PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2018 Địa điểm: xã Lạc Vệ - huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Đầu tiên, nghiên cứu định lượng được thực hiện, sau đó tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng trong nghiên cứu định tính.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ:
Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu
Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z1-α/2 = 1,96 p: 0,302 (theo nghiên cứu của tác giả trước) [7] d: Khoảng sai lệch chấp nhận được, chọn d = 0,07
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán là n = 165, sau khi dự phòng 10% cho các trường hợp thiếu thông tin, vắng mặt hoặc từ chối tham gia, cỡ mẫu cuối cùng là n = 180 người Từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018, có khoảng 200 phụ nữ đã sinh con và đang mang thai được quản lý tại xã Dựa trên số liệu này, chúng tôi đã chọn mẫu toàn bộ số phụ nữ sinh con trong khoảng thời gian từ 01/09/2017 đến 30/03/2018.
Dựa trên danh sách tiêm chủng và thống kê sổ đẻ tại xã trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018, ban đầu có 214 phụ nữ đã sinh con có hộ khẩu thường trú Tuy nhiên, 12 người không tham gia phỏng vấn vì nhiều lý do như về nhà mẹ đẻ sống, không liên lạc được qua điện thoại, hoặc không gặp được đối tượng sau 3 lần thử Cuối cùng, tổng số đối tượng được nghiên cứu là 202 phụ nữ.
Nghiên cứu định tính được thực hiện với 6 người tham gia, bao gồm 6 phỏng vấn sâu: 3 phụ nữ sau sinh bị TCSS và 3 phụ nữ sau sinh không bị TCSS Mỗi nhóm được chọn với 3 đối tượng có đặc điểm cụ thể: 1 phụ nữ dưới 25 tuổi có trình độ cấp 3, 1 phụ nữ từ 26 đến 30 tuổi có trình độ trung cấp, và 1 phụ nữ trên 30 tuổi có trình độ cấp 2.
Phương pháp thu thập số liệu
Quá trình thu thập số liệu
Quá trình thu thập số liệu được tiến hành trong tháng 4/2018:
Bước 1: Lập danh sách phụ nữ sinh từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018, bao gồm các thông tin như: họ tên đối tượng, ngày tháng năm sinh, địa chỉ liên hệ
Danh sách này chủ yếu được lấy từ sổ tiêm chủng và sổ đẻ của trạm y tế, nơi ghi chép tất cả các trường hợp mà trạm quản lý.
Để thực hiện bước 2, ĐTV sẽ tiếp cận các đối tượng tại gia đình theo địa chỉ trong sổ đẻ và số tiêm chủng, dưới sự hướng dẫn của y tế thôn Quá trình này bao gồm việc sàng lọc các đối tượng, và đối với những ai đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn, ĐTV sẽ giới thiệu về nghiên cứu và mời họ tham gia.
Công cụ thu thập số liệu
Thông tin được thu thập thông qua bộ câu hỏi có cấu trúc gồm hai phần: phỏng vấn và tự điền Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên khung lý thuyết và tham khảo một số nghiên cứu về TCSS trong nước, nhằm thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu Nội dung cụ thể của bộ câu hỏi bao gồm các cấu phần như sau:
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Phần B: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của mẹ
Phần C: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của con
Phần D: Các yếu tố liên quan đến quá trình mang thai và chuyển dạ
Phần E: Các yếu tố liên quan đến môi trường, gia đình và xã hội
Cấu phần tự điền trong hình thức trắc nghiệm tâm lý sử dụng thang đo EPDS cho phép ĐTNC trả lời phiếu một cách chính xác hơn Sau khi thu thập thông tin ở phần A, điều tra viên sẽ cho ĐTNC tự điền phiếu trắc nghiệm trước khi tiến hành phỏng vấn các phần tiếp theo Phương pháp này giúp giảm mệt mỏi cho ĐTNC, đảm bảo họ có thể suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi điền các câu hỏi.
Trước khi thu thập số liệu chính thức tại xã Lạc Vệ, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 đối tượng có điều kiện kinh tế và văn hóa tương đồng với khu vực nghiên cứu Lần thử nghiệm đầu tiên được thực hiện với 3 đối tượng, sau đó bộ công cụ đã được điều chỉnh dựa trên ý kiến phản hồi của họ.
Bộ công cụ đã được thử nghiệm thành công trên 2 đối tượng sau khi phỏng vấn 29 người, và chính thức được đưa vào nghiên cứu Điều tra viên (ĐTV) được chọn là cán bộ của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, có trình độ Thạc sỹ/Cử nhân y tế công cộng và kinh nghiệm làm việc với cộng đồng Trước khi thu thập số liệu tại xã nghiên cứu, các ĐTV đã được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn và nội dung chính của bộ công cụ Nghiên cứu viên cũng đồng thời là ĐTV.
- Công cụ thu thập số liệu: là bản hướng dẫn PVS
Hướng dẫn PVS được áp dụng cho nhóm PNSS để thu thập thông tin về TCSS và các yếu tố liên quan đến TCSS, theo chi tiết trong phụ lục 4.
Sau khi thực hiện điều tra định lượng, chúng tôi đã xác định được nhóm phụ nữ bị TCSS Tiếp theo, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành phỏng vấn sâu với 03 phụ nữ bị TCSS và 03 phụ nữ không bị TCSS.
Toàn bộ số liệu của luận văn được học viên thu thập trực tiếp với sự hướng dẫn và hỗ trợ từ giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu y tế, giúp giải quyết các khó khăn trong quá trình thực hiện.
Để thu thập dữ liệu, chúng tôi áp dụng kỹ thuật PVS, trong đó tất cả các cuộc phỏng vấn đều được ghi âm và điều tra viên ghi chép lại các nội dung chính Địa điểm thu thập dữ liệu do ĐTNC lựa chọn, đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn, thuận tiện và tạo sự tin tưởng cho ĐTNC khi chia sẻ thông tin nhạy cảm.
Bảng 2.1 Cỡ mẫu, chọn mẫu và công cụ thu thấp số liệu
Nhóm đối tƣợng Cỡ mẫu Chọn mẫu Công cụ thu thập số liệu Phụ nữ sau sinh 06 phụ nữ
Chọn chủ đích trong tổng số phụ nữ sau sinh bị trầm cảm theo độ tuổi Sử dụng PVS bán cấu trúc
Không bị TCSS 03 phụ nữ
Chọn chủ đích trong tổng số phụ nữ sau sinh không bị trầm cảm theo độ tuổi
Các biến số/chủ đề nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
- Nhóm yếu tố cá nhân và sức khỏe của mẹ
- Nhóm liên quan đến sức khỏe của trẻ
- Nhóm liên quan đến chăm sóc giai đoạn sau sinh
- Nhóm liên quan đến sự hỗ trợ của gia đình và xã hội
(Chi tiết biến nghiên cứu phụ lục 5) 2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Gồm các nội dung, chủ đề nghiên cứu:
Yếu tố cá nhân của mẹ có ảnh hưởng lớn đến tình trạng sức khỏe sinh sản, bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình hình kinh tế, tình trạng hôn nhân, tiền sử sản khoa, tiền sử bệnh tật và áp lực giới tính trong quá trình sinh nở.
- Yếu tố của con ảnh hưởng đến người mẹ: con dạ/con so, con ốm đau, tính khí con, các khó khăn khi chăm sóc trẻ
- Yếu tố chăm sóc sau sinh: những kiêng cữ sau sinh, nghỉ ngơi sau sinh, mất ngủ
- Yếu tố hỗ trợ sau sinh: những hỗ trợ của gia đình, chồng với PNSS
- Các khuyến nghị giải pháp làm giảm/tránh tình trạng TCSS cho phụ nữ trên địa bàn xã.
Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
Trầm cảm sau sinh được đánh giá thông qua thang đo EPDS, trong đó câu 1, 2 và 4 có cách tính điểm tăng dần từ 0 đến 3 Ngược lại, các câu 3, 5 đến 10 tính điểm giảm dần từ 3 xuống 0.
Thang đo có tổng điểm từ 0 đến 30, và trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng điểm cắt 12/13, đây là mức điểm được tác giả khuyến nghị và thường được sử dụng trong các nghiên cứu tại Việt Nam.
Kết quả của thang đo với tổng điểm 0 đến 30 được phân biệt như sau:
- Tổng điểm các câu ≤ 12: Không bị trầm cảm
- Tổng điểm các câu > 12: Bị trầm cảm
Thang đo Likert 5 mức độ (từ rất tốt đến rất không tốt) được sử dụng để ĐTNC tự đánh giá mối quan hệ với các thành viên trong gia đình Kết quả phân loại cho thấy nếu ĐTNC trả lời là rất tốt hoặc tốt, thì mối quan hệ được xem là tốt; ngược lại, nếu ĐTNC chọn các mức độ còn lại, mối quan hệ sẽ được coi là không tốt.
Theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2016 – 2020, hộ gia đình gặp khó khăn về kinh tế được xác định là những hộ có thu nhập dưới 900.000 đồng/người/tháng ở thành phố và dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn.
Quản lý và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu, với 5-10% phiếu được nhập lại ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính chính xác Dữ liệu dưới định dạng Epidata sẽ được chuyển sang SPSS để thực hiện quá trình làm sạch và phân tích.
Kiểm tra tính logic và nhất quán của bộ câu hỏi được thực hiện qua hai phương pháp: đầu tiên, sử dụng tính năng kiểm tra lập trình của phần mềm Epidata để kiểm tra tính nhất quán trong quá trình nhập số liệu; thứ hai, viết các lệnh kiểm tra để đảm bảo tính chính xác.
Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích số liệu
Phương pháp phân tích thống kê mô tả được sử dụng để đánh giá thực trạng TCSS Mối liên hệ giữa hai biến được xác định thông qua kiểm định khi bình phương với mức ý nghĩa là 0,05.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt và cho phép thực hiện từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2018.
Hội đồng đã thông qua nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn Quốc tế Tất cả các đối tượng tham gia được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, và họ có quyền tự nguyện tham gia cũng như dừng lại bất kỳ lúc nào trong quá trình phỏng vấn Thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không cho bất kỳ mục đích nào khác Ngoài ra, các đối tượng nghiên cứu sẽ được tư vấn và giới thiệu dịch vụ y tế nếu có nhu cầu.
Sự riêng tư và bí mật của cá nhân được đảm bảo như sau:
- Việc đảm bảo tính riêng tư và bí mật cá nhân của đối tượng nghiên cứu luôn được nhấn mạnh với điều tra viên trong quá trình tập huấn
- Điều tra viên đọc bản đồng ý tham gia nghiên cứu cho tất cả các đối tượng tham gia
- Tất cả các cuộc phỏng vấn đều được tiến hành ở nơi đảm bảo bí mật, riêng tư HUPH
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng trầm cảm sau sinh của các bà mẹ
3.2.1 Dấu hiệu lâm sàng của trầm cảm sau sinh
Trong quá trình tiếp xúc và phỏng vấn, phụ nữ bị trầm cảm sau sinh (TCSS) thường có dấu hiệu buồn bã, ít cười và không quan tâm đến những sự việc xung quanh Họ cũng không còn cảm thấy vui vẻ với những sở thích mà trước đây họ yêu thích Bảng 3.2 cung cấp thông tin chi tiết về điểm số các câu trả lời theo thang đo EPDS.
Bảng 3.2: Mô tả chi tiết các dấu hiệu theo thang đo EPDS
Cũng nhƣ trước đây Ít hơn trước đây
Chắc chắn là ít hơn trước đây
1 Cười và cảm nhận những điều vui vẻ
2 Nhìn về tương lai với niềm hân hoan
Có hầu hết mọi lúc
3 Thường đổ lỗi cho mình nếu sự việc xảy ra không theo mong muốn
Hiếm khi Có, thỉnh thoảng
Có, nhiều lần cảm thấy thế
4 Cảm thấy lo âu và lo sợ một cách vô cớ
Có hầu hết mọi lúc
5 Cảm thấy sợ hãi và hoảng hốt một cách vô cớ
6 Cảm thấy công việc bận rộn 97
7 Cảm thấy buồn rầu đến mức khó ngủ
8 Cảm thấy buồn hay khổ sở 2
9 Cảm thấy buồn rầu đến mức phát khóc
10 Cảm nghĩ không muốn sống nữa
Theo Bảng 3.2, có 26,7% phụ nữ cho biết họ cười và cảm thấy vui vẻ ít hơn so với trước đây, 25,7% cảm thấy lo âu và sợ hãi mà không có lý do rõ ràng, và 1% cảm thấy buồn bã, khổ sở.
36 sở, 0,5% trả lời không muốn sống và 3,5% phụ nữ nghĩ rằng mình không muốn sống
Nghiên cứu định tính qua PVS phụ nữ sau sinh đã cung cấp thông tin quan trọng về cảm xúc và suy nghĩ của phụ nữ bị trầm cảm sau sinh (TCSS).
"Em hiện tại chỉ sống vì con cái, không còn hứng thú với bất kỳ điều gì khác Em không có bạn bè, nên sau khi đi làm về, em chỉ chăm sóc con, không đi đâu và cũng không có niềm vui nào Giờ đây, con em là tất cả đối với em."
"Nhiều lúc tôi cảm thấy không muốn sống nữa, nhưng tôi không thể để con mình phải chịu khổ Con đã không được bố chăm sóc và yêu thương, nếu tôi ra đi thì con sẽ ra sao?"
Trong quá trình thu thập thông tin, phụ nữ bị TCSS thường dễ dàng chia sẻ những vấn đề cá nhân của họ Họ thường bộc bạch nhiều thông tin mà không cần phải được hỏi, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐTV trong việc thu thập dữ liệu.
3.2.2 Tỷ lệ TCSS theo đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 3.3: Tỷ lệ TCSS theo đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ Đặc điểm Tổng
TB điểm EPDS của quần thể (TB ± SD)
TB điểm EPDS của nhóm TCSS (TB ± SD)
Trung học cơ sở trở xuống 23 4 (17,4) 6,2 ± 0,5 19,1 ± 1,8 Phổ thông cơ sở 100 10 (10) 9,4 ± 1,3 17,0 ± 1,5 Trung cấp/cao đẳng/đại học trở 79 8 (10,1) 11 ± 2,1 17,5 ± 0,7
TB điểm EPDS của quần thể (TB ± SD)
TB điểm EPDS của nhóm TCSS (TB ± SD) lên
Bảng 3.3 cho kết quả tỷ lệ TCSS theo các đặc điểm nhân khẩu học của mẹ:
Tỷ lệ trầm cảm sau sinh (TCSS) ở dân tộc Kinh là 10,8%, trong khi ở các dân tộc khác là 11,1% Điểm EPDS trung bình của các bà mẹ thuộc dân tộc khác cao hơn so với các bà mẹ dân tộc Kinh.
Nhóm tuổi: tỷ lệ TCSS ở nhóm từ 25 tuổi trở xuống là 13,3%, trung bình điểm EPDS ở nhóm này cao nhất trong các nhóm tuổi phân tích
Tỷ lệ trầm cảm sau sinh (TCSS) ở các bà mẹ có trình độ học vấn trung học cơ sở trở xuống là 17,4%, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm có trình độ phổ thông cơ sở là 10% và nhóm trung cấp trở lên là 10,1% Đặc biệt, điểm trung bình của thang đo trầm cảm EPDS ở nhóm phụ nữ có trình độ trung cấp trở lên cao nhất, đạt 11 ± 2,1.
Tỷ lệ trầm cảm sau sinh (TCSS) ở phụ nữ làm công nhân là 10,5%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm nội trợ và làm ruộng chỉ là 4% Đặc biệt, nhóm cán bộ viên chức có tỷ lệ TCSS cao nhất với 23,1% Điểm trung bình EPDS của các bà mẹ làm cán bộ viên chức cũng là cao nhất so với các nhóm khác.
3.2.3 Tỷ lệ TCSS theo tình trạng hộ gia đình
Bảng 3.4: Tỷ lệ TCSS theo tình trạng hộ gia đình Đặc điểm Tổng
TB điểm EPDS quần thể (TB ± SD)
TB điểm EPDS nhóm TCSS (TB ± SD)
Ly thân/ly dị/chưa có chồng
Sống chung hai vợ chồng 195 19 (9,7) 5,8 ± 0,4 17,1 ± 0,9
Phụ thuộc vào chồng/gia đình 24 6 (25) 9,8 ± 1,6 20,0 ± 0,9
Không phụ thuộc vào chồng/gia đình
Nơi cƣ trú hiện tại
2 vợ chồng 68 5 (7,4) 4,9 ± 0,5 15,6 ± 1,7 Sống chung với bố mẹ/nhà thuê 134 17 (12,7) 6,5 ± 0,5 18,4 ± 0,8
Bảng 3.4 cho kết quả tỷ lệ TCSS theo tình trạng hộ gia đình:
Tình trạng hôn nhân: tỷ lệ TCSS ở phụ nữ sống ly thân/ly dị/chưa chồng là
42,9% Trung bình điểm EPDS ở nhóm này cao hơn nhóm sống chung hai vợ chồng
Tình trạng kinh tế của phụ nữ sống phụ thuộc vào gia đình chồng có tỷ lệ TCSS là 25%, và điểm EPDS trung bình của nhóm này cao hơn so với nhóm không phụ thuộc kinh tế.
Tỷ lệ trầm cảm sau sinh (TCSS) ở các bà mẹ sống tại nhà của hai vợ chồng là 7,4% Điểm trung bình của thang đo EPDS ở nhóm sống chung với bố mẹ hoặc nhà thuê cao hơn so với nhóm sống tại nhà của mình.
3.2.2 Tỷ lệ TCSS ở phụ nữ theo tháng tuổi của trẻ
Trầm cảm sau sinh thường xuất hiện trong vòng 4 tuần đầu sau khi sinh Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhóm phụ nữ từ 1 tháng đến 6 tháng sau sinh, khoảng thời gian mà nhiều nghiên cứu khác cũng đã lựa chọn để khảo sát thực trạng trầm cảm sau sinh.
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ TCSS theo tháng tuổi của trẻ
Kết quả từ biểu đồ 3.1 cho thấy, tỷ lệ trầm cảm sau sinh cao nhất ở tháng thứ
1 sau sinh (27,3%), sau đó là tháng thứ 4 sau sinh (22,7%), thấp nhất là tháng thứ 3 sau sinh (9,1%)
Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho biết một số thông tin:
Sau khi sinh con, cuộc sống của tôi đã hoàn toàn thay đổi Ngày nào cũng chỉ lo cho sữa và bỉm, thậm chí có những hôm con ăn ít hay ngủ không đủ giấc cũng khiến tôi lo lắng Khi tổ chức đầy tháng cho con, mọi người vui vẻ nhưng tôi lại không cảm thấy hạnh phúc, thậm chí đôi khi nhìn con khóc mà tôi không có tâm trạng dỗ dành Tôi cảm thấy tội lỗi vì đôi khi có những cảm xúc tiêu cực, như ghét việc phải chăm sóc con.
3.2.3 Tỷ lệ TCSS theo số con
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ TCSS theo số con của bà mẹ
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS cao nhất là 45,5% ở các bà mẹ có 03 con, trong khi tỷ lệ này thấp nhất, chỉ 4,5%, ở các bà mẹ có 04 con Đáng chú ý, tỷ lệ TCSS ở các bà mẹ sinh con so và sinh 02 con là tương đương nhau.
3.2.3 Thực trạng trầm cảm sau sinh của các bà mẹ trong nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ PNSS có dấu hiệu trầm cảm trong mẫu nghiên cứu
Theo thang đo EPDS, trong tổng số 202 đối tượng nghiên cứu, có 22 phụ nữ biểu hiện dấu hiệu trầm cảm sau sinh, tương đương với tỷ lệ 10,2% Điểm trung bình cho thấy mức độ trầm cảm của nhóm này.
41 bình thang đo EPDS của nghiên cứu là 8,9 điểm, thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 27 điểm.
Xác định một số yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh của các bà mẹ
3.3.1 Yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân và sức khỏe của mẹ
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm nhân khẩu học của mẹ Đặc điểm
Cán bộ/buôn bán/nội trợ/làm ruộng 8 (11,6) 61 (88,4) 1,1
Kết quả của nghiên cứu cho thấy TCSS và tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
Nghề nghiệp không ổn định có mối liên quan thống kê đáng kể với tình trạng TCSS ở phụ nữ (p0,05).
Nghiên cứu này không xem xét trầm cảm thai kỳ, cũng như không đánh giá khó khăn trong quá trình chuyển dạ hay các tai biến sau sinh, do đó không phân tích các yếu tố này.
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm tâm lý của người mẹ Đặc điểm
Không n (%) Thai kỳ đƣợc mong đợi
Giới tính con nhƣ mong đợi
Lo lắng/phiền muộn khác ngoài việc sinh con
Không 14 (8,5) 151 (91,5) Áp lực giới tính
Nghiên cứu cho thấy thai kỳ/giới tính con như mong đợi trong lần sinh này với tỷ lệ TCSS không có mối liên quan với p>0,05
Mặc dù áp lực giới tính trong việc sinh con trai đã giảm, nhưng vẫn còn tồn tại ở các xã nông thôn Các bà mẹ chịu áp lực giới tính khi sinh có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh (TCSS) cao gấp 4,7 lần so với những bà mẹ không gặp phải áp lực này (p