1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng

136 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện Bình Định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả Lương Văn Trình
Người hướng dẫn Nguyễn Hoành Cường
Trường học Trường đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Khái niệm (14)
      • 1.1.1. Nguồn nhân lực (14)
      • 1.1.2. Nguồn nhân lực y tế (14)
      • 1.1.3. Tầm quan trọng của nhân lực y tế trong hệ thống y tế (16)
      • 1.1.4. Khối lượng công việc và khối lượng công việc nhân viên y tế (16)
      • 1.1.5. Khối lượng công việc của điều dưỡng (16)
    • 1.2. Chính sách có liên quan đến khối lượng công việc nhân viên y tế (17)
    • 1.3. Bộ công cụ WISN (18)
      • 1.3.1. Giới thiệu chung về bộ công cụ WISN (18)
      • 1.3.2. Các bước tiến hành phương pháp WISN (19)
    • 1.4. Khối lượng công việc và nhu cầu nhân lực y tế (20)
      • 1.4.1. Trên thế giới (20)
      • 1.4.2. Tại Việt Nam (23)
    • 1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến KLCV điều dưỡng (26)
    • 1.6. Giới thiệu về Bệnh viện Bình Định (29)
    • 1.7. Khung lý thuyết (31)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (33)
    • 2.4. Cỡ mẫu, cách chọn mẫu (33)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (33)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (33)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (33)
      • 2.5.1 Nghiên cứu định lượng (33)
      • 2.5.2. Thu thập số liệu (36)
      • 2.6.1. Biến số nghiên cứu định lượng (38)
      • 2.6.2. Chủ đề nghiên cứu định tính (38)
    • 2.7. Xử lý và phân tích số liệu (39)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (39)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1. Mô tả thông tin, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (41)
    • 3.2. Xác định khối lượng công việc của điều dưỡng tại 03 khoa nghiên cứu (44)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc của điều dưỡng (63)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (70)
    • 4.1. Khối lượng và nhu cầu công việc của điều dưỡng tại bệnh viện Bình Định năm (70)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc (74)
  • KẾT LUẬN (81)
    • 1. Khối lượng công việc và nhu cầu nhân lực điều dưỡng tại các khoa nghiên cứu năm 2020 (81)
    • 2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc tại 03 khoa nghiên cứu năm (81)
    • 1. Đối với bệnh viện (84)
    • 2. Đối với các khoa (84)
  • PHỤ LỤC (35)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng viên đang công tác tại 03 khoa: Nội tổng hợp, Ngoại tổng hợp, khoa Nhi

Trưởng phòng Tổ chức-hành chính, Trưởng phòng điều dưỡng, Điều dưỡng trưởng khoa của 03 khoa

Dữ liệu về thời gian làm việc và khối lượng công việc (KLCV) của điều dưỡng tại ba khoa lâm sàng đã được lựa chọn từ báo cáo hoạt động khám chữa bệnh năm 2020, bao gồm báo cáo phẫu thuật-thủ thuật, bảng chấm công làm việc của các khoa, và bảng chấm công nghỉ phép trong năm.

Trưởng và phó phòng điều dưỡng cùng với đội ngũ điều dưỡng viên đang công tác tại ba khoa của bệnh viện Bình Định, bao gồm khoa Nội tổng hợp, khoa Ngoại tổng hợp và khoa Nhi.

- Có mặt tại thời điểm nghiên cứu

Điều dưỡng không tham gia nghiên cứu nếu họ đang nghỉ hậu sản, đi học dài hạn, đi công tác, hoặc có thời gian làm việc dưới 06 tháng và không đồng ý tham gia.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10/2020 đến tháng 07/2021 Địa điểm nghiên cứu: Tại 03 khoa lâm sàng (Nội tổng hợp, Ngoại tổng hợp, Nhi) Bệnh viện Bình Định

Chúng tôi đã chọn ba khoa lâm sàng để nghiên cứu vì mỗi khoa đại diện cho các hệ lâm sàng trong bệnh viện và có số lượng bệnh nhân trung bình đông Điều dưỡng tại các khoa này thường xuyên phản ánh tình trạng quá tải công việc lên phòng Tổ chức-Hành chính và phòng điều dưỡng.

HUPH kiến khách hàng phàn nàn về tình trạng lơ là trong chăm sóc người bệnh tại các khoa nói trên.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang năm 2020 kết hợp phương pháp định lượng qua bản tự điền và giám sát thực địa, cùng với việc thu thập dữ liệu định tính thông qua phỏng vấn sâu các lãnh đạo khoa/phòng Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ hàng năm của phòng Tổ chức-hành chính, phòng Kế hoạch tổng hợp và phòng Điều dưỡng.

Cỡ mẫu, cách chọn mẫu

Chọn toàn bộ điều dưỡng tại 03 khoa lâm sàng với tổng số mẫu tham gia nghiên cứu là 59 điều dưỡng

Dữ liệu về thời gian làm việc và các hoạt động dịch vụ y tế chuyên môn tại ba khoa được chọn trong năm 2020, bao gồm báo cáo hoạt động khám chữa bệnh, báo cáo phẫu thuật-thủ thuật và báo cáo chấm công làm việc.

Nghiên cứu đã tiến hành 05 cuộc PVS: 01 Trưởng phòng Tổ chứ c-hành chính,̣

01 Trưởng phòng điều dưỡng, 03 điều dưỡng trưởng của 03 khoa, nhằm đánh giá áp lực công việc và các yếu tố ảnh hưởng đến điều dưỡng tại 3 khoa

Tiến hành ba cuộc thảo luận nhóm tại từng khoa với sự tham gia của tất cả các điều dưỡng viên từ ba khoa, nhằm thống nhất về thời gian chuẩn cho từng công việc cụ thể.

Phương pháp thu thập số liệu

Dựa trên phương pháp WISN với cách tiếp cận từ dưới lên, tất cả các điều dưỡng viên đều tham gia trực tiếp vào công tác chăm sóc người bệnh.

Tại HUPH, bệnh nhân tham gia trực tiếp vào việc xác định KLCV của mình, giúp họ nhận thức rõ tình hình công việc hiện tại, bao gồm mức độ quá tải và các vướng mắc trong quá trình làm việc Điều này cho phép họ đưa ra ý kiến để sắp xếp và bố trí công việc một cách hợp lý hơn.

+ Lập nhóm để tiến hành nghiên cứu: Trưởng/phó phòng Tổ chức-hành chính, Trưởng/phó phòng điều dưỡng

+ Lập nhóm nghiên cứu viên: 3 - 4 nhân viên của phòng Tổ chức-hành chính, phòng Điều dưỡng, phòng Kế hoạch tổng hợp

Nhóm chuyên gia sẽ bao gồm các nhân viên phòng điều dưỡng, những người tham gia khảo sát và thảo luận nhóm để thống nhất các nhiệm vụ của chức danh điều dưỡng tại ba khoa Nhóm cũng sẽ thảo luận tại khoa để xác định thời gian thực hiện các công việc y tế theo đúng cấu phần công việc đã được thống nhất.

Phương pháp WISN có 07 bước được thực hiện theo trình tự với mỗi bước một như bảng dưới đây:

Bảng 2.1: Các bước thực hiện phương pháp WISN

Quy trình triển khai WISN Phương pháp thu thập

Bước 1: Xác định các chức danh nghề nghiệp ưu tiên

Việc phân nhóm theo chức chức danh nghề nghiệp được xác định trước khi nghiên cứu dựa theo quy chế bệnh viện (27)

Trước khi phát phiếu tự điền, NCV liên hệ trước với ĐDT 03 khoa để xác định số lượng nhân viên theo từng nhóm chức danh

Bước 2: Tính toán thời gian làm việc của mỗi điều dưỡng

Thu thập số liệu sơ cấp bằng phiếu phát vấn tự điền của ĐD về thời gian làm việc (xem

Số liệu thứ cấp về thời gian làm việc sẵn có thu thập qua các báo cáo chấm công của 03 khoa để kiểm tra, đối chiếu

Họp thảo luận nhóm nhằm thống nhất kết quả chung để tính thời gian làm việc sẵn có

Bước 3: Xác định các cấu phần công việc theo chức danh điều dưỡng

Bước 3.1: NCV phát phiếu tự điền cho tất cả ĐD để thu thập số liệu về tất cả mọi công việc từng ĐD phải làm năm 2020 (xem phụ lục 4)

Tiếp theo NCV sẽ tiến hành giám sát, đánh giá xem việc phân loại công việc của các bạn ĐD đã đúng chưa để điều chỉnh đúng

Bước 3.2: NCV tổng hợp số liệu từ phiếu tự điền và tổ chức 03 buổi thảo luận nhóm tại 03 khoa để thống nhất thời gian làm việc cho từng dịch vụ y tế, ví dụ như thời gian khí dung mũi họng Bước 3.3: PVS trưởng phòng tổ chức TPĐD và ĐDTK của 3 khoa nhằm làm rõ kết quả KLCV có đúng thực tế.

Bước 4: Xác định các hoạt động chuẩn (AS)

Kết quả từ các cuộc thảo luận cho thấy PVS đã xác định thời gian chuẩn để thực hiện các hoạt động chuyên môn y tế, hỗ trợ và bổ sung theo bước 3.1.

Bước 5: Xác định KLCV tiêu chuẩn (Standard Workload – SW)

Tính toán dựa trên các số liệu thu thập được

Bước 6: Tính toán hệ số hoạt động phụ trợ

- Tính: CAF là hệ số hoạt động bổ trợ theo hạng mục nhân sự

- Tính IAF: IAF được tính bằng tổng thời gian làm việc bổ sung chia thời gian làm việc sẵn có

Tính toán dựa trên các số liệu thu thập được

Bước 7: Tính toán số lượng nhân viên cần thiết để thực hiện công việc

Tính toán dựa trên các số liệu thu thập được

Việc thu thập số liệu được tiến hành qua 2 giai đoạn

Hồi cứu số liệu thứ cấp từ phòng kế hoạch tổng hợp và phòng tổ chức-hành chính nhằm xác định số lượng nhân viên và thời gian làm việc của nhóm điều dưỡng tại ba khoa trong năm 2020.

Thu thập số liệu về KLCV của điều dưỡng tại ba khoa thông qua các báo cáo từ Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng điều dưỡng và Phòng tổ chức trong năm.

2020 bao gồm: Số lượt bệnh nhân nhập viện, ngày điều trị trung bình, tổng số ngày điều trị nội trú

- Thu thập số liệu định lượng

Tiến hành tập huấn về bộ công cụ WISN cho tất cả điều dưỡng tại ba khoa, cùng với Trưởng và Phó Phòng Tổ chức - Hành chính, cũng như Trưởng và Phó Phòng Điều dưỡng.

HUPH dưỡng đều được hiểu rõ nắm chắc mục tiêu nghiên cứu

+Tổ chức thu thập số liệu:

Để thu thập dữ liệu về ngày làm việc của điều dưỡng viên và KLCV điều dưỡng tại ba khoa nghiên cứu, phiếu điều tra đã được phát đến các điều dưỡng viên Trước khi phát phiếu, điều tra viên đã thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu để các điều dưỡng viên hiểu Điều tra viên cũng có mặt tại các khoa để giám sát quá trình thu thập thông tin, đảm bảo tính khách quan và nhắc nhở người tham gia không trao đổi thông tin với nhau.

Khi ĐTNC nộp phiếu điều tra, NCV cần kiểm tra toàn bộ phiếu để xác định xem có thiếu thông tin nào không Nếu phát hiện thiếu sót, cần bổ sung thông tin để đảm bảo phiếu phát vấn đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn.

+Định lượng thời gian chuẩn công việc điều dưỡng:

Hàng ngày, NCV thực hiện quan sát ít nhất 03 điều dưỡng để theo dõi thời gian thực hiện các công việc được liệt kê trong phiếu phát vấn (xem phụ lục 5).

+ Giám sát thu thập số liệu:

NCV thực hiện việc phát vấn phiếu nghiên cứu dưới sự giám sát của chủ nhiệm đề tài (học viên)

- Thu thập số liệu định tính

Thảo luận nhóm được tổ chức tại ba khoa, tuân theo nguyên tắc dân chủ và lấy ý kiến từ số đông Đồng thời, các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao từ phòng điều dưỡng cũng được mời tham gia để đóng góp ý kiến.

Nội dung thảo luận tập trung vào việc xác định các đầu công việc theo quy định và các công việc thực hiện khác, đồng thời thống nhất ước tính thời gian thực hiện công việc cụ thể của ĐD tại ba khoa nghiên cứu (xem chi tiết phụ lục 1).

Phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện sau khi có số liệu định lượng về nhu cầu nhân lực và KLCV của nhóm ĐD, nhằm đánh giá sự phù hợp của ý kiến từ Trưởng/phó phòng Tổ chức-hành chính và Trưởng/phó phòng Điều dưỡng.

HUPH đã thực hiện khảo sát về KLCV và áp lực công việc của nhóm ĐD, đồng thời tiến hành phỏng vấn để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến KLCV hiện tại của nhóm ĐD Mục tiêu là tìm ra hướng thay đổi và cải tiến phù hợp (xem chi tiết phụ lục 03).

Phỏng vấn sâu ĐDTK 03 khoa lâm sàng về các yếu tố, nhân tố ảnh hưởng đến KLCV của điều dưỡng tại 3 khoa lâm sàng (xem chi tiết phụ lục 2)

2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng

Biến số lượng được chia làm 02 nhóm biến chính:

Nhóm biến số về thực trạng nhân lực: độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

Biến số về KLCV của điều dưỡng: thời gian làm việc, cấu phần công việc ĐD, hoạt động chuẩn, hệ số hoạt động bổ sung, hoạt động bổ trợ

2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

Một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc điều dưỡng:

- Thủ tục hành chính: làm hồ sơ ra vào viện, ghi chép hồ sơ bệnh án, phiếu cận lâm sàng…

- Đặc điểm nhân viên y tế: tuổi, trình độ, giới tính, thái độ làm việc, thâm niên làm việc

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, mạng thông tin bệnh viện: phòng làm việc, máy móc công cụ dụng cụ…

- Thời gian làm việc sẵn có: tổng thời gian có trong một năm để nhân viên ĐD làm việc

- Sắp xếp bố trí nhân lực: Sự sắp xếp nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ bù, điều chuyển nhân viên khi có bệnh tăng cục bộ, xếp lịch trực…

- Sắp xếp bố trí các khoa/phòng: sắp xếp các cận lâm sàng, khoa phẫu thuật, khoa lâm sàng, giường bệnh có phù hợp không

- Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh: số lượng người bệnh, yêu cầu chăm sóc của người bệnh, tình trạng bệnh…

Xử lý và phân tích số liệu

Quản lý và phân tích số liệu là quá trình quan trọng trong việc đánh giá tình trạng nhân lực điều dưỡng Số liệu định lượng được nhập vào phần mềm Excel và áp dụng các công thức theo hướng dẫn của WISN để xác định thực trạng KLCV của điều dưỡng Qua đó, tính toán yêu cầu số lượng điều dưỡng cần thiết cho tình hình hiện tại, xác định tình trạng thiếu hay đủ nhân lực Chỉ số WISN cũng giúp đánh giá áp lực công việc của nhân viên điều dưỡng, với WISN = 1 cho thấy đủ nhân viên, WISN < 1 là thiếu nhân viên, và WISN > 1 là thừa nhân viên.

Tất cả thông tin định tính thu thập được được ghi âm và được phân tích theo từng chủ đề liên quan đến nghiên cứu định tính:

- Sắp xếp bố trí nhân viên tại các khoa

- Sắp xếp bố trí các khoa lâm sàng, CLS và phòng chức năng

- Thủ tục hành chính tại tại các khoa

- Đặc điểm nhân viên y tế: tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, mạng thông tin bệnh viện

- Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh

- Thời gian làm việc sẵn có.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức trong khoa học Sự tham gia của nhân viên y tế (NVYT) là hoàn toàn tự nguyện và họ có quyền từ chối tham gia mà không phải đối mặt với bất kỳ rủi ro nào Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật tuyệt đối.

Các số liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác Nghiên cứu nhận được sự thống nhất và ủng hộ.

Lãnh đạo Bệnh viện Bình Định đã phê duyệt Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học theo số: 251/2021/YTCC-HD3, ngày 24/05/2021 Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu được thông tin rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý hợp tác từ họ.

Nghiên cứu này yêu cầu nhiều thông tin từ điều dưỡng về KLCV tại khoa, điều này có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của họ khi thu thập dữ liệu Do đó, các đối tượng tham gia không cần ghi và ký tên vào phiếu phát vấn Số liệu thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích khác, nhằm đảm bảo độ chính xác cao của thông tin.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô tả thông tin, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành tại 03 khoa lâm sàng điều trị với các đặc thù riêng của từng khoa và đại diện cho từng chuyên khoa trong bệnh viện

Khoa Nội tổng hợp bao gồm hai đơn nguyên điều trị là Nội tim mạch và Nội thần kinh-Đột quỵ, nhưng thực tế hoạt động giữa hai đơn nguyên này không có sự khác biệt rõ rệt Khoa cũng quản lý bốn phòng khám Nội vào buổi sáng và hai phòng khám vào buổi chiều tại khoa Khám bệnh, với lượng bệnh nhân khám vào buổi chiều thường ít hơn so với buổi sáng Do đó, khoa cần bố trí ít nhất bốn bác sĩ vào buổi sáng và hai bác sĩ vào buổi chiều để đảm bảo hoạt động hiệu quả tại các phòng khám.

Khoa Ngoại tổng hợp thuộc hệ ngoại, bao gồm hai đơn nguyên: Ngoại tổng hợp - tiết niệu và Ngoại chấn thương - thần kinh Ngoài ra, khoa còn đảm nhận thêm nhiều nhiệm vụ khác.

03 phòng khám tại khoa Khám bệnh, do đó khoa phải bố trí 03 ĐD vào buổi sáng và 02 ĐD vào buổi chiều để phụ vụ hoạt động tại phòng khám

Khoa Nhi đã bổ sung thêm một phòng chăm sóc Nhi sơ sinh, với nhân sự trực 24/24 để đảm bảo công tác chăm sóc Ngoài ra, khoa còn phụ trách một phòng khám nhi, do đó cần bố trí ít nhất một điều dưỡng cho hoạt động tại phòng khám này.

Bảng 3 1: Tình hình nhân lực chuyên môn tại các khoa nghiên cứu

Tổng Bác sĩ Tổng Điều dưỡng Tỷ lệ ĐD/BS

BS Ths CKII CKI BS ĐD ĐH CĐ

Khoa nội tổng hợp và Ngoại tổng hợp có số lượng nhân viên y tế tương đương, nhưng khác biệt về trình độ chuyên môn, với đa số bác sĩ khoa Ngoại có trình độ sau đại học, trong khi hơn 50% bác sĩ khoa Nội là mới ra trường Điều dưỡng tại ba khoa chủ yếu có trình độ cao đẳng, với số lượng đại học rất ít: khoa Ngoại chỉ có 01, khoa Nội có 02 và khoa Nhi có 04 Tỷ lệ điều dưỡng trên bác sĩ tương đương nhau ở mức 2,33, ngoại trừ khoa Nhi với tỷ lệ 2,16 Phỏng vấn cho thấy trình độ chuyên môn thấp của điều dưỡng gây khó khăn trong việc lựa chọn người quản lý, dẫn đến khả năng quản lý hạn chế và sắp xếp công việc chưa hiệu quả.

Trình độ chuyên môn của đội ngũ điều dưỡng còn hạn chế, do đó, hàng năm bệnh viện phải đầu tư ngân sách và thời gian để cử 1-2 điều dưỡng từ mỗi khoa đi đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu là nâng cao năng lực quản lý và chuẩn bị đội ngũ kế cận khi cần thiết.

Bảng 3.2: Biến số thực trạng nhân lực điều dưỡng tại các khoa nghiên cứu

Khoa Khoa Nội tổng hợp

Trong tổng số 59 diễn viên (ĐD) tại 03 khoa nghiên cứu, phần lớn là ĐD trẻ Đặc biệt, nhóm ĐD có độ tuổi từ 25 đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 81,3%.

Tại bệnh viện, tỷ lệ điều dưỡng dưới 30 tuổi chiếm 10,2%, trong khi nhóm tuổi dưới 25 chiếm 8,5% Điều dưỡng nam chỉ chiếm 16,9%, còn điều dưỡng nữ chiếm 83,1% Số lượng điều dưỡng có trình độ đại học rất ít, chỉ 15,3%, trong khi điều dưỡng cao đẳng chiếm 84,7% Bệnh viện mới hoạt động được 4 năm, dẫn đến thâm niên công tác của nhân viên khá thấp, với 93,2% điều dưỡng có thâm niên từ 1 đến 3 năm, và 6,7% là điều dưỡng mới.

Bảng 3 3: Cơ cấu nhân lực, giường bệnh tại các khoa nghiên cứu

Khoa Giường thực kê Bác sĩ Điều dưỡng

Số NB tại thời điểm NC

Khoa Ngoại tổng hợp có số lượng giường thực kê cao nhất với 85 giường bệnh, trong khi khoa Nhi có số lượng giường thấp nhất là 75 Việc phân bổ đội ngũ điều dưỡng trực tiếp tham gia chăm sóc bệnh nhân trong suốt cả ngày là tương đồng giữa các khoa.

Khoa Nội tổng hợp có 08 điều dưỡng, trong khi khoa Nhi chỉ có 07 điều dưỡng, dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân cần chăm sóc trên mỗi điều dưỡng tại khoa Nhi cao nhất với 7,2, trong khi đó tỷ lệ này tại khoa Nội tổng hợp thấp nhất với 6,5.

Xác định khối lượng công việc của điều dưỡng tại 03 khoa nghiên cứu

3.2.1 Thời gian làm việc sẵn có của điều dưỡng tại 03 khoa nghiên cứu

Theo hướng dẫn của bộ công cụ WISN, trước khi tính toán KLCV của nhân viên y tế (NVYT), cần xác định thời gian làm việc sẵn có trong một năm Nghiên cứu này phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp năm 2020 Thời gian làm việc sẵn có được tính dựa trên số liệu thời gian của nhân viên y tế trong một hạng mục nhất định để hoàn thành công việc Nhân viên điều dưỡng không làm việc tất cả các ngày trong năm mà có thời gian nghỉ phép, nghỉ lễ, tết; nếu làm vào ngày lễ, tết, họ sẽ được nghỉ bù hoặc nhận tiền làm thêm giờ Ngoài ra, theo chế độ bảo hiểm xã hội, nhân sự này cũng có thể nghỉ ốm, thai sản, tham gia tập huấn, học tập hoặc nghỉ vì lý do cá nhân khác.

Thông qua thảo luận tại các khoa nghiên cứu và hồi cứu số liệu từ tài liệu, báo cáo chấm công, kết quả cho thấy trong năm 2020, theo quy định làm việc 8 giờ/ngày, 5 ngày/tuần, tổng số ngày làm việc là 260 ngày Theo Luật lao động, nhân viên được nghỉ tổng cộng 22 ngày (bao gồm nghỉ lễ và tết), do đó số ngày làm việc thực tế còn lại là 238 ngày.

Trong năm, có 238 ngày làm việc Những trường hợp nhân viên tham gia trực vào ngày lễ sẽ được giải quyết nghỉ bù sau đó Thời gian làm việc sẽ được thể hiện trong bảng dưới đây.

Bảng 3.4 Số ngày nghỉ, ngày làm việc có thể có tại 03 khoa nghiên cứu

Số ngày làm việc trong một tuần 5 (ngày)

Số giờ làm việc trong 1 ngày 8 (giờ)

Số giờ làm việc trong một tuần 40 (giờ)

Số tuần làm việc trong 1 năm 52 (tuần)

Số ngày làm việc có thể có trong năm (5 x 52) 260 (ngày)

Số ngày nghỉ trong năm (ngày tết, lễ, phép) 22 (ngày)

Thời gian làm việc có trong năm 2.080 (giờ)

Trong năm 2020, nhân viên ĐD làm việc 8 giờ mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần theo quy định Các khoa nghiên cứu không làm theo ca mà thực hiện theo giờ hành chính và có ca trực 24 giờ Nhân viên sẽ được nghỉ bù vào ngày hôm sau sau những ngày trực, và nếu có ca bệnh đông, điều dưỡng sẽ ở lại làm thêm vào buổi sáng hôm sau và được tính thêm tiền Ngoài ra, nhân viên ĐD còn được nghỉ lễ và 12 ngày phép trong năm.

Bảng 3.5 Phân loại thời gian nghỉ của các điều dưỡng trong năm

Số ngày nghỉ trong 1 năm (ngày)

Nghỉ đi học dài hạn (ngày)

Nghỉ hậu sản, việc riêng, ốm, lễ (ngày)

Trong nghiên cứu này, bảng phân loại thời gian nghỉ bao gồm cả nghỉ phép và nghỉ không phép, và việc tuân thủ quy định về nghỉ phép sẽ được xem xét trong phân tích áp lực công việc của điều dưỡng (ĐD) tại các khoa Công thức tính số trung bình ngày nghỉ của ĐD được xác định bằng cách lấy tổng số ngày nghỉ (cả có phép và không phép) của tất cả ĐD trong từng khoa trong một năm, sau đó chia cho tổng số nhân viên ĐD hiện tại tại khoa đó.

Theo số liệu thu thập được trong năm 2020 tổng số ngày nghỉ và ngày nghỉ

Số ngày nghỉ trung bình của các khoa nghiên cứu tại HUPH có sự khác biệt rõ rệt Mặc dù luật lao động quy định về ngày phép, việc sắp xếp công việc chưa hợp lý đã dẫn đến tình trạng một số khoa không thể bố trí đủ ngày nghỉ cho nhân viên Khoa Nhi có số ngày nghỉ trung bình cao nhất là 61,5 ngày, trong khi khoa Nội tổng hợp có số ngày nghỉ thấp nhất với 40,1 ngày, và khoa Ngoại tổng hợp là 51,0 ngày Việc sắp xếp công việc để đảm bảo ngày nghỉ cho điều dưỡng tại khoa Nội tổng hợp vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt vào cuối năm khi số lượng bệnh nhân tăng cao và có nhiều nhân viên nghỉ thai sản, dẫn đến việc không thể giải quyết nghỉ phép theo chế độ cho các điều dưỡng.

Nghỉ phép là quyền lợi của nhân viên, tuy nhiên, việc giải quyết nghỉ phép thường gặp khó khăn, đặc biệt khi có nhiều điều dưỡng nghỉ thai sản cùng lúc Chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được phép nghỉ đầy đủ, trong khi phần lớn vẫn chưa được giải quyết hết số ngày nghỉ phép.

Khoa Nội tổng hợp thường tiếp nhận số lượng bệnh nhân đông vào cuối năm, với những ngày có tới 60-70 bệnh nhân Trong thời điểm cao điểm, một điều dưỡng phải chăm sóc từ 6 đến 8 bệnh nhân mỗi ngày, dẫn đến việc nhiều điều dưỡng chưa sử dụng hết số ngày phép trung bình 5,5 ngày/năm trong năm 2020.

Trong những thời điểm đông bệnh nhân, một điều dưỡng phải chăm sóc từ 6 đến 8 bệnh nhân Nếu có ai xin nghỉ phép, các điều dưỡng còn lại sẽ phải làm việc nhiều hơn Việc nghỉ phép chỉ được xem xét khi số lượng bệnh nhân giảm, chủ yếu là để nghỉ bù và phục hồi sức lao động.

Tại 03 khoa nghiên cứu đa phần là ĐD trẻ mới lập gia đình dẫn đến lượng nghỉ thai sản, hậu sản quá lớn; ở khoa Nội tổng hợp có 06 ĐD nghỉ thai sản năm

Năm 2020, số ngày nghỉ thai sản trung bình đạt 17,5 ngày/năm, trong đó khoa Nhi ghi nhận số ngày nghỉ cao nhất với trung bình 32 ngày/năm cho 04 điều dưỡng Ngược lại, khoa Ngoại tổng hợp có số ngày nghỉ thai sản trung bình thấp hơn, chỉ đạt 21,4 ngày/năm.

Đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện chủ yếu là những người trẻ dưới 30 tuổi, đang trong độ tuổi sinh đẻ, dẫn đến tình trạng nhiều nhân viên nghỉ thai sản cùng lúc Điều này gây khó khăn trong việc bố trí nhân lực trực, đặc biệt khi có tới 06 nhân viên nghỉ cùng một thời điểm Hơn nữa, kinh nghiệm của các điều dưỡng còn hạn chế và trình độ chuyên môn chưa cao.

Chất lượng HUPH chưa cao dẫn đến công tác quản lý yếu kém Hàng năm, bệnh viện phải cử nhân viên đào tạo dài hạn tại Hồ Chí Minh để nâng cao chuyên môn và trình độ quản lý Do đó, số ngày nghỉ trung bình hàng năm dành cho việc học tập cũng khá lớn, ví dụ như khoa Ngoại tổng hợp có 9,4 ngày nghỉ/năm, trong khi khoa Nhi là 4,7 ngày/năm.

Tập huấn chuyên môn là hoạt động quan trọng giúp nhân viên ĐD nâng cao kỹ năng và nghiệp vụ Thời gian tập huấn bao gồm các buổi ngắn hạn và khóa học dài hạn, nhằm cải thiện kiến thức cho nhân viên Mặc dù việc học của nhân viên ảnh hưởng đến việc sắp xếp nhân sự tại các khoa, nhưng các đợt tập huấn thường diễn ra trong 1 ngày Bên cạnh đó, bệnh viện cũng thường xuyên cử nhân viên tham gia các khóa học dài hạn từ 3 đến 6 tháng tại Hồ Chí Minh.

Đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện chủ yếu còn trẻ và có trình độ hạn chế, đặc biệt trong công tác quản lý Để nâng cao kiến thức và kỹ năng, bệnh viện hàng năm cử từ 1 đến 2 điều dưỡng của mỗi khoa tham gia các khóa học tại Hồ Chí Minh Mặc dù đây là giải pháp dự phòng cho tương lai, nhưng hiện tại nó đang ảnh hưởng lớn đến việc sắp xếp nhân sự làm việc.

Bảng 3.6 Thời gian làm việc sẵn có (AWT) của điều dưỡng tại 03 khoa

Số ngày làm việc trong năm (ngày)

Số ngày nghỉ trong năm (ngày)

Số giờ làm việc/ ngày (giờ)

Thời gian làm việc sẵn có (giờ) AWT= (A-B) x C

Một số yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng công việc của điều dưỡng

3.3.1 Sắp xếp bố trí nhân lực

Tỷ lệ bác sĩ trên điều dưỡng hiện tại là 0,43, nhưng tại khoa Nội và Ngoại, mỗi khoa cần 3-4 bác sĩ phụ trách phòng khám, dẫn đến số lượng bác sĩ điều trị nội trú khá thấp Do đó, điều dưỡng phải hỗ trợ bác sĩ trong việc ghi chép hồ sơ bệnh án và lên thuốc trên phần mềm, gây tốn nhiều thời gian cho các công việc ngoài nhiệm vụ chính Hàng tuần, khoa cũng phải cử 1-2 điều dưỡng tham gia hỗ trợ khai báo y tế để sàng lọc bệnh nhân trước khi vào khám chữa bệnh, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát ở các tỉnh lân cận.

Các bác sĩ thường chỉ tập trung vào việc khám bệnh và thực hiện phẫu thuật, sau đó họ giao lại cho chúng tôi những công việc như ghi hồ sơ, lên chỉ định và kê thuốc qua phần mềm Trong những lúc đông bệnh, chúng tôi không kịp hoàn thành nhưng các bác sĩ vẫn duy trì thói quen này.

Nghiên cứu cho thấy rằng các khoa đang thừa điều dưỡng (ĐD), nhưng do việc sắp xếp nhân lực nghỉ bù, nghỉ phép và phân công công việc chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng thiếu ĐD chăm sóc cục bộ Điều này làm tăng khối lượng công việc cho ĐD tại khoa Thực tế, việc báo thiếu nhân lực ĐD chỉ là tạm thời và không phải là thiếu hụt dài hạn Nhiều khi, phòng điều dưỡng phải điều động ĐD ra trực hoặc hỗ trợ các khoa khác, nhưng việc này thường gặp phải sự phản đối từ các khoa có ĐD bị điều chuyển.

Công tác quản lý của các khoa còn yếu, dẫn đến việc bố trí ngày nghỉ không hợp lý, như cho nghỉ 3 - 4 điều dưỡng cùng lúc mà không dự báo được lượng bệnh nhân sắp tới Trong nửa đầu năm, khi lượng bệnh ít, không có sự lo lắng về việc nghỉ phép, nhưng đến cuối năm, các điều dưỡng đồng loạt xin nghỉ, gây khó khăn trong việc bố trí nhân lực.

HUPH đang đối mặt với tình trạng nghỉ thai sản quá lớn, dẫn đến thiếu hụt nhân sự chăm sóc tại các phòng Mặc dù có sự điều động nhân sự bổ sung, nhưng một số nhân viên tại khoa không hài lòng vì họ cảm thấy còn nhiều công việc khác cần thực hiện, không chỉ đơn thuần là chăm sóc bệnh nhân.

3.3.2 Sự sắp xếp bố trí các khoa phòng

Việc bố trí các khoa điều trị và khoa cận lâm sàng trong bệnh viện hiện chưa hợp lý, khi các khoa lâm sàng nằm từ tầng 3 đến tầng 11, trong khi khoa cận lâm sàng chỉ ở tầng 1 và 2 Điều này dẫn đến việc chuyển bệnh nhân đi làm cận lâm sàng và phẫu thuật mất nhiều thời gian, với 1-2 điều dưỡng phải thực hiện công việc này hàng ngày Họ thường phải chờ thang máy lâu do lưu lượng vận chuyển lớn, trong khi bệnh viện chỉ có 02 thang vận chuyển bệnh Trưởng phòng điều dưỡng nhận định rằng sự bố trí này không chỉ gây tốn thời gian chờ đợi mà còn làm tăng áp lực tại các phòng siêu âm.

Việc chuyển bệnh giữa các khoa trong bệnh viện gặp nhiều khó khăn do cấu trúc khép kín và số lượng thang máy hạn chế, dẫn đến sự chậm trễ trong di chuyển Điều này khiến điều dưỡng phải dành nhiều thời gian cho việc di chuyển thay vì chăm sóc bệnh nhân, đồng thời buộc các điều dưỡng khác phải đảm nhận công việc chăm sóc được phân công của họ.

Hầu hết các ngày, việc chuyển bệnh nhân đi làm cận lâm sàng thường gặp phải tình trạng chờ thang máy lâu Mặc dù đã sắp xếp chuyển bệnh nhân vào buổi chiều để giảm thiểu thời gian chờ đợi do buổi sáng có nhiều bệnh nhân khám ngoại trú, nhưng tình trạng này vẫn thường xuyên xảy ra.

3.3.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế của người bệnh

Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng tăng, dẫn đến sự gia tăng khối lượng công việc của đội ngũ y tế qua các năm, trong khi định biên nhân lực vẫn chưa được cải thiện.

Bệnh viện HUPH không ngừng nâng cao sự hài lòng của người bệnh bằng cách bổ sung các dịch vụ chăm sóc như xông hơi, gội đầu khô, gội đầu ướt và tắm bé Mặc dù người bệnh mong muốn có thêm nhiều dịch vụ chăm sóc, nhưng số lượng điều dưỡng tại các khoa không được bổ sung qua các năm, điều này ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mà bệnh viện cung cấp.

Bệnh viện chúng ta là một cơ sở y tế tư nhân, tập trung vào việc nâng cao trải nghiệm và sự hài lòng của bệnh nhân Mục tiêu là thu hút bệnh nhân đến khám chữa bệnh Tuy nhiên, khi triển khai các dịch vụ chăm sóc nâng cao, nếu không bổ sung nhân lực phù hợp, chất lượng dịch vụ có thể bị ảnh hưởng trong tương lai.

Tại bệnh viện, nhu cầu sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của bệnh nhân rất cao, nhưng việc giám định viên phải tuân thủ nhiều quy định phức tạp dẫn đến tình trạng xuất toán y tế khó tránh khỏi Để giảm thiểu tình trạng này, quy trình kiểm tra hồ sơ hiện tại trải qua nhiều bước, từ y lệnh thuốc đến kiểm tra chữ ký, gây tốn thời gian Công việc hành chính liên quan đến hồ sơ bệnh án thường được ủy thác cho điều dưỡng, gây bức xúc trong đội ngũ này Sự phân công công việc hành chính không hợp lý, như việc ưu tiên điều dưỡng mang bầu, làm cho việc luân chuyển công việc không hiệu quả, dẫn đến sai sót và tốn thời gian sửa chữa hồ sơ.

Hiện nay, bảo hiểm y tế có nhiều quy định nghiêm ngặt liên quan đến việc sử dụng thuốc và vật tư y tế, khiến đại diện phải dành thêm thời gian để tra cứu thông tin.

HUPH liên quan đến bảo hiểm trước khi ra viện nhằm hạn chế việc xuất toán Hàng ngày, khoa cần phân công thêm nhân viên hành chính để hỗ trợ công việc như kiểm tra hồ sơ bệnh án, lên thuốc và ra viện, điều này dẫn đến việc mất một số điều dưỡng chăm sóc cho các công việc khác.

Điều dưỡng (ĐD) không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn phải đảm nhận các công việc hành chính của bác sĩ như lên chỉ định cận lâm sàng, thông tin tờ điều trị và sổ hội chẩn Sự ỷ lại của bác sĩ vào ĐD trong những công việc này đã khiến ĐD phải gánh vác thêm nhiều nhiệm vụ, làm gia tăng khối lượng công việc của họ.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1: Tình hình nhân lực chuyên môn tại các khoa nghiên cứu - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3. 1: Tình hình nhân lực chuyên môn tại các khoa nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.2: Biến số thực trạng nhân lực điều dưỡng tại các khoa nghiên cứu - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.2 Biến số thực trạng nhân lực điều dưỡng tại các khoa nghiên cứu (Trang 42)
Bảng 3. 3: Cơ cấu nhân lực, giường bệnh tại các khoa nghiên cứu - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3. 3: Cơ cấu nhân lực, giường bệnh tại các khoa nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3.5. Phân loại thời gian nghỉ của các điều dưỡng trong năm - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.5. Phân loại thời gian nghỉ của các điều dưỡng trong năm (Trang 45)
Bảng 3.6. Thời gian làm việc sẵn có (AWT) của điều dưỡng tại 03 khoa - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.6. Thời gian làm việc sẵn có (AWT) của điều dưỡng tại 03 khoa (Trang 47)
Bảng 3.7. Thời gian trung bình thực hiện các hoạt động dịch vụ y tế - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.7. Thời gian trung bình thực hiện các hoạt động dịch vụ y tế (Trang 49)
Bảng 3.8. Hiện hoạt động chăm sóc hàng ngày của điều dưỡng - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.8. Hiện hoạt động chăm sóc hàng ngày của điều dưỡng (Trang 51)
Bảng 3.9. Cấu phần công việc và thời gian dành cho hoạt động bổ trợ - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.9. Cấu phần công việc và thời gian dành cho hoạt động bổ trợ (Trang 52)
Bảng 3.10. Các hoạt động bổ sung của điều dưỡng tại 03 khoa nghiên cứu - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.10. Các hoạt động bổ sung của điều dưỡng tại 03 khoa nghiên cứu (Trang 54)
Bảng 3.11. Nhân lực điều dưỡng cần có cho hoạt động dịch vụ y tế - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.11. Nhân lực điều dưỡng cần có cho hoạt động dịch vụ y tế (Trang 56)
Bảng 3.12. Phần trăm thời gian và nhân lực cần có cho nhóm hoạt động bổ trợ  của các điều dưỡng - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.12. Phần trăm thời gian và nhân lực cần có cho nhóm hoạt động bổ trợ của các điều dưỡng (Trang 57)
Bảng 3.13. Nhu cầu nhân lực cần có cho hoạt động bổ sung của điều dưỡng tại - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.13. Nhu cầu nhân lực cần có cho hoạt động bổ sung của điều dưỡng tại (Trang 58)
Bảng 3.15. Áp lực công việc của điều dưỡng - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.15. Áp lực công việc của điều dưỡng (Trang 61)
Phụ lục 5: BẢNG TÍNH THỜI GIAN THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
h ụ lục 5: BẢNG TÍNH THỜI GIAN THỰC HIỆN QUY TRÌNH KỸ (Trang 99)
Bảng 3.4: số ngày nghỉ, thời - Khối lượng công việc của điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện bình định năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng
Bảng 3.4 số ngày nghỉ, thời (Trang 126)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w