Nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022” nhằm mô tả thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN VĂN MINH
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ GÓI ĐẶT VÀ CHĂM SÓC
TẠI BỆNH VIỆN VINMEC ĐÀ NẴNG NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN VĂN MINH
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ GÓI ĐẶT VÀ CHĂM SÓC ĐƯỜNG TRUYỀN TĨNH MẠCH NGOẠI VI CỦA ĐIỀU DƯỠNG
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN VINMEC ĐÀ NẴNG NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HÀ VĂN NHƯ
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 3Xin chân thành cảm ơn quý đồng nghiệp bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec
Đà Nẵng, những người đã tình nguyện Iđồng ý tham gia vào nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm yêu thương và lòng biết ơn đến gia đình, bạn
bè thân thiết đã luôn động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn vô hạn!
Đà Nẵng, ngày 29 tháng 09 năm 2022
Nguyễn Văn Minh
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm, quy định, tiêu chí và phương pháp đánh giá 4
1.1.1 Công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh 4
1.1.2 Kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 4
1.1.3 Lịch sử phát triển gói chăm sóc 5
1.1.4 Gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 6
1.2 Thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 9
1.2.1 Trên thế giới 9
1.2.2 Tại Việt Nam 11
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 13
1.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân 13
1.3.2 Nhóm yếu tố công việc 14
1.3.3 Nhóm yếu tố môi trường làm việc 16
1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 19
1.5 Khung lý thuyết: 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
HUPH
Trang 52.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu 22
2.5 Phương pháp chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 26
2.8 Các thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 26
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 27
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm chung về điều dưỡng tham gia nghiên cứu 29
3.2 Tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 31
3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 34
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45
4.1 Thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường tĩnh mạch ngoại vi 45
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 48
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 56
KẾT LUẬN 58
KHUYẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 69
Phụ lục 1: Các biến số nghiên cứu định lượng 69
Phụ lục 2: Bảng kiểm thực hành gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 73
HUPH
Trang 6Phụ lục 3: Bộ câu hỏi phỏng vấn điều dưỡng viên 76
Phụ lục 4A: Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu đại diện phòng điều dưỡng/ đại diện điều dưỡng khoa 78
Phụ lục 4B: Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu điều dưỡng viên 79
Phụ lục 5: Một số hình ảnh trong quá trình thu thập số liệu 80
Phụ lục 6: Hướng dẫn thực hành vệ sinh tay thường quy 83
Phụ lục 7: Thang điểm VIP score (Visual Infusion Phlebitis score) 85
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality - Cơ quan Nghiên
cứu và Chất lượng Chăm sóc Sức khỏe
ĐDT: Điều dưỡng trưởng
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
HSCC: Hồi sức cấp cứu
IHI: Institute for Healthcare Improvement – Viện Cải thiện Sức khỏe
JCI: Joint Commission International – Tổ chức thẩm định chất lượng
bệnh viện quốc tế
NCV:
NVYT:
Nghiên cứu viên Nhân viên y tế
QLCL: Quản lý chất lượng
PĐD: Phòng điều dưỡng
VIP: Visual Infusion Phlebitis Scale – Thang đo đánh giá mức độ viêm
tĩnh mạch HUPH
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nội dung gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 7
Bảng 3.1 Thông tin cá nhân của điều dưỡng tham gia nghiên cứu 29
Bảng 3.2 Thông tin về khối lượng công việc của điều dưỡng cứu ở các khoa 30
Bảng 3.3 Thông tin về môi trường làm việc của điều dưỡng tham gia nghiên cứu 30
Bảng 3.4 Sự tuân thủ gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 31
Bảng 3.5 Sự tuân thủ gói chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi 32
Bảng 3.6 Điều dưỡng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch 33
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và sự tuân thủ gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng 34
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và sự tuân thủ gói chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng 38
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa yếu tố môi trường làm việc và sự tuân thủ gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng 40
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa yếu tố môi trường làm việc và sự tuân thủ gói chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng 42
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi là kỹ thuật tiêm truyền đặc biệt hiệu quả khi người bệnh cần tiêm truyền nhiều lần trong ngày hoặc duy trì trong nhiều ngày Để giải quyết tình trạng nhiễm trùng huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch ngoại vi, nhiều bệnh viện đã triển khai gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi Trong quá trình này,
sự tuân thủ của điều dưỡng giữ vai trò vô cùng quan trọng Nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ gói
đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022” nhằm mô tả thực trạng tuân thủ gói và
phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch
ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022
Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính, triển khai từ tháng 02 đến tháng 08/2022 Số liệu định lượng được thu thập trên toàn bộ 60 điều dưỡng chăm sóc người bệnh tại 5 khoa lâm sàng bệnh viện Vinmec Đà Nẵng Mỗi điều dưỡng được quan sát 2 lượt đặt và 2 lượt chăm sóc, tương ứng tổng 240 lượt quan sát Nghiên cứu định tính thực hiện với phỏng vấn sâu: 01 đại diện phòng điều dưỡng, 05 điều dưỡng trưởng và 06 điều dưỡng viên
Kết quả: Tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ gói đặt đường truyền là 93,3%, cao nhất ở khoa Ngoại, Nhi (100%) và thấp nhất ở khoa Sản (83,3%) Tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ gói chăm sóc đường truyền là 90%, cao nhất ở khoa Hồi sức cấp cứu (100%) và thấp nhất là ở khoa Nội (83,3%) Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố làm tăng sự tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi bao gồm: < 45 tuổi, thâm niên công tác 4 năm tại Vinmec, nữ giới, trình độ chuyên môn cao, bệnh viện có quy trình kỹ thuật và cập nhập, đào tạo - tập huấn thường xuyên, có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, chủ trương chính sách của lãnh đạo rõ ràng, phù hợp Yếu tố làm giảm sự tuân thủ là áp lực công việc quá mức và kéo dài Khuyến nghị điều dưỡng học cách giữ tinh thần lạc quan, vui vẻ; Ban lãnh đạo cần quan tâm hơn đến chăm sóc sức khỏe tâm lý cho điều dưỡng, phối hợp các bên liên quan để điều phối nhân lực hợp lý nhằm giảm tải công việc; tiếp tục duy trì tập huấn, cập nhật tài liệu, giám sát thực hiện quy trình kỹ thuật; và cần có những nghiên cứu sâu hơn để tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến tỉ lệ tuân thủ thấp ở điều dưỡng > 45 tuổi từ đó có giải pháp phù hợp
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm truyền là kỹ thuật căn bản và thông dụng của điều dưỡng, nhất là tiêm truyền tĩnh mạch ngoại vi Kỹ thuật tiêm truyền tĩnh mạch ngoại vi bằng kim luồn là phương pháp dùng loại kim làm bằng ống nhựa mềm luồn sâu và cố định vào trong lòng tĩnh mạch, chỉ định khi người bệnh cần tiêm truyền nhiều lần trong ngày hoặc duy trì trong nhiều ngày, đã và đang được sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện, đem lại nhiều tiện ích và hiệu quả thiết thực (1)
Bên cạnh sự tiện lợi, đường truyền tĩnh mạch ngoại vi cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ như thâm nhiễm, thoát mạch, tắc mạch, viêm tĩnh mạch,… nặng nề hơn là nhiễm khuẩn huyết nếu nhân viên y tế không tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc (2) Năm 1998, Cơ quan giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia (National Nosocomial Infection Surveillance) - CDC Hoa Kỳ đã báo cáo: Hơn 250.000 trường hợp nhiễm khuẩn có liên quan đến kim luồn xảy ra hàng năm, và hơn 80.000 người bệnh phải điều trị tại đơn vị hồi sức tích cực (3) Biến chứng này làm tăng thời gian nằm viện từ 10 lên 20 ngày và tăng chi phí chăm sóc từ 34.508 lên 56.000 đô la Mỹ cho mỗi ca bệnh (4, 5) Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng cho biết nhiễm khuẩn huyết liên quan đến kim luồn làm nặng thêm tình trạng bệnh và gia tăng chi phí y tế, đứng hàng thứ 3 trong các nhiễm khuẩn bệnh viện gặp tại các cơ sở khám - chữa bệnh (6); Khoa hồi sức tích cực sơ sinh - Bệnh viện nhi đồng 1 ghi nhận số lượng nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi đặt kim luồn là 7,5 ca/1000 ngày điều trị, chi phí tăng cao, thời gian điều trị kéo dài thêm đến 8 ngày (7) Những nguy cơ liên quan đến đường truyền tĩnh mạch ngoại vi cần được giải quyết để giảm tỉ lệ tử vong, biến chứng và chi phí cho người bệnh Nhiều bệnh viện trên thế giới đã áp dụng gói đặt và chăm sóc dự phòng nhiễm huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch (trung tâm, ngoại vi) để dự phòng nhiễm khuẩn và một số biến chứng liên quan đến tiêm truyền (8)
Gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi trong nghiên cứu này được xây dựng bởi Hội phòng ngừa nhiễm khuẩn Quốc tế (Infection Prevention Society) và Cơ quan dịch vụ y tế quốc gia Anh (National Health Service) Gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi gồm các thực hành dựa trên bằng chứng: Vệ sinh tay, kỹ thuật vô khuẩn, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, chuẩn bị da, thay băng, ghi chép hồ sơ bệnh án (HSBA); Gói chăm sóc đường truyền bao gồm: Vệ sinh tay, đánh giá đường truyền liên
HUPH
Trang 11tục, kết nối đường truyền, thay dây truyền dịch, thay đường truyền, thay băng, ghi chép HSBA (8) Ứng dụng gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV đã giúp cải thiện sự tuân thủ của điều dưỡng, có thể thấy qua nghiên cứu của Freixas tại Tây Ban Nha năm 2013
và A Sriupayo tại Thái Lan năm 2014 lần lượt là 43,4% lên 54,5% (9) và 58,6% lên 77,3% (10) Nghiên cứu của DeVries năm 2016 và Duncan năm 2018 tại Hoa Kỳ đã báo cáo gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi tốt đã làm giảm 19% (11) và gói chăm sóc đường truyền tốt làm giảm đến 81% (12) các trường hợp nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
Tại Việt Nam, việc áp dụng gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi hiện chỉ mới được ghi nhận ở Hệ thống y tế Vinmec, chưa có công trình nghiên cứu nào về chủ đề này được thực hiện Có nhiều nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng (13, 14) Nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn tiến hành tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014, Huỳnh Văn Bạn tại bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2018 cho thấy: Tỉ lệ tuân thủ quy trình đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại
vi của điều dưỡng lần lượt là 0%, 6,6% (13); và tỉ lệ tuân thủ quy trình chăm sóc chỉ ở mức 4% (13) Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thực hành của điều dưỡng bao gồm các yếu
tố cá nhân (như : tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thâm niên công tác, khoa/phòng làm việc);
áp lực công việc và yếu tố môi trường làm việc (tài liệu hướng dẫn, tập huấn/đào tạo, chủ trương giải pháp của ban lãnh đạo, công tác kiểm tra giám sát và sự hỗ trợ của đồng nghiệp) đã được xác định qua các nghiên cứu trong nước (13, 15, 16) và trên thế giới (17, 18)
Tại bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng, gói đặt và chăm sóc đường truyền
tĩnh mạch ngoại vi đã được áp dụng từ năm 2020 Số lượng mũi tiêm truyền tĩnh mạch trung bình hàng năm tại bệnh viện là 3.619 (số liệu từ 2019 - 2020) Với số lượng tiêm truyền tĩnh mạch lớn như vậy, cùng với định hướng nâng tầm chất lượng bệnh viện theo tiêu chuẩn JCI, việc tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi sẽ giúp tăng cường hơn nữa sự tuân thủ của điều dưỡng, giảm nguy cơ nhiễm trùng, nâng cao chất lượng chăm sóc và
điều trị người bệnh tại bệnh viện Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022” nhằm cung cấp thông tin, giúp
nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc và an toàn người bệnh đang điều trị tại bệnh viện
HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường
truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng năm 2022
HUPH
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm, quy định, tiêu chí và phương pháp đánh giá
1.1.1 Công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh
Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện: Là đáp ứng các nhu cầu căn bản của
người bệnh, bao gồm: Đảm bảo chức năng sinh tồn, ăn uống, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ nghỉ, chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị,… (19)
Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện: Chăm sóc liên tục, toàn
diện, đảm bảo sự hài lòng, chất lượng và an toàn người bệnh; do điều dưỡng viên (ĐDV), nữ hộ sinh thực hiện và chịu trách nhiệm; dựa trên yêu cầu chuyên môn và nhu cầu cá thể hóa của mỗi người bệnh (19)
Thực hiện các quy trình kỹ thuật điều dưỡng: Trên cơ sở cập nhập từ các
quy định, hướng dẫn quy trình kĩ thuật (QTKT) cho điều dưỡng của Bộ Y tế, bệnh
viện sẽ có các quy định, quy trình chuẩn hóa, phù hợp với đặc thù bệnh viện; ĐDV,
nữ hộ sinh phải tuân thủ các QTKT chuyên môn, đảm bảo vô khuẩn, tuân thủ các biện pháp dự phòng, theo dõi phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các tai biến/biến
chứng cho bác sĩ điều trị để có biện pháp xử trí kịp thời (19)
1.1.2 Kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
1.1.2.1 Định nghĩa
Kỹ thuật đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (TMNV) bằng kim luồn TMNV là phương pháp sử dụng loại kim làm bằng ống nhựa mềm luồn vào trong lòng tĩnh mạch, có thể luồn sâu và cố định chắc chắn vào trong lòng tĩnh mạch, đầu kim không sắc nhọn nên ít có khả năng đâm xuyên qua thành mạch, khắc phục được nhược điểm của kim sắt: gây chệch ven, xuyên mạch, đau,… (1, 20)
1.1.2.2 Các tai biến của đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
Nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch ngoại vi: Là
tình trạng nhiễm khuẩn huyết bắt nguồn từ đường truyền tĩnh mạch (21)
Viêm tĩnh mạch: Là sự hiện diện của phản ứng viêm trong tĩnh mạch Viêm tĩnh
mạch được xác định dựa vào thang điểm Visual Infusion Phlebitis Scale (VIP) (22)
HUPH
Trang 14Triệu chứng: Tại vị trí tiêm truyền: Sưng, nóng, đỏ, đau, da nề cứng; Đỏ dọc
theo tĩnh mạch tiêm truyền; Xuất hiện dịch mủ tại vị trí tiêm truyền (22, 23)
Tắc mạch: Tĩnh mạch đỏ và sưng cứng Người bệnh cảm giác rất khó chịu Thoát mạch: Xảy ra khi dịch, thuốc đi ra khỏi lòng mạch vào mô xung quanh
tạo khối sưng nề bất thường tại vị trí đặt đường truyền (23)
Sưng nề chân đường truyền: Là hậu quả của thoát mạch xảy ra từ từ do tổn
thương thành mạch bán phần, tiêm truyền có tốc độ nhanh, dịch truyền có áp lực thẩm thấu cao hoặc do phản ứng viêm nhiễm tại chân đường truyền (23)
Triệu chứng: Phù nề, thay đổi hình dạng bất thường, ấn cứng Trắng bệch hoặc thâm tím Nhiệt độ lạnh hơn Đau, căng tức hoặc ngứa xung quanh vị trí thoát mạch
Có triệu chứng của bội nhiễm hoặc hoại tử nếu thoát mạch thuốc, dung dịch đặc biệt như thuốc điều trị ung thư, calci clorua,… (23)
1.1.3 Lịch sử phát triển gói chăm sóc
Năm 2001, Viện Cải thiện Sức khỏe của Hoa Kỳ (IHI) đã giới thiệu khái niệm
gói chăm sóc (Care bundle) là: “Tập hợp gồm một số biện pháp can thiệp dựa trên
bằng chứng cho một nhóm người bệnh cụ thể, ở một địa điểm cụ thể mà khi được thực hiện cùng nhau sẽ đem lại kết quả tốt hơn nhiều so với khi tiến hành riêng lẻ" (24) Gói chăm sóc bao gồm từ ba đến năm thực hành dựa trên bằng chứng, mỗi thực hành tương đối độc lập (24), được thiết kế không nhằm mục đích tạo ra một quy trình chăm sóc toàn diện mà giúp đơn giản hóa các hướng dẫn dài dòng thành lời nhắc đơn giản, ngắn gọn giúp cải thiện tốt nhất tuân thủ thực hành của nhân viên y tế (NVYT) và nâng cao hiệu quả điều trị người bệnh (8) Chẳng hạn như “CABs” được sử dụng rộng rãi giúp NVYT ghi nhớ trình tự cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp, hay “Xử trí tích cực giai đoạn ba” được sử dụng để ghi nhớ các biện pháp ngăn ngừa băng huyết sau sinh,… Sự tuân
thủ gói được đo lường bằng cách sử dụng phép đo: Tất cả hoặc không, độ tin cậy 95%
(24) Gói chăm sóc khác với các thực hành chăm sóc thông thường ở chỗ chỉ được đánh giá là “tuân thủ” khi tất cả các thực hành trong gói đều hoàn thành và ghi nhận
Mỗi loại gói chăm sóc được thiết kế cho những nhu cầu chăm sóc y tế khác nhau IHI đã phát triển thành công 2 gói chăm sóc đầu tiên là: Gói đường truyền trung tâm (Central Line Bundle) và gói thở máy (Ventilator Bundle), 2 gói này đã được
HUPH
Trang 15National Quality Forum công nhận và nằm trong danh sách các biện pháp an toàn cho người bệnh (25) Chương trình an toàn người bệnh Scotland (The Scottish Patient Safety Programme) được khởi chạy từ năm 2007 với sự hợp tác của IHI đã công bố mức giảm đáng kể tỉ lệ viêm phổi liên quan đến máy thở (Ventilation Associated Pneumonia - VAP) sau khi triển khai gói thở máy Khái niệm “Gói chăm sóc” còn được ứng dụng trong các lĩnh vực lâm sàng khác như: Gói nhiễm khuẩn huyết (Sepsis Bundles), gói chăm sóc băng huyết sau sinh (PPH Bundle),… Với mỗi loại gói chăm sóc, các hiệp hội trên thế giới đã đưa ra các tiêu chí khác nhau sử dụng để đánh giá gói
Các bệnh viện, tổ chức ở Hoa Kỳ và Anh cũng đã thử nghiệm các gói chăm sóc liên quan đến đường truyền TMNV (gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV), nhiễm trùng đường tiết niệu và chứng sa sút trí tuệ
1.1.4 Gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
Nhiều công trình nghiên cứu về gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV đã được triển khai ở các bệnh viện trên thế giới (10, 11, 26-31) Gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV trong nghiên cứu này do Hội phòng ngừa nhiễm khuẩn Quốc tế (Infection Prevention Society) và Cơ quan dịch vụ y tế quốc gia Anh (National Health Service) xây dựng (32, 33), được đánh giá là công cụ trực quan, thuận tiện và hiệu quả trong việc phòng ngừa các rủi ro nhiễm khuẩn liên quan kim luồn khi áp dụng (34-37)
Gói đặt đường truyền TMNV gồm các thực hành dựa trên bằng chứng: Vệ sinh tay, kỹ thuật vô khuẩn, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, chuẩn bị da, thay băng, ghi chép HSBA; Gói chăm sóc đường truyền bao gồm: Vệ sinh tay, đánh giá đường truyền liên tục, kết nối đường truyền, thay dây truyền dịch, thay đường truyền, thay băng, ghi chép HSBA Theo High Impact Intervention - Peripheral intravenous cannula care bundle (33) và chuyển ngữ Bước đầu tiếp cận đặt và duy trì kim luồn TMNV và công cụ theo dõi (9), nội dung chi tiết của gói đặt và chăm sóc đường
truyền TMNV được tóm tắt trong Bảng 1.1
HUPH
Trang 16Bảng 1.1 Nội dung gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
Gói đặt đường truyền
1 Vệ sinh tay
- Vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với đường truyền
- Thực hiện đúng kỹ thuật vệ sinh tay (Phụ lục 6)
2 Kỹ thuật vô khuẩn
- Áp dụng kỹ thuật vô khuẩn theo quy định bệnh viện khi đặt đường truyền
- Mỗi lần đặt sử dụng một kim luồn mới
3 Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân
- Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân và găng tay theo quy định của bệnh viện
- Mỗi bộ phương tiện phòng hộ cá nhân chỉ dùng 1 lần cho 1 người bệnh
- Ghi chép ngày giờ, lý do đặt đường truyền
- Đánh giá chi tiết quá trình đặt đường truyền
- Loại và kích cỡ kim luồn
Gói chăm sóc đường truyền
1 Vệ sinh tay
- Vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với đường truyền
- Thực hiện đúng kỹ thuật vệ sinh tay (Phụ lục 6)
2 Đánh giá đường truyền liên tục
- Đánh giá nhu cầu chỉ định tiếp tục sử dụng đường truyền tĩnh mạch và tình trạng kim luồn ít nhất 1 lần/ca trực và ghi chép HSBA
HUPH
Trang 17- Đánh giá tình trạng viêm nhiễm vị trí đặt đường truyền bằng thang điểm VIP (Phụ lục 7) ít nhất 1 lần/ca trực và ghi chép HSBA
3 Kết nối đường truyền
Cổng kết nối của đường truyền nên được sát khuẩn bằng Chlorhexidine 2% trong cồn 700 và để khô hoàn toàn (Nếu người bệnh nhạy cảm với
Chlorhexidine có thể sử dụng Povidin thay thế)
4 Thay dây truyền dịch
- Thay ngay dây truyền máu và các chế phẩm của máu, lipid và dinh dưỡng tĩnh mạch
- Các đường truyền dịch thông thường nên được thay tối thiểu mỗi 96 giờ
- Dây truyền được dán nhãn ghi ngày giờ đảm bảo được thay đúng khoảng thời gian quy định
5 Thay đường truyền
- Đường truyền được rút khi không còn chỉ định lâm sàng hoặc khi có dấu hiệu viêm tĩnh mạch
- Các đường truyền dịch thông thường nên được thay tối thiểu mỗi 96 giờ
- Trường hợp đặt đường truyền tĩnh mạch khó, có thể giữ lại đường truyền nếu chưa có dấu hiệu nhiễm khuẩn và thực hiện đánh giá đường truyền liên tục
- Đảm bảo kỹ thuật vô khuẩn theo quy định bệnh viện, bao gồm phương tiện phòng hộ cá nhân hợp lý
7 Ghi chép HSBA
- Ghi chép tình trạng kim luồn và tĩnh mạch trong ca trực
- Ghi nhận ngày giờ, lý do rút, thay đường truyền và tình trạng đường truyền sau khi rút, thay
HUPH
Trang 18Kỳ (The Institule of Medicine) ước tính: Ít nhất một lỗi dùng thuốc/ngày được ghi nhận trên người bệnh nội trú và hơn 1,5 triệu người bệnh chịu tổn thương từ những
sự cố liên quan đến dùng thuốc có thể phòng ngừa được (39)
Điều dưỡng là đối tượng chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc đường truyền TMNV Do đó, họ đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và ngăn ngừa các biến chứng, sự thành bại của đường truyền Nghiên cứu của Ullman và các cộng
sự tại Úc và New Zealand được tiến hành giữa năm 2010 trên 253 điều dưỡng nhằm tìm hiểu kiến thức và thực hành của điều dưỡng nhi về phòng ngừa nhiễm khuẩn liên quan đến đường truyền tĩnh mạch trung tâm đã cho thấy điều dưỡng thực hiện kỹ thuật theo nhiều cách khác nhau và không tuân thủ các quy trình của bệnh viện (40) Tương tự, nghiên cứu của Onyemocho Audu năm 2013 đã báo cáo: 29% NVYT có điểm kiến thức kém và 50,4% NVYT thực hành ở mức độ trung bình (41)
Nhằm tìm kiếm những thực hành kém được tuân thủ nhất trong quy trình, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành Trong đó, nghiên cứu của Elhoseeny TA, Mourad JK tại 45 cơ sở y tế ở Alexandria, Ai Cập năm 2014 và nghiên cứu của Al-Rawajfah OM tại 9 bệnh viện khác nhau ở Jordan năm 2017 đã cho kết quả: Tỉ lệ điều dưỡng không tuân thủ rửa tay trước khi tiêm lần lượt là: 43,1% và 73,9%; tỉ lệ điều dưỡng không đeo găng tay lần lượt là: 51,4% và 64,5% (42, 43)
HUPH
Trang 19Năm 2018, Oliveira và các cộng sự tại Bồ Đào Nha đã báo cáo một tỉ lệ đáng kể các thực hành đặt và chăm sóc đường truyền TMNV không được tuân thủ: Trong quy trình đặt, tỉ lệ các thực hành sai sót chính lần lượt gồm các vấn đề về sử dụng găng tay, đảm bảo vô trùng, vệ sinh tay: 55,3%, 44,7%, 18,4-84,2%; và trong quy trình chăm sóc là sát khuẩn cổng kết nối đường truyền (78,8%); hệ quả là có đến 25,8% đường truyền thất bại (44)
Có thể thấy, rất nhiều nghiên cứu về kỹ thuật tiêm truyền, kỹ thuật đặt và chăm sóc đường truyền TMNV đã được thực hiện Vậy nghiên cứu về gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV thì sao? Trên thế giới cũng có rất nhiều nghiên cứu về gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV Điều này đã cho thấy mối quan tâm đặc biệt của thế giới dành cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn người bệnh Nghiên cứu của DeVries năm 2016 và Duncan năm 2018 tại Hoa Kỳ cho kết quả rất tích cực, gói đặt đường truyền TMNV tốt đã làm giảm 19% (11) và gói chăm sóc đường truyền tốt làm giảm đến 81% (12) các trường hợp nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền TMNV Tương tự kết quả nghiên cứu của Salm tại Đức, Rhodes tại Úc cho thấy tỉ lệ giảm nhiễm khuẩn huyết lần lượt là 24,7% và 63% (28, 29) Gói cũng được ghi nhận làm giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ viêm tĩnh mạch, thoát mạch trên người bệnh (10,
30, 31, 45) Tuy nhiên, nghiên cứu của Freixas và các cộng sự tại Tây Ban Nha năm
2013 lại cho kết quả trái ngược: Không có sự thay đổi về tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền TMNV và tăng tỉ lệ viêm tĩnh mạch từ 2,5% lên 3% (46) Vì thế, một số nghiên cứu khác được tiến hành nhằm tìm hiểu nguyên nhân thất bại đường truyền TMNV đã được công bố (40, 47), sự không đồng nhất trong các kết quả nghiên cứu có thể được giải thích do: Thiết kế nghiên cứu, tình trạng người bệnh, cơ sở y tế, tiêu chí và số lượng các tiêu chí của gói, mức độ tuân thủ (40)
Ứng dụng gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV đã giúp cải thiện sự tuân thủ của điều dưỡng Để xác định tác động của một can thiệp đa phương thức (gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch) được thiết kế để làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đường truyền tĩnh mạch bên ngoài ICU năm 2009 - 2010, Freixas và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu can thiệp tại 11 bệnh viện tham gia chương trình VINCat ở Catalonia, Tây Ban Nha Nghiên cứu bao gồm cả đường truyền
HUPH
Trang 20TMNV và đường truyền tĩnh mạch trung tâm Kết quả cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê trong việc thực hiện gói giai đoạn sau can thiệp đối với cả đường truyền trung tâm và ngoại vi Tỉ lệ tuân thủ các thành phần trong gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV như sau: Đảm bảo tính nguyên vẹn của miếng dán bán thấm tăng từ 78,7% lên 86,7%, ghi chép HSBA tăng từ 79,9% lên 85,8%,…
Nghiên cứu của A Sriupayo tại Thái Lan năm 2014 cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể tuân thủ các thành phần trong gói chăm sóc đường truyền TMNV: Vệ sinh tay trước và sau kỹ thuật từ 69,8% lên 80,9%, kiểm tra đường truyền TMNV tại chỗ
từ 92,0% lệ 99,7%, kiểm tra tính nguyên vẹn của băng dán từ 82,9% lên 94,2%,…
Xét sự tuân thủ tổng thể (tất cả các thành phần của gói) của điều dưỡng, nghiên cứu của Freixas và A Sriupayo cho kết quả lần lượt là 43,4% lên 54,5% (9) và 58,6% lên 77,3% (10) Hiện nay, số lượng các nghiên cứu về sự tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng vẫn còn hạn chế
Mặc dù nghiên cứu của Freixas đã ghi nhận sự cải thiện, tuy nhiên cũng cũng chỉ đạt mức 54,5%, phải chăng sự kém tuân thủ gói là nhân tố góp phần dẫn đến kết cục thất bại trong nghiên cứu này?
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng (13, 14) Nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn tiến hành tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2014, Huỳnh Văn Bạn tại bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2018 cho kết quả đáng báo động: Tỉ lệ tuân thủ quy trình đặt đường truyền TMNV của điều dưỡng lần lượt là 0%, 6,6% (13, 14), trong đó tỉ lệ tuân thủ rửa tay, mang găng khi thực hiện đặt đường truyền TMNV vẫn còn thấp (khoảng 70%) (14); tỉ
lệ tuân thủ quy trình chăm sóc đường truyền TMNV cũng chỉ ở mức 4% (13) Điểm hạn chế là cả 2 nghiên cứu đều chỉ thực hiện trong phạm vi giới hạn ở ba khoa hồi sức, cần tiến hành trên tất cả các khoa lâm sàng để có được những đánh giá toàn diện hơn
Nhằm đánh giá kiến thức và tuân thủ thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng các khoa lâm sàng, nghiên cứu của Đỗ Mộng Thuỳ Linh năm 2015 và Phạm Thị Hoàn Sinh năm 2017 cùng cho kết quả khá tương đồng: Tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ thực hành chỉ đạt lần lượt là 20,1% và 33,9% (48, 49) Đa số các thực hành về đảm bảo vô khuẩn
HUPH
Trang 21là đạt, trừ sai sót ở bước rửa tay và sát khuẩn tay (59,7%), còn dùng 2 tay đậy nắp sau tiêm (15,4%), quên mang găng tay khi tiêm (13,1%) (48)
Tương tự, khi quan sát 146 điều dưỡng của 8 khoa lâm sàng bệnh viện nhi Trung ương năm 2017, nghiên cứu viên (NCV) Nguyễn Thị Hoài Thu đã ghi nhận: Chỉ 39% ĐDV tuân thủ QTKT tiêm tĩnh mạch an toàn, trong đó sai sót hàng đầu thuộc về thực hành sát khuẩn tay và mang găng (67,8% ĐDV không tuân thủ) (50)
Các nghiên cứu năm 2019 cho kết quả tuân thủ thực hành tiêm truyền tĩnh mạch của điều dưỡng có phần khả quan hơn NCV Phạm Thị Luận tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư đã báo cáo tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch là 52,9% (51) Trên đối tượng là mũi tiêm, NCV Nguyễn Thị Lương (52) và La Thanh Chí Hiếu (53) đã báo cáo kết quả mũi tiêm tĩnh mạch an toàn lần lượt là: 52,7%, và 61,4%; tỉ lệ truyền tĩnh mạch an toàn có phần thấp hơn: 38,1% (52)
Năm 2020, Ngô Thanh Hải, Trần Khánh Linh, Lise Husby Høvik đã thực hiện chuyển ngữ gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV (9) Kết quả tương đồng với bản gốc - “High Impact Intervention No 2 - Peripheral intravenous cannula care bundle”(32)
Việc áp dụng gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV tại Việt Nam hiện chỉ mới được ghi nhận ở Hệ thống y tế Vinmec và chưa có nghiên cứu nào về tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV vi của điều dưỡng được tiến hành tại đây
HUPH
Trang 221.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền
tĩnh mạch ngoại vi
1.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân
Tuổi: Tỉ lệ tuân thủ thực hành QTKT tăng dần theo tuổi
Năm 2012, NCV Trần Thị Minh Phượng thực hiện nghiên cứu tại Hà Đông đã báo cáo: Nhóm tuổi từ 30 trở lên thực hành đúng cao gấp 3,1 lần so với nhóm dưới
30 (54) Đến năm 2014, Huỳnh Thị Mỹ Thanh tiến hành nghiên cứu trên 16 khoa lâm sàng tại bệnh viện An Giang và cho kết quả điểm trung bình thực hành tiêm cao nhất
Giới tính: Nữ giới có kết quả tuân thủ cao hơn nam giới
Cũng trong nghiên cứu năm 2014, NCV Huỳnh Thị Mỹ Thanh đã báo cáo điểm trung bình cao hơn ở giới nữ (7,7 1,2) (55) Trong một nghiên cứu mới được công
bố năm 2021 của Lê Thị Tuyết Anh tiến hành trên 152 điều dưỡng tại 3 khoa lâm sàng – Bệnh viện đa khoa An Giang cho biết nữ chiếm 72,4% tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu và tỉ lệ tuân thủ QTKT đặt kim luồn TMNV của nữ cao gấp 2,4 lần so
với nam (57)
Trình độ học vấn: Trình độ học vấn cao cho kết quả tuân thủ tốt hơn
Khi nghiên cứu về thực trạng thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017, NCV Nguyễn Thị Hoài Thu cho biết ĐDV trình độ đại học và cao đẳng có kết quả tuân thủ gấp 1,7 lần so với trình độ trung cấp (16) Tương đồng với kết quả tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn tại Cần Thơ năm 2019 của La Thanh Chí Hiếu: Nhóm điều dưỡng có trình độ đại học và cao đẳng có kết quả thực hành tiêm
tĩnh mạch an toàn cao gấp 2 lần so với nhóm điều dưỡng có trình độ trung cấp (53)
Thâm niên công tác: Thâm niên công tác càng dài, tỉ lệ tuân thủ của NVYT càng cao
Một số nghiên cứu lấy mốc thâm niên 5 năm làm chuẩn, nghiên cứu của NCV Nguyễn Thị Thơm (58) và Quách Văn Phương (56) cho kết quả khá tương đồng: Tỉ lệ
HUPH
Trang 23ĐDV tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch ở nhóm có thâm niên công tác trên 5 năm cao
hơn, lần lượt là gấp 9,6 lần và 2,5 lần so với nhóm có thâm niên dưới 5 năm
Tuy nhiên, NCV Trần Thị Minh Phượng cho kết quả trái ngược: Nhóm có thâm niên công tác dưới 10 năm tuân thủ thực hành cao gấp 2,8 lần so với nhóm có thâm niên từ 10 năm trở lên (54)
Khoa/phòng đang công tác: Tuân thủ thực hành của ĐDV khoa nhi là tốt nhất
Trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Mỹ Thanh cũng báo cáo điểm tuân thủ trung bình của ĐDV khoa Nhi (8,9 0,7) cao hơn các khoa sản (8,3 1,0), hồi sức (8,0 0,9) (59)
1.3.2 Nhóm yếu tố công việc: Áp lực công việc càng lớn, tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ
QTKT càng thấp
Áp lực nghề điều dưỡng có thể đến từ đặc thù khối lượng công việc, sức ép từ người bệnh và người nhà Trong một cẩm nang của Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ (Agency for Healthcare Research and Quality - AHRQ) dành cho điều dưỡng cũng ghi nhận sự căng thẳng và kiệt sức do áp lực công việc đã làm suy
giảm sự tuân thủ QTKT, gia tăng tỉ lệ tử vong và sự không hài lòng của người bệnh (17)
Khối lượng công việc:
Năm 2017, Dương Văn Chi đã nghiên cứu đánh giá mũi tiêm an toàn của điều dưỡng tại bệnh viện Quân y 121, kết quả cho thấy thực trạng thiếu nhân lực (27,9%), điều dưỡng quá tải công việc ( 25,8%) gây ảnh hưởng đến kết quả tuân thủ tiêm an toàn (15)
Trong những năm 1998 – 1999, Pascale Carayon đã tiến hành khảo sát trên hơn 43.000 ĐDV ở năm quốc gia cho thấy có đến 17% - 39% điều dưỡng có kế hoạch nghỉ việc trong vòng 1 năm do quá tải trong công việc, kiệt sức và lương thấp; khối lượng công việc quá lớn khiến sức khoẻ ĐDV giảm sút, không thể tuân thủ QTKT trong thời gian hạn hẹp, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh, làm tăng chi phí của bệnh viện và ĐDV xin nghỉ việc (60)
Tình trạng quá tải bệnh viện, khối lượng công việc lớn (thể hiện qua các chỉ báo như: Số người bệnh chăm sóc/ngày, số nhân lực/ca trực, thời gian mỗi ca trực, số buổi trực ca đêm/tháng,…) làm giảm sút thời gian dành cho học tập, nghiên cứu của
HUPH
Trang 24NVYT (59), gây ra stress, căng thẳng quá mức (61) Suy giảm sức khoẻ và sự hài lòng dành cho công việc dẫn đến kém tuân thủ QTKT trong quá trình chăm sóc người bệnh
Số người bệnh/Điều dưỡng viên chăm sóc mỗi ngày:
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn cho kết quả trung bình số người bệnh mà ĐDV chăm sóc mỗi ngày là 7,32 4,02, có thời điểm lên đến 20 người bệnh/ngày; nghiên cứu cũng khẳng định có mối liên quan thuận giữa trung bình số người bệnh ĐDV chăm sóc mỗi ngày và sự tuân thủ quy trình đặt, chăm sóc đường truyền TMNV (13)
Trong một nghiên cứu trên 10.184 điều dưỡng tại 168 bệnh viện đa khoa dành cho người lớn ở Pennsylvania, Aiken và cộng sự đã phát hiện ra rằng cứ tăng mỗi người bệnh cần chăm sóc trên một điều dưỡng có thể làm giảm tuân thủ QTKT và chất lượng chăm sóc người bệnh, kết quả tăng 7% nguy cơ tử vong trong vòng 30 ngày của người bệnh kể từ khi nhập viện (62)
Thời gian mỗi ca trực:
Thời gian của ca trực có sự khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi bệnh viện, khoa/phòng Kết quả khảo sát thời gian mỗi ca trực theo nghiên cứu của Phạm Lâm Lạc Thư tại bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2021, Luciana Emi Kakushi tại Brazil năm 2014, Chang Li – Yin tại Đài Loan năm 2019 lần lượt là 8 giờ (63), 8 giờ (64), 12,5 giờ (65)
Độ dài ca làm việc 8 giờ so với 12 giờ đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng và kiệt sức của điều dưỡng, cụ thể: điều dưỡng làm việc ca 12 giờ thường xuất hiện tình trạng mệt mỏi mãn tính, lo lắng và kiệt sức nhiều hơn đáng kể so với ca 8 giờ, từ đó làm giảm sự tuân thủ QTKT (66)
Số lượng nhân lực/ca trực:
Cũng như thời gian mỗi ca trực, số lượng ca kíp có sự khác biệt phụ thuộc quy định riêng của mỗi bệnh viện, khoa/phòng Tại đa số các bệnh viện, điều dưỡng làm việc 3 ca 4 kíp (bệnh viện Nhi Đồng 2, bệnh viện Trung ương Huế,…) với 2–4 ĐDV/ca trực tuỳ từng khoa (63) Với một số lượng ĐDV nhất định trong ca trực có thể linh hoạt hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo hoàn thành QTKT, nhất là những thời điểm bệnh đông Chưa có nghiên cứu sử dụng chỉ số này đánh giá mối liên quan với tuân thủ QTKT
HUPH
Trang 25Số buổi làm ca đêm mỗi tháng:
Trong nghiên cứu tại bệnh viện nhi Trung ương, Nguyễn Kim Sơn báo cáo số buổi làm ca đêm từ 21h - 7h ở 3 khoa hồi sức có sự khác biệt, dao động 6-8 buổi/tháng, trung bình 7,53 0,49 buổỉ/tháng (13) Tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang, Lê Thị Tuyết Anh cũng báo cáo số buổi trực đêm từ 17h chiều – 7 h sáng của điều dưỡng trung bình là 6,2 2,7 buổi/tháng (57) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tứ cho thấy số buổi trực đêm/ tháng ở Bệnh viện trường Đại học Y dược Huế cao hơn một chút, trung bình là 8 buổi/tháng và sự gia tăng số buổi trực đêm/tháng có ảnh hưởng tiêu cực tuân thủ thực hành QTKT của điều dưỡng (67)
Áp lực từ bệnh nhân và người nhà:
Xung đột giữa điều dưỡng với bệnh nhân và người nhà xảy ra khá phổ biến trong quá trình hành nghề (68) Đặc biệt là với những điều dưỡng làm nhiệm vụ trực tiếp chăm sóc người bệnh, họ thường xuyên phải chịu đựng sự đe dọa bạo lực và hành hung thể xác (68) Rất ít nghiên cứu đi vào tìm hiểu sự thay đổi về thực hành chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng sau những xung đột (69, 70)
Trong một nghiên cứu thực hiện năm 2017 tại Bệnh viện Valiasr và Imam Reza
ở Birjand trên tất cả điều dưỡng ICU và 100 gia đình bệnh nhân đang điều trị tại khoa cho thấy hầu hết các điều dưỡng cảm thấy sự có mặt của gia đình bệnh nhân làm giảm
sự tuân thủ QTKT của họ và giảm chất lượng công tác lập kế hoạch chăm sóc (71)
Như vậy, các nghiên cứu đều đồng thuận rằng khối lượng công việc lớn và áp lực từ bệnh nhân, người nhà là những yếu tố tác động tiêu cực, làm giảm sự tuân thủ khi thực hiện QTKT của điều dưỡng
1.3.3 Nhóm yếu tố môi trường làm việc
Tài liệu hướng dẫn về QTKT và cập nhập: Là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự
tuân thủ QTKT
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu về tiêm truyền đã chỉ ra một trong những nguyên nhân thất bại là do kiến thức của NVYT chưa tốt ảnh hưởng đến thực hành QTKT Hai yếu tố từ phía bệnh viện trực tiếp tác động đến kiến thức của NVYT đó là: Tài liệu hướng dẫn và đào tạo, tập huấn
HUPH
Trang 26Nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu ghi nhận: Việc thống nhất QTKT là thực
sự quan trọng và Phòng điều dưỡng (PĐD) phải tập hợp các quy trình, xem xét chuẩn hoá lại và sử dụng cho toàn viện (20)
NCV Quách Văn Phương cũng báo cáo một số khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo NVYT, bao gồm: Thiếu giảng viên có trình độ, khi cán bộ quản lý làm giảng viên thì khó tránh khỏi hạn chế về kỹ năng sư phạm và thiếu/chậm cập nhập tài liệu làm hiệu quả đào tạo thấp (56)
Việc cập nhập chậm trễ các quy định, hướng dẫn mới về tiêm an toàn gây ảnh hưởng đến chất lượng thực hành tiêm an toàn, điều này đã được báo cáo trong nghiên
cứu của NCV Đào Thành (72) và Nguyễn Thị Hoài Thu (16)
Tập huấn, đào tạo về QTKT: Là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự tuân thủ QTKT
Nhằm đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện Trung ương Huế năm
2010, NCV Phan Cảnh Chương đã sự tuân thủ các thực hành tăng lên gấp 2 sau tập huấn (kiểm tra sự nguyên vẹn bơm tiêm từ 40,5% tăng lên 98,4%, sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy định từ 51,4% tăng lên 94,8%,…) (73)
100% điều dưỡng trong nghiên cứu của Phạm Thị Liên thể hiện mong muốn được đào tạo lại QTKT tiêm an toàn, báo cáo cũng ghi nhận một số đánh giá về tình hình đào tạo là không thường xuyên, còn nặng hình thức và chưa có sự đánh giá sau tập huấn (74)
NCV La Thanh Chí Hiếu trong nghiên cứu năm 2019 và Trần Thị Minh Phượng trong nghiên cứu năm 2012 cũng nhận được những ý kiến tương đồng khi phỏng vấn sâu (PVS) phòng điều dưỡng: Việc đào tạo sẽ giúp cho điều dưỡng thực hiện tiêm tĩnh mạch an toàn hơn (53), và thảo luận nhóm điều dưỡng: Việc tập huấn cập nhập kiến thức mới và đào tạo lại QTKT phải được làm thường xuyên để điều dưỡng nào cũng hiểu mũi tiêm an toàn gồm những tiêu chí nào? Các nguy cơ tiềm ẩn của tiêm không an toàn,… và cần thiết phải kiểm tra, giám sát liên tục (54)
Chủ trương, giải pháp của khoa/bệnh viện: Chủ trương, giải pháp rõ ràng, xác
đáng, kịp thời ảnh hưởng tích cực đến sự tuân thủ QTKT
Việc tổ chức, quản lý công tác tiêm truyền tại bệnh viện giữ vai trò đặc biệt quan trọng Tại bệnh viện đa khoa U Minh, Quách Văn Phương cho biết tiêm an toàn được
HUPH
Trang 27phát động và thực hiện từ năm 2009 và ban lãnh đạo quan tâm, ban hành nhiều văn bản,
công văn nhắc nhở khoa/phòng, NVYT nghiêm túc thực hiện các quy định này (56)
Lãnh đạo kiểm tra, giám sát: Là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự tuân thủ QTKT
Trong một nghiên cứu năm 2017, NCV Huỳnh Thị Mỹ Thanh đã khẳng định vai trò thúc đẩy tuân thủ của tập huấn và kiểm tra, giám sát khi PVS và thảo luận nhóm các đối tượng (55) Bên cạnh đó, khi phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng (ĐDT) khoa, NCV Lê Thanh Chí Hiếu cũng tìm hiểu được một trong những nguyên nhân điều dưỡng kém tuân thủ là công tác kiểm tra chuyên môn hàng ngày chỉ dừng lại ở nhắc nhở chứ chưa
có biện pháp xử lý triệt để (20)
Sự hỗ trợ từ đồng nghiệp: Là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến sự tuân thủ QTKT
Để tạo một môi trường làm việc lành mạnh, tăng sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng thì cần thúc đẩy sự quan tâm, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc cũng như xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp
Khi đánh giá mối liên quan giữa các mức độ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc với sự tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng, Nguyễn Kim Sơn đã báo cáo: ĐDV “thường xuyên” giúp đỡ đồng nghiệp hay nhận được sự giúp đỡ từ đồng nghiệp đều có kết quả tuân thủ quy trình chăm sóc tốt hơn nhóm “thỉnh thoảng” giúp đỡ và nhận được sự giúp đỡ, cao hơn lần lượt là 8,5% và 12,6%; nghiên cứu không cho thấy mối liên quan với quy trình đặt đường truyền (13)
NCV Phạm Thị Phương Thảo và các cộng sự khảo sát mức độ hài lòng nghề nghiệp của ĐDV tại bệnh viện trường Đại học Y dược Thái Nguyên năm 2014 cũng báo cáo có mối liên quan đồng biến tương đối chặt chẽ giữa sự hài lòng nghề nghiệp với mối quan hệ đồng nghiệp (75)
Thông qua các hoạt động chuẩn hoá QTKT; xây dựng kế hoạch đào tạo, tập huấn và tổ chức thực hiện (76); đôn đốc, nhắc nhở; kiểm tra giám sát thường xuyên (56) của các cấp lãnh đạo từ ban giám đốc, kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng điều dưỡng, ĐDT và những chủ trương, giải pháp kịp thời của Ban lãnh đạo bệnh viện sẽ mang lại hiệu quả tác động tích cực, làm tăng tỉ lệ tuân thủ thực hành tiêm truyền cũng như gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng
HUPH
Trang 281.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng được thành lập năm 2017, là thành viên thứ 6 trong chuỗi bệnh viện quốc tế Vinmec Nhân lực hiện có: 62 bác sĩ,
164 điều dưỡng và kỹ thuật viên, 16 dược sĩ Với quy mô 106 giường bệnh, 5 khoa lâm sàng: Hồi sức cấp cứu (HSCC), nội, ngoại, sản, nhi, bệnh viện Vinmec Đà Nẵng được đầu tư, trang bị nhiều trang thiết bị hiện tại như: Máy chụp cắt lớp vi tính 640 lát cắt, máy chụp cộng hưởng từ 3.0 Tesla, máy chụp mạch máu số hóa xóa nền 1 bình diện, máy C-arm… Bệnh viện đã triển khai được rất nhiều kỹ thuật chuyên môn chuyên sâu như: can thiệp mạch não, can thiệp mạch vành, lọc máu liên tục, lọc máu chu kỳ, thăm dò huyết động Picco, hạ thân nhiệt chỉ huy,…
Nhằm đảm bảo an toàn người bệnh, trở thành một địa chỉ đáng tin cậy - nơi người bệnh có thể nhận được sự chăm sóc y tế tốt nhất, bệnh viện ĐKQT Vinmec Đà Nẵng luôn cập nhập các quy định, quy trình làm việc theo tiêu chuẩn JCIquốc tế (Hệ thống tiêu chuẩn uy tín hàng đầu thế giới về đánh giá chất lượng dịch vụ y tế)
Mỗi năm, trung bình bệnh viện tiếp nhận khoảng 66.141 lượt người bệnh đến khám, chữa bệnh, trong đó nhập nội trú khoảng 4.234 lượt Sau gần 4 năm đi vào hoạt động, bệnh viện đã thực hiện khoảng 14.623 mũi tiêm, truyền TMNV, riêng năm 2019 -
2020 là 3.619 mũi Gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV được áp dụng cho người bệnh tại các khoa lâm sàng từ đầu năm 2020, cho tới nay đã thực hiện gói trên 1.355 người bệnh Chưa có thống kê cụ thể số lượt thực hiện gói đặt, chăm sóc đường truyền TMNV
HUPH
Trang 291.5 Khung lý thuyết:
Khung lý thuyết được phát triển dựa trên cơ sở tham khảo gói chăm sóc của Viện Cải thiện Sức khỏe (IHI), Peripheral intravenous cannula care bundle của Department of health (32, 33) và bản chuyển ngữ (9) Tham khảo các yếu tố ảnh hưởng từ các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Sơn (13), Ronda Hughes (17), Li-Fang Liu (18)
Sơ đồ: Khung lý thuyết
Nhóm yếu tố cá nhân
1 Giới tính;
2 Tuổi;
3 Trình độ học vấn;
4 Thâm niên công tác;
5 Khoa/phòng đang công tác
Thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV
Nhóm yếu tố công việc
1 Khối lượng công việc (Số người bệnh
chăm sóc/ngày; Thời gian mỗi ca trực; Số
nhân lực/ca; Số buổi trực đêm/ tháng)
2 Áp lực từ bệnh nhân và người nhà
Nhóm yếu tố môi trường làm việc
1 Tài liệu hướng dẫn về QTKT và cập nhập;
2 Tập huấn, đào tạo về QTKT;
3 Chủ trương, giải pháp của khoa/bệnh viện;
4 Lãnh đạo kiểm tra, giám sát;
5 Sự hỗ trợ từ đồng nghiệp;
Gói đặt đường truyền TMNV
1 Vệ sinh tay;
2 Kỹ thuật vô khuẩn;
3 Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân;
2 Đánh giá đường truyền liên tục;
3 Kết nối đường truyền;
4 Thay dây truyền dịch;
5 Thay đường truyền;
6 Thay băng;
7 Ghi chép hồ sơ bệnh án
HUPH
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng:
Điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng: Hồi sức cấp cứu, nội, ngoại, sản, nhi của bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Điều dưỡng viên có thời gian làm việc liên tục từ 1 năm trở lên
- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Điều dưỡng đang đi học, nghỉ thai sản, đang nghỉ ốm trong thời gian thu thập số liệu
Lượt quan sát thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tất cả lượt thực hiện gói đặt và chăm sóc trên người bệnh theo y lệnh
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Lượt quan sát làm ảnh hưởng đến quá trình cấp cứu, điều trị và chăm sóc
người bệnh
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính:
- Đại diện phòng điều dưỡng
- Đại diện điều dưỡng các khoa hồi sức cấp cứu, nội, ngoại, sản, nhi
- Điều dưỡng viên
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Điều dưỡng viên được lựa chọn bao gồm 03 ĐDV có số lượt tuân thủ nhiều nhất, 03 ĐDV có số lượt không tuân thủ nhiều nhất và đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Giới tính (02 nam, 04 nữ), trình độ (4 đại học, 2 cao đẳng), tuổi (01 điều dưỡng < 28 tuổi, 04 điều dưỡng từ 28 đến 45 tuổi, 01 điều dưỡng > 45 tuổi)
HUPH
Trang 31Tiêu chuẩn loại trừ:
Điều dưỡng đang đi học, nghỉ thai sản, đang nghỉ ốm trong thời gian thu thập
số liệu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2022 đến tháng 08/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính Nghiên cứu định lượng thực hiện trước nhằm đáp ứng mục tiêu số 1, nghiên cứu định tính thực hiện sau nhằm bổ sung, làm rõ hơn một số kết quả định lượng và
đáp ứng mục tiêu nghiên cứu số 2
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho cấu phần định lượng:
- Với mục tiêu mô tả thực trạng tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường TMNV của
điều dưỡng, chọn toàn bộ ĐDV tham gia chăm sóc người bệnh tại 5 khoa lâm sàng bệnh viện Vinmec Đà Nẵng vào nghiên cứu, có 60 ĐDV thỏa mãn
- Công thức tính cỡ mẫu xác định tỉ lệ sau đây được sử dụng để tính số lượt quan sát gói đặt đường truyền TMNV:
α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 = 1,96;
d = 0,09 (Sai số chấp nhận được);
Thay các giá trị vào công thức, số lượt QS gói đặt đường truyền TMNV cần quan sát tối thiểu là 119
HUPH
Trang 32- Công thức tính cỡ mẫu xác định tỉ lệ sau đây được sử dụng để tính số lượt quan sát gói chăm sóc đường truyền TMNV:
α: Mức ý nghĩa thống kê; với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 = 1,96;
d = 0,09 (Sai số chấp nhận được);
Thay các giá trị vào công thức, số lượt QS gói chăm sóc đường truyền TMNV cần quan sát tối thiểu là 119
Tổng số điều dưỡng các khoa lâm sàng đủ tiêu chuẩn lựa chọn là 60, do đó số lượt quan sát gói đặt đường truyền TMNV cho mỗi điều dưỡng tối thiểu là 119/60 =
2 lượt; tương tự, số lượt quan sát gói chăm sóc tối thiểu là 2 lượt
Như vậy, quan sát 60 điều dưỡng, mỗi điều dưỡng 4 lượt thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV (2 lượt đặt và 2 lượt chăm sóc), tương ứng tổng 240 lượt quan sát
2.4.2 Cỡ mẫu cho cấu phần định tính: 12 người, cụ thể:
- Đại diện phòng điều dưỡng: 01 người
- Đại diện điều dưỡng các khoa nội, ngoại, sản, nhi, HSCC: 05 người
- Điều dưỡng viên: 06 người
2.5.1 Chọn mẫu định lượng:
Chọn mẫu toàn bộ ĐDV tham gia vào công tác chăm sóc người bệnh ở các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng thỏa mãn các tiêu chuẩn ở phần đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Mỗi ĐDV được quan sát 4 lượt thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV Lập danh sách ĐDV theo kíp trực (4 kíp) của mỗi khoa hiện đang công tác, trong mỗi kíp sắp xếp tên ĐDV theo bảng chữ cái và đánh số thứ
tự Đầu buổi sáng các ngày (khoảng 7h00 - 7h30), NCV thực hiện chọn ngẫu nhiên 1
HUPH
Trang 33người từ danh sách kíp trực ngày hôm đó của mỗi khoa (tương ứng 1 người/kíp/khoa
x 5 khoa) bằng phương pháp “bốc thăm”
2.5.2 Chọn mẫu định tính:
Chọn chủ đích lãnh đạo khối điều dưỡng của bệnh viện (Đại diện phòng điều dưỡng), lãnh đạo khối điều dưỡng của các khoa lâm sàng (ĐDT của 5 khoa) và 06 ĐDV (03 ĐDV có số lượt tuân thủ nhiều nhất, 03 ĐDV có số lượt không tuân thủ nhiều nhất) đáp ứng các tiêu chuẩn: Giới tính (02 nam, 04 nữ), trình độ (4 đại học, 2 cao đẳng), tuổi (01 điều dưỡng < 28 tuổi, 04 điều dưỡng từ 28 đến 45 tuổi, 01 điều dưỡng > 45 tuổi) để PVS
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ nghiên cứu:
- Bảng kiểm thực hành gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (Phụ lục 2)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn Điều dưỡng viên (Phụ lục 3)
- Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu cho từng nhóm đối tượng: Đại diện phòng điều dưỡng/ Đại diện điều dưỡng các khoa lâm sàng (Phụ lục 4A), điều dưỡng viên (Phụ lục 4B)
2.6.2 Thu thập số liệu định lượng:
Quan sát điều dưỡng viên thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch
ngoại vi:
Quan sát viên (QSV) là điều dưỡng trưởng khoa, được tập huấn về kỹ thuật quan sát và sử dụng Bảng kiểm thực hành gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV (Phụ lục 2) Số liệu định lượng được QSV thu thập thông qua quan sát trực tiếp khi điều dưỡng thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV cho người bệnh tại bệnh phòng QSV lựa chọn vị trí quan sát sao cho không tác động hay làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện kỹ thuật của điều dưỡng, nên đứng phía đối diện, cách điều dưỡng khoảng 3 mét Để tránh làm ảnh hưởng đến tâm lý của ĐDV khi thực hiện kỹ thuật, QSV không báo trước, không ghi nhận kết quả vào bảng kiểm khi đang trong quá trình quan sát mà hoàn thành ngay sau khi kết thúc cuộc quan sát và rời đi
HUPH
Trang 34Vào đầu giờ làm việc mỗi ngày (7h00 - 7h30), NCV chọn ngẫu nhiên 1 người từ danh sách kíp trực của mỗi khoa (tương ứng 1 người/kíp/khoa x 5 khoa) bằng phương pháp “bốc thăm”, sau đó gặp mặt các QSV để thông báo, đồng thời căn cứ tình hình thực
tế của người bệnh tại mỗi khoa thống nhất số gói đặt và chăm sóc cần quan sát trong ngày
Tại 1 thời điểm, nếu chưa ghi nhận đủ 4 lượt quan sát thì các lượt còn lại được chuyển sang ghi nhận vào thời gian khác Nếu số lượng người bệnh có nhu cầu đặt và chăm sóc đường truyền TMNV đông và QSV có thể sắp xếp thời gian quan sát thì NCV tiếp tục dùng phương pháp bốc thăm để chọn ĐDV khác trong kíp nhận bệnh và tiến hành kỹ thuật Trường hợp có ĐDV được chọn vắng mặt chưa quan sát được, tiếp tục bốc thăm lựa chọn ĐDV thay thế cùng kíp trực ĐDV thực hiện đủ 4 lượt thì được loại khỏi danh sách bốc thăm, tiếp tục với những người còn lại cho đến khi quan sát hết 4 lượt (2 đặt, 2 chăm sóc) với toàn bộ 60 ĐDV
NCV giám sát, hỗ trợ các QSV trong quá trình quan sát, ghi nhận ĐDV thực hiện gói đặt và chăm sóc, đồng thời kiểm tra tính đầy đủ, sự phù hợp của các thông tin ghi nhận trong các bảng kiểm của các QSV sau mỗi ngày Đối với các phiếu thông tin không hợp lệ, không đầy đủ, NCV gửi lại các phiếu mới cho QSV để kịp thời bổ sung
Điền phiếu phỏng vấn:
Cuối ca trực đêm (Khoảng 7h30 sáng ngày hôm sau ca trực), QSV thông báo mục đích của nghiên cứu, phát bộ câu hỏi (Phụ lục 3) cho các ĐDV, hướng dẫn cách trả lời phiếu (5p) và thực hiện điền phiếu (15p) QSV thu lại phiếu sau khi ĐDV điền xong và kiểm tra sơ bộ trước khi cho ĐDV kíp trực đó ra về Như vậy, 15 ĐDV/ca đêm x 4 kíp trực cần 4 ngày để hoàn thành việc thu thập số liệu từ phiếu phỏng vấn cho 60 ĐDV
2.6.3 Thu thập số liệu định tính:
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để thu thập số liệu định tính PVS được thực hiện bởi NCV theo Hướng dẫn nội dung PVS cho từng nhóm đối tượng (Phụ lục 4A, 4B); thư kí phụ trách ghi chép nội dung và ghi âm là một ĐDV hành chính khoa HSCC Các cuộc PVS với ĐTNC được tiến hành theo lịch đã thống nhất từ trước, cụ thể: Đối với đại diện khối điều dưỡng vào mỗi chiều thứ 6 hàng tuần (từ 14h – 17h), đối với các ĐDV vào mỗi sáng thứ 7 hàng tuần (từ 9h – 12h) tại phòng giao ban khoa HSCC – Phòng 3029 (đảm bảo tính riêng tư, không bị ảnh hưởng bởi các tác động
HUPH
Trang 35bên ngoài) Mỗi cuộc PVS thực hiện trong khoảng 60 phút, tất cả nội dung trao đổi đều được ghi âm lại sau khi có sự đồng ý của ĐTNC
2.7 Các biến số trong nghiên cứu
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng:
Các biến số về các biện pháp thực hiện quy trình được thu thập thông qua Bảng kiểm quan sát thực hiện QTKT của ĐDV (Phụ lục 2)
Các nhóm biến định lượng chính bao gồm: Nhóm thao tác gói đặt đường truyền, nhóm thao tác gói chăm sóc đường truyền và nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ (chi tiết xin xem Phụ lục 1)
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu theo 4 chủ đề:
Chủ đề 1: Mức độ tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV của điều dưỡng Chủ đề 2: Ảnh hưởng của nhóm yếu tố cá nhân (giới tính, tuổi, kinh nghiệm làm
việc, trình độ chuyên môn của điều dưỡng) đến sự tuân thủ thực hiện gói đặt và chăm
sóc đường truyền TMNV
Chủ đề 3: Ảnh hưởng của nhóm yếu tố công việc đến sự tuân thủ thực hiện gói đặt
và chăm sóc đường truyền TMNV
Chủ đề 4: Ảnh hưởng của nhóm yếu tố môi trường làm việc (tập huấn và đào tạo về
QTKT tại khoa, bệnh viện; Quy chuẩn QTKT, việc triển khai, thực hiện các văn bản, hướng dẫn và cập nhập của khoa/bệnh viện; Triển khai giám sát, kiểm tra của khoa/bệnh viện với ĐDV; Chủ trương và giải pháp của khoa/bệnh viện về thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV; Hỗ trợ lẫn nhau trong công việc) đến sự
tuân thủ thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV
2.8 Các thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Bảng kiểm thực hiện gói đặt và chăm sóc đường truyền TMNV (Phụ lục 2) được xây dựng trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu (32, 33):
- Gói đặt đường truyền (6 can thiệp)
- Gói chăm sóc đường truyền (7 can thiệp)
Nguyên tắc đánh giá: Việc đánh giá gói dịch vụ dựa trên 2 nguyên tắc chính:
Có hay không cung cấp các can thiệp (không đánh giá mức độ thực hiện của những
HUPH
Trang 36can thiệp này) (77); và nguyên tắc Tất cả hoặc không (24), nghĩa là chỉ đánh giá tuân
thủ gói khi mọi can thiệp trong gói đã hoàn thành hoặc một bước bị loại trừ vì lý do xác định trước, được ghi chép rõ ràng
Đánh giá: Chúng tôi đặt ra 2 khái niệm được sử dụng xuyên suốt luận văn này để đánh giá sự tuân thủ: “Tuân thủ gói” và “Điều dưỡng tuân thủ gói” (hay Tuân thủ gói của điều dưỡng)
- “Tuân thủ gói” là thực hiện đúng yêu cầu và đủ tất cả số can thiệp trong gói (Phụ lục 2) Trường hợp ngoại lệ: ĐDV không áp dụng một can thiệp nào đó
có lý do xác định và được ghi chép lại thì vẫn được tính “Tuân thủ gói” Các trường hợp còn lại được đánh giá là “Không tuân thủ gói”
- “Điều dưỡng tuân thủ gói” là điều dưỡng luôn tuân thủ gói can thiệp, bất kể số lần quan sát
Các trường hợp còn lại được đánh giá là “Điều dưỡng không tuân thủ gói” Như vậy:
- Tỉ lệ “Tuân thủ gói” được tính bằng cách: Chia số lượt thực hành đúng yêu cầu và đủ tất cả các phần tử trong gói với tổng số lượt quan sát
- Tỉ lệ “Điều dưỡng tuân thủ gói” được tính bằng cách: Chia số điều dưỡng tuân thủ gói ở tất cả các lượt đặt (hoặc tất cả các lượt chăm sóc) với tổng số điều dưỡng quan sát
Thông báo giám sát: Được thông báo từ 1 lần thì tính là có được thông báo
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phân tích số liệu định lượng
- Số liệu từ các phiếu thu thập thông tin được mã hóa sau đó nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.0
- Làm sạch số liệu và hiệu chỉnh các sai sót bằng phần mềm SPSS 20.0 Phân tích
số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 theo mục tiêu nghiên cứu Tính tỉ lệ phần trăm, tần số đối với các biến không liên tục Tìm mối liên quan bằng kiểm định khi bình phương (ꭓ2), Fisher’s Exact test với mức ý nghĩa thống kê p < 0.05
HUPH
Trang 372.9.2 Phân tích thông tin định tính
Các thông tin từ PVS được ghi âm và gỡ băng (kèm với biên bản phỏng vấn), xử lý theo phương pháp mã hóa và phân tích theo chủ đề, nhằm trả lời mục tiêu 2
Các chủ đề nghiên cứu định tính chính bao gồm:
- Mức độ tuân thủ gói đặt và chăm sóc của điều dưỡng
- Tác động của gói đến sự tuân thủ QTKT của điều dưỡng
- Mức độ tác động của các yếu tố cá nhân, công việc và môi trường làm việc lên
sự tuân thủ gói của điều dưỡng
- Những biện pháp nào đã được triển khai nhằm cải thiện sự tuân thủ gói
- Những đề xuất về các biện pháp mới hoặc các biện pháp hiệu quả cần tiếp tục thực hiện
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của trường Đại học Y tế Công cộng theo quyết định số: 80/2022/YTCC-HD3, ngày 28 tháng 03 năm 2022 Những quy định về đạo đức nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của Ban lãnh đạo bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Đà Nẵng
HUPH
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung về điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin cá nhân của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n = 60)
bố nhân lực ĐDV tại HSCC cao nhất với 33,4%; nội, ngoại bằng nhau với 20,0% và sản, nhi cùng chiếm 13,3%
HUPH
Trang 39Bảng 3.2 Thông tin về khối lượng công việc của điều dưỡng cứu ở các khoa (n = 60)
Khoa
Trung bình số người bệnh/
ĐDV/ ca trực
Thời gian mỗi ca trực (giờ)
Số ĐDV/
ca trực
Trung bình
số buổi trực đêm/ tháng
mỗi ca trực của các khoa là 12 giờ và trung bình số buổi trực đêm là 8 đêm/tháng
Bảng 3.3 Thông tin về môi trường làm việc của điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n = 60)
Thông báo trước khi
Trang 40ĐDV thường xuyên được cập nhập tài liệu hướng dẫn, 25% ĐDV thỉnh thoảng được cập nhập Trong quá trình công tác tại bệnh viện, 75% ĐDV được tập huấn 3 lần, 21,7% ĐDV được tập huấn 2 lần và 3,3% ĐDV được tập huấn 1 lần 100% ĐDV cho biết có lãnh đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện QTKT, trong đó 83,3% ĐDV không được báo trước khi giám sát, chỉ 16,7% nhận được thông báo
3.2 Tuân thủ gói đặt và chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi
Bảng 3.4 Sự tuân thủ gói đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi (n = 120)
Tuân thủ Tần số
(n)
Tỉ lệ (%)
3 Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân 120 100,0
Kết quả Bảng 3.4 cho thấy trong 120 lượt đặt đường truyền TMNV (của 60 ĐDV), tỉ lệ tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân, thăy băng, ghi chép HSBA đúng và đủ là 100%, tuân thủ chuẩn bị da là 99,2 % và tuân thủ vệ sinh tay thấp nhất với 97,5% Có 96,7% lượt đặt tuân thủ cả 6/6 biện pháp và được đánh giá là “Tuân thủ gói đặt” HUPH