1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng rửa tay thường quy của nhân viên y tế tại khoa hồi sức tích cực chống độc và khoa hồi sức nhi sơ sinh bệnh viện đa khoa đồng tháp năm 2015

72 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng rửa tay thường quy của nhân viên y tế tại khoa hồi sức tích cực chống độc và khoa hồi sức nhi sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015
Tác giả Huỳnh Thanh Hoàng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đức Thành, TS. Nguyễn Văn Hai
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Lịch sử về vệ sinh tay (14)
    • 1.2. Nhiễm khuẩn bệnh viện (15)
    • 1.3. Tầm quan trọng của thực hành vệ sinh bàn tay (16)
    • 1.4. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế (20)
    • 1.5. Khái quát về địa điểm nghiên cứu (22)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (24)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (24)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (24)
    • 2.4. Cỡ mẫu (24)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (24)
    • 2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu (25)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (26)
    • 2.8. Các khái niệm (27)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (28)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (29)
    • 2.11. Hạn chế của nghiên cứu (29)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu (30)
    • 3.2. Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay thường quy (31)
    • 3.3. Thái độ của NVYT về rửa tay (33)
    • 3.4. Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế (36)
  • KẾT LUẬN (47)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (50)
    • ảng 3.1. Một số đặc điểm về thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • ảng 3.2. Kiến thức của NVYT về rửa tay thường quy (0)
    • ảng 3.3. Kiến thức của NVYT về các hình thức vệ sinh tay (0)
    • ảng 3.4. Thái độ của NVYT về rửa tay đối với nhiễm khuẩn bệnh viện (0)
    • ảng 3.5. Thái độ của NVYT về rửa tay (0)
    • ảng 3.6. Tỷ lệ thực hành rửa tay của NVYT theo các thời điểm rửa tay (0)
    • ảng 3.7. Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế theo khoa (0)
    • ảng 3.8. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với giới tính (0)
    • ảng 3.9. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nhóm tuổi (0)
    • ảng 3.10. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nghề nghiệp (0)
    • ảng 3.11. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với trình độ chuyên môn (0)
    • ảng 3.12. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với thâm niên (0)
    • ảng 3.13. Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với khoa (0)
    • ảng 3.14. Mối liên giữa kiến thức với tuân thủ rửa tay (0)
    • ảng 3.15. Mối liên giữa thái độ thức với tuân thủ rửa tay (0)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

ác s và điều dƣỡng của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp đang làm việc tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 01/2015 đến tháng 07/2015 Tại các khoa hồi sức tích cực - chống độc và khoa hồi sức nhi - sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả c t ngang có phân tích, kết hợp với nghiên cứu định tính.

Cỡ mẫu

2.4.1 Mẫu cho nghiên cứu định lƣợng

Tại khoa hồi sức tích cực - chống độc và khoa hồi sức nhi sơ sinh, có tổng cộng 60 nhân viên y tế, bao gồm 7 bác sĩ và 53 điều dưỡng, chuyên chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân.

2.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính

Bài phỏng vấn sâu đã được thực hiện với 8 đối tượng chính, bao gồm: 1 Trưởng khoa hồi sức tích cực - chống độc, 1 Trưởng khoa hồi sức nhi – sơ sinh, 1 Điều dưỡng Trưởng khoa hồi sức tích cực – chống độc, 1 Điều dưỡng Trưởng khoa hồi sức nhi – sơ sinh, cùng với 2 Điều dưỡng khoa hồi sức tích cực – chống độc và 2 Điều dưỡng khoa hồi sức nhi – sơ sinh.

Phương pháp chọn mẫu

Bác sĩ và điều dưỡng có trình độ từ trung cấp trở lên là nhân viên chính thức của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, hiện đang công tác tại Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc và Khoa Hồi sức Nhi – Sơ sinh trong thời gian nghiên cứu Họ thực hiện công tác chuyên môn và tiếp xúc với bệnh nhân theo 5 thời điểm của WHO, bắt đầu từ trước khi tiếp xúc với bệnh nhân.

(2) Trước khi làm thủ thuật vô trùng

(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân

- Đối tƣợng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.5.2 Tiêu chí loại trừ ác sĩ, điều dƣỡng không phải là nhân viên của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp (nhân viên thực tập…) ác sĩ, điều dƣỡng làm công tác hành chánh, không tiếp xúc trực tiếp bệnh nhân

- Đối tƣợng không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Quan sát thực hành rửa tay

Quan sát viên là những nghiên cứu viên thực hiện việc quan sát nhân viên y tế (NVYT) rửa tay trong quá trình chăm sóc bệnh nhân và ghi chép kết quả vào bảng kiểm, với phương pháp quan sát không tham gia.

Quan sát viên sử dụng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ rửa tay theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới tại các bệnh viện toàn cầu Họ chọn vị trí quan sát không gây chú ý cho nhân viên y tế (NVYT) và theo dõi các thao tác chăm sóc bệnh nhân trong buồng bệnh hoặc tại giường bệnh Thời gian giám sát mỗi lần là 20 ±10 phút, và nếu thao tác chăm sóc chưa hoàn tất, quan sát viên sẽ tiếp tục theo dõi cho đến khi NVYT hoàn thành Việc ghi nhận sự tuân thủ rửa tay được thực hiện tại các vị trí vệ sinh tay trong buồng bệnh Giám sát diễn ra vào hai thời điểm trong ngày: từ 8h đến 10h sáng và từ 14h đến 16h chiều.

- Mỗi bác s /điều dƣỡng đƣợc quan sát là 5 cơ hội vệ sinh tay để tính tỷ lệ tuân thủ VST theo cơ hội/thời điểm cần VST

2.6.2 Phát vấn điều tra kiến thức và đánh giá quá trình rửa tay

Sau khi quan sát đủ 5 cơ hội vệ sinh tay, nhân viên trong mẫu nghiên cứu được mời tham gia bảng thăm dò về kiến thức và thái độ đối với vệ sinh tay Thời gian thực hiện khảo sát và thu thập dữ liệu khoảng 15 phút.

- Sử dụng bảng kiểm để quan sát sự tuân thủ rửa tay của bác s và điều dƣỡng (phụ lục 1)

- Sử dụng bảng câu hỏi phát vấn để bác s và điều dƣỡng tự trả lời (phụ lục 2)

2.6.3 Phương pháp kiểm soát sai lệch

- Tuân thủ tiêu chí chọn mẫu và tiêu chí loại trừ

- Nghiên cứu viên khảo sát thử trên 10 phiếu sau đó có ch nh sửa sao cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức

Các biến số nghiên cứu

TT Tên biến Định nghĩa Phân loại Đo lường

1 Tuổi Tính theo tuổi dương lịch Rời rạc ộ câu hỏi tự điền

2 Giới Giới tính nam hoặc nữ Nhị phân ộ câu hỏi tự điền

3 Khoa Khoa hiện tại NVYT đang làm việc

Danh định ộ câu hỏi tự điền

4 Nghề nghiệp Nghề nghiệp chính của đối tƣợng Danh định ộ câu hỏi tự điền

Là bậc học cao nhất của đối tƣợng Thứ bậc ộ câu hỏi tự điền

6 Thời gian công tác ở bệnh viện

Số năm làm việc tại bệnh viện Rời rạc ộ câu hỏi tự điền

7 Lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện àn tay của NVYT là tác nhân quan trọng trong việc lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện

Danh định ộ câu hỏi tự điền

8 NVYT tuân thủ đúng quy trình rửa tay

NVYT tuân thủ đúng quy trình rửa tay s làm giảm nguy cơ m c nhiễm khuẩn ở người bệnh và chính bản thân mình

Danh định ộ câu hỏi tự điền

9 Rửa tay đúng Rửa tay đúng quy trình theo quy Danh ộ câu quy trình định nhằm mục đích để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện định hỏi tự điền

10 Loại bỏ hầu hết các vi sinh vật thường trú trên da bàn tay

Là rửa tay thường quy loại bỏ hầu hết các vi sinh vật thường trú trên da bàn tay

Danh định ộ câu hỏi tự điền

11 Nhân viên y tế cần vệ sinh bàn tay

Nhân viên y tế cần vệ sinh bàn tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân

Danh định ộ câu hỏi tự điền

12 Rửa tay thường quy trong chăm sóc bệnh nhân nhằm để tránh lây nhiễm

Rửa tay thường quy trong chăm sóc bệnh nhân nhằm để tránh lây nhiễm giữa NVYT với mỗi bệnh nhân

Danh định ộ câu hỏi tự điền

TT Tên biến Định nghĩa Phân loại Đo lường

13 Kiến thức về sử dụng găng sạch

Mang găng sạch là biện pháp thay thế cho rửa tay

Danh định ộ câu hỏi tự điền

14 Mức độ ô nhiễm của bàn tay NVYT

Mức độ ô nhiễm bàn tay của NVYT phụ thuộc vào thời gian thực hiện thao tác trên người bệnh

Danh định ộ câu hỏi tự điền

Sau khi tiếp xúc với đồ vật hoặc dụng cụ dính máu, dịch và các chất bài tiết của người bệnh, cần phải rửa tay bằng xà phòng và nước hoặc sử dụng cồn/dung dịch sát khuẩn có chứa cồn để đảm bảo vệ sinh.

Danh định ộ câu hỏi tự điền

16 Trước khi đi găng sạch

Trước khi đi găng sạch phải RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn

Danh định ộ câu hỏi tự điền

17 Rửa tay sau khi khám bệnh

Sau khi khám bệnh cho một bệnh nhân phải RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn

Danh định ộ câu hỏi tự điền

18 Rửa tay trước khi tiêm cho người bệnh

RT bằng xà phòng và nước hoặc

RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn

Danh định ộ câu hỏi tự điền

19 Những vị trí Là mu bàn tay, các k ngón tay và Danh ộ câu thường bị

NVYT bỏ qua khi rửa tay lòng bàn tay định hỏi tự điền

20 S p xếp các bước rửa tay theo đúng quy trình 6 bước

Là thực hiện đúng trình tự 6 bước của quy trình

Danh định ộ câu hỏi tự điền

Là thực hiện rửa tay theo đúng các thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu

Quan sát theo bảng kiểm

Các khái niệm

Công thức dưới đây được tham khảo từ Tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của đối tƣợng nghiên cứu theo WHO [36]

Số lần tuân thủ vệ sinh tay x 100

Tỷ lệ tuân thủ VST = Tổng số cơ hội cần VST theo quy định

Rửa tay: Rửa tay dưới bất kỳ hình thức nào đúng hoặc không đúng theo quy

HUPH trình vệ sinh bàn tay bao gồm 6 bước theo hướng dẫn của Bộ Y tế trong Công văn Số: 7517/YT-ĐTr ngày 12 tháng 10 năm 2007 Công văn này đề cập đến quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn.

Thời gian rửa tay bằng nước và xà phòng nên kéo dài từ 45 đến 60 giây, trong khi đó, việc sử dụng dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn chỉ cần từ 20 đến 30 giây, theo quy định của Bộ Y tế.

Các thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu:

(1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân

(2) Trước khi làm thủ thuật vô trùng

(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân

(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể

(5) Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân

Bài đánh giá kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế bao gồm 20 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, tổng điểm tối đa là 20 Theo quy định, nhân viên y tế đạt yêu cầu nếu có từ 12 điểm trở lên, trong khi đó, những người có điểm từ 0 đến 11 được xem là không đạt yêu cầu về kiến thức Cách chấm điểm chi tiết được trình bày trong phụ lục 3.

Đánh giá thái độ về vệ sinh tay của nhân viên y tế được thực hiện qua 8 câu hỏi, với tổng điểm tối đa là 40 Các câu trả lời được phân loại thành 5 mức độ: 5 (rất đồng ý), 4 (đồng ý), 3 (không có ý kiến), 2 (không đồng ý), và 1 (rất không đồng ý) Kết quả đánh giá được chia thành hai nhóm: nhóm có thái độ tích cực đạt từ 32 điểm trở lên (mức 4 và 5) và nhóm có thái độ không tích cực đạt dưới 32 điểm (mức 1 đến 3).

Đánh giá tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế được thực hiện khi họ rửa tay bằng nước sạch và xà phòng, cồn hoặc dung dịch khử khuẩn Việc không rửa tay hoặc không đeo găng tay sẽ được xác định là không tuân thủ.

Phương pháp phân tích số liệu

Các số liệu đã được kiểm tra và làm sạch lỗi, sau đó được nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Phân tích được thực hiện bằng phương pháp thống kê thông thường.

Kiểm định χ² được áp dụng để phân tích sự khác biệt giữa hai tỷ lệ và mối liên quan giữa hai biến phân loại, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05, tương ứng với khoảng tin cậy 95%.

Số liệu định tính bao gồm các bản ghi âm nội dung được gỡ băng, sau đó được mã hóa và phân tích theo chủ đề Quá trình này bao gồm việc sắp xếp các thông tin đã được mã hóa để dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về nội dung.

19 theo chủ đề vào bảng tổng hợp dữ liệu, trích dẫn phù hợp.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã được thực hiện với sự đồng ý của Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp và đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học YTCC phê duyệt.

- Các thông tin cá nhân về đối tƣợng nghiên cứu và số liệu đƣợc bảo mật và ch đƣợc sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu thực hành vệ sinh tay được thực hiện tại các khoa Hồi sức tích cực - chống độc và khoa Hồi sức nhi - sơ sinh, nhưng chưa được triển khai tại các khoa khác trong toàn bệnh viện.

Nghiên cứu này được thực hiện trong giờ hành chính và sử dụng phương pháp quan sát ngẫu nhiên, tuy nhiên không thể thực hiện đầy đủ tại tất cả các thời điểm, do đó có thể không phản ánh toàn diện thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế.

Các sai số có thể gặp và cách khắc phục

Các sai số có thể gặp

Sai số do khả năng của người thu thập số liệu là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay Đối tượng nghiên cứu có thể nhận thức được việc bị quan sát, dẫn đến việc họ có ý thức rửa tay tốt hơn trong thời gian đó (tác động Hawthorne) Đây là sai số lớn nhất khi đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay qua quan sát trực tiếp Hiện tại, chưa có biện pháp nào tốt hơn để đánh giá tỷ lệ này Mỗi phương pháp đánh giá tuân thủ rửa tay đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Phương pháp được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sử dụng để đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tại các bệnh viện trên toàn cầu trong nhiều năm qua đã được chuẩn hóa và được coi là có nhiều ưu điểm nhất.

Để giảm thiểu sai số trong quá trình thu thập số liệu, cần tập huấn cho người thu thập số liệu về phương pháp đánh giá hiệu quả Thiết kế phiếu đánh giá cần dễ sử dụng, dựa trên bộ công cụ đánh giá tỉ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế do Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Đối tượng nghiên cứu có thể nhận thức được việc bị quan sát, dẫn đến việc họ có thể tuân thủ rửa tay tốt hơn trong thời gian đó Do đó, người thu thập số liệu cần chọn vị trí quan sát phù hợp và thực hiện các hành động để không gây chú ý, nhằm đảm bảo đối tượng nghiên cứu không cảm thấy họ đang bị theo dõi về việc tuân thủ vệ sinh tay khi chăm sóc bệnh nhân.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu

Bảng 3.1 Một số đặc điểm về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi

Nghề nghiệp ác s 7 11,7 Điều dƣỡng 53 88,3

Sau đại học 5 8,3 Đại học 8 13,3

Trong nghiên cứu, đối tượng tham gia chủ yếu là nữ giới dưới 30 tuổi, chiếm 65%, với 88,3% là điều dưỡng Trình độ chuyên môn của họ chủ yếu là trung cấp (73,3%), tiếp theo là đại học (13,3%), sau đại học (8,3%) và cao đẳng (5%) Hơn 60% đối tượng có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên.

Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay thường quy

Bảng 3.2 Kiến thức đúng của NVYT về rửa tay thường quy

Kiến thức đúng về rửa tay thường quy Tần số Tỷ lệ %

Nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở kh p các ệnh viện 39 65,0 àn tay của NVYT là tác nhân quan trọng trong việc lây truyền NK V

NVYT tuân thủ đúng quy trình rửa tay s làm giảm nguy cơ m c NK V

Rửa tay đúng quy trình là phương pháp đơn giản, hiệu quả phòng ngừa NK V

Vệ sinh tay nhằm loại bỏ hầu hết các VSV thường trú trên da bàn tay

Nhân viên y tế cần vệ sinh bàn tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân

Vệ sinh tay trong chăm sóc bệnh nhân nhằm để tránh lây nhiễm giữa NVYT với mỗi bệnh nhân

Tỷ lệ kiến thức đúng của nhân viên y tế (NVYT) về quy trình rửa tay là yếu tố quan trọng nhất, với tỷ lệ 100% trong việc giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Bàn tay của NVYT được xác định là tác nhân chính trong việc lây truyền nhiễm khuẩn, đạt tỷ lệ 98,3% Việc vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân có tỷ lệ 93,3%, cho thấy sự cần thiết trong chăm sóc bệnh nhân để tránh lây nhiễm Rửa tay đúng quy trình là phương pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng ngừa nhiễm khuẩn, với tỷ lệ 68,3% Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện vẫn cao, đạt 65,0%, và kiến thức về vệ sinh tay nhằm loại bỏ vi sinh vật thường trú trên da bàn tay chỉ đạt 20%.

Trong một cuộc phỏng vấn, Điều dưỡng viên đã nhấn mạnh rằng quy định bắt buộc tại phòng Điều dưỡng yêu cầu tất cả điều dưỡng viên, học sinh và sinh viên phải thực hiện việc rửa tay thường xuyên theo quy định.

Bảng 3.3 Kiến thức của NVYT về các hình thức vệ sinh tay

Kiến thức đúng về các hình thức vệ sinh tay Tần số Tỷ lệ %

Mang găng là biện pháp thay thế cho rửa tay 46 76,7 Mức độ ô nhiễm bàn tay của NVYT phụ thuộc vào thời gian thực hiện thao tác trên người bệnh

Hình thức vệ sinh tay phù hợp sau khi tiếp xúc với đồ vật, dụng cụ dính máu, dịch và các chất thải của người bệnh

Hình thức vệ sinh tay phù hợp trước khi đi găng 32 53,3 Hình thức vệ sinh tay phù hợp sau khi khám bệnh cho một bệnh nhân

Hình thức vệ sinh tay phù hợp khi bàn tay NVYT xuất hiện vết bẩn

Hình thức vệ sinh tay phù hợp sau khi bàn tay bị rủi ro do vật s c nhọn

Hình thức vệ sinh tay phù hợp trước khi tiêm cho người bệnh

Các hình thức rửa tay mà nhân viên y tế (NVYT) có kiến thức đúng chiếm tỷ lệ cao nhất là vệ sinh tay khi bàn tay có vết bẩn (80,0%) và sau khi tiếp xúc với vật sắc nhọn (80,0%) Tiếp theo là việc mang găng thay thế cho rửa tay (76,7%) và vệ sinh tay trước khi tiêm cho bệnh nhân (75,0%) Tỷ lệ kiến thức về việc rửa tay theo đúng quy trình và vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với đồ vật dính máu, dịch và chất thải của bệnh nhân là 71,7% Tuy nhiên, tỷ lệ kiến thức về vệ sinh tay trước khi mang găng chỉ đạt 53,3%, và thấp nhất là vệ sinh tay sau khi khám bệnh cho bệnh nhân với chỉ 31,7%.

“… Đa số các quy trình kỹ thuật tại khoa HSTC-CĐ là mang găng tay và sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh ….” (Đ V khoa HSTC-CĐ)

Hình 3 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về RTTQ

Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về rửa tay thường quy đạt 86,7%, còn lại là không đạt

Mặc dù nhân viên y tế có kiến thức về rửa tay, nhưng do áp lực công việc và thời gian hạn chế, việc thực hiện rửa tay đúng kỹ thuật vẫn chưa được đảm bảo.

Thái độ của NVYT về rửa tay

Bảng 3.4 Thái độ của NVYT về rửa tay đối với nhiễm khuẩn bệnh viện

Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực n % n %

Tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng lên thì tỷ lệ

Rửa tay là lựa chọn tốt nhất để giảm sự lây truyền của các nhân tố gây nhiễm khuẩn có liên quan đến chăm sóc y tế

Rửa tay nhiều lần trong ngày s làm tổn thương da tay

Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực n % n %

Tôi s ch ng nói gì nếu đồng nghiệp của tôi không tuân thủ rửa tay trước khi thực hiện các thăm khám thông thường, kiểm tra vết mổ sạch…

Nếu đồng nghiệp của tôi không tuân thủ việc rửa tay khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn như đặt kim luồn hay đặt nội khí quản, tôi sẽ cảm thấy lo lắng về nguy cơ lây nhiễm cho bệnh nhân Việc rửa tay là một biện pháp quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và giảm thiểu rủi ro trong quá trình điều trị.

Tỷ lệ thái độ tích cực cao nhất được ghi nhận là việc rửa tay, với 100% cho rằng đây là biện pháp tốt nhất để giảm lây truyền các yếu tố gây nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế Tiếp theo, việc tuân thủ vệ sinh tay (VST) của nhân viên y tế (NVYT) có tỷ lệ 96,7% cho thấy rằng khi tuân thủ tăng lên, tỷ lệ nhiễm khuẩn (NK) giảm xuống Tuy nhiên, yếu tố có tỷ lệ thái độ tích cực thấp nhất là việc rửa tay nhiều lần trong ngày do lo ngại về tổn thương da tay, chỉ đạt 30,0%.

Rửa tay là hoạt động quan trọng trong việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân, giúp nâng cao hiệu quả công tác y tế Việc không rửa tay có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bệnh nhân, do đó, nhân viên y tế cần phải duy trì thói quen rửa tay thường xuyên khi chăm sóc người bệnh.

Bảng 3.5 Thái độ của NVYT về rửa tay

Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực n % n %

Tổ chức các buổi tập huấn/sinh hoạt khoa học cung cấp kiến thức về vệ sinh tay s làm tôi cảm thấy phải tuân thủ rửa tay tốt hơn

Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực n % n %

Việc dán các tờ rơi/poster khuyến khích NVYT rửa tay tại các vị trí dễ nhìn s làm tăng t lệ tuân thủ rửa tay trong bệnh viện

Nếu bệnh viện đầu tư thêm các phương tiện RT

(l p thêm bồn rửa, cung cấp thêm các dung dịch sát khuẩn tay, có khăn sử dụng 1 lần tại các điểm

RT …) thì t lệ tuân thủ rửa tay của NVYT s tăng lên

Tỷ lệ thái độ tích cực cao nhất liên quan đến việc dán tờ rơi/poster khuyến khích nhân viên y tế (NVYT) rửa tay tại các vị trí dễ nhìn, đạt 90% trong việc tuân thủ rửa tay tại bệnh viện Tiếp theo, nếu bệnh viện đầu tư thêm các phương tiện rửa tay, tỷ lệ tuân thủ của NVYT sẽ tăng lên 88,3% Cuối cùng, tỷ lệ thái độ tích cực thấp nhất là 86,7% đối với việc tổ chức các buổi tập huấn/sinh hoạt khoa học nhằm cung cấp kiến thức về vệ sinh tay, giúp NVYT cảm thấy cần tuân thủ rửa tay tốt hơn.

Bệnh viện đặc biệt chú trọng đến việc tập huấn vệ sinh tay, đặc biệt là tại các khoa hồi sức Nhiều điều dưỡng viên cho rằng việc thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn về vệ sinh tay rất hữu ích Họ cho biết: “Chúng em thường xuyên tham gia các buổi tập huấn do điều dưỡng trưởng tổ chức, điều này giúp cập nhật kiến thức và nâng cao ý thức tuân thủ vệ sinh tay.”

Tại bệnh viện Đồng Tháp, các khoa hồi sức được trang bị đầy đủ phương tiện vệ sinh tay như bồn rửa và hóa chất Cụ thể, khi cần rửa tay nhanh, bệnh viện cung cấp bình xịt sát khuẩn tay có chứa cồn, và khi cần rửa bằng nước, có sẵn xà phòng và nước máy Ngoài ra, poster hướng dẫn quy trình rửa tay 6 bước của Bộ Y tế cũng được dán tại các điểm rửa tay.

Tích cực Không tích cực

Hình 4 Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực về RTTQ

Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực về rửa tay thường quy đạt tỷ lệ

86,7%, còn lại là không tích cực.

Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế

Bảng 3.6 Tỷ lệ thực hành rửa tay của NVYT theo các thời điểm rửa tay

Thực hành rửa tay đúng của nhân viên y tế Tần số Tỷ lệ %

Trước khi tiếp xúc bệnh nhân 44 73,3

Trước khi làm thủ thuật 49 81,7

Sau khi tiếp xúc bệnh nhân 48 80,0

Sau khi tiếp xúc máu, dịch tiết 51 85,0

Sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân

Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế theo 5 thời điểm cho thấy: trước khi tiếp xúc bệnh nhân đạt 73,3%, trước khi làm thủ thuật là 81,7%, sau khi tiếp xúc bệnh nhân là 80,0%, sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết đạt 85,0%, và sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân chỉ đạt 28,3%.

Nhân viên y tế (NVYT) thực hiện đúng quy trình rửa tay theo 5 thời điểm quan trọng Hằng năm, Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn (KSNK) tổ chức hướng dẫn và tập huấn để kiểm tra và giám sát việc này Việc rửa tay đã trở thành thói quen của NVYT, đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy định.

Quá nhiều cơ hội rửa tay: “Điều dưỡng viên cho rằng một trong những lý do

Số lượng cơ hội cần VST quá nhiều và phụ thuộc vào số lượng bệnh nhân, dẫn đến việc người thực hiện có thể bỏ qua một số thời điểm nếu làm nhanh, từ đó làm giảm mức độ tuân thủ VST.

Bảng 3.7 Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế theo khoa

Khoa Tuân thủ Không tuân thủ

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

Hồi sức tích cực – chống độc 22 78,6 6 21,4

Hồi sức nhi – sơ sinh 22 68,6 10 31,2

Tỷ lệ tuân thủ rửa tay tại Khoa hồi sức tích cực-chống độc đạt 78,6%, trong khi tại Khoa hồi sức nhi-sơ sinh là 68,6%, với tỷ lệ chung của nghiên cứu là 73,3% Mặc dù tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên lên tới khoảng 95%, phần lớn trong số đó chỉ sử dụng găng tay và dung dịch sát khuẩn tay nhanh Sự đông đúc của bệnh nhân và khối lượng công việc chăm sóc lớn là những yếu tố cản trở đáng kể đến việc tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế, như một trưởng khoa đã chia sẻ: “Khoa tôi có 46 giường mà chỉ có 3 lavabo, nhân viên thì ít, nên khi bệnh nhân đông, việc chăm sóc và theo dõi sát phải ưu tiên sử dụng sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch có chứa cồn.”

3.5 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với các đặc điểm chung

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với giới tính

Giới Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %)

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay và giới tính, trong đó tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng ở nam giới là 81% và không tuân thủ là 19% Đối với nữ giới, tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng là 69,2% và không tuân thủ là 30,8% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nhóm tuổi

Nhóm tuổi Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %)

Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay và nhóm tuổi cho thấy, ở nhóm tuổi dưới 30, tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng đạt 74,4%, trong khi tỷ lệ không tuân thủ là 25,6% Đối với nhóm tuổi từ 30 trở lên, tỷ lệ tuân thủ là 71,4% và không tuân thủ là 28,6% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nghề nghiệp

Nghề nghiệp Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %) ác s 7 (100) 0 (0) 7 (100) Điều dƣỡng 37 (69,8) 16 (30,2) 53 (100)

Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay và nghề nghiệp cho thấy rằng với giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, kiểm định chính xác của Fisher được áp dụng Kết quả với trị số p=0,1 chỉ ra rằng sự khác biệt trong thực hành tuân thủ rửa tay giữa hai nhóm bác sĩ và điều dưỡng không có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %)

Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay và trình độ chuyên môn cho thấy trị số p=0,1, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong thực hành tuân thủ rửa tay giữa hai nhóm trình độ chuyên môn đại học và cao đẳng Do giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, kiểm định chính xác của Fisher được áp dụng.

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với thâm niên

Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %)

Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay và thâm niên công tác cho thấy nhóm có thâm niên từ 5 năm trở lên có tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng đạt 77,8%, trong khi nhóm dưới 5 năm chỉ đạt 66,7% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với khoa

Tuân thủ rửa tay Tổng n (%) Đúng (n, %) Không (n, %)

Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở khoa Hồi sức tích cực - chống độc đạt 78,6%, trong khi ở khoa Hồi sức nhi là 68,8% Sự khác biệt giữa hai khoa này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.14 Mối liên giữa kiến thức với tuân thủ rửa tay

Kiến thức Tuân thủ rửa tay

Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành tuân thủ rửa tay của cán bộ y tế

Do giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, kiểm định chính xác của Fisher được áp dụng Trong nhóm nhân viên y tế (NVYT) có kiến thức đúng, tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng đạt 70,8%, trong khi nhóm NVYT có kiến thức không đúng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn, đạt 83,3%.

Sự khác biệt về thực hành rửa tay giữa 2 nhóm kiến thức đúng và không đúng không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.15 Mối liên giữa thái độ thức với tuân thủ rửa tay

Thái độ Tuân thủ rửa tay

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa thái độ và tuân thủ rửa tay của cán bộ y tế Sử dụng kiểm định chính xác của Fisher do giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5 Trong nhóm nhân viên y tế có thái độ tích cực, tỷ lệ tuân thủ rửa tay đúng đạt 71,2%, trong khi nhóm có thái độ không tích cực đạt 87,5% Tuy nhiên, sự khác biệt về thực hành rửa tay giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ rửa tay trên 60 nhân viên y tế tại hai khoa Hồi sức tích cực chống độc và Hồi sức nhi-sơ sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp cho thấy 86,7% nhân viên y tế có kiến thức đúng và thái độ tích cực về rửa tay thường quy, trong khi tỷ lệ thực hành tuân thủ rửa tay đạt 73,3% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là điều dưỡng, với tỷ lệ nữ chiếm 65%.

1 Kiến thức về rửa tay thường quy

Nghiên cứu về kiến thức rửa tay của nhân viên y tế (NVYT) cho thấy tỷ lệ kiến thức cao nhất đạt 100% về việc vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, trong khi tỷ lệ thấp nhất chỉ đạt 20% đối với việc loại bỏ vi sinh vật thường trú trên da tay Tổng quan, 86,7% NVYT có kiến thức đúng về các yếu tố rửa tay thường quy, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây tại Campania và Calabria (53,2%) cũng như tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình (72%) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh cho thấy 71,0% điều dưỡng có kiến thức tốt về thực hành rửa tay, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng chỉ ra 41,2% NVYT nhận thức về vệ sinh tay Sự khác biệt này có thể do địa điểm và thời gian nghiên cứu Hiện nay, vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện được các bệnh viện chú trọng hơn, với sự ra đời của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Các yếu tố đánh giá kiến thức cho thấy NVYT có tỷ lệ kiến thức đúng cao về quy trình rửa tay, góp phần giảm nguy cơ nhiễm khuẩn và đảm bảo vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân.

Tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) nhận thức về việc rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân đạt 98,3%, cho thấy đa số đều hiểu tầm quan trọng của việc này Tuy nhiên, chỉ có 68,3% NVYT biết rằng rửa tay đúng quy trình là phương pháp đơn giản và hiệu quả để phòng ngừa nhiễm khuẩn Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở các cơ sở y tế là 65,0%, và kiến thức về vệ sinh tay nhằm loại bỏ vi sinh vật trên da bàn tay chỉ đạt 20,0% Điều này cho thấy còn nhiều thiếu sót trong kiến thức của NVYT về vệ sinh tay.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w