ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh 6 - 11 tuổi đang học ở một số trường tiểu học thuộc tỉnh Đắk Lắk
- Cha/mẹ/người chăm sóc chính (NCSC) của các học sinh được chọn
- Người chăm sóc chính là người trực tiếp nuôi dưỡng học sinh
+ Cha/mẹ/NCSC và trẻ đồng ý tham gia NC, hợp tác và có khả năng trả lời các câu hỏi trong NC
+ Học sinh có tên trong lớp được chọn nhưng vắng mặt tại buổi NC
+ Trẻ bị tàn tật (cong vẹo cột sống, dị tật bàn chân ) ảnh hưởng đến cân đo.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020
Trường Phan Chu Trinh, Võ Thị Sáu, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du và Hoàng Văn Thụ đều nằm trong tỉnh Đắk Lắk.
Thiết kế nghiên cứu
- Giai đoạn 1: NC mô tả cắt ngang xác định tỷ lệ TC-BP ở HS tiểu học
- Giai đoạn 2: Thiết kế NC bệnh - chứng để xác định một số yếu tố liên quan đến TC-BP ở HS tiểu học.
Cỡ mẫu nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu giai đoạn 1: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ d DE p n p ( 1 )
+ n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết của nghiên cứu
+ Z: Hệ số tin cậy Với α = 0,05 thì Z 1-α/2 = 1,96
+ p: Lấy p = 0,336, tỷ lệ học sinh TC-BP thành phố Thái Nguyên năm 2019 của tác giả Trần Thị Huyền Trang (54)
+ DE: hệ số thiết kế mẫu, lấy DE = 2
Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 685 học sinh, sau khi thêm 10% mẫu dự phòng, tổng số mẫu cần thu thập là 755 học sinh Tuy nhiên, trong thực tế, nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 1029 học sinh tiểu học.
2.4.2 Cỡ mẫu giai đoạn 2: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh – chứng (81)
+ p1: Tỷ lệ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ của nhóm học sinh thừa cân, béo phì
+ p0: Tỷ lệ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ của nhóm học sinh không thừa cân, béo phì
+ ε: Độ chính xác mong muốn (chênh lệch tỷ số chênh (OR) thực của quần thể và (OR) thu được từ mẫu) ε = 0,5
Bảng 2.1 Tính cỡ mẫu bệnh chứng với một số YT liên quan đến TC-BP của trẻ (69)
Chỉ số BMI của cha ≥ 25 0,34 0,66 72
Chỉ số BMI của mẹ ≥ 25 0,38 0,62 68
Mẹ có nghề nghiệp là cán bộ viên chức 0,3 0,7 77
Kiến thức về phòng, chống TC-BP của phụ huynh trẻ không đạt 0,28 0,72 80
Thu nhập gia đình từ mức khá trở lên 0,33 0,67 73
CN của trẻ lúc sinh ≥3200 gram 0,28 0,72 80
Trẻ được đưa đón khi đi học 0,275 0,725 81
Dựa vào bảng kết quả và điều kiện tài chính, chúng tôi quyết định chọn cỡ mẫu cho nhóm bệnh là 80 học sinh TC-BP.
Tỷ số giữa nhóm bệnh và nhóm chứng trong nghiên cứu được xác định là 1:2, tức là 1 bệnh nhân cho mỗi 2 người chứng Do đó, có 160 học sinh không mắc bệnh được chọn vào nhóm chứng, tổng số mẫu phân tích trong nghiên cứu là 240 học sinh.
Phương pháp chọn mẫu
- Giai đoạn 1: Sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn
+ Bước 1: Chọn thành phố (thị xã) và huyện - ngẫu nhiên phân tầng
Danh sách nghiên cứu bao gồm thành phố Buôn Ma Thuột và thị xã Buôn Hồ, trong đó thành phố Buôn Ma Thuột được chọn ngẫu nhiên làm điểm nghiên cứu đầu tiên.
Trong tỉnh Đắk Lắk, có 13 huyện bao gồm Buôn Đôn, Cư Kuin, Cư M’gar, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắk, Lắk và M’Đrắk Huyện Buôn Đôn đã được chọn ngẫu nhiên làm điểm nghiên cứu thứ hai.
+ Bước 2: Chọn trường - ngẫu nhiên phân tầng không tỷ lệ
Tại TP Buôn Ma Thuột, hai danh sách trường tiểu học đã được lập Danh sách trường thuộc trung tâm thành phố bao gồm trường Phan Chu Trinh và trường Võ Thị Sáu, được chọn qua bốc thăm ngẫu nhiên Trong khi đó, danh sách trường thuộc ngoại thành gồm trường Trần Quốc Tuấn và trường Nguyễn Trãi cũng được xác định bằng hình thức bốc thăm ngẫu nhiên.
Tại huyện Buôn Đôn, đã lập hai danh sách trường tiểu học: danh sách các trường thuộc trung tâm huyện, trong đó trường Lương Thế Vinh và trường Nguyễn Du được chọn qua bốc thăm ngẫu nhiên; và danh sách các trường tiểu học xa trung tâm huyện, với trường Lê Quý Đôn và trường Hoàng Văn Thụ cũng được chọn qua bốc thăm ngẫu nhiên.
Vậy chọn được 8 trường TH để nghiên cứu
+ Bước 3: Chọn lớp - ngẫu nhiên phân tầng và chọn cụm
Mỗi lớp có khoảng 20-30 học sinh nên lấy 40 lớp để NC và chia đều các khối
Mỗi khối là một tầng, trong mỗi khối của mỗi trường được chọn ở trên, chọn ngẫu nhiên 1 lớp theo hình thức bốc thăm ngẫu nhiên (cụm)
Tại mỗi lớp được chọn, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ tất cả các học sinh có mặt trong buổi điều tra và đáp ứng tiêu chí chọn mẫu để đo chiều cao và cân nặng Tổng cộng có 1029 học sinh tham gia vào nghiên cứu này.
Giai đoạn 2 của quá trình đánh giá tình trạng TC-BP bắt đầu sau khi hoàn tất giai đoạn 1 NCV đã lập danh sách học sinh tham gia đánh giá, chia thành hai nhóm: (1) TC-BP và (2) Không TC/BP Danh sách này bao gồm họ tên, tuổi, lớp và tình trạng TC-BP của từng học sinh, với mỗi danh sách được đánh số thứ tự riêng biệt từ 1 đến hết.
Trong một nghiên cứu về tình trạng thừa cân và béo phì, có 342 học sinh được xác định mắc phải vấn đề này Nhằm mục đích khảo sát, NCV đã ngẫu nhiên chọn 80 học sinh từ nhóm 342 học sinh bị thừa cân và béo phì bằng cách sử dụng bảng số ngẫu nhiên.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm chứng được chọn dựa trên các tiêu chí cụ thể NCV đã rà soát và giới hạn danh sách học sinh cùng lớp, cùng giới, cùng tuổi và không bị TC-BP Sử dụng bảng số ngẫu nhiên, 2 học sinh không bị TC-BP với các đặc tính tương tự đã được chọn Tổng số học sinh không bị TC-BP trong nhóm chứng là 160.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua phiếu ĐT nhân trắc học và phỏng vấn cha mẹ hoặc người chăm sóc chính của trẻ bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.
Phiếu điều tra nhân trắc học và bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết và tổng quan tài liệu, đồng thời tham khảo một số nghiên cứu liên quan đến thể chất và bệnh tật ở học sinh tiểu học Trước khi tiến hành nghiên cứu, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 10 phụ huynh có con đang học tiểu học để đánh giá tính phù hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu.
Sử dụng thước đo DD 3 mảnh bằng gỗ của Unicef với độ chính xác 1mm để thu thập số đo nhân trắc trẻ, bao gồm chiều cao Đồng thời, cân đồng hồ điện tử Omron HN được sử dụng để đo trọng lượng.
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số đo nhân trắc gồm: nhân trắc (chiều cao, cân nặng), tuổi, giới, dân tộc (Phiếu điều tra thiết kế sẵn – phụ lục 2)
Chiều cao của trẻ được đo khi trẻ đứng thẳng, mắt nhìn về phía trước Trong quá trình đo, có 5 điểm tiếp xúc với thước: chẩm, vai, mông, bắp chân và gót Kết quả chiều cao được ghi bằng mét với 3 chữ số thập phân.
+ Cân nặng : Trẻ được cởi bỏ áo quần, chỉ giữ áo quần mỏng Số liệu cân nặng được ghi bằng kg với 1 số lẻ
Tuổi của học sinh được xác định dựa trên số liệu trong học bạ, tính theo số tháng tuổi tại thời điểm nghiên cứu Mẫu nghiên cứu không bao gồm học sinh dưới 72 tháng tuổi hoặc trên 143 tháng tuổi.
Bảng 2.2 Bảng tính tuổi quy ước
6 tuổi từ tròn 72 tháng đến 83 tháng
7 tuổi từ tròn 84 tháng đến 95 tháng
8 tuổi từ tròn 96 tháng đến 107 tháng
9 tuổi từ tròn 108 tháng đến 119 tháng
10 tuổi từ tròn 120 tháng đến 131 tháng
11 tuổi từ tròn 132 tháng đến 143 tháng
Để xác định mối liên quan, nhóm nghiên cứu đã thu thập số liệu từ hai nhóm học sinh: nhóm học sinh TC-BP và nhóm học sinh bình thường Đội ngũ thực hiện phỏng vấn phụ huynh bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn, nhằm thu thập thông tin về các yếu tố liên quan như thói quen ăn uống của trẻ, tình trạng không tham gia các hoạt động thể lực, kiến thức của phụ huynh về phòng chống TC-BP cho trẻ, và thu nhập của gia đình.
2.6.3 Quy trình thu thập số liệu
- Nghiên cứu viên liên hệ với Sở giáo dục, Phòng giáo dục xin giấy giới thiệu
- Tổ chức đi tiền trạm lấy giấy đồng ý tham gia nghiên cứu, thống nhất kế hoạch và thời gian thu thập số liệu tại 8 trường được chọn
- Điều tra thử trên 10 phụ huynh có con đang học tiểu học, xem xét rút kinh nghiệm và chỉnh sửa hoàn thiện bộ câu hỏi
Trong quá trình tập huấn điều tra viên, nghiên cứu viên đã mời 06 cán bộ từ Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên tham gia làm điều tra viên cho nghiên cứu Các điều tra viên được đào tạo về mục đích của nghiên cứu, kỹ thuật đo chiều cao và cân nặng, cũng như cách thu thập thông tin của trẻ Họ cũng được hướng dẫn để hiểu rõ các câu hỏi và câu trả lời trong phiếu phỏng vấn phụ huynh học sinh.
HUPH sinh (nhóm học sinh TC-BP và nhóm chứng), nắm được thời gian thu thập số liệu cụ thể của từng trường
- Tiến hành thu thập số đo nhân trắc học sinh của 8 trường: Phan Chu Trinh,
Võ Thị Sáu, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Nguyễn
Du và Hoàng Văn Thụ
- Nhập và xử lý số liệu để tìm ra nhóm TC-BP và nhóm chứng
Sau khi xác định nhóm học sinh TC-BP và nhóm không TC-BP, GVCN sẽ gửi giấy mời phụ huynh đến trường Tại đây, điều tra viên sẽ phỏng vấn phụ huynh bằng cách đọc câu hỏi và hướng dẫn họ chọn đáp án, đặc biệt đối với các câu hỏi nhiều lựa chọn Nghiên cứu viên sẽ giám sát quá trình thu thập dữ liệu và đảm bảo nhận đủ số phiếu đã phát cho điều tra viên.
Các nhóm biến số chính
- Nhóm biến số về thông tin của trẻ: Ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc,
Nhóm biến số liên quan đến cha/mẹ/NCSC bao gồm các yếu tố như mối quan hệ với trẻ, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú, chiều cao và cân nặng của cha/mẹ, tình trạng sức khỏe của trẻ lúc sinh, số lượng con trong gia đình, thứ tự sinh của trẻ, thời gian chăm sóc trẻ mỗi ngày, và thu nhập hàng tháng của gia đình.
- Nhóm biến số về kinh tế xã hội: Hình thức học, tiếp cận quảng cáo/thức ăn nhanh
Nhóm biến số liên quan đến thói quen ăn uống của trẻ bao gồm số bữa chính và bữa phụ trong ngày, mức độ háu ăn (ăn nhanh), sở thích về thực phẩm như nước ngọt, bánh kẹo ngọt, thực phẩm béo, và thức ăn nhanh.
Nhóm biến số liên quan đến vận động của trẻ bao gồm phương tiện di chuyển đến trường, thời gian sử dụng tivi, máy tính, smartphone và iPad, thời gian tham gia các hoạt động thể thao, thời gian bắt đầu đi ngủ vào buổi tối, cũng như tổng thời gian ngủ trong một ngày.
- Chi tiết các biến số NC trình bày trong phụ lục 1
Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì
Đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì (TC-BP) ở trẻ em từ 6 đến 11 tuổi được thực hiện thông qua chỉ số Z-Score BMI theo tuổi và giới tính Nếu chỉ số Z-Score BMI vượt quá +1SD, trẻ được xác định là thừa cân (TC), và nếu vượt quá +2SD, trẻ được phân loại là béo phì (BP).
- Đánh giá kiến thức về P/C TC-BP của phụ huynh học sinh:
Bảng 2.3: Bảng chấm điểm về kiến thức của cha/mẹ/người chăm sóc chính về phòng, chống thừa cân - béo phì
STT Câu hỏi Trả lời Điểm
Theo anh/chị trong mỗi bữa ăn chính trẻ cần ăn các nhóm thực phẩm nào?
99 Không biết/không trả lời 0
E.44 Theo anh/chị trẻ nên ăn bao nhiêu bữa một ngày?
1 Ăn 3 bữa chính và 1 bữa ăn phụ 1
2 Ăn càng nhiều bữa càng tốt 0
99 Không biết/không trả lời 0
Theo anh/chị nguyên nhân nào dẫn đến trẻ bị thừa cân, béo phì?
1 Ăn dư năng lượng và các chất dinh dưỡng so với khuyến nghị 1
2 Ăn nhiều chất béo, ngọt, ăn vặt, ăn nhiều thức ăn nhanh 1
3 Ít tham gia các hoạt động thể lực 1
4 Xem tivi/chơi game nhiều giờ trong ngày 1
99 Không biết/không trả lời 0
Theo anh/chị làm thế nào để phòng, chống thừa cân, béo phì cho trẻ ?
1 Ăn đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng theo nhu cầu khuyến nghị 1
3 Hạn chế ăn các bữa ăn đêm trước khi đi ngủ 1
4 Không nên dự trữ bánh, kẹo, nước ngọt trong nhà 1
99 Không biết/không trả lời 0
Theo anh/chị trẻ bị thừa cân, béo phì nên ăn những loại thực phẩm nào?
2 Thịt nạc/ thịt gia cầm 1
4 Thực phẩm giàu chất béo, ngọt, tinh bột, thức ăn nhanh 0
99 Không biết/không trả lời 0 Theo anh/chị trẻ bị thừa cân, béo phì nên
1 Thức ăn nhiều chất béo, thức ăn nhanh 1
E.48 hạn chế ăn những loại thực phẩm/thức ăn nào?
2 Nước ngọt đóng chai, bánh kẹo ngọt 1
3 Trái cây, rau xanh, Cá và hải sản,
Thịt nạc/ thịt gia cầm 0
99 Không biết/không trả lời 0
Theo anh/chị trẻ bị thừa cân, béo phì nên có chế độ vận động thế nào?
1 Tăng cường vận động (tập thể dục, chạy nhảy, chơi đùa,…) 1
4 Không nên tập thể dục vì làm trẻ mệt 0
99 Không biết/không trả lời 0 E.50
Theo anh/chị thừa cân, béo phì có ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ không?
99 Không biết/không trả lời 0
Nếu có thì ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
1 Ảnh hưởng đến hệ thống xương khớp, ảnh hưởng tâm lý trẻ 1
2 Rối loạn lipid máu, dễ bị mắc các bệnh tim mạch 1
99 Không biết/không trả lời 0 E.52
Nếu anh/chị thấy con anh/chị bị TC-BP, thì anh/chị cho trẻ ăn như thế nào?
99 Không biết/không trả lời 0
Nếu hạn chế thì hạn chế loại thức ăn nào sau đây?
1 Cơm, bánh mì, phở, bún, thịt mỡ 1
3 Sữa và các sản phẩm của sữa 0
4 Thịt nạc, rau xanh, hoa quả 0
Tổng điểm tối đa về kiến thức phòng, chống tai nạn và bạo lực đối với trẻ em của cha/mẹ/người chăm sóc chính là 20 điểm Điểm số cao hơn cho thấy sự hiểu biết tốt hơn của phụ huynh về các biện pháp phòng ngừa tai nạn và bạo lực Kiến thức này của phụ huynh được đánh giá qua số điểm trả lời.
“đạt” khi tổng số điểm đạt từ 75% trở lên, tức từ 19 điểm trở lên, dưới 19 điểm là
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập xong được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 Phân
HUPH sử dụng phần mềm SPSS 18 để tích hợp và xử lý số liệu với các phân tích thống kê mô tả phù hợp Dữ liệu được trình bày qua bảng tần số, tỷ lệ và trung bình Mối liên quan giữa TC-BP và YT sẽ được đánh giá thông qua kiểm định khi bình phương và tỷ số chênh (OR), cùng với khoảng tin cậy 95% của OR.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban Giám hiệu các trường và phụ huynh học sinh Các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Sự tham gia của các đối tượng là hoàn toàn tự nguyện.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi chỉ thực hiện việc cân trọng lượng và đo chiều cao của học sinh Việc điều tra được thực hiện thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn dành cho người chăm sóc chính, với sự chấp thuận của phụ huynh học sinh Các câu hỏi này hoàn toàn phục vụ cho mục đích nghiên cứu và không gây tổn hại về tinh thần hay vật chất Thông tin của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật, và kết quả nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích khoa học, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 47/2020/YTCC-HD3 ngày 20 tháng 2 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố của học sinh theo trường và giới tính
Bảng 3.1 cho thấy sự phân bố của đối tượng nghiên cứu theo trường và giới tính, trong đó Trường Võ Thị Sáu có số lượng học sinh tham gia nghiên cứu cao nhất, đạt 149 học sinh.
Trường Nguyễn Du có số lượng học sinh (HS) thấp nhất với 110 HS, trong khi sự phân bố giới tính của HS tại các trường tương đối đồng đều, với 512 HS nam (49,8%) và 517 HS nữ (50,2%) Tuy nhiên, trường Trần Quốc Tuấn ghi nhận sự chênh lệch giới tính lớn nhất, với 56,0% là nam và 44,0% là nữ.
Bảng 3.2: Đặc điểm chung của học sinh Đặc điểm Tần số (n29) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.2 cho thấy sự phân bổ tuổi của học sinh trong nghiên cứu không đồng đều, với tỷ lệ 6 tuổi chiếm 8,3%, 7 tuổi 20,4%, 8 tuổi 18,9%, 9 tuổi 20,8%, 10 tuổi 19,5% và 11 tuổi 12,1% Đặc biệt, học sinh dân tộc Kinh chiếm 81,3%, trong khi dân tộc thiểu số chỉ chiếm 18,7%.
Bảng 3.3 Thông tin chung của trẻ trong nghiên cứu bệnh chứng Đặc điểm Tần số (n$0) Tỷ lệ (%)
Trong nghiên cứu bệnh - chứng với 240 học sinh, có sự phân bố không đồng đều về độ tuổi, giới tính và dân tộc Nhóm 10 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 26,25%, tiếp theo là nhóm 7 và 8 tuổi đều 20,0%, nhóm 9 tuổi 17,5%, nhóm 11 tuổi 10,05% và nhóm 6 tuổi thấp nhất với 6,25% Tỷ lệ học sinh nữ (53,75%) cao hơn học sinh nam (46,25%) Về dân tộc, học sinh dân tộc Kinh chiếm 75,8%, trong khi dân tộc thiểu số chiếm 24,2%.
Bảng 3.4: Đặc điểm chung của người chăm sóc trẻ
TT Thông tin chung của người chăm sóc trẻ Tần số
Mù chữ Tiểu học THCS THPT Trung cấp trở lên
Công nhân Nông dân Buôn bán Khác
Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ tham gia phỏng vấn của mẹ là 77,5%, cha là 22,1% và 0,4% là người khác Trình độ học vấn của cha/mẹ/NCSC của học sinh chủ yếu là từ trung cấp trở lên (37,1%), trong khi tỷ lệ mù chữ chỉ chiếm 2,1% Nghề nghiệp của cha/mẹ/NCSC chủ yếu là nông dân (45,0%), tiếp theo là cán bộ viên chức (24,6%), buôn bán (17,9%) và công nhân (4,6%) Dân tộc Kinh chiếm 75,8%, trong khi dân tộc thiểu số chiếm 24,2% Về thu nhập hàng tháng, 32,1% gia đình có thu nhập dưới 3 triệu đồng, 27,1% từ 3-6 triệu đồng, 23,3% từ 6-10 triệu đồng và 17,5% trên 10 triệu đồng.
Bảng 3.5: Bảng mô tả kiến thức của cha/mẹ/người chăm sóc chính về phòng, chống thừa cân - béo phì (n$0)
TT Kiến thức Tần số Tỷ lệ %
Các nhóm thực phẩm trẻ cần ăn trong mỗi bữa ăn chính
99 Không biết/không trả lời 35 14,6
Một ngày trẻ nên ăn bao nhiêu bữa
1 3 bữa ăn chính và 1 bữa ăn phụ 217 90,4
2 Ăn càng nhiều bữa càng tốt 07 2,9
99 Không biết/không trả lời 16 6,7
Nguyên nhân dẫn đến trẻ bị thừa cân,béo phì
1 Ăn dư năng lượng và các chất dinh dưỡng so với khuyến nghị 110 45,8
2 Ăn quá nhiều chất béo, ngọt, ăn vặt, ăn nhiều thức ăn nhanh 194 80,8
3 Ít tham gia các hoạt động thể lực 118 49,2
4 Xem tivi/chơi game nhiều giờ trong ngày 55 22,9
99 Không biết/không trả lời 30 12,5
Làm thế nào để phòng thừa cân, béo phì cho trẻ
1 Ăn đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng so với khuyến nghị 154 64,2
3 Hạn chế ăn các bữa ăn đêm trước khi đi ngủ 134 55,8
4 Không nên dự trữ bánh, kẹo, nước ngọt trong nhà 98 40,8
99 Không biết/không trả lời 26 10,8
Những loại thức ăn trẻ bị thừa cân, béo phì nên ăn
2 Thịt nạc/thịt gia cầm 79 32,9
4 Thực phẩm giàu chất béo, ngọt, tinh bột, thức ăn nhanh 16 6,7
99 Không biết/không trả lời 25 10,4
Những loại thức ăn trẻ bị thừa cân, béo phì nên hạn chế ăn
1 Thức ăn nhiều chất béo, thức ăn nhanh 197 82,1
2 Nước ngọt đóng chai, bánh kẹo ngọt 155 64,6
3 Trái cây, rau xanh, cá, hải sản, thịt nạc/thịt gia cầm 18 7,5
99 Không biết/không trả lời 20 8,3
Chế độ vận động của trẻ thừa cân, béo phì
1 Tăng cường vận động (tập thể dục, chạy nhảy, chơi đùa,…) 217 90,4
4 Không nên tập thể dục vì làm trẻ mệt 0 0
99 Không biết/không trả lời 15 6,3
Thừa cân, béo phì có ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ không
99 Không biết/không trả lời 16 6,7 Ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào
1 Ảnh hưởng đến hệ thống xương khớp, ảnh hưởng tâm lý trẻ 125 52,1
2 Rối loạn lipid máu, dễ bị mắc các bệnh tim mạch 165 68,8
99 Không biết/không trả lời 22 9,2
Nếu thấy con bị thừa cân, béo phì thì cho trẻ ăn như thế nào
99 Không biết/không trả lời 18 7,5
Nếu hạn chế thì hạn chế loại thức ăn nào
1 Cơm, bánh mì, phở, bún, thịt mỡ 96 40,0
3 Sữa và các sản phẩm của sữa 48 20
4 Thịt nạc, rau xanh, hoa quả 07 2,9
Theo Bảng 3.5, 74,2% phụ huynh cho rằng trẻ cần bổ sung vitamin và khoáng chất trong bữa chính, trong khi 64,2% cho rằng trẻ nên ăn chất béo và đạm Đáng chú ý, có 14,6% phụ huynh không biết trẻ cần thực phẩm gì trong bữa ăn chính Hơn nữa, 90,4% phụ huynh khuyến nghị trẻ nên ăn 3 bữa chính và 1 bữa phụ mỗi ngày, trong khi chỉ có 2,9% cho rằng trẻ nên ăn càng nhiều bữa càng tốt.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cân - béo phì (TC-BP) ở trẻ em chủ yếu được nhận thức bởi 80,8% phụ huynh, cho rằng do trẻ tiêu thụ quá nhiều chất béo, đồ ngọt, ăn vặt và thức ăn nhanh Trong khi đó, có 12,5% phụ huynh vẫn chưa nắm rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này.
Theo khảo sát, 64,2% phụ huynh nhận thức rằng trẻ cần được cung cấp đủ năng lượng và dinh dưỡng trong suốt cả ngày, phù hợp với các khuyến nghị Tuy nhiên, có đến 10,8% phụ huynh vẫn chưa biết cách phòng ngừa tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ.
Theo khảo sát, 82,1% phụ huynh lựa chọn rau xanh và trái cây là thực phẩm chính cho trẻ TC-BP, trong khi chỉ 6,7% phụ huynh cho trẻ ăn thực phẩm giàu chất béo, ngọt, tinh bột và thức ăn nhanh.
Theo khảo sát, 82,1% phụ huynh hạn chế cho trẻ bị TC-BP ăn thức ăn nhiều chất béo và thức ăn nhanh, trong khi chỉ có 7,5% phụ huynh chọn hạn chế trái cây, rau xanh, cá, hải sản, và thịt nạc/thịt gia cầm.
Theo khảo sát, 90,4% phụ huynh cho rằng trẻ bị TC-BP cần tăng cường vận động như tập thể dục và chạy nhảy, trong khi chỉ 0,4% phụ huynh cho rằng trẻ cần hạn chế vận động.
Thừa cân và béo phì có tác động đáng kể đến sức khỏe của trẻ em, với 91,6% phụ huynh nhận định rằng tình trạng này ảnh hưởng đến sức khỏe của con cái họ, trong khi chỉ có 1,7% cho rằng không có ảnh hưởng.
Theo khảo sát, 68,8% phụ huynh cho rằng việc này có thể gây rối loạn lipid máu và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, trong khi 9,2% phụ huynh không nắm rõ ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.
Nếu thấy con bị TC-BP thì có 91,2% phụ huynh sẽ hạn chế cho trẻ ăn và 1,3% phụ huynh cho trẻ ăn theo ý thích
Trong số các phụ huynh có con bị TC-BP, 67,9% đã quyết định hạn chế cho trẻ ăn bánh kẹo và uống nước ngọt Ngoài ra, 17,5% phụ huynh chọn cách hạn chế tất cả các loại thực phẩm, trong khi chỉ có 2,9% phụ huynh hạn chế thịt nạc, rau xanh và hoa quả.
Tình trạng thừa cân - béo phì của học sinh tiểu học
Bảng 3.6: Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và giới
Bảng 3.6 cho thấy sự gia tăng về cân nặng và chiều cao tương đối đồng đều giữa các nhóm tuổi ở cả nam và nữ
Bảng 3.7: Tỷ lệ thừa cân - béo phì của học sinh phân bố theo tuổi
Không TC/BP TC BP n (%) n (%) n (%) p
Tỷ lệ TC-BP của học sinh là 33,2%, trong đó tỷ lệ TC đạt 17,8% và BP là 15,4% Học sinh 10 tuổi có tỷ lệ TC-BP cao nhất với 39,3%, trong khi học sinh 11 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 27,2% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05) Tuy nhiên, trẻ em trong gia đình chỉ có một con có xu hướng bị TC-BP cao hơn 2,9 lần so với trẻ em trong gia đình có từ hai con trở lên (CI 95%: 1,2-6,97).
3.3.3 Liên quan đến yếu tố kinh tế xã hội
Bảng 3.20: Liên quan giữa tiếp cận quảng cáo, thức ăn nhanh và hình thức học của trẻ với tình trạng TC-BP
Thích xem quảng cáo về thức ăn nhanh (n!7)
Tiếp cận thức ăn nhanh dễ dàng (n!9)
Bảng 3.20 cho thấy mối liên hệ giữa việc tiếp cận quảng cáo thức ăn nhanh, khả năng tiếp cận thức ăn nhanh và hình thức học của trẻ với tình trạng thừa cân - béo phì (TC-BP) Trẻ em thích xem quảng cáo về thức ăn nhanh có nguy cơ bị TC-BP cao hơn 1,59 lần so với nhóm không thích xem Ngoài ra, trẻ dễ dàng tiếp cận thức ăn nhanh có xu hướng bị TC-BP cao hơn 1,06 lần so với nhóm khó tiếp cận Tỷ lệ trẻ học bán trú cũng có khả năng bị TC-BP cao hơn 1,1 lần so với nhóm không bán trú Tuy nhiên, chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố này và tình trạng TC-BP của trẻ.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ thừa cân – béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tỉnh Đắk Lắk
Ngày nay, tình trạng thừa cân - béo phì (TC-BP) đang trở thành một vấn đề sức khỏe toàn cầu, đặc biệt tại các địa phương có kinh tế phát triển nhanh ở nước ta Tỉ lệ TC-BP ở trẻ em, đặc biệt là học sinh tiểu học, đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng Sự gia tăng này là hệ quả của đời sống ngày càng nâng cao, công nghiệp hóa, đô thị hóa, cùng với chế độ ăn uống giàu năng lượng và lối sống ít vận động Một nghiên cứu trên 1029 học sinh từ 6 đến 11 tuổi tại 8 trường tiểu học ở tỉnh Đắk Lắk đã sử dụng chỉ số Z-Score BMI theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng TC-BP.
NC cho thấy tỷ lệ TC-BP là 33,2% với TC: 17,8% và BP: 15,4%
Kết quả so sánh giữa chiều cao (CC) và cân nặng (CN) trung bình của đối tượng nghiên cứu với quần thể chuẩn của WHO cho thấy rằng CC trung bình của học sinh từ 6-11 tuổi, cả nam và nữ, đều cao hơn mức chuẩn WHO (khoảng 0 - 1,9 cm) Tuy nhiên, CN trung bình của cả hai giới lại vượt trội hơn nhiều so với quần thể chuẩn WHO (khoảng 0,8 - 5,4 kilogam) Sự chênh lệch lớn về CN so với chuẩn đã dẫn đến tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ em.
Tỷ lệ TC-BP trong nghiên cứu này tương đồng với kết quả của một số nghiên cứu khác trên thế giới và tại Việt Nam, như nghiên cứu của D Albuquerque và cộng sự thực hiện tại Bồ Đào Nha.
Tỷ lệ trẻ em mắc bệnh thừa cân - béo phì (TC-BP) trong độ tuổi 6-12 năm 2011 là 33% (19) Tại thành phố Port Said, Ai Cập, 31,2% học sinh tiểu học cũng bị TC-BP (25) Ở Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ này là 33% cho trẻ em từ 6-14 tuổi (29) Tại thị xã Tây Ninh vào năm 2009, tỷ lệ TC-BP ghi nhận là 34% (82) Nghiên cứu tại trường tiểu học Đội Cấn, thành phố Thái Nguyên năm 2019 cho thấy tỷ lệ TC-BP là 33,6% (54).
Tỷ lệ trẻ em tiểu học mắc chứng tăng động giảm chú ý (TC-BP) ở tỉnh Đắk Lắk cao hơn so với một số địa phương khác Cụ thể, tại TP Bắc Ninh năm 2016, tỷ lệ này là 27,3%, trong khi đó, nghiên cứu tại TP Đà Nẵng năm 2013 ghi nhận tỷ lệ TC-BP là 17,5% Tại TP Hải Phòng năm 2012, tỷ lệ TC-BP ở học sinh tiểu học là 21,3%, và ở TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam năm 2013 cũng có tỷ lệ tương tự.
Tỷ lệ trẻ em tiểu học mắc chứng tăng động giảm chú ý (TC-BP) đã được ghi nhận ở nhiều địa phương tại Việt Nam, với tỷ lệ 10,9% tại Việt Trì và Phú Thọ vào năm 2014, 13,1% vào năm 2015, và cao nhất là 19,17% tại Cà Mau vào năm 2016.
Nghiên cứu toàn cầu về tình trạng thiếu máu cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em từ 6-12 tuổi tại thành phố Bahir Dar, Ethiopia là 11,9% vào năm 2016 Tương tự, một nghiên cứu của Osama Abdelkarim và cộng sự tại TP Assiut, Ai Cập trong giai đoạn 2014-2015 ghi nhận tỷ lệ này là 12,28% ở trẻ em từ 6-11 tuổi Tình hình thiếu máu cũng được ghi nhận tại Nepal trong cùng thời gian.
2018 tỷ lệ TC-BP của HS tiểu học là 20,0% (33); ở Giang Tô - Trung Quốc năm
2017 tỷ lệ này là 26,9% (37) và 15,44% HS tiểu học Iran (2018) (38)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ trẻ tiểu học mắc bệnh tiểu đường tại các địa phương thấp hơn so với các thành phố lớn Cụ thể, tại TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ này đã tăng từ 9,4% vào năm 2002-2003 lên 41,4% vào năm 2014 Tại Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường cũng tăng từ 39,3% vào năm 2013 lên 44,7% vào năm 2018 Tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ, tỷ lệ này đạt 46,2% vào năm 2017.
Tỷ lệ TC-BP của học sinh tại một số trường tiểu học ở tỉnh Đắk Lắk đã tăng đột biến sau 10 năm, với con số 9,1% theo nghiên cứu của Đặng Oanh (2010).
Sự gia tăng tỷ lệ thừa cân - béo phì (TC-BP) ở học sinh tiểu học tại tỉnh Đắk Lắk, từ 10 năm trước là 65% lên 33,1%, có thể do tốc độ phát triển nhanh chóng của tỉnh, sự du nhập lối sống phương Tây, và sự sẵn có của thực phẩm giàu năng lượng Thay đổi trong môi trường sống và thói quen ăn uống cũng góp phần làm tăng tỷ lệ TC-BP Ngoài ra, việc áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá TC-BP khác nhau có thể dẫn đến kết quả không đồng nhất; nếu sử dụng chỉ số BMI của người trưởng thành, tỷ lệ TC-BP ở trẻ em sẽ rất thấp Một yếu tố khác ảnh hưởng đến chẩn đoán TC-BP là cách xác định tuổi, nếu chỉ tính tuổi mà không xem xét đến từng tháng tuổi, kết quả sẽ có sự khác biệt lớn.
Khi so sánh tỷ lệ TC-BP giữa học sinh nam và nữ, kết quả cho thấy học sinh nam có tỷ lệ cao hơn Cụ thể, nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc chỉ ra rằng tỷ lệ TC-BP của học sinh nam đạt 16,1%, trong khi học sinh nữ chỉ là 5,7% Tương tự, nghiên cứu của Ngô Thị Xuân (2016) cho thấy tỷ lệ TC-BP ở học sinh nam là 36,4%, gấp đôi so với 18,0% của học sinh nữ Các nghiên cứu của Trần Thị Huyền Trang và Nguyễn Thị Hiền cũng cho kết quả tương tự.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ em bị thừa cân - béo phì (TC-BP) ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ tại một số quốc gia Cụ thể, ở Nepal năm 2017, tỷ lệ TC-BP ở học sinh nam từ 6-13 tuổi là 29,6%, trong khi ở học sinh nữ chỉ là 20,6% Tương tự, tại Giang Tô, Trung Quốc, tỷ lệ TC-BP ở học sinh nam từ 7-14 tuổi đạt 33,2%, cao hơn nhiều so với 19,2% ở học sinh nữ Sự chênh lệch này có thể xuất phát từ tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ" trong xã hội phương Đông, dẫn đến việc con trai thường được chăm sóc và cưng chiều hơn, trong khi con gái lại phải chú trọng hơn đến việc giữ gìn vóc dáng.
Vì thế mà kết quả của nhiều NC đều cho thấy tỷ lệ TC-BP ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ trẻ em bị thiếu cân ở khu vực thành thị cao hơn đáng kể so với khu vực nông thôn, điều này được xác nhận bởi các nghiên cứu khác Cụ thể, nghiên cứu tại Bangladesh năm 2009 chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh bị thiếu cân ở thành phố là 16,2%, trong khi ở nông thôn chỉ là 9,8% Tại 8 trường nghiên cứu, các trường tiểu học ở trung tâm thành phố như Phan Chu Trinh (60,0%) và Võ Thị Sáu (45,6%) có tỷ lệ thiếu cân cao, trong khi trường Nguyễn Du (13,6%), nằm xa trung tâm, có tỷ lệ thấp nhất Kết quả này cũng tương đồng với quan sát của Trần Thị Xuân Ngọc, cho thấy các trường ở quận trung tâm như Nguyễn Du (19%) và Hoàng Diệu (15,5%) có tỷ lệ cao hơn so với các trường ở khu vực xa như Tứ Liên (2,8%) và Kim Chung (1,3%).
Nguyễn Minh Thu (57) cho biết tỷ lệ TC-BP ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Điều này có thể do sự khác biệt trong thành phần dinh dưỡng của bữa ăn trẻ em Trẻ em nông thôn thường có bữa ăn cân bằng và đa dạng rau xanh, trong khi trẻ em thành thị lại có xu hướng tiêu thụ đồ ăn nhanh và thức uống có đường nhiều hơn Sự phong phú của thực phẩm tại các cửa hàng tạp hóa, siêu thị và chợ ở thành phố cũng góp phần vào thói quen ăn uống này Hơn nữa, với thu nhập cao hơn, trẻ em thành thị thường nhận được nhiều tiền tiêu vặt, dẫn đến việc tiêu thụ thực phẩm không lành mạnh hơn.
Trẻ em ở thành phố có xu hướng tiêu thụ nhiều bữa ăn phụ và đồ ăn vặt hơn so với trẻ em nông thôn Đồng thời, trẻ em thành thị thiếu không gian cho các hoạt động thể chất, dẫn đến việc chúng thường tham gia vào các hoạt động giải trí ít vận động như xem tivi, sử dụng điện thoại, chơi điện tử và máy tính Điều này khiến trẻ em ở khu vực thành phố dễ mắc các vấn đề về thừa cân, béo phì hơn so với trẻ em ở nông thôn.
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân – béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tỉnh Đắk Lắk
số trường tiểu học tỉnh Đắk Lắk
4.2.1 Liên quan đến nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân trẻ
4.2.1.1 Liên quan đến thói quen ăn uống của trẻ
Năng lượng dự trữ trong cơ thể là hiệu số giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao, được đánh giá qua CN cơ thể Khi năng lượng ăn vào vượt quá năng lượng tiêu hao, cơ thể sẽ tăng cân, ngược lại, khi năng lượng tiêu hao nhiều hơn, cơ thể sẽ giảm cân Cơ thể có thể bị thừa cân - béo phì (TC-BP) khi xảy ra cân bằng năng lượng dương tính Thực phẩm giàu chất béo thường khiến người ta ăn nhiều hơn mà không nhận ra Các chất Protein, Lipid, Glucid đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ, do đó, không chỉ thịt mỡ mà cả thực phẩm ngọt và bột đường cũng có thể gây TC-BP Nghiên cứu cho thấy trẻ em bị TC-BP thường có thói quen ăn nhiều bữa, thích đồ béo, thực phẩm chế biến sẵn, và uống nước có ga, có đường Thói quen ăn đồ ngọt trong bữa phụ và ăn tối muộn sau 20 giờ là đặc trưng của trẻ em bị TC-BP.
Nghiên cứu cho thấy nhiều yếu tố thói quen ăn uống như ăn bữa phụ, số lượng bữa phụ, thời gian kết thúc bữa tối, và sở thích về thực phẩm có thể dẫn đến tình trạng thừa cân - béo phì (TC-BP) ở trẻ em Cụ thể, trẻ em có xu hướng thích ăn thực phẩm béo trong bữa chính, thức ăn ngọt trong bữa phụ, và đồ uống ngọt, cũng như có tính háu ăn Nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của Ayyildiz cho thấy 29,8% học sinh có thói quen ăn thêm 1 bữa phụ và 31,5% học sinh ăn thêm 2 bữa phụ, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa thói quen ăn uống và tình trạng TC-BP.
NC của Nguyễn Thùy Linh nhận thấy hầu hết các trẻ TC-BP đều ăn nhiều bữa phụ
Nguy cơ tăng cân và béo phì ở trẻ em có liên quan chặt chẽ đến thói quen ăn uống Trẻ thường xuyên tiêu thụ quà vặt có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4,8 lần (p