PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Số ca đẻ mổ được vô cảm bằng phương pháp gây tê vùng với thai trên 37 tuần tuổi và không có bệnh lý tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
Bà mẹ không có vấn đề gì về sức khỏe sau mổ, trẻ đẻ mỗthở được
Các ca đẻ mỗcấp cứu để cứu mẹ và con
Các ca đẻ mỗkhông thể gây tê vùng; có bệnh lý của mẹ và con
2.1.2 Nghiên cứu định tính Đối tượng nghiên cứu định tính bao gồm:
Ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, bao gồm Phó giám đốc chuyên môn, đại diện Phòng quản lý chất lượng và lãnh đạo khoa Sản (gồm bác sĩ và nữ hộ sinh trưởng), đã có buổi làm việc quan trọng.
Bác sĩ, hộ sinh và kỹ thuật viên gây mê – hồi sức tham gia đẻ mổ
Hộ sinh thuộc Khoa Sản của Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03 đến tháng 10 năm 2021
Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 06 đến tháng 07 năm 2021
Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á TPHCM (số 42 Ấp Chợ Xã Tân Phú Trung- Huyện Củ Chi-TPHCM)
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính, trong đó nghiên cứu định tính được thực hiện sau nghiên cứu định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình CSTY BM-TSS của nhân viên y tế.
Điều tra định lượng được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả mức độ tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh mổ tại Khoa Sản – Phụ Khoa, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2021.
Điều tra định tính được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh mổ tại Khoa Sản – Phụ Khoa, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2021.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ
- Z 2 1-α/2: Hệ số tin cậy mức 95%, tương ứng là 1,96
Theo nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà (2017) tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, tỷ lệ ca đẻ mổ được thực hiện đầy đủ các bước chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau khi sinh đạt 59,5%.
- d = 0,1 (độ chính xác mong muốn giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và quần thể nghiên cứu)
Cỡ mẫu cần thu thập cho nghiên cứu là 93 ca đẻ mổ Sau khi dự trù 10% có thể không đạt yêu cầu, tổng số ca đẻ mổ được quan sát là 105 ca.
Chúng tôi đã thực hiện việc chọn mẫu định lượng bằng cách ngẫu nhiên lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn đã đặt ra Vào các ngày chẵn của tháng, bệnh nhân có số thứ tự chẵn như 2, 4, 6 được chọn, trong khi vào các ngày lẻ, bệnh nhân có số thứ tự lẻ như 1, 3, 5 được lựa chọn Tất cả các bảng kiểm được mã hóa theo số bệnh án để bảo đảm tính bí mật Ngoài ra, 105 ca đẻ mổ được phân bố đều cho 10 bác sĩ tại Khoa Sản BVĐK Xuyên Á Việc lựa chọn ngẫu nhiên ca đẻ mổ và bác sĩ tham gia mổ dựa trên lịch đẻ mổ hàng tuần giúp khảo sát quy trình CSTY BM – TSS một cách khái quát nhất cho thực tế tại bệnh viện.
2.4.2 Nghiên cứu định tính Đối tượng phỏng vấn sâu được chọn có chủ đích và đa dạng hóa để thu thập thông tin tốt nhất như đa dạng chuyên môn và chức vụ của đối tượng để có thể cái nhìn bao quát từ các góc nhìn khác nhau đối với các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thực hiện qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ mổ tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
Nghiên cứu định tính đã thu hút 19 đối tượng tham gia, bao gồm 5 cuộc phỏng vấn sâu với các lãnh đạo chủ chốt của bệnh viện, như Lãnh đạo Bệnh viện, Phó trưởng Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Trưởng Phòng Điều dưỡng, Trưởng Khoa sản, và Hộ sinh trưởng Khoa sản Ngoài ra, có 14 đối tượng tham gia 2 thảo luận nhóm, mỗi nhóm gồm 7 người, trong đó có một cuộc thảo luận nhóm với các trưởng êkíp thực hiện đẻ mổ.
HUPH o 01 cuộc thảo luận nhóm với NVYT tham gia đẻ mổ (hộ sinh, bác sĩ và kỹ thuật viên gây mê) (7 người)
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng Điều tra viên (ĐTV) bao gồm 02 cán bộ là 02 hộ sinh thuộc Phòng điều dưỡng Trước khi thu thập, ĐTV đều được tập huấn và quan sát thử 2 ca mổ đẻ để thống nhất cách làm Bộ công cụ là bảng kiểm quan sát soạn sẵn để thu thập dữ liệu (dựa trên Quyết định 6734/QĐ-BYT năm 2016, của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ mổ)
Công cụ thu thập số liệu được phát triển dựa trên bảng kiểm của Bộ Y tế, tuân theo Hướng dẫn Quốc gia về dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản được ban hành.
2016 (4128/QĐ-BYT); Quyết định 2718/QĐ-BYT năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế, hướng dẫn gói dịch vụ chăm sóc sản khoa thiết yếu, Quyết định 6734/QĐ-BYT năm
Vào năm 2016, Bộ trưởng Bộ Y tế đã phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi sinh mổ Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 5-6 ca đẻ mổ mỗi ngày, dựa trên số thứ tự chẵn lẻ theo lịch Tại BVĐK Xuyên Á, mỗi êkip mổ của 10 bác sĩ Cột 1 được khảo sát với khoảng 10-11 ca mổ đẻ Việc quan sát được thông báo cho êkip mổ và bà mẹ để xin phép đồng ý, và ĐTV thực hiện quan sát từ một góc phòng mổ nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến quy trình chuyên môn Điểm số được chấm dựa trên bảng kiểm chi tiết, và tổng thời gian thu thập dữ liệu kéo dài hơn 1,5 tháng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2021.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Bộ công cụ nghiên cứu định tính được thiết kế để khám phá sâu hơn các kết quả nghiên cứu định lượng và tìm hiểu các giải pháp nhằm nâng cao mức độ tuân thủ thực hiện CSTY BM-TSS Thông tin chi tiết về bộ công cụ có thể được tham khảo trong Phụ lục 2 và 3.
Nghiên cứu đã tiến hành 5 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm với các đối tượng được chọn theo phương pháp đã nêu Cụ thể, đối tượng bao gồm đại diện lãnh đạo bệnh viện, đại diện Phòng quản lý chất lượng, và lãnh đạo khoa Sản (bao gồm bác sĩ).
Nữ hộ sinh trưởng) và Thảo luận nhóm với NVYT trực tiếp tham gia đẻ mổ tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện theo lịch hẹn tại phòng làm việc của người được phỏng vấn và được ghi âm Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài 45 phút với các câu hỏi mở nhằm ngăn chặn ý tưởng đã được thiết lập trước Người phỏng vấn không giới hạn các chủ đề mới trong quá trình trao đổi Các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm do học viên thực hiện, ghi biên bản và gỡ băng.
Sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng, các nhà nghiên cứu tiến hành xử lý sơ bộ kết quả từ bảng kiểm quan sát Dựa trên những phát hiện ban đầu này, nội dung hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được điều chỉnh để phù hợp hơn.
Bước 1 Chúng tôi mời các đối tượng nghiên cứu chủ đích theo dự kiến và xin chấp thuận tham gia nghiên cứu
Bước 2 là tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm theo lịch trình đã định Chúng tôi đã xây dựng các câu hỏi phỏng vấn trong bản hướng dẫn để đảm bảo tính nhất quán Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin phép đối tượng tham gia và ghi âm lại các cuộc phỏng vấn và thảo luận Các công cụ cần thiết cho nghiên cứu định tính bao gồm bản hướng dẫn phỏng vấn, máy ghi âm, bút ghi chép, vở trắng và các phương tiện hỗ trợ khác.
HUPH tổ chức các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm vào thời gian thuận tiện cho đối tượng nghiên cứu, tại những địa điểm yên tĩnh và thoáng mát.
Bước 3 Tiến hành gỡ băng và phân tích các dữ liệu định tính theo phương pháp ma trận và phương pháp suy luận.
Các biến số nghiên cứu
Các nhóm biến số định lượng theo mục tiêu 1 của nghiên cứu bao gồm:
- Nhóm thông tin hành chính liên quan tới NVYT và đặc điểm bà mẹ và trẻ sơ sinh
- Nhóm biến số liên quan đến thực hành qui trình CSTY BM-TSS trong và ngay sau phẫu thuật
Các chủ đề nghiên cứu định tính bao gồm: (1) Người bệnh với các yếu tố như đặc điểm nhân khẩu học, tiền sử thai nghén, và sức khỏe của mẹ và con trong thời gian mang thai; (2) Yếu tố bệnh viện liên quan đến quản lý, điều hành, cơ sở vật chất và trang thiết bị; (3) Đặc điểm của nhân viên y tế như chức vụ, thời gian công tác, kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ sơ sinh, áp lực công việc và tình trạng nhân lực của bệnh viện.
Phương pháp phân tích số liệu
2.7.1.1 Phương pháp làm sạch số liệu
Làm sạch số liệu thô là quá trình kiểm tra lại tất cả các phiếu giám sát và phỏng vấn nhằm đảm bảo tính trình tự và hợp lý của các phương án lựa chọn Việc này cũng bao gồm việc hiệu chỉnh nhưng vẫn giữ nguyên tính khách quan của bộ câu hỏi.
Làm sạch số liệu bằng phần mềm phân tích Excel 2010 thông qua các kỹ thuật thống kê mô tả cơ bản
Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu Quá trình nhập liệu bao gồm các bước:
Xây dựng bộ câu hỏi nhập liệu trên phần mềm Epidata 3.1
Thử nghiệm nhập liệu bằng cách rút ngẫu nhiên 5% phiếu đã thu thập để kiểm tra Nếu phát hiện lỗi trong form nhập liệu, cần thiết lập các ràng buộc cho các giá trị của các biến số trong quá trình nhập.
Nhập liệu lần 1: Nhập toàn bộ số phiếu bằng phần mềm Epidata 3.1
Nhập liệu lần 2 là quá trình chọn ngẫu nhiên 20% số phiếu để thực hiện việc nhập lại Sau khi hoàn thành, cần so sánh kết quả giữa hai lần nhập để phát hiện các lỗi sai và thực hiện những điều chỉnh cần thiết.
Sử dụng phần mềm Stata 14.0 để phân tích số liệu, nghiên cứu áp dụng các kiểm định thống kê như kiểm định mô tả, kiểm định Khi bình phương và kiểm định Fisher’s Exact Test cho trường hợp có ô với giá trị kỳ vọng thấp hơn 5 nhằm so sánh hai tỷ lệ Tất cả các kiểm định thống kê đều sử dụng ngưỡng sai lầm loại I là 0,05.
Bộ công cụ gồm 57 tiêu chí chia ra trong 3 qui trình chính:
Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trước khi mổ đẻ (21 bước)
Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong khi mổ đẻ (9 bước)
Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh sau khi mổ đẻ là rất quan trọng Quy trình này bao gồm 12 bước cần thực hiện trước khi giao trẻ cho điều dưỡng và 15 bước cần thực hiện sau khi giao trẻ cho điều dưỡng Việc tuân thủ đúng các bước này giúp đảm bảo sức khỏe và an toàn cho cả mẹ và bé.
Mỗi tiêu chí được đánh giá theo ba mức độ: Không làm, Có làm nhưng chưa đủ và/hoặc chưa đúng, và Làm đủ và đúng Để được coi là đạt, nhân viên y tế (NVYT) phải thực hiện đầy đủ và đúng các bước Chúng tôi xác định điểm cắt là 75%-80% cho từng quy trình nhỏ và 90% cho toàn bộ quy trình CSTY chung.
Qui trình 1 thì số bước CSTY BM-TSS trước mổ cần đạt là ≥17/21 bước
Qui trình 2 thì số bước CSTY BM-TSS trước mổ cần đạt là ≥7/9 bước
Qui trình 3 thì số bước CSTY BM-TSS trước mổ cần đạt là ≥22/27 bước
Với cả 57 bước của qui trình CSTY BM-TSS, số bước cần đạt là ≥51/57 bước
Số liệu được xử lý và phân tích theo các bước sau:
- Sắp xếp các bản ghi chép và băng phỏng vấn sâu
Kiểm tra tính thống nhất và độ tin cậy của toàn bộ nội dung bản in là rất quan trọng Cần gỡ băng hoặc ghi chép lại một lượt và ghi chú những điểm chính để đảm bảo thông tin được truyền đạt một cách chính xác và hiệu quả.
- Nhóm các thông tin theo từng nội dung nghiên cứu
- Thực hiện phân tích các phân nhóm thông tin theo nội dung nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện với sự chấp thuận của hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng theo quyết định số 270/2021/YTCC-HD3 ngày 31/5/2021 Dữ liệu được thu thập một cách trung thực, đầy đủ và chính xác, chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Quan sát thực tế quy trình đẻ mổ là rất quan trọng Sau khi thu thập đầy đủ số liệu, nếu phát hiện nhân viên y tế không thực hiện đúng, quan sát viên sẽ nhắc nhở trong các cuộc họp của khoa hoặc bệnh viện Điều này nhằm tránh xung đột chuyên môn trong quá trình mổ và đề nghị thực hiện đúng theo các bước của quy trình chăm sóc thiết yếu.
Quá trình trích xuất và phân tích số liệu được thực hiện mà không kết nối với thông tin cá nhân như tên và địa chỉ, nhằm đảm bảo tính bảo mật và riêng tư cho đối tượng nghiên cứu Tất cả thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, không nhằm mục đích khác và không gây ảnh hưởng xấu đến các đối tượng tham gia.
KẾT QUẢ
Thông tin về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin của NVYT tại khoa Sản tham gia các ca đẻ mổ được quan sát (n) Đặc điểm NVYT Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tình trạng hôn nhân Độc thân 17 19,5%
Sống với vợ, chồng, bạn tình 70 80,5%
HUPH Đặc điểm NVYT Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Kỹ thuật viên Gây mê – Hồi sức 10 11,5%
Thâm niên công tác trong ngành
Thâm niên công tác tại bệnh viện
Thời gian làm việc mỗi tuần
Có chứng chỉ CSTY BM-TSS trong và ngay sau đẻ mổ
Tổng số nhân viên y tế là 87, trong đó 69,1% có độ tuổi dưới 40 Tỷ lệ nam giới chiếm hơn 40%, trong khi nữ giới chiếm gần 60% (58,6%).
36,8% là bác sĩ; hộ sinh chiếm 51,7% Số lượng kỹ thuật viên Gây mê – Hồi sức chỉ chiếm 11,5% trong tổng số đối tượng được quan sát
Tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) làm việc tại bệnh viện trên 5 năm chỉ đạt 16,1%, trong khi đó, 46,0% nhân viên có thời gian công tác dưới 3 năm Đáng chú ý, có 44,8% nhân viên có thâm niên trên 10 năm và 34,5% có thâm niên từ 6-10 năm Tất cả NVYT tại Khoa sản đều được đào tạo thực hành quy trình chăm sóc y tế bà mẹ - trẻ sơ sinh (CSTY BM-TSS).
Bảng 3.2 Thông tin của Sản phụ trong các ca đẻ mổ được quan sát (n5) Đặc điểm sản phụ Tần số (n5) Tỉ lệ (%) Nhóm tuổi
Tình trạng hôn nhân Độc thân 9 8,6%
Sống với chồng, bạn tình 96 91,4%
HUPH Đặc điểm sản phụ Tần số (n5) Tỉ lệ (%)
Khác (nông dân, buôn bán tự do, v,v…) 24 22,9%
Số lần sinh trước đây
Từng gặp tai biến lần sinh trước (nX) 6 10,3%
Tình trạng ngay sau mổ của mẹ bình thường 104 99,0%
Tình trạng ngay sau mổ của con bình thường 102 97,1%
Bảng 3.2 trình bày Thông tin của 105 sản phụ trong các ca đẻ mổ được quan sát
Nhóm tuổi >30 chiếm tỷ lệ lớn nhất (70%) trong đó số sản phụ có tuổi >35 chiếm 19,0%
Hầu hết sản phụ là người Kinh, chiếm 97,1% Về hôn nhân, 91,4% sản phụ đang sống cùng chồng hoặc bạn tình Đối với nghề nghiệp, 50,5% sản phụ làm việc tại các cơ sở tư nhân, trong khi 26,7% là cán bộ nhà nước.
Trong nghiên cứu về tiền sử sinh đẻ của sản phụ, tỷ lệ sản phụ chưa sinh lần nào mà phải mổ đẻ đạt 44,8% Đáng chú ý, 10,3% sản phụ đã từng gặp tai biến trước khi thực hiện ca mổ này Trong lần sinh này, hầu hết mẹ và con đều khỏe mạnh, chỉ có một sản phụ cần theo dõi thêm do mắc tiểu đường trong thai kỳ, và ba trẻ sơ sinh mổ đẻ non phải được chuyển sang khoa Nhi.
Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ đẻ
3.2.1 Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trước khi mổ đẻ
Bảng 3.3 Kiểm tra nhiệt độ phòng mổ
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5)
Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
1 Kiểm tra nhiệt độ phòng và điều hòa
2 Không để quạt hoặc máy lạnh phà hơi thẳng xuống sản phụ
Kết quả kiểm tra nhiệt độ phòng mổ được trình bày trong Bảng 3.3 cho thấy công tác kiểm tra nhiệt độ cho ca đẻ mổ được thực hiện hiệu quả, với hơn 97% số ca mổ được kiểm tra Đặc biệt, không có quạt hoặc máy lạnh nào phả hơi thẳng xuống sản phụ Thảo luận nhóm với hộ sinh cũng cho thấy việc thực hiện các hoạt động chuẩn bị này diễn ra tốt.
Hai bước quan trọng trong quản lý chất lượng là kiểm tra nhiệt độ phòng và điều hòa thường xuyên Hộ sinh cần lưu ý thực hiện việc này, mặc dù có thể quên do số ca đẻ mổ liên tục.
Bảng 3.4 Thực hành chuẩn bị bàn Hồi sức cấp cứu sơ sinh
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5) Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
1 Bề mặt phẳng, khô, sạch 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
2 Có đầy đủ đèn sáng 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
3 Có đầy đủ đèn sưởi 0 (0%) 2 (1,9%) 103 (98,1%)
5 Có đầy đủ máy hút 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
6 Kiểm tra bóng tự phồng 0 (0%) 13 (12,4%) 92 (87,6%)
7 Kiểm tra mask các loại 0 (0%) 5 (4,9%) 100 (95,2%)
8 Kiểm tra ống hút nhớt các loại 0 (0%) 10 (9,5%) 95 (90,5%)
9 Có đèn đặt Nội khí quản sơ sinh (số 0) 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
10 Có đèn đặt Nội khí quản các loại (2,5, 3, 3,5, 4) 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
Kết quả từ Bảng 3.4 cho thấy công tác chuẩn bị bàn hồi sức cấp cứu cho ca đẻ mổ của hộ sinh được thực hiện hiệu quả, với 8/10 tiêu chí đạt tỷ lệ trên 98% Cụ thể, các tiêu chí như kiểm tra đầy đủ máy hút và đèn đặt nội khí quản sơ sinh đều đạt 100% Tuy nhiên, chỉ có 2 bước kiểm tra là kiểm tra bóng tự phồng (87,6%) và kiểm tra ống hút nhớt có tỷ lệ thực hiện thấp hơn.
Tỷ lệ thực hiện HUPH đạt 90,5%, tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp chưa thực hiện đầy đủ Nguyên nhân chủ yếu, theo phỏng vấn định tính, là do các hộ sinh đã quen thực hiện trong các ca đẻ mổ trước đó, dẫn đến sự chủ quan và thiếu kiểm tra kỹ lưỡng trong các ca mổ tiếp theo.
Sau khi thực hiện ca trước, không có vấn đề gì phát sinh và không cần sử dụng đến các thiết bị như mặt nạ, ống hút hay bóng Vì vậy, nhiều hộ sinh không kiểm tra kỹ lưỡng các trang thiết bị này theo yêu cầu nữa.
Bảng 3.5 Thực hành chuẩn bị dụng cụ đón bé
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5) Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
3 Bộ áo sơ sinh (áo, nón, …) 0 (0%) (2,2%) 91 (97,8%)
5 Kẹp dây rốn nhựa vô khuẩn 0 (0%) 0 (0%) 93 (100%)
Kết quả từ Bảng 3.5 cho thấy công tác chuẩn bị trước khi mổ được thực hiện hiệu quả, với hầu hết các bước chuẩn bị dụng cụ đón bé của hộ sinh đạt tỷ lệ 98%-100%.
Bảng 3.6 Các chuẩn bị khác trước mổ đẻ
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5) Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
4 Trải một khăn khô sạch lên hai đùi sản phụ 0 (0%) 2 (1,9%) 103 (98,1%)
Các chuẩn bị trước mổ đẻ bao gồm 4 bước quan trọng, với tỷ lệ thực hiện đúng đạt trên 90% Tuy nhiên, bước rửa tay ngoại khoa có tỷ lệ thực hiện đúng thấp nhất, chỉ đạt 89,5% Phỏng vấn định tính cho thấy nguyên nhân chính là do nhân viên y tế chưa thực hiện đúng quy trình rửa tay, như việc chụm đầu ngón tay hay rửa khuỷu tay.
Rửa tay đúng cách theo tiêu chuẩn ngoại khoa cần khoảng 3-5 phút, bao gồm việc sử dụng dung dịch sát khuẩn, cọ sát lòng và lưng bàn tay, rửa từng đầu ngón tay, kẽ tay, lòng bàn tay và cả cẳng tay lên đến 5 cm trên khuỷu Tuy nhiên, nhiều nhân viên y tế trong tình huống gấp, đặc biệt trong các ca mổ liên tục, thường không tuân thủ đầy đủ quy trình này, đặc biệt là việc rửa khuỷu tay Điều này cần được rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc.
Hình 3-1 Tỷ lệ thực hành 21 bước chuẩn bị trong các ca đẻ mổ được quan sát (n5)
Tỷ lệ ca đẻ mổ thực hiện đúng từ 17-21 bước chuẩn bị đạt 92,4%, trong khi tỷ lệ từ 15-17 bước chỉ đạt 7,6% Nguyên nhân chính không thực hiện đúng được xác định qua thảo luận nhóm với hộ sinh là do yếu tố chủ quan và số lượng ca đẻ quá nhiều và liên tục.
3.2.2 Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong khi mổ đẻ
Bảng 3.7 Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong khi mổ đẻ
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5) Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
1 Tiếp nhận sản phụ, kiểm tra hồ sơ, tiền căn tiền sử sản phụ 0 (0%) 20 (19%) 85 (81%)
2 Tư vấn sản phụ thực hiện da kề da trước khi mổ 0 (0%) 33 (31,4%) 82 (68,6%)
3 Mặc áo thun kangaroo cho sản phụ trước khi gây tê 0 (0%) 45 (42,9%) 60 (57,1%)
4 Thực hiện phương pháp vô cảm 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
Theo dõi sinh hiệu sản phụ sau thực hiện phương pháp vô cảm
6 PTV và DCV chuẩn bị bệnh mổ 0 (0%) 13 (12,4%) 80 (87,6%)
7 Ghi chép hồ sơ, trấn an tâm lý sản phụ trong khi mổ 0 (0%) 10 (9,5%) 95 (90,5%)
9 Đọc to thời điểm sinh và giới tính
Bảng 3.7 cho thấy việc tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong quá trình mổ đẻ đã được thực hiện, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhất định chưa thực hiện đúng và đủ các bước Cụ thể, có 7/9 bước đạt tỷ lệ thực hiện trên 80%, trong đó 3 bước đạt 100% là thực hiện phương pháp vô cảm, theo dõi sinh hiệu sản phụ sau khi thực hiện phương pháp vô cảm, và PTV bắt bé ra Tỷ lệ thực hiện PTV và DCV chuẩn bị bệnh mổ đạt 86%.
Trong quá trình thực hiện các bước chăm sóc sản phụ, bệnh viện Xuyên Á gặp khó khăn với hai bước quan trọng: (1) Mặc áo thun kangaroo cho sản phụ trước khi gây tê chỉ đạt 57,1%, và (4) Tư vấn sản phụ thực hiện da kề da trước khi mổ đạt 68,6% Nguyên nhân chính là do kỹ thuật da kề da chưa được coi là kỹ năng bắt buộc, cùng với tần suất ca mổ cao khiến nhân viên y tế không có đủ thời gian để thực hiện các bước này.
Các bước tư vấn và trấn an tâm lý sản phụ trong quá trình mổ thường chưa được thực hiện tốt, điều này trở thành một hạn chế khi số ca mổ ngày càng tăng Trung bình, mỗi ngày bệnh viện thực hiện từ 15-20 ca mổ, trong đó mổ sản chiếm khoảng 70% Mặc dù đã có kiến thức và thực hiện, nhưng việc thực hiện chưa đạt yêu cầu, thiếu nhiệt tình và chưa kiểm tra xem sản phụ có hiểu rõ hay không.
Hình 3-2 Tỷ lệ thực hành 9 bước chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong khi mổ
Tỷ lệ thực hiện đúng 7-9 bước chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong quá trình mổ đạt 76,2%, trong khi tỷ lệ thực hiện từ 5-6 bước chỉ đạt 23,8%.
3.2.3 Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh sau khi mổ đẻ
Bảng 3.8 Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh sau khi mổ đẻ ở giai đoạn trước khi giao trẻ cho điều dưỡng
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5) Không làm Làm chưa đủ Làm đủ
1 Đặt trẻ lên tấm khăn khô trên đùi bà mẹ 0 (0%) 0 (0%) 105 (100%)
2 Lau khô kích thích cho trẻ
3 Lau khô trẻ kỹ càng (mắt, mặt, đầu, tay và chân) 0 (0%) 8 (7,6%) 97 (92,4%)
Bỏ tấm khăn ướt, quấn trẻ vào tấm khăn khô và đội mũ cho trẻ
5 Kiểm tra trẻ thứ hai 0 (0%) 13 (12,4%) 92 (87,6%)
Truyền oxytocin 10đv pha trong 100ml NaCl 0,9%
7 Kiểm tra dây rốn trước khi kẹp, chỉ kẹp khi dây rốn 0 (0%) 10 (9,5%) 95 (90,5%)
TT Chỉ số Đánh giá thực hiện (n5)
Không làm Làm chưa đủ Làm đủ ngừng đập (thông thường là 1
8 PTV kiểm soát vết mổ và chảy máu 0 (0%) 11 (10,5%) 94 (89,5%)
9 Cắt dây rốn chậm 01 thì 0 (0%) 25 (23,8%) 80 (76,2%)
Kẹp thứ 2 cách kẹp thứ nhất 3 cm (hoặc cách chân rốn 5cm)
Cắt sát kẹp 1 bằng kéo vô khuẩn
12 Giao trẻ cho hộ sinh/điều dưỡng 0 (0%) 10 (9,5%) 95 (90,5%)
Việc thực hiện CSTY BM-TSS sau khi mổ đẻ cho thấy hiệu quả cao với 11/12 bước đạt tỷ lệ thực hiện đúng trên 90% Trong đó, 4 bước đạt tỷ lệ 100% bao gồm: đặt trẻ lên tấm khăn khô trên đùi mẹ, bỏ tấm khăn ướt, quấn trẻ vào tấm khăn khô và đội mũ cho trẻ, cũng như truyền oxytocin 10 đơn vị pha trong 100ml NaCl 0,9% trong 1 phút Tuy nhiên, một bước có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cần được cải thiện.
76,2% là Cắt dây rốn chậm 01 thì (76,2%) Phỏng vấn định tính cũng cho thấy NVYT của Khoa Sản thực hiện khá tốt việc CSTY BM-TSS sau khi mổ đẻ
Tỷ lệ ca mổ có thực hành 12 bước chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh sau khi mổ đẻ được ghi nhận ở giai đoạn trước khi giao trẻ cho điều dưỡng.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh của nhân viên Y tế tại Khoa Sản, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
trẻ sơ sinh của nhân viên Y tế tại Khoa Sản, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á
Bệnh viện ĐK Xuyên Á đã thực hiện qui trình CSTY BM-TSS cho các trường hợp mổ đẻ theo hướng dẫn của Bộ Y tế, cho thấy nhân viên y tế đã thực hiện đúng quy trình.
HUPH hiện đang hoạt động hiệu quả nhờ vào ba nhóm yếu tố chính: vai trò quản lý của bệnh viện, sự tuân thủ thực hiện của nhân viên y tế, và sự hợp tác cũng như chấp nhận của các bà mẹ và gia đình họ Phân tích này được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các cán bộ lãnh đạo và nhân viên y tế.
Có sự quan tâm và đầu tư của lãnh đạo bệnh viện
Sản khoa là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu tại BVĐK Xuyên Á, với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ và tuân thủ quy trình lâm sàng nhằm giảm tai biến sản khoa và tử vong trẻ sơ sinh Bệnh viện đã học hỏi kinh nghiệm từ các cơ sở y tế khác và áp dụng quy trình CSTY BM-TSS cho đẻ mổ, chiếm hơn 70% số ca đẻ Lãnh đạo bệnh viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hành hướng dẫn và cử nhân viên đi tập huấn, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình để đảm bảo an toàn cho người bệnh và xây dựng văn hóa an toàn trong y tế.
Bệnh viện đa khoa Xuyên Á luôn tiên phong trong việc áp dụng các thông tư và hướng dẫn lâm sàng của Bộ Y tế Từ năm 2016, sau khi có quyết định số 6734 về CSTY BM-TSS trong đẻ mổ, bệnh viện đã nhanh chóng triển khai thí điểm, xây dựng lại quy trình và xin phê duyệt để Khoa sản thực hiện Chúng tôi thực hiện công việc này một cách quyết liệt, không chờ đợi như các bệnh viện công Bên cạnh đó, bệnh viện cũng cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo từ giảng viên tuyến tỉnh để chia sẻ kiến thức và tập huấn cho nhân viên.
HUPH khoa và hỗ trợ chuyển giao CSTY BM-TSS với tuyến huyện và xã trong tỉnh” (PVS - 01)
Tuân thủ qui trình là nền tảng thúc đẩy tăng cường năng lực cạnh tranh của bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á, với 4 cơ sở lớn, nhận thức rõ rằng cạnh tranh là thách thức lớn nhất trong ngành y tế Lãnh đạo bệnh viện đã xác định chất lượng dịch vụ là ưu thế cạnh tranh, đồng thời hiểu rõ lợi ích của các dịch vụ chăm sóc can thiệp cho bệnh nhân Do đó, bệnh viện có định hướng phát triển sâu hơn và nâng cao năng lực của nhân viên y tế Hai khoa Sản và Nhi được ưu tiên đầu tư, với cơ sở vật chất hiện đại và đồng bộ, nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho nhóm đối tượng tiềm năng.
Bệnh viện tư cần tập trung vào chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân để cạnh tranh hiệu quả Đối tượng phục vụ là người dân thành phố có thu nhập trung lưu, vì vậy bệnh viện đã đầu tư vào trang thiết bị đạt tiêu chuẩn, giúp việc áp dụng quy trình chăm sóc thiết yếu ban đầu trở nên dễ dàng.
Thực hiện đúng quy trình là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro trong môi trường cạnh tranh hiện nay Một sai sót chuyên môn có thể dẫn đến nhiều rắc rối khó giải quyết, đặc biệt là trong lĩnh vực y khoa Để giảm thiểu các yếu tố không mong muốn, việc đảm bảo chất lượng và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình là cần thiết Do đó, ban lãnh đạo cần chú trọng và đặt mục tiêu giám sát liên tục.
Công tác đào tạo và tập huấn cũng như giám sát và theo dõi luôn được quan tâm
Lãnh đạo bệnh viện và Khoa Sản nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của đào tạo và phát triển liên tục Đối với các cán bộ mới tuyển, bệnh viện thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo.
HUPH tạo ngay lập tức các qui trình bắt buộc Phương châm của bệnh viện là phải học tốt thì mới áp dụng được trong công việc hàng ngày
Hiện nay, bệnh viện đã áp dụng chế tài thưởng phạt cho nhân viên y tế (NVYT), nhưng chủ yếu chỉ áp dụng cho cán bộ cơ hữu Việc tuân thủ quy định trong các ca mổ do bác sĩ mời đến thực hiện thường chưa đạt yêu cầu, gây khó khăn trong công tác đào tạo Do đó, bên cạnh việc khuyến khích NVYT, bệnh viện cần thực hiện đào tạo kết hợp với giám sát chặt chẽ và có biện pháp nhắc nhở hoặc phạt phù hợp đối với những NVYT chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Công tác giám sát và hỗ trợ tại bệnh viện đã được triển khai hiệu quả, với sự tham gia của nhân viên phòng quản lý chất lượng và cán bộ lãnh đạo Để nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát và quản lý, bệnh viện sẽ lắp đặt thêm nhiều camera nhằm thực hiện giám sát ngẫu nhiên, từ đó cải thiện chất lượng khám bệnh và chữa bệnh.
Bệnh viện thường xuyên kiểm tra cẩn thận các bước chuẩn bị, bao gồm việc theo dõi nhiệt độ phòng và nhiệt độ điều hòa Công tác giám sát và khen thưởng tại đây rất minh bạch, do đó nếu không thực hiện đúng quy trình thì sẽ không được khen thưởng.
3.3.1.2 Một số khó khăn của bệnh viện
Cơ sở vật chất hiện tại không đáp ứng đủ nhu cầu, gây khó khăn cho việc áp dụng quy trình CSTY BM-TSS Một trong những yêu cầu quan trọng của quy trình là mẹ và trẻ cần ở trong phòng sau mổ ít nhất 90 phút sau khi trẻ bú xong bữa đầu Điều này tạo áp lực cho bệnh viện do thiếu phòng lưu cho sản phụ, gây trở ngại cho việc chuẩn bị đón ca mổ mới.
"Cơ sở bệnh viện cần được chuẩn bị đầy đủ cho việc mổ và chăm sóc sau sinh Việc này rất quan trọng để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho sản phụ."
Việc áp dụng các quy trình mới như kẹp cắt rốn ngừng đập trước khi cắt là rất có lợi cho trẻ sơ sinh, giúp tăng lượng máu từ bánh nhau của mẹ sang em bé trong những phút đầu đời Tuy nhiên, những quy trình này có thể tạo áp lực cho bệnh viện do yêu cầu về không gian cho các hoạt động như tư vấn bú sữa mẹ và theo dõi da kề da Điều này đồng nghĩa với việc cần thêm 2 giờ chăm sóc hậu sản thiết yếu.
Thiếu nhân lực là một yếu tố cản trở lớn trong việc thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình chăm sóc sản phụ Sự đông đúc của bệnh viện và tỷ lệ mổ lại cao dẫn đến tình trạng không đủ hộ sinh để theo dõi sản phụ và trẻ sơ sinh, từ đó một số bước quan trọng trong quy trình bị bỏ qua hoặc không được thực hiện đúng cách.
BÀN LUẬN
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ đẻ đã được Bệnh viện đa khoa Xuyên Á triển khai từ năm 2017 Sau hơn 4 năm thực hiện, việc tuân thủ quy trình chăm sóc đã đạt kết quả tốt trong thực hành CSTY BM-TSS của ê kíp mổ đẻ Nghiên cứu được thực hiện trên 105 ca phẫu thuật lấy thai tại bệnh viện này.
4.1.1 Thông tin chung về nhân viên y tế trong nghiên cứu
Đặc điểm của nhân viên y tế (NVYT) khoa Sản cho thấy khoảng 48,3% NVYT trong độ tuổi từ 31-40 Tuổi trung bình của NVYT trong nghiên cứu này cao hơn so với các nghiên cứu tại các bệnh viện công, đặc biệt là nhóm tuổi dưới.
Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017 cho thấy 30% bệnh nhân chiếm chủ yếu, tương tự như nghiên cứu tại bệnh viện tuyến huyện Đắk Lắk và bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh năm 2019 Số liệu này hợp lý do bệnh viện Xuyên Á là bệnh viện tư, nơi việc tuyển dụng thường phân bổ đều giữa nhóm có kinh nghiệm và nhóm trẻ Sự phân bổ độ tuổi này giúp tăng cường trao đổi chuyên môn liên tục giữa các thế hệ trong bệnh viện.
Thâm niên công tác của nhân viên y tế (NVYT) trong ngành chủ yếu trên 6 năm, chiếm 80%, cho thấy sự ổn định và kinh nghiệm cao hơn so với các đối tượng trong nghiên cứu tại bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk.
Nghiên cứu tại bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh năm 2019 cho thấy thâm niên trong ngành là chỉ báo quan trọng, cho thấy khả năng thực hiện công việc chuyên môn sẽ thành thạo và hiệu quả hơn với nhiều kinh nghiệm Yếu tố này có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện tốt quy trình CSTY BM-TSS của bệnh viện.
4.1.2 Thông tin chung về ca mổ
Nghiên cứu cho thấy, độ tuổi từ 31 đến 35 chiếm tỷ lệ sản phụ phải mổ đẻ cao nhất với 50,5%, trong khi nhóm trên 35 tuổi chỉ chiếm 19,1% và có tỷ lệ mổ thấp nhất Điều này phản ánh xu hướng giảm tỷ lệ mang thai và sinh con ở phụ nữ Việt Nam ở độ tuổi trẻ (≤30) và cao (>35) Tỷ lệ mổ cao tại bệnh viện Xuyên Á cũng liên quan đến các nguy cơ từ mẹ và con, cũng như sự lựa chọn sinh của các bà mẹ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà và Huỳnh Công Lên.
Tỷ lệ sản phụ phải phẫu thuật khi sinh lần đầu đạt 44,8%, chủ yếu do nỗi sợ hãi về các nguy cơ khi sinh thường Nhiều sản phụ có ngưỡng chịu đau thấp cũng chọn phương pháp sinh mổ Thêm vào đó, một số gia đình còn chủ động lựa chọn giờ sinh vào giờ hoàng đạo với hy vọng mang lại may mắn cho con cái sau này.
Tuân thủ qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ đẻ
Tỷ lệ tuân thủ 57 bước quy trình Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong các ca đẻ mổ đạt 64,8%, cho thấy vẫn còn 35,2% ca mổ chưa đạt yêu cầu với số bước thực hiện chỉ đạt ≤50/57 bước Bài viết sẽ tiếp tục phân tích chi tiết kết quả thực hiện của nghiên cứu này so với các nghiên cứu tương tự tại Việt Nam.
4.2.1 Chuẩn bị trước khi mổ đẻ
Chuẩn bị cho ca đẻ mổ là bước quan trọng trong quy trình chăm sóc thiết yếu, nhằm đảm bảo môi trường ấm áp và sắp xếp dụng cụ thuận tiện Điều này giúp các kỹ năng thực hiện đầy đủ các bước của quy trình.
Tỷ lệ nhân viên y tế thực hiện đúng 17-21 bước chuẩn bị tại HUPH đạt 92,4%, cao hơn so với nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2020, chỉ đạt 80,2%.
Nghiên cứu tại bệnh viện và TTYT tỉnh Đắk Lăk cho thấy tỷ lệ chuẩn bị trước sinh đạt 20% Sự khác biệt trong kết quả so với các nghiên cứu tại bệnh viện công được lý giải bởi công tác tuyên truyền và giám sát hiệu quả tại BVĐK Xuyên Á Việc giám sát tốt đã góp phần tăng tỷ lệ tuân thủ các quy trình của Bộ Y tế Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra tình trạng thiếu sót trong một số bước của hộ sinh do sự chủ quan của nhân viên y tế trong quá trình mổ đẻ.
Việc chuẩn bị khu vực hồi sức sơ sinh, đặc biệt là kiểm tra bóng và mặt nạ, là rất quan trọng để đảm bảo thông khí cho trẻ ngay sau sinh nếu trẻ không thở Thiếu sót trong quy trình tại bệnh viện đa khoa Xuyên Á chủ yếu do lỗi chủ quan của nhân viên y tế, khi không tuân thủ quy trình chuyên môn và làm theo thói quen cũ Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng cấp cứu trẻ sơ sinh Ví dụ, việc kiểm tra bóng tự phồng có thể bị bỏ qua do nhân viên cho rằng bóng đã ở đúng vị trí Hơn nữa, việc không kiểm tra oxy trung tâm tại bàn cấp cứu cũng là một vấn đề Do đó, cần thường xuyên rèn luyện kỹ năng và giáo dục nhân viên y tế về tầm quan trọng của các bước này để nâng cao ý thức và hiệu quả trong công tác cấp cứu.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hiện đúng 7-9 bước chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong ca đẻ mổ đạt 76,2%, trong khi tỷ lệ thực hiện từ 5-6 bước chỉ đạt 23,8% Tỷ lệ này cao hơn so với 57% được ghi nhận trong nghiên cứu tại BVĐK.
Tại HUPH tỉnh Phú Thọ năm 2020, tỷ lệ thực hiện các bước CSTY trong ca mổ đẻ đạt 80,2% Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 25% số ca mổ chưa tuân thủ đúng quy trình Đây là vấn đề cần được cải thiện trong thời gian tới tại bệnh viện.
Sau khi sinh, việc thực hiện các bước chăm sóc thiết yếu cho sản phụ và trẻ sơ sinh là rất quan trọng Tỷ lệ thực hành đúng 12-15 bước chăm sóc sau mổ đẻ đạt 69,5%, trong khi tỷ lệ thực hiện từ 8-11 bước chỉ đạt 30,5% Kết quả này tương đương với nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2020, cho thấy tỷ lệ thực hiện chăm sóc đạt 69,9% và 80,2% Điều này chỉ ra rằng việc cải thiện quy trình chăm sóc sau sinh là một thách thức lớn cần được giải quyết tại các bệnh viện.
Lau khô và ủ ấm là những biện pháp quan trọng ngay sau khi sinh mổ, giúp trẻ sơ sinh giữ ấm và ngăn ngừa hạ thân nhiệt Trẻ sơ sinh không thể tự điều chỉnh thân nhiệt do đã quen với môi trường nước ối có nhiệt độ ổn định, vì vậy khi ra ngoài, các bé cần tiêu tốn nhiều oxy và năng lượng để duy trì thân nhiệt ổn định.
Việc làm khô em bé ngay sau khi sinh và sử dụng chăn ấm cùng đèn sưởi ấm là rất quan trọng để ngăn ngừa mất nhiệt Theo nghiên cứu của chúng tôi, có 9,5% trẻ không được lau khô trong vòng 5 giây sau khi sinh, tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, như của Lê Thị Kim Loan tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận năm 2018 với 2,6% và của Ngô Thị Minh Hà tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2017 với 3,4% Sự khác biệt này có thể do tính phức tạp trong quy trình thực hiện của ê kíp mổ trong các ca đẻ mổ so với các ca đẻ thường.
Oxytocin là hormone peptide được tổng hợp tại nhân trên thị và cạnh não thất của hạ đồi, hoạt động nhờ kết hợp với protein oxytocin-neurophysin Hormone này được tiết ra từ các đầu cùng thần kinh ở tủy sau tuyến yên, đóng vai trò quan trọng trong nhiều chức năng sinh lý của cơ thể mẹ.
Oxytocin tác động lên thụ thể cơ trơn tử cung, kích thích cơn co tử cung với tần số, cường độ và thời gian tăng lên Do bị phân hủy bởi Pepsin trong đường tiêu hóa, Oxytocin thường được sử dụng qua tiêm bắp và truyền tĩnh mạch chậm, với tác dụng nhanh sau 3-4 phút Nghiên cứu cho thấy Oxytocin giúp giảm lượng máu mất trên 500ml và nhu cầu liệu pháp oxy thần kinh so với không co hồi tử cung Theo khuyến cáo của ICM và FIGO, tiêm bắp Oxytocin ngay sau khi sổ thai là cần thiết để phòng ngừa biến chứng đờ tử cung Trong nghiên cứu, 100% sản phụ được tiêm Oxytocin, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 75% trong nghiên cứu của Lê Thị Kim Loan năm 2018 và 80% trong nghiên cứu của Huỳnh Công Lên năm 2017 Nhìn chung, việc sử dụng Oxytocin ở giai đoạn 3 trong sinh đã được triển khai hiệu quả tại BVĐK Xuyên Á.
Kẹp và cắt dây rốn muộn có thể cung cấp từ 40-50mg/kg sắt cho trẻ, giúp ngăn ngừa thiếu máu trong năm đầu, đặc biệt là ở trẻ non tháng Nghiên cứu cho thấy việc thực hiện kẹp và cắt dây rốn muộn không đồng đều, với 9,5% nhân viên y tế không kiểm tra dây rốn trước khi kẹp, 4,8% kẹp không đúng khoảng cách và 23,8% cắt dây rốn chưa đủ Tỷ lệ thực hiện đúng của chúng tôi thấp hơn nhiều so với 97,7% trong nghiên cứu năm 2017 của Huỳnh Công Lên tại Đắk Lăk.
(47) và cao hơn so với 80% trong nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà tại Bệnh viện Phụ
Năm 2017, Sản Trung ương đã tiến hành quan sát hơn 100 ca đẻ thường, cho thấy lý do tuân thủ thấp việc cắt dây rốn muộn là do quá tải số ca đẻ tại các bệnh viện tuyến cao, đặc biệt là tuyến Trung ương.
Theo WHO, phương pháp da kề da cần được thực hiện liên tục ít nhất 1 giờ ngay sau khi sinh và lặp lại thường xuyên trong những tuần đầu Tiếp xúc này nên diễn ra khi mẹ có ý thức và tỉnh táo, với trẻ được đặt trần trên ngực hoặc bụng của mẹ, không có không gian trống Nghiên cứu cho thấy có 28 ca, tương ứng với 26,7%, thực hiện chưa đúng phương pháp này, tỷ lệ tương đương với 26,9% trong nghiên cứu năm 2020 của Đỗ Xuân Hùng tại BVĐK tỉnh Phú Thọ.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chăm sóc thiết yếu sản phụ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ đẻ
sơ sinh trong và ngay sau mổ đẻ
Bệnh viện đa khoa Xuyên Á, với tư cách là đơn vị tư nhân, luôn ưu tiên áp dụng quy trình chuẩn quốc gia của Bộ Y tế để nâng cao chất lượng dịch vụ Trong lĩnh vực sản khoa, bệnh viện đã triển khai nhiều kỹ thuật mới, mang lại lợi ích cho sản phụ và trẻ sơ sinh Nhân viên y tế được tập huấn để thực hiện quy trình một cách thành thục, từ đó giảm thiểu sai sót và tai biến Bệnh viện xây dựng bảng kiểm đánh giá theo quy trình CSTY BM-TSS ngay và sau khi mổ đẻ, đồng thời chú trọng đào tạo, giám sát và theo dõi Đội ngũ giám sát được bố trí kèm theo chế tài khen thưởng và xử phạt để đảm bảo thực hiện đầy đủ quy trình Khoa Sản được đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, cung cấp đầy đủ thuốc và vật tư y tế Đội ngũ kiểm tra chất lượng và giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn, đồng thời phỏng vấn sản phụ về tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ và sự hài lòng của người bệnh, giúp nhân viên dễ dàng thực hiện quy trình CSTY BM-TSS trong và ngay sau khi mổ đẻ.
Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn cho thấy một số yếu tố sau có ảnh hưởng tới việc tuân thủ qui trình CSTY BM-TSS của nhân viên y tế:
Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe.
Khoa Sản tại HUPH có cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ nhân lực chất lượng cao, giúp nhân viên y tế thực hiện quy trình một cách thuận lợi Tuy nhiên, quy trình mới yêu cầu mẹ và trẻ ở lại phòng đẻ ít nhất 90 phút sau khi trẻ bú xong bữa đầu, tạo áp lực cho bệnh viện do thiếu phòng lưu cho sản phụ, gây khó khăn trong việc chuẩn bị cho các ca đẻ mổ tiếp theo.
Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á được công nhận là nơi có môi trường làm việc tích cực, với tiêu chuẩn quốc tế, giúp nhân viên y tế cảm thấy thoải mái và vui vẻ Sự phối hợp giữa các khoa phòng diễn ra nhịp nhàng theo quy trình của bệnh viện Tuy nhiên, quy trình chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh chỉ được thực hiện trong giờ hành chính, không bao gồm các ngày lễ, Tết, thứ 7 và chủ nhật do thiếu nhân lực Để triển khai quy trình này vào tất cả các ngày, cần bổ sung thêm nhân lực.
Nhân lực là yếu tố quan trọng trong việc phát triển dịch vụ Sản khoa tại Bệnh viện Tuy nhiên, do mới thành lập, việc tuyển dụng chưa đầy đủ và nguồn nhân lực còn thiếu kinh nghiệm trong thực hiện các quy trình chuyên môn Bệnh viện hiện có hai loại nhân lực: toàn thời gian và bán thời gian Kết quả phỏng vấn cho thấy, hộ sinh làm việc bán thời gian có nguy cơ không tuân thủ quy trình cao hơn do không nắm rõ các quy trình như hộ sinh toàn thời gian Điều này tương tự như các nghiên cứu trước đây về việc thiếu hụt hộ sinh chất lượng tại các bệnh viện Nhân viên bán thời gian thường không có mặt thường xuyên tại khoa, dẫn đến việc không thể truyền đạt đầy đủ thông tin từ các cuộc họp Đây là một trong những yếu tố gây khó khăn trong việc thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu Để khắc phục, cần có kế hoạch đào tạo hợp lý.
HUPH đang tiến hành tái cấu trúc và tổ chức tập huấn về quy trình chăm sóc thiết yếu, nhằm xây dựng một quy trình chăm sóc thiết yếu phù hợp với thực tiễn của đơn vị.
Các nhân viên y tế (NVYT) nhận thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện tốt quy trình chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau khi sinh Họ luôn nỗ lực để hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất và có các biện pháp chế tài nhằm đảm bảo quy trình được thực hiện đúng cách.
Trong quá trình công tác, nhân viên y tế thường xuyên tham gia các lớp đào tạo và tập huấn do bệnh viện tổ chức Chương trình đào tạo được xây dựng và triển khai bởi Phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến cùng với Phòng Quản lý Chất lượng Nhờ đó, tất cả nhân viên của Khoa đều được đào tạo không chỉ về chuyên môn mà còn về quy trình chăm sóc thiết yếu cho bệnh nhân.
Nhiều bước trong quy trình chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh vẫn còn bất cập và khó áp dụng thực tế Nghiên cứu cho thấy các bước không đúng quy trình chủ yếu liên quan đến giai đoạn kẹp và cắt dây rốn muộn, cũng như tiếp xúc da kề da Nguyên nhân là do bác sĩ vẫn thực hiện phẫu thuật theo thói quen cũ, dẫn đến việc không đạt được kết quả cao trong các bước quan trọng tiếp theo Mặc dù có sự giám sát tích cực, việc theo dõi kéo dài hơn 2 tiếng và nhiều quy trình chưa được chính thức đưa vào đánh giá cũng gây khó khăn trong việc tuân thủ Nhân viên y tế không tư vấn cho mẹ về dấu hiệu đòi bú của trẻ, mặc dù 100% trẻ được hỗ trợ ngậm bắt vú tốt, do họ cho rằng mẹ đã có kiến thức và thường quên tư vấn WHO khuyến cáo rằng tất cả sản phụ nên bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ sau khi sinh, vì thời điểm này rất quan trọng và có lợi ích lớn hơn cho trẻ sơ sinh.
HUPH ăn muộn Cần nhắc nhở 100% các nhân viên y tế tại khoa thực hiện tốt việc tư vấn những dấu hiệu đòi bú sớm của trẻ
Sự hỗ trợ từ sản phụ và người thân là rất quan trọng trong quá trình sinh Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy rằng nhiều thai phụ và người nhà đã thực hiện tiếp xúc da kề da và bú sớm, nhưng sự phối hợp vẫn chưa tốt do thai phụ thường gặp phải đau đớn, mệt mỏi và tâm lý chưa ổn định Các hộ sinh cũng đã chia sẻ điều này trong các cuộc thảo luận nhóm Đặc biệt, sản phụ trẻ tuổi hoặc thiếu hiểu biết đúng đắn cũng là yếu tố cản trở sự hỗ trợ trong quy trình Niềm tin của sản phụ có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các hướng dẫn từ hộ sinh, và nhiều người vẫn không tuân theo do thiếu tin tưởng, thói quen từ những lần sinh trước hoặc tác động từ người thân Do đó, việc tư vấn cho sản phụ và người thân trước khi sinh là rất cần thiết để nâng cao sự phối hợp với các hộ sinh.
Điểm mạnh và hạn chế của đề tài
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc đánh giá tuân thủ quy trình CSTY BM-TSS trong đẻ thường, thực hiện tại phòng đẻ với yêu cầu vô khuẩn không cao như tại phòng mổ Tại đây, bác sĩ và nữ hộ sinh thường xuyên làm việc cùng nhau, giúp họ hiểu ý nhau hơn trong quá trình sinh tự nhiên của sản phụ, diễn ra từ từ và không vội vã Đề tài còn có điểm mạnh là áp dụng bảng kiểm đã được cập nhật, bổ sung một số bước so với quy trình của Bộ Y tế, như việc mặc áo ống Việc cập nhật quy trình CSTY BM-TSS tại bệnh viện Xuyên Á tuân theo khuyến nghị hiện hành.
Từ Dũ, thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài giám sát quy trình tại phòng mổ tại HUPH là một lĩnh vực đặc biệt, khác với quy trình đẻ thường tại khoa sản, yêu cầu mức độ vô khuẩn cao nhất Trong quá trình thực hiện, đặc biệt là sau khi lấy thai ra khỏi tử cung, cần tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu và thực hiện cuộc mổ một cách hiệu quả Do đó, khi sản phụ có diễn biến, việc thực hiện các bước sau mổ đẻ thường trở nên khó khăn do phải tập trung vào việc chăm sóc cho mẹ.
Trong quá trình nghiên cứu, nếu nhân viên y tế thể hiện sự lúng túng hoặc bỡ ngỡ trong phỏng vấn và quan sát, ĐTV sẽ đánh giá là họ chưa thực hiện đầy đủ ĐTV sẽ hướng dẫn để quy trình được tiếp tục thực hiện một cách hiệu quả.
Trong nghiên cứu này, nhân viên y tế đã được thông báo trước về việc thực hiện nghiên cứu, dẫn đến việc họ cẩn thận hơn và chú ý đến từng bước trong quy trình Tuy nhiên, kết quả này có thể không phản ánh chính xác chất lượng chăm sóc bệnh nhân khi không còn nghiên cứu Hơn nữa, trong quá trình thực hiện và ngay sau phẫu thuật, với không gian hạn chế và sự giám sát kém hơn liên quan đến công tác vô khuẩn, nhân viên y tế có thể chỉ ghi chép trong hồ sơ mà không thực hiện đầy đủ các bước cần thiết.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá việc tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và sau mổ, từ đó đưa ra khuyến nghị cho phòng quản lý chất lượng và ban giám đốc Bệnh viện đa khoa Xuyên Á về quy trình chuẩn hiện tại Mục tiêu là phát triển các phương pháp giám sát hiệu quả hơn để nâng cao chất lượng bệnh viện Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu còn hạn chế, chưa đủ rộng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng khác, do đó cần có cái nhìn tổng thể hơn để can thiệp vào các khía cạnh điều hành tại Trung tâm Nghiên cứu cũng có thể được xem như một cuộc điều tra xã hội học, nhằm đưa ra khuyến nghị cho các cấp có thẩm quyền trong việc điều chỉnh hành vi cộng đồng thông qua các phương tiện truyền thông và chương trình chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản.