khác nhau nên sẽ ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc người bệnh nên cần phải chuẩn hóa
Giải pháp quan trọng nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ điều dưỡng Mỗi điều dưỡng cần được đào tạo bổ sung, vì họ đến từ các trường khác nhau và có trình độ bằng cấp khác nhau, từ trung cấp, cao đẳng đến đại học Do đó, cần phải chuẩn hóa quy trình đào tạo để đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực lão khoa.
Hiện nay, tại Bệnh viện lão khoa, phần lớn điều dưỡng viên là những người trẻ mới ra trường và có ít kinh nghiệm làm việc.
Khoảng 2/3 điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu tại HUPH dưới 30 tuổi và có ít hơn 5 năm kinh nghiệm, dẫn đến việc họ thường gặp khó khăn trong công việc, thậm chí không biết bắt đầu từ đâu và thực hiện những gì.
Khoa chúng tôi mới được thành lập, với đội ngũ nhân viên bao gồm cả những người có kinh nghiệm và những nhân viên trẻ mới vào viện Đối với các nhân viên trẻ, việc giao tiếp với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh nghiệm.
Tại khoa của tôi, đa số nhân viên điều dưỡng còn trẻ và có thâm niên chưa lâu, dẫn đến việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân hầu như không được thực hiện.
Điều dưỡng chủ yếu là nữ giới trẻ trong độ tuổi sinh sản, điều này ảnh hưởng đến số lượng nhân lực điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh hàng ngày, cũng như trong các công việc yêu cầu sức khỏe như vận chuyển và nâng đỡ bệnh nhân.
Đội ngũ hiện tại chủ yếu là những người trẻ, mới lập gia đình, và việc sinh nở gặp nhiều khó khăn Điều này dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực khi nhiều chị em nghỉ thai sản cùng lúc Tuy nhiên, khi các bạn trở lại làm việc, lại có nguy cơ thừa nhân sự.
Hiện nay, điều dưỡng viên thường chỉ tập trung vào việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn và thực hiện y lệnh thuốc của bác sĩ để giúp bệnh nhân nhanh chóng ổn định về mặt thể chất Tuy nhiên, các khía cạnh khác như chăm sóc tinh thần và dinh dưỡng cho bệnh nhân vẫn chưa được chú trọng, dẫn đến việc thường xuyên bị bỏ qua Ngoài ra, điều dưỡng viên có thói quen nghĩ rằng chỉ cần giới thiệu tên một lần là đủ, mà không cần phải nhắc lại nhiều lần để bệnh nhân nhớ.
Điều dưỡng tại khoa nội tiết cơ xương khớp thường không thực hiện đầy đủ các quy trình cần thiết, vì họ cho rằng công việc của mình chỉ là tuân theo y lệnh của bác sĩ Họ chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ như tiêm và truyền, mà không chú trọng đến các khía cạnh khác của chăm sóc bệnh nhân.
HUPH cái mục tiêm truyền ra gần như các bạn ý không quan tâm đến những vấn đề khác” (TLN2-ĐDV)
Khi vào phòng, chỉ cần giới thiệu tên một lần là đủ, không cần phải lặp lại mỗi khi làm gì.
3.4.3 Cách thức tổ chức chăm sóc người bệnh
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh (CSNB) của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng BVLKTW, nhưng phần lớn cán bộ cho rằng cách tổ chức là yếu tố quan trọng nhất Cách thức tổ chức không chỉ ảnh hưởng đến hình thức chăm sóc mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh.
Tại BVLKTW, mô hình chăm sóc theo nhóm điều dưỡng đang được áp dụng, trong đó một nhóm điều dưỡng phụ trách một số bệnh nhân nhất định Mô hình này bao gồm việc theo dõi, chăm sóc, thực hiện y lệnh, đưa bệnh nhân đi xét nghiệm cận lâm sàng và chăm sóc vệ sinh Các điều dưỡng cho rằng mô hình này phù hợp với nguồn lực hiện tại, giúp họ theo dõi và chăm sóc bệnh nhân hiệu quả hơn nhờ nắm rõ thông tin của từng bệnh nhân.