ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu: Điều dƣỡng đang công tác trực tiếp tại 08 khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, tính đến thời điểm nghiên cứu có thâm niên ít nhất 01 năm làm việc tại Bệnh viện trở lên
Tiêu chuẩn loại trừ: Điều dƣỡng nghỉ thai sản, đi học hoặc chỉ làm hành chính
2.1.2 Nghiên cứu định tính Đại diện lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa KSNK; 03 cuộc thảo luận nhóm:
Trong nghiên cứu này, có 01 nhóm gồm 08 điều dưỡng trưởng khoa, 01 nhóm tuân thủ quy định rửa tay thường quy (RTTQ) và 01 nhóm không tuân thủ quy định này Các điều dưỡng thuộc 08 khoa lâm sàng trực tiếp chăm sóc người bệnh.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2019, nghiên cứu được thực hiện tại 8 khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, bao gồm các khoa: Hồi sức Tích cực – Chống độc, Nội Thần kinh, Nội A, Nội B, Ngoại Thần kinh, Ngoại Tổng quát, Ngoại Chấn thương và Ung Bướu.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp cả nghiên cứu định lượng và định tính Sau khi thu thập được kết quả định lượng, nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành để đáp ứng mục tiêu thứ hai của nghiên cứu.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cơ hội RTTQ: áp dụng công thức cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ Cỡ mẫu:
- Z (1-α/2): hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z 1-α/2 = 1,96
- p = 0,434 Là tỷ lệ cơ hội rửa tay thường quy của điều dưỡng theo Nguyễn Thị Thùy Dương với nghiên cứu tại BV Sản Nhi Bắc Ninh, 2018 (43,4%) [16]
Trong nghiên cứu này, sai số chấp nhận được là 0,05 với 77 cơ hội quan sát Tổng số điều dưỡng tại 08 khoa lâm sàng của bệnh viện là 150 người đủ tiêu chuẩn Do đó, cần thực hiện quan sát với mỗi điều dưỡng là 3 lần (377/150 = 2,51 làm tròn) Tổng số cơ hội quan sát thực tế là 450, đáp ứng đủ các tiêu chí mà nghiên cứu đã thu thập.
Phỏng vấn sâu (PVS): 02 cuộc PVS:
+ 01 lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
Thảo luận nhóm (TLN): 03 cuộc TLN:
+ Nhóm 1: 08 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng
+ Nhóm 2: 08 điều dƣỡng viên có tham gia nghiên cứu định lƣợng và đƣợc đánh giá có tuân thủ RTTQ của 8 khoa lâm sàng
+ Nhóm 3: 08 điều dƣỡng viên có tham gia nghiên cứu định lƣợng và đƣợc đánh giá là chƣa tuân thủ RTTQ của 8 khoa lâm sàng.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
Nghiên cứu sử dụng Bảng kiểm đánh giá theo hướng dẫn của WHO để đánh giá tuân thủ Nhóm quan sát gồm 07 điều tra viên, với nhóm trưởng là nghiên cứu viên và 06 thành viên là nhân viên khoa KSNK Những thành viên này có kinh nghiệm giám sát hoạt động KSNK, do đó việc giám sát thực hiện rửa tay đã được tích hợp vào các hoạt động giám sát KSNK khác.
Các điều tra viên sử dụng các tiêu chí trong bảng kiểm để lựa chọn các vị trí quan sát, đảm bảo rằng những vị trí này không bị các điều dưỡng phát hiện.
Mỗi lần quan sát kéo dài từ 20 đến 30 phút, trong đó các điều tra viên theo dõi hoạt động chăm sóc và điều trị của điều dưỡng tại phòng bệnh Nếu sau 30 phút mà điều dưỡng vẫn chưa hoàn tất các hoạt động, điều tra viên sẽ tiếp tục quan sát cho đến khi kết thúc Mỗi lần quan sát cần đảm bảo có ít nhất ba cơ hội liên tiếp để điều dưỡng thực hiện rửa tay, tùy thuộc vào các hoạt động chăm sóc bệnh nhân Các quan sát về rửa tay đã được ghi lại tại các điểm rửa tay của 08 khoa phòng, và được đánh giá đầy đủ theo 6 bước cùng thời gian thực hiện tương ứng với từng phương pháp quy định.
Các quan sát được thực hiện vào buổi sáng từ 07 giờ 30 đến 09 giờ sáng và buổi chiều từ 14 giờ đến 15 giờ 30 tại mỗi khoa tham gia nghiên cứu Nghiên cứu viên giám sát toàn bộ hoạt động thu thập thông tin nhằm hạn chế sai số và đảm bảo chất lượng dữ liệu.
Thông tin về kiến thức và thái độ của các điều dưỡng về RTTQ được thu thập qua bộ câu hỏi phát vấn Đánh giá này được thực hiện với các điều dưỡng trong giai đoạn trước, và bộ công cụ đã được thử nghiệm trước khi phát cho các điều dưỡng tham gia nghiên cứu Các điều dưỡng được hướng dẫn để tự hoàn thiện bộ câu hỏi trong vòng 15 phút Tất cả phiếu trả lời đã được kiểm tra ngay sau đó, và điều dưỡng được yêu cầu bổ sung thông tin nếu có thiếu sót.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Các cuộc phỏng vấn sâu được liên hệ trước, đặt lịch hẹn với các lãnh đạo bệnh viện phụ trách công tác KSNK và lãnh đạo khoa KSNK
Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức sau khi liên hệ với các điều dưỡng trưởng của từng khoa để sắp xếp lịch trình phù hợp Mục tiêu của các cuộc thảo luận này là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ và không tuân thủ RTTQ, nhằm phục vụ cho yêu cầu của mục tiêu 2 Thông tin về phương hướng, mục tiêu, tầm nhìn của bệnh viện, cũng như quan điểm của các điều dưỡng viên và sự ủng hộ từ lãnh đạo bệnh viện đối với các hoạt động của họ được khai thác và tổng hợp một cách có hệ thống.
Các kết quả từ các cuộc phỏng vấn đã được phân tích để đưa ra các khuyến nghị khả thi và hiệu quả, phù hợp với thực tiễn Đánh giá về kiến thức và thái độ của các điều dưỡng được khai thác sâu hơn trong các cuộc phỏng vấn, nhằm xác định nội dung đào tạo và tập huấn phù hợp cho tương lai, đồng thời minh họa rõ hơn cho các yếu tố đã được nghiên cứu.
Các câu hỏi và hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đã được thiết kế sẵn (phụ lục 4, 5, 6 và 7) Tất cả các cuộc phỏng vấn định tính được thực hiện bởi nghiên cứu viên chính với sự hỗ trợ của điều tra viên cộng sự Trong quá trình phỏng vấn, nghiên cứu viên đã xin phép và nhận được sự chấp thuận từ các đối tượng tham gia để ghi âm và ghi biên bản tóm tắt nội dung cuộc phỏng vấn.
Biến số nghiên cứu
2.6.1 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy
Các thông tin chung của điều dƣỡng: tuổi, giới tính, khoa đang làm việc, trình độ học vấn, thâm niên công tác
Thực hành rửa tay thường quy của điều dưỡng bao gồm số cơ hội thực hành, cơ hội tuân thủ, phương pháp rửa tay, tỷ lệ tuân thủ và tỷ lệ thực hành đúng.
Bảng biến số chi tiết xin xem phụ lục 9 (trang 87)
2.6.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng
Các văn bản và quy trình liên quan đến RTTQ cần được thực hiện đồng bộ tại các khoa phòng, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và sự quan tâm từ lãnh đạo bệnh viện Định hướng tập huấn và hướng dẫn là cần thiết để nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá và kiểm tra theo quy định Hoạt động giám sát và kiểm tra trong điều dưỡng là rất quan trọng, yêu cầu phân công rõ ràng nhân lực giám sát và xác định người chịu trách nhiệm chính trong quá trình này.
Nghiên cứu tính khả thi và sự phù hợp của các biện pháp chế tài, cũng như các phương thức khen thưởng và khuyến khích nhân viên y tế, nhằm thay đổi hành vi thực hành và thái độ của họ đối với việc thực hiện quy tắc tiêm chủng.
Yếu tố tạo điều kiện, cơ sở vật chất
Thực trạng thiết bị vệ sinh tay cho điều dưỡng hiện nay tại từng khoa phòng cho thấy sự cần thiết trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Các điều dưỡng gặp nhiều thuận lợi khi sử dụng các thiết bị này, nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn trong việc tiếp cận và vận hành chúng Việc nâng cao nhận thức và cải thiện cơ sở vật chất sẽ giúp tối ưu hóa quy trình vệ sinh tay, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Thực trạng sử dụng găng tay, hóa chất sát khuẩn tại bệnh viện, mức khử khuẩn của từng loại, tác dụng phụ của chúng
Việc phân bổ nhân lực điều dưỡng tại các khoa có ảnh hưởng lớn đến kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng viên Sự phân bổ này cũng tác động đến môi trường làm việc, cường độ và khối lượng công việc, dẫn đến tình trạng quá tải do thiếu nhân lực Ngoài ra, số lượng và tình trạng bệnh nhân cùng các yếu tố cá nhân của điều dưỡng viên cũng góp phần vào áp lực công việc mà họ phải đối mặt.
Các giải pháp để tăng cường kiến thức, thực hành về RTTQ của điều dưỡng trong bệnh viện
Vai trò của khoa KSNK với thực trạng RTTQ của điều dƣỡng
Những thuận lợi, khó khăn để duy trì điều dƣỡng tích cực RTTQ.
Tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Đánh giá kiến thức, thái độ tuân thủ rửa tay thường quy
Các tiêu chí đánh giá đƣợc tham khảo theo nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương (2011) [9]
Có 29 câu hỏi tự điền về kiến thức rửa tay thường quy với tối đa 17 điểm Điểm cắt cho đánh giá kiến thức là 11 điểm, cụ thể là ≥ 11 điểm là đạt và dưới 11 điểm là chƣa đạt (Phụ lục 3) [9]
Các câu hỏi về thái độ rửa tay thường quy được đánh giá trên thang điểm tối đa 07 điểm Điểm cắt để xác định thái độ tích cực là 05 điểm, trong đó ≥ 05 điểm được coi là tích cực, còn dưới 05 điểm là chưa tích cực (Phụ lục 3) [9].
2.7.2 Đánh giá thực hành tuân thủ rửa tay thường quy
Theo hướng dẫn của BYT và WHO, có 5 thời điểm quan trọng để rửa tay, bao gồm: trước khi tiếp xúc với người bệnh, trước khi thực hiện thủ thuật, sau khi tiếp xúc với người bệnh, sau khi rửa tay và sau khi tiếp xúc với chất thải.
Tuân thủ quy tắc rửa tay (RTTQ) là khi nhân viên y tế thực hiện rửa tay tại 5 thời điểm bắt buộc theo WHO, sử dụng dung dịch nước và xà phòng hoặc dung dịch rửa tay chứa cồn Tỷ lệ tuân thủ rửa tay được xác định dựa trên việc thực hiện đúng các quy định này.
Tuân thủ đúng quy trình rửa tay theo hướng dẫn của Bộ Y tế là rất quan trọng Cần rửa tay vào những thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ 6 bước rửa tay để đảm bảo hiệu quả vệ sinh.
Một điều dƣỡng đƣợc đánh giá:
Trong quá trình quan sát, việc tuân thủ quy định về rửa tay là rất quan trọng Cả 03 lần quan sát đều cho thấy điều dưỡng đã thực hiện rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn có chứa cồn Họ cũng đã thực hiện đúng quy trình 06 bước rửa tay, đảm bảo an toàn và vệ sinh trong công việc.
Không tuân thủ quy trình rửa tay (RTTQ) xảy ra khi có ít nhất một trong ba cơ hội quan sát không thực hiện việc rửa tay, hoặc rửa tay nhưng không đúng theo quy trình 06 bước.
2.7.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ rửa tay thường quy
Mối liên quan của các yếu tố cá nhân, kiến thức thái độ với tuân thủ RTTQ đƣợc kiểm định bởi các kỹ thuật thống kê định lƣợng
Sự ảnh hưởng của các yếu tố định tính thông qua kết quả từ các cuộc trao đổi với điều dƣỡng, lãnh đạo Bệnh viện.
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập, các số liệu đã được kiểm tra và làm sạch lỗi, mã hóa, cũng như ghép cặp phiếu phát vấn về kiến thức và thái độ, cùng với bảng kiểm quan sát thực hành ngay lập tức.
Tất cả thông tin được quản lý và nhập vào máy tính thông qua phần mềm, sau đó được xử lý bằng SPSS 18.0 Phân tích được thực hiện bằng phương pháp thống kê thông thường, sử dụng kiểm định chi-square để xác định mối liên quan giữa tuân thủ và các yếu tố liên quan, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 (khoảng tin cậy 95%).
Các kết quả PVS và TLN đã được ghi âm lại và chuyển đổi thành các biên bản điện tử (Word) Sau đó, những kết quả này được tổng hợp và sàng lọc theo từng chủ đề, đồng thời được trích dẫn để minh họa cho các nhận định trong phần kết quả.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo Quyết định số 222/2019/YTCC - HD3 vào ngày 23 tháng 04 năm 2019, cùng với sự đồng ý của Ban Giám đốc bệnh viện.
Thông tin riêng tư của các điều dưỡng trong nghiên cứu được mã hóa, lưu trữ và bảo mật, chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Điều dưỡng đã được giải thích rõ về mục tiêu và quy trình nghiên cứu Các điều dưỡng tham gia phỏng vấn được thông báo về quyền lợi của họ, bao gồm quyền yêu cầu điều tra viên giải thích thông tin, quyền từ chối tham gia nghiên cứu, và quyền dừng hoặc từ chối trả lời câu hỏi phỏng vấn bất cứ lúc nào nếu họ cảm thấy không thoải mái.
Kết quả nghiên cứu đã được tổng hợp và báo cáo với Ban Giám đốc bệnh viện, nhằm phản ánh thực trạng và đưa ra một số kiến nghị cải thiện tình hình RTTQ ở các điều dưỡng.
KẾT QUẢ
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình: 30; SD ± 8 (Min: 22 - Max: 57 )
Trình độ học vấn Đại học 18 12,0
Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
Thâm niên công tác tại bệnh viện
Đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 30, với 55,3% điều dưỡng dưới 30 tuổi và 44,7% từ 30 tuổi trở lên Phần lớn điều dưỡng là nữ, chiếm 85,3%, trong khi nam chỉ chiếm 14,7% Về trình độ học vấn, 88% điều dưỡng có trình độ trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng, chỉ 12% có trình độ đại học Về thâm niên công tác, 65,3% điều dưỡng đã làm việc tại Bệnh viện từ 5 năm trở lên, trong khi 34,7% có thời gian làm việc dưới 5 năm.
CĐ NỘI TK NỘI A NỘI B UNG
Biểu đồ 3.1 Phân bố tỷ lệ điều dưỡng đang công tác tại các khoa/phòng
Số lượng điều dưỡng ở 8 khoa nghiên cứu tương đối đồng đều, với tỷ lệ dao động từ 9,3% đến 15,3% Khoa Nội B nổi bật với tỷ lệ điều dưỡng cao nhất là 20%, trong khi khoa Ung bướu có tỷ lệ thấp nhất là 6% Trong khối nội, các khoa như HSTC - CĐ, Nội Thần kinh, Nội A, và Nội B tổng cộng có 92 điều dưỡng, chiếm 61,3%, trong khi khối ngoại, bao gồm các khoa Ung Bướu, Ngoại Thần kinh, Ngoại Tổng quát, và Ngoại Chấn thương, có 58 điều dưỡng, chiếm 38,7%.
Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng tại 8 khoa lâm sàng
3.2.1 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng trong số cơ hội quan sát được HUPH
Trước_TXNB Trước_TTVT Sau_TXM Sau_TXNB Sau_TXQNB TỶ LỆ
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ có rửa tay thường quy trong số cơ hội được quan sát theo 5 thời điểm rửa tay
Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ thực hiện RTTQ chung đạt 35,3%, trong đó cơ hội rửa tay Sau_TXM cao nhất với 54,8%, tiếp theo là 42,3% cho rửa tay Trước_TTVT, trong khi cơ hội rửa tay Trước_TXNB và Sau_TXQNB lần lượt chỉ đạt 23,5% và 20,8% Kết quả này được lãnh đạo khoa KSNK xác nhận, cho biết rằng điều dưỡng thường rửa tay tốt trước và sau khi thực hiện thủ thuật sạch/vô khuẩn và sau khi tiếp xúc với máu, dịch tiết của bệnh nhân Tuy nhiên, theo ý kiến từ cuộc khảo sát, việc rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân cũng như sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt xung quanh bệnh nhân vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và thường bị bỏ sót.
Biểu đồ 3.3 Phương thức RTTQ trong số cơ hội có rửa tay thường quy
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ rửa tay bằng nước và xà phòng chỉ đạt 4,7%, với tỷ lệ cao nhất là 14,6% sau khi tiếp xúc với nước bẩn (Sau_TXNB) và thấp nhất là 0,9% trước khi tiếp xúc với nước bẩn (Trước_TXNB) Rửa tay bằng dung dịch chứa cồn chiếm 30,7%, trong đó tỷ lệ cao nhất là 41,5% sau khi tiếp xúc với nước bẩn (Sau_TXNB) và 40,8% trước khi tiếp xúc với vật thể truyền nhiễm (Trước_TTVT), trong khi tỷ lệ thấp nhất là 7,1% sau khi không tiếp xúc với nước bẩn (Sau_TXQNB) Đáng chú ý, có tới 64,7% người không thực hiện rửa tay trong 5 thời điểm quan trọng.
Theo thông tin từ TLN, điều dưỡng thường ưu tiên sử dụng dung dịch rửa tay nhanh thay vì rửa tay bằng nước và xà phòng Tại khoa, số lượng bệnh nhân ngày càng tăng, do đó, việc rửa tay nhanh giúp điều dưỡng thuận tiện hơn trong việc chăm sóc và thực hiện các thủ thuật cho bệnh nhân.
Việc trang bị các xe tiêm và xe thủ thuật với bồn rửa tay tiện lợi giúp tiết kiệm thời gian di chuyển cho nhân viên y tế Tuy nhiên, việc rửa tay quá nhiều có thể dẫn đến tình trạng khô da Một số ý kiến cho rằng cơ sở hạ tầng của bệnh viện đã được xây dựng từ trước, nên không thể cải tạo các bồn rửa tay trong phòng bệnh, dẫn đến việc nhân viên chủ yếu sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh.
Nhiều điều dưỡng cho rằng việc rửa tay chỉ mang tính hình thức và không đảm bảo sạch sẽ, vì khăn lau tay thường không đủ và không đảm bảo vệ sinh Họ nhấn mạnh rằng có nhiều cơ hội để rửa tay, nhưng thực tế vẫn gặp khó khăn trong việc duy trì sự sạch sẽ.
Trước_TXNB Trước_TTVT Sau_TXM Sau_TXNB Sau_TXQNB
Tuân thủ RTTQ (%) Không tuân thủ RTTQ (%)
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng theo 5 thời điểm rửa tay của Bộ Y tế
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của điều dưỡng theo 5 thời điểm quan trọng là rất khác nhau Cụ thể, tỷ lệ cao nhất là 53,7% sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể, tiếp theo là 43,1% trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn, và 36,1% sau khi tiếp xúc với người bệnh Hai thời điểm có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh (24,3%) và sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt xung quanh người bệnh (17,9%).
3.2.2 Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng trong các cơ hội có tuân thủ rửa tay thường quy
Có tuân thủ RTTQ (%) Không tuân thủ RTTQ (%)
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tuân thủ RTTQ theo khoa
Biểu đồ 3.5 cho thấy tỷ lệ tuân thủ RTTQ chung là 34,4% Khoa HSTC - CĐ dẫn đầu với tỷ lệ tuân thủ rửa tay cao nhất là 73,9%, tiếp theo là khoa Ung bướu với 44,8%, trong khi khoa Ngoại TK có tỷ lệ thấp nhất là 18,4% Đặc biệt, khối nội có tỷ lệ tuân thủ RTTQ cao hơn khối ngoại, lần lượt là 47,8% so với 19%.
Thực trạng tuân thủ quy trình rửa tay của nhân viên y tế tại bệnh viện hiện nay còn thấp, theo chia sẻ từ lãnh đạo khoa KSNK Mặc dù có sự giám sát, nhiều nhân viên vẫn chưa thực hiện đúng và đầy đủ các bước trong quy trình rửa tay, với một số người chỉ rửa tay qua loa hoặc không thực hiện Sự không đồng nhất trong việc tuân thủ quy trình này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả trong công tác điều dưỡng.
Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4 Bước 5 Bước 6 Đủ 6 bước
Biểu đồ 3.6 Phân bố tỷ lệ tuân thủ từng bước trong quy trình rửa tay thường quy
Biểu đồ 3.6 cho thấy tỷ lệ cơ hội thực hành tuân thủ quy trình rửa tay thường quy ở từng bước Tỷ lệ thực hiện đúng và đủ 6 bước chỉ đạt 6,4%, trong đó bước 1 có tỷ lệ cao nhất là 34,9%, tiếp theo là bước 2 và bước 3 với tỷ lệ lần lượt là 33,6% và 29,8% Bước 5 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 6,7% Điều này cho thấy điều dưỡng thường thực hành rửa tay đúng ở các bước 1, 2 và 3.
Tuân thủ RTTQ Không tuân thủ RTTQ
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ thực hành đúng theo quy trình rửa tay thường quy
Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy đúng theo quy trình rửa tay thường quy là 36,7%, không tuân thủ là 63,3%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của điều dƣỡng
3.3.1 Kiến thức của điều dưỡng về rửa tay thường quy
Bảng 3.2 Kiến thức đúng của điều dưỡng về rửa tay thường quy
STT Nội dung Tần số
Một trong những yếu tố quan trọng trong việc lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện chính là bàn tay của nhân viên y tế
Nhân viên y tế làm đúng quy trình tuân thủ
RTTQ sẽ phòng đƣợc nguy cơ mắc nhiễm khuẩn chéo ở người bệnh và nhân viên y tế
Thời gian thao tác, thủ thuật, chăm sóc người bệnh của nhân viên y tế càng lâu thì càng ô nhiễm bàn tay nếu nhân viên y tế không rửa tay
4 Mang găng tay sạch không cần phải RTTQ 12 8,0
5 Rửa tay đúng có thể tiêu diệt gần nhƣ toàn bộ vi sinh vật trên tay
6 Trước và sau khi tiếp xúc với mỗi người bệnh thì nhân viên y tế cần phải rửa tay
7 Nhiễm khuẩn có thể xuất hiện ở bất cứ bệnh viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy trình RTTQ đạt 100%, giúp phòng ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn chéo cho bệnh nhân và nhân viên y tế Đặc biệt, 99,3% nhân viên y tế nhận thức được tầm quan trọng của việc rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với mỗi bệnh nhân Mặc dù đa số điều dưỡng có tỷ lệ trả lời đúng từ 57,3% đến 100%, vẫn còn 8% điều dưỡng cho rằng việc mang găng tay sạch là không cần thiết trong quy trình RTTQ.
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ điều dưỡng sắp xếp đúng thứ tự các bước của quy trình rửa tay thường quy
Tỷ lệ điều dưỡng thực hiện đúng thứ tự trong 06 bước rửa tay thường quy chỉ đạt 58%, trong khi 42% còn lại sắp xếp sai các bước Những bước thường bị trả lời sai là
Biểu đồ 3.9 Kiến thức đúng của điều dưỡng về thời gian đủ cho 1 lần rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn
Có 72,7% điều dƣỡng trả lời đúng đủ thời gian cho mỗi khi rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn và có 27,3% điều dƣỡng trả lời sai nội dung này
Biểu đồ 3.10 Kiến thức đúng của điều dưỡng về hóa chất diệt vi khuẩn tốt nhất trên da bàn tay
Kết quả cho thấy chỉ có 30,7% điều dưỡng biết rằng dung dịch chứa cồn là loại hóa chất diệt vi khuẩn hiệu quả nhất trên da tay, trong khi 69,3% còn lại không nắm rõ thông tin này.
Bảng 3.3 Kiến thức đúng của điều dƣỡng về dung dịch rửa tay phù hợp nhất các các thời điểm cần rửa tay
Trường hợp cần rửa tay Tần số
Trước khi thực hiện thủ thuật tiêm truyền cho người bệnh, cần chú ý đến việc vệ sinh tay Ngay sau khi bị phơi nhiễm nghề nghiệp do kim đâm, nhân viên y tế cần thực hiện các biện pháp an toàn Sau khi tay nhân viên y tế bị nhiễm bẩn, việc rửa tay là rất quan trọng Cuối cùng, khi di chuyển từ vị trí bẩn đến vị trí sạch, cần đảm bảo vệ sinh để ngăn ngừa lây nhiễm.
Rửa tay thường quy trước mỗi khi mang găng 68 45,3
Trước và sau mỗi khi tiếp xúc với người bệnh 74 49,3 Sau mỗi khi có tiếp xúc đồ vật, dụng cụ có máu, dịch tiết của người bệnh
Kết quả nghiên cứu cho thấy 97,3% điều dưỡng lựa chọn đúng dung dịch rửa tay sau khi bị phơi nhiễm nghề nghiệp do kim đâm Ngoài ra, 84% điều dưỡng chọn đúng dung dịch sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, và 77,3% lựa chọn đúng sau khi tay bị nhiễm bẩn Tuy nhiên, chỉ có 62% điều dưỡng lựa chọn đúng trước khi tiêm truyền cho bệnh nhân Đáng chú ý, tỷ lệ trả lời đúng ở các trường hợp còn lại chỉ dao động từ 32,7% đến 49,3%.
Biểu đồ 3.11 Kiến thức chung của điều dưỡng về tuân thủ rửa tay thường quy
Tỷ lệ điều dưỡngđược đánh giá với kiến thức rửa tay thường quy đúng là 63,3% và tỷ lệ điều dƣỡng chƣa đƣợc đánh giá đúng là 36,7%
3.3.2 Thái độ của điều dưỡng về tuân thủ rửa tay thường quy
Bảng 3.4 Thái độ của điều dưỡng về rửa tay thường quy
Nội dung Đồng ý Không đồng ý Tần số
Khi nhân viên y tế thực hành tốt RTTQ sẽ giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện
145 96,7 5 3,3 Để giảm đƣợc nguy cơ lây truyền các yếu tố gây nhiễm khuẩn bệnh viện thì rửa tay là một cách hiệu quả
Khi chăm sóc người bệnh chỉ cần mang găng tay sạch thì không cần phải RTTQ
Có thể tổn thương da tay nếu RTTQ nhiều lần một ngày
Trước khi tiến hành thủ thuật, thăm khám thông thường thì không cần thiết
Trước khi thực hiện các thủ thuật vô trùng trên người bệnh
Khi bệnh viện có trang bị RTTQ đầy đủ và thuận tiện sẽ giúp tăng tình trạng tuân thủ RTTQ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 96,7% điều dưỡng đồng ý rằng thực hành RTTQ tốt sẽ giảm nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện Đặc biệt, 90% điều dưỡng nhận thức rằng rửa tay là biện pháp hiệu quả nhất để giảm nguy cơ lây truyền các yếu tố gây nhiễm khuẩn bệnh viện Hơn nữa, 84% điều dưỡng cho rằng việc trang bị RTTQ đầy đủ và thuận tiện tại bệnh viện sẽ nâng cao tình trạng tuân thủ RTTQ Tuy nhiên, 32,7% điều dưỡng lo ngại rằng việc thực hiện RTTQ nhiều lần trong ngày có thể gây tổn thương da tay Một tỷ lệ nhỏ, 4,7%, cho rằng chỉ cần mang găng sạch khi chăm sóc bệnh nhân mà không cần thực hiện RTTQ, và 10,7% cho rằng không cần thiết phải RTTQ trước các thủ thuật thông thường, trong khi 8,7% có ý kiến tương tự trước các thủ thuật vô trùng.
Biểu đồ 3.12 Thái độ chung của điều dưỡng về tuân thủ RTTQ
Kết quả nghiên cứu cho thấy 58,7% điều dưỡng có thái độ tích cực đối với việc tuân thủ quy định RTTQ, trong khi 41,3% điều dưỡng vẫn chưa thể hiện thái độ tích cực về vấn đề này.
3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới rửa tay thường quy của điều dưỡng
3.3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ rửa tay thường quy
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ rửa tay thường quy
3 Trình độ học vấn Đại học 10 55,6 8 44,4
Cao đẳng và trung học
4 Thời gian công tác tại bệnh viện
Kết quả phân tích cho thấy điều dưỡng dưới 30 tuổi tuân thủ rửa tay thường quy cao gấp 2,19 lần so với điều dưỡng từ 30 tuổi trở lên (95% CI: 1,096 - 4,375) Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác tại bệnh viện với việc tuân thủ rửa tay của điều dưỡng.
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của điều dƣỡng và tuân thủ rửa tay thường quy
Chƣa tuân thủ RTTQ OR
Kết quả phân tích chƣa tìm thấy mối liên quan đáng kể giữa kiến thứcthái độ về rửa tay thường quy với tuân thủ rửa tay thường quy (p > 0,05)
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa khoa làm việc của điều dƣỡng và tuân thủ rửa tay thường quy
Chƣa tuân thủ RTTQ OR
Khối Nội (Nội Thần kinh,
Nội A, Nội B, Hồi sức Tích cực – Chống độc)
3,917 (1,81-8,49)