1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố sóc trăng năm 2015

95 3 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng năm 2015
Tác giả Trần Giang Tuyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Hà
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y học Công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Sóc Trăng
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến TC-BP ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng nhằm giúp cho phụ huynh biết được tình trạng và một số yếu

Trang 1

TRẦN GIANG TUYỀN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA CÂN – BÉO PHÌ Ở HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC

TẠI THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG - NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

Năm 2015 HUPH

Trang 2

TRẦN GIANG TUYỀN

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA CÂN – BÉO PHÌ Ở HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC

TẠI THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG - NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

TS Nguyễn Thanh Hà

Năm 2015 HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Mục tiêu nghiên cứu: 3

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái niệm và phương pháp đánh giá TC-BP 4

1.1.1 Một số khái niệm: 4

1.1.2 Phương pháp đánh giá TC-BP: 4

1.1.2.1 Đánh giá tình trạng TC-BP của trẻ : 4

1.1.2.2 Kỹ thuật đo nhân trắc [42], [44]: 5

1.1.3 Phân loại béo phì 6

1.1.4 Đặc điểm tăng trưởng của học sinh tiểu học 6

1.1.5 Đặc điểm lâm sàng của trẻ thừa cân, béo phì 7

1.2 Các yếu tố nguy cơ TC-BP: 7

1.2.1 Yếu tố gia đình: 7

1.2.2 Chế độ ăn uống: 8

1.2.3 Hoạt động thể lực: 9

1.2.4 Yếu tố kinh tế xã hội: 9

1.3 Tác hại của bệnh béo phì: 11

1.3.1.Sự ảnh hưởng của béo phì tới tâm sinh lí của trẻ: 11

1.3.2 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với trí năng của trẻ em: 11

1.3.3 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh rối loạn lipid máu: 11

1.3.4 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh cao huyết áp: 11 1.3.5 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh xương khớp (hoặc chiều cao): 12

HUPH

Trang 4

1.3.6 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với hội chứng thông khí kém (khó thở khi

gắng sức): 12

1.3.7 Khi còn nhỏ mắc bệnh béo phì thì dễ mắc bệnh béo phì khi trưởng thành: 12

1.3.8 Sự ảnh hưởng của béo phì trẻ em đối với bệnh tiểu đường khi thành niên: 13

1.3.9 Sự ảnh hưởng của béo phì trẻ em đối với bệnh tim khi thành niên: 13

1.4 Tình hình TC-BP: 13

1.4.1 Tình hình TC-BP trên thế giới: 13

1.4.2 Tình hình thừa cân –béo phì ở Việt Nam 16

1.5 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP: 17

1.5.1 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP trên thế giới: 17

1.5.2 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP ở học sinh tiểu học tại Việt Nam: 18

1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu: 20

Chương 2 24

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu: chia thành 2 giai đoạn 24

2.4 Cỡ mẫu 24

2.4.1 Cỡ mẫu giai đoạn 1: Nghiên cứu cắt ngang 24

2.4.2 Cỡ mẫu giai đoạn 2: Nghiên cứu bệnh chứng 25

2.5 Phương pháp chọn mẫu 25

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.6.1 Thu thập số đo nhân trắc của trẻ 25

2.6.2 Phát vấn 26

2.7 Các nhóm biến số chính: 27

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 27

2.9 Phương pháp phân tích số liệu 27

HUPH

Trang 5

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28

2.11 Sai số và biện pháp khắc phục 28

Chương 3 29

KẾT QUẢ 29

3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 29

3.3 Một số yếu tố liên quan với tình trạng TC-BP: 33

3.3.1 Liên quan đến yếu tố gia đình của trẻ: 33

3.3.2 Liên quan đến yếu tố kinh tế xã hội: 36

3.3.3 Liên quan đến yếu tố chế độ ăn uống của trẻ: 37

3.3.4 Liên quan đến chế độ vận động của trẻ: 40

Chương 4 43

BÀN LUẬN 43

1 Tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học tại thành phố Sóc Trăng 43

2 Một số yếu tố liên quan với tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ: 45

2.1 Liên quan đến yếu tố gia đình của trẻ: 45

2.2 Liên quan đến yếu tố kinh tế xã hội: 47

2.3 Liên quan đến yếu tố chế độ ăn uống của trẻ: 47

2.4 Liên quan đến yếu tố hoạt động thể lực của trẻ: 51

Chương 5 53

KẾT LUẬN 53

1 Tỷ lệ thừa cân béo phì: 53

2 Mối liên quan với tình trạng TC-BP : 53

KHUYẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA NHÂN TRẮC 63

Phụ lục 2: PHIẾU ĐIỀU TRA 64

Phụ lục 3: PHIẾU ĐIỀU TRA TẦN XUẤT TIÊU THỤ THỰC PHẨM 71

Phụ lục 4: BẢNG CHẤM ĐIỂM VỀ KIẾN THỨC 73

Phụ lục 5: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 76

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BMI: Chỉ số khối cơ thể

(Body Mass Index) CDC: Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh

(Centers for Disease Control and Prevention)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1 Tỷ lệ thừa cân của các nước phát triển 14

Bảng 1 2 Tình hình thừa cân béo phì ở người trên 15 tuổi khu vực ASEAN năm 2005 và dự báo đến năm 2015 14

Bảng 3 1 Tần số và tỷ lệ trẻ phân bố theo giới, tuổi, dân tộc 29

Bảng 3 2 Tỷ lệ thừa cân – béo phì của trẻ phân bố theo tuổi 30

Bảng 3 3 Cân nặng trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới 30

Bảng 3 4 Chiều cao trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới 31

Bảng 3 5 Z-score của BMI theo tuổi và giới trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới 31

Bảng 3 6 Tỷ lệ thừa cân – béo phì của trẻ phân bố theo tuổi và giới 32

Bảng 3 7 Liên quan chỉ số BMI của cha và mẹ với tình trạng TC-BP của trẻ 33

Bảng 3 8 Liên quan dân tộc của cha và mẹ với tình trạng TC-BP của trẻ 33

Bảng 3 9 Liên quan nghề nghiệp của cha và mẹ với tình trạng TC-BP của trẻ 34

Bảng 3 10 Liên quan trình độ học vấn của cha và mẹ với tình trạng TC-BP của trẻ 35

Bảng 3 11 Liên quan đến kiến thức về phòng chống TC-BP (phụ lục 4) của phụ huynh trẻ với tình trạng TC-BP của trẻ 35

Bảng 3 12 Liên quan tăng cân của mẹ khi mang thai trẻ, cân nặng của trẻ lúc sinh với tình trạng thừa cân – béo phì của trẻ 36

Bảng 3 13 Liên quan kinh tế gia đình với tình trạng TC-BP của trẻ 36

Bảng 3 14 Liên quan chế độ ăn uống với tình trạng TC-BP của trẻ 37

Bảng 3 15 Liên quan sở thích (thói quen) ăn uống với tình trạng TC-BP của trẻ 38

Bảng 3 16 Liên quan tần xuất tiêu thụ thực phẩm trong 1 tháng qua của trẻ với tình trạng TC-BP của trẻ 39

Bảng 3 17 Liên quan yếu tố hoạt động của trẻ với tình trạng TC-BP của trẻ 40

Bảng 3 18 Liên quan đến thời gian dành cho các hoạt động của trẻ trong 1 ngày với tình trạng TC-BP của trẻ 41

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1 Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ 32 Biểu đồ 3 2 Thời gian dành cho các hoạt động của trẻ trong 1 ngày 42

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Ở trẻ 6 – 11 tuổi có những chuyển biến về mức tăng trưởng thể chất cũng như tinh thần và là một giai đoạn phát triển quan trọng cho những giai đoạn phát triển tiếp theo Tuy nhiên tình trạng TC-BP của trẻ có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ trong và sau giai đoạn này Vì vậy nghiên cứu về thực trạng và một

số yếu tố liên quan đến TC-BP ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng nhằm giúp cho phụ huynh biết được tình trạng và một số yếu tố liên quan ảnh

hưởng đến TC-BP của trẻ Mục tiêu: Xác định tỷ lệ TC-BP và một số yếu tố liên quan ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng Phương pháp:

nghiên cứu cắt ngang mô tả bằng kỹ thuật đo nhân trắc để xác định tỷ lệ TC-BP trên

1305 trẻ và nghiên cứu bệnh chứng để xác đinh mối liên quan đến tình trạng thừa cân của trẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TC-BP là 18,8%, trong đó tỷ lệ thừa cân là 11,6% và tỷ lệ béo phì là 7,2% Tỷ lệ TC-BP của trẻ nam (23,4%) cao hơn trẻ

nữ (14,2%) Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng TC-BP của trẻ với tình trạng thừa cân của bố và mẹ lần lượt là (OR=1,7; 2,0, với p<0,05); phụ huynh trẻ thiếu kiến thức về phòng chống TC-BP (OR=1,8, với p<0,05); kinh tế gia đình khá (OR=1,5, với p<0,05); mức độ háu ăn (ăn nhanh), có mức độ ăn vặt thường xuyên và ăn từ 4 bữa trở lên trong 1 ngày (OR lần lượt là 3,9; 2,8 và 1,5 với p<0,05); thích ăn thức ăn béo, thích ăn thức ăn ngọt và thích ăn thức ăn nhanh (OR lần lượt 1,4; 2,8 và 1,7; với p<0,05) Trẻ tiêu thụ thực phẩm béo và thực phẩm ngọt thường xuyên trong tuần thì OR từ 1,4 - 1,7 lần (p<0,05); xem tivi ≥ 120 phút/ngày

và chơi điện tử ≥ 60 phút/ngày (OR=1,7; với p<0,05) Trong khi đó trẻ đến trường bằng cách đi bộ hoặc tự đạp xe, có sở thích vận động và có mức độ hiếu động, có thời gian chơi đùa/chạy nhảy ≥ 120 phút/ngày (với OR lần lượt là 0,3; 0,3; 0,7 và

0,1; với p<0,05) Kết luận: TC-BP ở học sinh tiểu học tại thành phố Sóc Trăng là

vấn đề sức khỏe cần quan tâm, cần có biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe về dinh dưỡng hợp lý và chế độ vận động cho học sinh, phụ huynh và cả giáo viên nhà trường

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay điều kiện kinh tế xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống được cải thiện, nhu cầu sinh hoạt và mức sống của người dân được nâng cao Chính vì vậy tình trạng suy dinh dưỡng đã được khống chế và đẩy lùi, bên cạnh đó tình trạng thừa cân béo phì trong xã hội ngày càng gia tăng ở mọi lứa tuổi [6] Thừa cân béo phì ngày nay không còn là căn bệnh của các nước giàu mà đã trở thành vấn nạn chung của toàn cầu vì thừa cân béo phì là mối nguy cơ lớn đối với sức khoẻ của con người Năm 2000, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã báo động đến các quốc gia về

sự phát triển dịch đầu tiên không nhiễm khuẩn: Đó là bệnh béo phì [68] Bệnh béo phì ở trẻ em có thể gây ra nhiều tác hại ảnh hưởng đến trẻ như: ảnh hưởng đến tâm sinh lý và trí năng của trẻ khi trẻ béo phì Ngoài ra khi tình trạng béo phì kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe khi trẻ trưởng thành như: thừa cân béo phì khi trưởng thành, rối loạn lipid máu, đái tháo thường, tim mạch và các bệnh về xương khớp

Tại Việt Nam theo kết quả của cuộc Tổng điều tra của Viện dinh dưỡng năm

2012 thì tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em dưới 5 tuổi là 5,6% (ở thành phố 6,5% và ở nông thôn 4,2 %), tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng So với năm 2000, tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [45] Ngày 22 tháng 02 năm 2012, Thủ Tướng Chính Phủ đã ra Quyết Định “Phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai doạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó có đưa ra chỉ tiêu: Khống chế tỷ lệ béo phì ở trẻ em < 5 tuổi ở mức dưới 5% ở nông thôn và dưới 10% ở thành phố lớn vào năm 2015 và tiếp tục duy trì đến năm 2020 [4]

Hiện nay tình hình thừa cân béo phì trên toàn quốc đang có xu hướng gia tăng nhất là các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế,… Song hành với tình trạng gia tăng về thừa cân béo phì đã làm gia tăng các bệnh tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn lipid máu, bệnh về xương khớp và các bệnh tim mạch khác [10], [37] Chính vì vậy cũng đã có những nghiên cứu về các yếu tố liên quan và các vấn

đề ảnh hưởng đến sức khoẻ do thừa cân - béo phì nhưng các nghiên cứu trên chỉ tập trung tại các thành phố lớn

Tại Sóc Trăng chưa có nhiều kết quả nghiên cứu về tình hình thừa cân - béo phì ở lứa tuổi tiền học đường và học đường, chỉ dựa vào thông tin giám sát dinh

HUPH

Trang 11

dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (do Viện dinh dưỡng điều tra theo cụm) [46] Tuy nhiên Sóc Trăng cũng là một địa phương đang có nhiều thay đổi nhanh về phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội đặc biệt là khu vực thành phố Sóc Trăng, nên ngày càng phát sinh nhiều yếu tố nguy cơ do vấn đề đô thị hoá, ăn uống quá mức, ít vận động thể lực, quan niệm của cha mẹ và giáo viên về thừa cân – béo phì ở đối tượng học sinh tiểu học chưa có nhiều quan tâm (sợ con bị suy dinh dưỡng nên cứ ép ăn hay theo cách suy nghĩ là con mập mạp là có sức khoẻ) và theo khảo sát nhanh thì tỷ lệ thừa cân béo phì tập trung nhiều ở thành phố Sóc Trăng mà phần lớn là học sinh tiểu học Chính vì vậy tỷ lệ thừa cân - béo phì ở lứa tuổi học đường đang có xu hướng gia tăng, nên tôi quyết định tiến hành nghiên cứu:

“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng năm 2015”

HUPH

Trang 12

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng, năm 2015

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì ở học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Sóc Trăng, năm 2015

HUPH

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và phương pháp đánh giá TC-BP

1.1.1 Một số khái niệm:

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

- Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều

cao

- Béo phì là tình trạng tích tụ mỡ cao hoặc bất thường trong cơ thể có khả

năng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [67]

- Chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index) là một chỉ số đánh giá cân

nặng theo chiều cao, thường được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người lớn Nó được định nghĩa là trọng lượng của một người (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao của người đó (tính bằng mét) (kg/m2) [68]

Theo Tổ chức Y tế thế giới, đánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 –

19 tuổi dựa vào chỉ số Z-Score (WHO-2007) [66]

1.1.2 Phương pháp đánh giá TC-BP:

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc dinh dưỡng Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, khách quan và

có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của một cá thể hay của cộng đồng [47]

HUPH

Trang 14

pháp đo dự trữ mỡ hay đo lớp mỡ dưới da ở hai vị trí cơ tam đầu và dưới xương bả vai để tăng độ chính xác Ngoài ra cũng có thể sử dụng biểu đồ tăng trưởng theo tuổi và giới để theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng

- Xác định thừa cân béo phì ở trẻ vị thành niên 10-19 tuổi: Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị áp dụng BMI theo tuổi và giới và đánh giá theo percentile (bách phân vị) để xác định tình trạng thừa cân béo phì ở nhóm tuổi này Tính theo bách phân vị, trẻ thừa cân khi BMI ≥ 85 percentile, và béo phì khi BMI ≥ 95 percentile, hoặc BMI ≥ 85 percentile cộng với bề dày lớp mỡ dưới da ở 2 vị trí cơ tam đầu và dưới xương bả vai ≥ 90 percentile [25]

Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 –

19 tuổi được đánh giá theo chỉ số Z-Score (BMI theo tuổi và giới) [47], cụ thể:

- Z-Score của BMI < -3SD: Suy dinh dưỡng mức độ nặng

- -3SD ≤ Z-Score của BMI < -2SD: Suy dinh dưỡng mức độ vừa

- -2SD ≤ Z-Score của BMI ≤ +1SD: Binh thường

- +1SD < Z-Score của BMI ≤ +2SD: Thừa cân

- Z-Score của BMI > +2SD: Béo phì

Hiện Nay Viện Dinh Dưỡng Việt Nam cũng áp dụng phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi theo chỉ số Z-Score (BMI theo tuổi và giới) theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới năm 2007 [47]

1.1.2.2 Kỹ thuật đo nhân trắc:

Cân trẻ: cho trẻ mặc quần áo gọn nhất và không đi giày dép Người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng bổ đều cả hai chân Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0 Khi cân được 10 trẻ phải kiểm tra cân hai lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một can nước) để kiểm soát độ chính xác, độ nhạy của cân Cân nặng được ghi với 1 số lẻ, ví dụ: 11,2kg

Đo chiều cao đứng: Bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước

đo Lưu ý để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang Gót chân, bắp chân, mông, bả vai và chẩm theo một đường thẳng áp sát vào thước

đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ

HUPH

Trang 15

thõng theo hai bên mình Dùng thước vuông hoặc gỗ áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo Đọc kết quả và ghi số centimet với 1 số lẻ, ví dụ: 125,9cm [42], [44]

1.1.3 Phân loại béo phì

1.1.3.1 Phân loại béo phì theo hình thái mô mỡ

- Béo phì quá sản: thường gặp ở trẻ em, các tế bào mỡ tăng cả về số lượng và kích thước Béo phì loại này thường gặp, khó điều trị và sớm phát triển những bất thường trong cuộc sống

- Béo phì phì đại: thường gặp ở người trưởng thành, các tế bào mỡ to bất thường, trong khi đó tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăng khi đã phình to hết mức Béo phì loại này có thể đáp ứng tốt với điều trị [30]

1.1.3.2 Phân loại béo phì theo vị trí phân bố mỡ

- Báo bụng: là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng Thường gặp ở đàn ông do ngồi nhiều, ít hoạt động, trọng lượng dồn ở phần trên cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả táo”

- Béo đùi: là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông và đùi Thường gặp ở phụ nữ do đẻ nhiều, khung chậu rộng, trọng lượng dồn ở phần dưới cơ thể tạo nên hình dạng béo phì hình “quả lê”

- Béo đều: Mỡ phân bố toàn thân Thường gặp ở trẻ em do tế bào mỡ bội tăng [30]

1.1.4 Đặc điểm tăng trưởng của học sinh tiểu học

Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển, vì vậy tăng trưởng là một đặc điểm sinh học của trẻ em Tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trình lớn và phát triển Có 2 loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất và tăng trưởng về chức năng Hai quá trình này có liên quan mật thiết với nhau Nhóm các chỉ tiêu nhân trắc là một trong ba nhóm đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng (chỉ tiêu nhân trắc, đánh giá tuổi xương và tuổi dậy thì) [2]

Có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em đó là: di truyền, môi trường, nội tiết, bệnh tật và khuynh hướng thời gian Mô hình tăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà là thay đổi theo thời gian, những nghiên cứu gần đây ở các tỉnh phía bắc đều cho thấy ở mọi lứa tuổi đều có sự gia tăng về chiều cao đặc biệt ở khu vực thanh phố Trong giai đoạn từ 1985 đến nay, khuynh

HUPH

Trang 16

hướng tăng trưởng thế tục dương tính về chiều cao và cân nặng ở trẻ em bao gồm cả trẻ sơ sinh và trẻ 1 đến 15 tuổi, phản ánh tình trạng kinh tế xã hội và dinh dưỡng của Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau 20 năm đổi mới Khuynh hướng thế tục này xảy

ra ở mọi lứa tuổi của trẻ em đặc biệt ở tuổi vị thành niên (10 – 15 tuổi) có gia tốc tăng trưởng cả về chiều cao và cân nặng cao hơn các lứa tuổi nhỏ Kết quả nghiên cứu cả chiều dọc và nghiên cứu cắt ngang cho thấy trẻ em Hà Nội trong các thời điểm nghiên cứu đều có chiều cao và cân nặng cao hơn so với số liệu toàn quốc và tốc độ tăng trưởng thế tục cũng nhanh hơn (tăng khoảng 1,5 - 2cm/1 thập kỷ) [17]

1.1.5 Đặc điểm lâm sàng của trẻ thừa cân, béo phì

Trẻ thừa cân, béo phì thường háu ăn, ăn nhanh, hay ăn vặt, lúc nào cũng có cảm giác thèm ăn, thích ăn đồ ngọt, thức ăn xào rán nhiều mỡ, thức ăn nhanh và ăn nhiều vào buổi tối Béo phì ở trẻ em là béo toàn thân, tích tụ mỡ nhiều ở ngực và bụng Trẻ béo phì thường xuyên cảm thấy mệt mỏi toàn thân, hay nhức đầu, tê buốt

ở 2 chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái Trẻ dậy thì sớm hơn bình thường Trước dậy thì trẻ thường cao hơn so với tuổi, nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn so với tuổi [30]

1.2 Các yếu tố nguy cơ TC-BP:

Có bốn nhóm yếu tố nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì tại cộng đồng như: yếu tố gia đình, chế độ ăn uống, chế độ vận động thể lực và yếu tố kinh

HUPH

Trang 17

từ 6-14 tuổi tại một số trường tiểu học và trung học cơ sở Hà Nội” vào năm 2011 thì nguy cơ béo phì của học sinh cao gấp 2,9 lần nếu bố bị béo phì, 3,9 lần nếu anh chị

em bị béo phì và 24,8 lần nếu mẹ bị béo phì so với những gia đình không có các thành viên béo phì tương ứng [24]

1.2.2 Chế độ ăn uống:

Cơ chế điều hòa năng lượng:

Nguyên nhân cơ bản của bệnh béo phì và thừa cân là do sự mất cân bằng về năng lượng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao [68]

Cân nặng không đổi: Năng lượng ăn vào = năng lượng tiêu hao Cân nặng tăng lên: Năng lượng ăn vào > năng lượng tiêu hao Cân nặng giảm đi: Năng lượng ăn vào < năng lượng tiêu hao Nguồn cung cấp nhiệt năng: Cơ thể sử dụng năng lượng từ thức ăn chứa các loại glucid, lipid và protein, chính vì vậy mọi người thường coi ba chất trên là những chất sinh nhiệt hoặc chất dinh dưỡng sinh nhiệt trong cơ thể Sau khi hấp thu thức ăn được tiêu hóa trong cơ thể nhờ sự phân giải của các loại men, sẽ xảy ra hàng loạt quá trình oxi hóa, sau đó nhiệt năng mới được giải phóng dần dần từ 3 chất dinh dưỡng chính, đáp ứng cho những nhu cầu sinh lý khác nhau của cơ thể Nếu nhiệt năng còn thừa cơ thể sẽ trữ lại Hình thức tích trữ chủ yếu của nhiệt năng

là dưới dạng mỡ [18], [31]

Sự tiêu hao của năng lượng bao gồm: tiêu hao do trao đổi chất cơ bản, tiêu hao do tác dụng động lực đặc thù của thức ăn, tiêu hao do hoạt động thể lực, tiêu hao ở trẻ sinh trưởng, dậy thì [18], [31]

Ở lứa tuổi tiểu học, các chất dinh dưỡng cung cấp hằng ngày cho trẻ qua thức

ăn không chỉ để trẻ phát triển về thể chất mà còn cung cấp năng lượng cho trẻ học tập Vì vậy ăn uống hợp lý ở lứa tuổi này giúp trẻ thông minh, khỏe mạnh và phòng chống bệnh tật Nhưng nếu cho trẻ ăn uống quá mức dẫn đến năng lượng ăn vào lớn hơn năng lượng tiêu hao làm cho quá trình tích trữ mỡ xảy ra do dư thừa nhiệt năng,

đó là một yếu tố nguy cơ dẫn đến TC-BP, tình trạng này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hợp và Vũ Hưng Hiếu thì trẻ tiêu thụ thường xuyên các loại thực phẩm giàu năng lượng (bơ, chất

HUPH

Trang 18

béo, chất béo thịt và các thực phẩm rán) có mối liên quan đến TC-BP [16] Theo kết quả nghiên cứu của Cao Thị Yến Thanh và cộng sự về “ Thực trạng và một số yếu

tố liên quan đến thừa cân béo phì của học sinh tiểu học nội thành thành phố Buôn

Ma Thuột năm 2004” thì thói quen ăn uống là yếu tố liên quan đến TC-BP của trẻ [32] Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc về “Thực trạng và hiệu quả truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng chống thừa cân - béo phì ở trẻ em từ 6-14 tuổi ở một số trường tiểu học và trung học cơ sở tại Hà Nội” vào năm 2011 thì tổng

số năng lượng và tổng số lipid của khẩu phần ăn ở nhóm béo phì cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng [24]

1.2.3 Hoạt động thể lực:

Là một yếu tố nguy cơ dẫn đến TC-BP khi trẻ ít vận động thì mức năng lượng tiêu hao sẽ nhỏ hơn mức năng lượng ăn vào dẫn đến năng lượng dư thừa sẽ được tích trữ trong cơ thể dưới dạng mỡ làm cho cơ thể tăng cân Theo kết quả nghiên cứu của Trương Tuyết Mai và cộng sự thì tỷ lệ trẻ TC-BP có hoạt động tĩnh tại trên 120 phút/ngày là 82,7% [19] Theo kết quả nghiên cứu của Tăng Kim Hồng

về “ Các yếu tố môi trường và lối sống liên quan đến tình trạng thừa cân béo phì ở học sinh cấp 2 thành phố Hồ Chí Minh” thì nhóm thời gian xem tivi và chơi game ≥

3 giờ có mối liên quan đến TC-BP cao gấp 2,7 so với nhóm có thời gian xem tivi và chơi game < 3 giờ và khó tiếp cận các trung tâm tập luyện thể thao có mối liên quan đến TC-BP cao gấp 3,7 lần so với nhóm dễ tiếp cận với các trung tâm tập luyện thể thao [15]

1.2.4 Yếu tố kinh tế xã hội:

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay TC-BP đã và đang là mối nguy

cơ trên toàn thế giới, đầu tiên chủ yếu xảy ra ở các nước phát triển và dần xảy ra ở các nước đang phát triển và các nước có thu nhập trung bình Ở Việt Nam tỷ lệ TC-

BP cao ban đầu cũng chỉ tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh sau đó cũng tăng dần tỷ lệ TC-BP ở các tỉnh có mức phát triển nhanh về kinh

tế xã hội đặc biệt là các trung tâm thành phố, điều đó muốn nói lên rằng khi kinh tế

xã hội của khu vực nào đó phát triển sẽ dẫn đến mức sống của người dân tăng cao, song song với khu vực đó là tăng tỷ lệ TC-BP Theo kết quả nghiên cứu của Trần

HUPH

Trang 19

Thị Xuân Ngọc về “Thực trạng và hiệu quả truyền thông giáo dục dinh dưỡng phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em từ 6-14 tuổi tại một số trường tiểu học và trung học cơ sở Hà Nội” vào năm 2011 thì nguy cơ TC-BP của học sinh ở những gia đình có mức chi tiêu cho ăn uống cao trên 600.000đ/người/tháng cao gấp 14,1 lần, ở những gia đình có máy điều hòa không khí cao gấp 1,8 lần và gia đình có máy giặt cao gấp 1,7 lần so với gia đình có mức chi tiêu dưới 600.000đ/người/ tháng, không có máy điều hòa và không có máy giặt tương ứng [24] Theo kết quả nghiên cứu của Tăng Kim Hồng về “ Các yếu tố môi trường và lối sống liên quan đến tình trạng thừa cân béo phì ở học sinh cấp 2 thành phố Hồ Chí Minh” thì kinh tế gia đình khá giả có mối liên quan đến TC-BP gấp 2,92 lần so với kinh tế gia đình có mức sống trung bình [15] Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự về “Xu hướng gia tăng thừa cân béo phì trẻ tiền học đường và học đường thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010 và yếu tố liên quan” thì kinh tế gia đình khá/giàu là yếu tố liên quan đến TC-BP của trẻ [12]

Riêng kiến thức về TC-BP của phụ huynh cũng tác động đến các yếu tố trên, theo Đặng Oanh thì có đến 30,8% bà mẹ chưa từng nghe các thông tin về TC-BP, 62,9% nghe thông tin từ đài hoặc tivi, 14,0% từ sách báo, 8,3% biết qua bạn bè, 4,6% từ cán bộ y tế, 2,8% từ các tờ rơi và 7,4% qua các kênh; 47,1% không biết tác hại của TC-BP, 47,5% cho rằng TC-BP không ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, 30,8% cho rằng cứ để trẻ ăn uống tùy thích khi bị thừa cân và 19,0% không biết cách xử trí [26] Theo Phan Thị Bích Ngọc nghiên cứu thực trạng thừa cân béo phì

và đánh giá biện pháp can thiệp cộng đồng ở học sinh tiểu học thành phố Huế thì tỷ

lệ TC-BP ở học sinh tiểu học từ 6-10 tuổi tại thành phố Huế là 7,98% và các yếu tố liên quan đến TC-BP của trẻ là: thói quen ăn uống, ăn nhiều, thích ăn thức ăn dầu

mỡ, thích ăn vặt, ăn nhiều đồ ngọt, ít ăn rau, xem truyền hình, chơi game nhiều giờ

và ít vận động thể lực [22] Theo kết luận của Mai Thị Mỹ Thiện và cộng sự cần có các biện pháp can thiệp tỷ lệ TC-BP của trẻ dựa vào chế độ ăn uống, vận động và kiến thức dinh dưỡng của bố mẹ [35]

HUPH

Trang 20

1.3 Tác hại của bệnh béo phì:

1.3.1.Sự ảnh hưởng của béo phì tới tâm sinh lí của trẻ:

Khi đã bắt đầu có nhận thức, trẻ em đặc biệt quan tâm đến hình ảnh bản thân, muốn mình lớn lên sẽ đẹp, khỏe mạnh và vẻ đẹp đó được xã hội công nhận Bởi vậy khi bị béo phì, bị bạn bè chê cười, bị cô giáo nhìn với ánh mắt khác là lập tức gây

áp lực tâm lí đối với trẻ, đó là đều không thể tránh khỏi [31] Theo Hà Văn Thiệụ nghiên cứu những bất lợi ở trẻ thừa cân và béo phì thì có 16% trẻ béo phì tổn thương về tâm sinh lý [36]

1.3.2 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với trí năng của trẻ em:

Cái gọi là trí năng chính là năng lực tổng hợp thực tiễn xã hội của con người như khả năng ghi nhớ, tư duy, quan sát, tưởng tượng, hành động, biểu đạt,… Phòng nghiên cứu giáo dục thiếu nhi của đại học Y khoa Nam Ninh tiến hành nghiên cứu mức phát triển trí lực của 102 em học sinh béo phì dạng đơn thuần của 18 trường tiểu học thành phố Nam Kinh và 102 học sinh bình thường, trong điều kiện gần như nhau với những cách đo trí lực chuyên dùng Ngôn ngữ, mức phát triển trí lực và đối chiếu nhóm của các em học sinh béo phì không có gì khác biệt, nhưng thao tác phản xạ rõ ràng kém hơn Nói một cách khác, khả năng thao tác tay chân và tính nhịp nhàng của các em béo phì có những ảnh hưởng nhất định [31]

1.3.3 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh rối loạn lipid máu:

Béo phì là do sự tổng hợp mỡ tăng lên gây ra, vì vậy hàm lượng lipid trong huyết tương của người béo phì lớn Qua điều tra hàm lường mỡ trong máu của người béo phì, người ta phát hiện thấy hàm lượng triglycerid cà cholesterol trong huyết tương của trẻ béo phì tăng cao Theo Hà Văn Thiệu nghiên cứu những bất lợi

ở trẻ thừa cân và béo phì thì có 84,0% rối loạn lipid máu, trong đó cholesterol 34,0%, triglycerid 50,0% và rối loạn cả hai là 20,0%[36]

1.3.4 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh cao huyết áp:

Có tới 30-50% người mắc bệnh béo phì đồng thời mắc cả bệnh cao huyết áp Qua kiểm tra, tỷ lệ trẻ béo phì bị cao huyết áp cũng cao hơn nhiều so với những trẻ bình thường khác Theo kết quả một cuộc điều tra, tỷ lệ trẻ béo phì mắc bệnh cao

HUPH

Trang 21

huyết áp cao gấp 2-3 lần so với trẻ bình thường [31] Theo Lê Thị Hải theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ thừa cân béo phì tại Hà Nội từ năm 2000-2003 thì tỷ lệ tăng huyết áp ở trẻ TC-BP đều tăng qua các năm: 2000 (16%), 2001 (19,5%), 2002 (21,8%), 2003 (22,8%) [10]

1.3.5 Sự ảnh hưởng của béo phì đối với bệnh xương khớp (hoặc chiều cao):

Đối với trẻ TC-BP thì mức tăng trọng lượng cơ thể luôn nhanh hơn so với tăng trưởng chiều cao, chính vì vậy cơ thể trẻ phải chống đỡ với trọng lượng quá cân của cơ thể trong một thời gian dài dẫn đến sự ảnh hưởng của hệ thống chống đỡ như xương và khớp đặc biệt là chi dưới [31] Theo Lê Thị Hải theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ thừa cân béo phì tại Hà Nội từ năm 2000-2003 thì

tỷ lệ trẻ bị đau khớp tăng dần qua các năm: 2000 (4,8%), 2001 (6,6%), 2002 (8,0%),

1.3.7 Khi còn nhỏ mắc bệnh béo phì thì dễ mắc bệnh béo phì khi trưởng

thành:

Theo một học giả người Nhật cho rằng, béo phì thành niên cũng do một phần béo phì từ thời còn bé, khi béo phì thời trẻ con phát triển lên thành béo phì thành niên thì cũng mang theo các bệnh như cao huyết áp, mỡ trong máu cao,…, Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện trẻ sơ sinh có cân nặng nhỏ hơn 3200 gram thì tỷ lệ béo phì sau thành niên là 18,4%, còn cân nặng sơ sinh lớn hơn 4500 gram tỷ lệ béo phì sau thành niên là 32,2% Theo một số tài liệu trẻ sơ sinh béo phì chuyển thành béo phì khi trưởng thành gấp 2,3 lần trẻ sơ sinh bình thường [31]

HUPH

Trang 22

1.3.8 Sự ảnh hưởng của béo phì trẻ em đối với bệnh tiểu đường khi thành niên:

Bệnh tiểu đường có quan hệ mật thiết với béo phì Chức năng của đảo tụy bất thường dẫn tới đường trong máu thấp, insulin trong máu cao càng khá phổ biến trong trẻ em béo phì Ăn đường càng nhiều insulin tiết ra càng nhiều, xử lí đường càng nhanh, đường huyết sẽ nhanh chóng hạ xuống, tích lại dưới hình thức mỡ Ngoài ra, trong thời gian dài, tuyến tụy lâm vào tình trạng làm việc quá tải, cuối cùng sẽ dẫn tới mệt mỏi, lượng insulin tiết ra không đủ, làm đường huyết tăng cao, gây ra bệnh tiểu đường [31]

1.3.9 Sự ảnh hưởng của béo phì trẻ em đối với bệnh tim khi thành niên:

Theo Tổ chức Y tế thế giới bệnh tim mạch (chủ yếu là bệnh tim và đột quy)

là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong năm 2012 [68] Béo phì có quan hệ mật thiết với bệnh tim Ngoài ra do huyết áp của người béo phì tăng cao làm tăng gánh nặng của tim Chứng xơ vữa động mạch vành cũng làm suy yếu chức năng tim Người béo phì ít hoạt động thể lực, quá trình tuần hoàn của động mạch vành kém, cung cấp máu không đủ Những nguyên nhân trên kết hợp lại làm tỷ lệ mắc bệnh tim ở người béo phì tương đối cao [31]

2008 trên tòan thế giới có ít nhất là 2,8 triệu người chết do TC-BP [69] Trong tất

cả các khu vực của WHO phụ nữ có nhiều khả năng bị béo phì hơn so với nam

HUPH

Trang 23

giới Trong ba khu vực của WHO gồm Châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á, tỷ lệ béo phì ở phụ nữ đã gần gấp đôi tỷ lệ béo phì ở nam giới [69]

Tại các nước phát triển đã và đang gia tăng đến mức báo động Tại Mỹ theo

số liệu báo cáo của quốc gia và vùng lãnh thổ thì tỷ lệ TC-BP của người trưởng thành ở các vùng lãnh thổ đều trên 20% và cao nhất là 35,1% [51] Trong năm 2008 ước tính chi phí y tế cho cho bệnh béo phì ở Mỹ là 147 tỷ USD, chi phí y tế cho người béo phì luôn cao hơn người có trọng lượng bình thường [51] Theo Tổ chức

Y tế thế giới năm 2006 được tính theo chỉ số BMI thì tỷ lệ thừa cân ở các nước phát triển như sau:

Bảng 1 1 Tỷ lệ thừa cân của các nước phát triển

Nguồn: (WHO) năm 2006, tỷ lệ thừa cân ở các nước phát triển [65]

Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 được tính theo chỉ số BMI thì tỷ lệ thừa cân ở các nước đang phát triển tại khu vực Đông Nam Á như sau: Việt Nam (5,2%), Thái lan (31,5%), Malaysia (47,9%), Indonesia (13,4%), Philippine (24,0%), Lào (8,5%) và Singapore (32,5%) [64] Tại các nước khu vực ASEAN: Số liệu thừa cân béo phì (BMI > 25) [25] như sau:

Bảng 1 2 Tình hình thừa cân béo phì ở người trên 15 tuổi khu vực ASEAN năm

2005 và dự báo đến năm 2015

HUPH

Trang 24

Quốc gia

Tỷ lệ TC-BP

ở nữ (%) Năm 2005

Tỷ lệ TC-BP

ở nam (%) Năm 2005

Tỷ lệ TC-BP

ở nữ (%) Năm 2015

Tỷ lệ TC-BP

ở nam (%) Năm 2015

Tỷ lệ TC-BP ở trẻ em: Hơn 40 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì vào năm 2012 Tỷ lệ TC-BP cao nhất trong khu vực của WHO là châu Mỹ (62% đối với thừa cân ở cả hai giới và 26% là bệnh béo phì) và thấp nhất ở khu vực của WHO là khu vực Đông Nam Á (14% thừa cân ở cả hai giới và 3% là béo phì) [69]

Tỷ lệ béo phì ở trẻ em vẫn còn cao, trẻ từ 2-19 tuổi ở mức khoảng 17,0% kể từ năm 2003-2004 và không thay đổi cho đến năm 2012, riêng trẻ từ 2-5 tuổi đã giảm từ 13,9% năm 2003 xuống còn 8,4% năm 2012[51] Tại Hàn Quốc tỷ lệ béo phì ở trẻ

em và thanh thiếu niên tăng từ 13,2% năm 2009 lên 15,3% năm 2013 [72] Năm

1987 theo điều tra 3 vạn trẻ em ở Bắc Kinh cho thấy tỷ lệ chung của trẻ em mắc bệnh béo phì là 10,5%, từ 7-13 tuổi là 18,1%, từ 1-6 tuổi là 11,8%, trẻ sơ sinh là 5,6%, tỷ lệ mắc bệnh béo phì ở Thượng Hải là 12% Theo kết quả điều tra tại Trung

HUPH

Trang 25

Quốc vào năm 2014 của Xue Y và cộng sự ở 814 trẻ em ở độ tuổi 7-12 tuổi thì tỷ lệ thừa cân là 22,88% và béo phì là 9,09% [71] Theo kết quả nghiên cứu của Lozano-Rojas G và các cộng sự về tỷ lệ TC-BP ở trẻ vị thành niên tại một khu đô thị của Lima-Peru năm 2012, tỷ lệ thừa cân là 33.7% và tỷ lệ béo phì là 14,4% [53] Điều đáng lo ngại là sự gia tăng TC-BP ở lứa tuổi trẻ em trên phạm vi toàn cầu với tỷ lệ trung bình hàng năm là 10% Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về TC-BP của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ

em dưới 5 tuổi bị TC-BP (35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân Tỷ lệ TC-BP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% năm 1990 lên 6,7% năm 2010 Với xu hướng này thì

dự kiến đến năm 2020 sẽ lên đến 9,1%, tương đương với khoảng 60 triệu trẻ em bị TC-BP [56]

Tại Châu Á, tỷ lệ TC-BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng Theo kết quả của phòng nghiên cứu Nhi khoa kết hợp với bệnh viện Nhi Đồng Bắc Kinh,

từ năm 1987 trở đi, sau 8 năm liên tiếp nghiên cứu trên 468 em học sinh thì kết quả cho thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ em 6 tuổi là 4,9%, số lượng trẻ béo phì từ 9 tuổi trở lên đặc biệt tăng nhanh đến 13 tuổi đã đạt 16,2%, cao gấp 3 lần trẻ 6 tuổi [31] Ở Thái Lan, trong những năm 1990, tỷ lệ béo phì ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16% chỉ trong vòng 2 năm [63] Tuy nhiên trong 2 thập kỷ qua, tỷ lệ TC-BP dường như

đã không tăng ở Châu Mỹ Latinh, trong khi đó tỷ lệ này tăng rất cao ở Châu Phi và Châu Á [56]

1.4.2 Tình hình thừa cân –béo phì ở Việt Nam

Việt Nam cải thiện nhanh về tỷ lệ suy dinh dưỡng nhưng lại xuất hiện sự gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì tạo một gánh nặng kép mà khởi đầu là các khu đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,… Tại Việt Nam ở người lớn tỷ lệ thừa cân (có chỉ

số BMI ≥25) là 5% năm 2000 và 5,2% năm 2002 [64] Theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng, tỷ lệ thừa cân béo phì (BMI ≥25) cả nước ở người trưởng thành năm 2010

là 17,6% ở thành phố trung ương, 10,3% ở thành phố địa phương, 5,6% ở xã nông thôn không nghèo và 6,1% ở xã nông thôn nghèo Bên cạnh đó, tỷ lệ béo phì ở trẻ 6

HUPH

Trang 26

tuổi tăng từ 4,4% năm học 1999-2000 lên 10,4% năm học 2002-2003, tỷ lệ béo phì trẻ 7 tuổi tăng từ 1% năm học 1999-2000 lên 9,5% năm học 2002-2003 [7], và cũng theo kết quả điều tra năm 2009 của Viện Dinh Dưỡng, Unicef và Tổng Cục Thống

Kê tỷ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi là 5,6% (ở thành phố 6,5% và ở nông thôn 4,2%)

Tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng So với năm 2000, tỷ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi hiện cao hơn 6 lần [45] Mặc dù mới xuất hiện nhưng thừa cân - béo phì ở nông thôn lại có tốc độ tăng nhanh hơn thành thị: Năm 2000 TC-BP trẻ < 5 tuổi ở thành thị là 0,86%, năm 2004 là 5,4%, năm 2005 là 5,7%, năm 2008 là 5,8% và đến năm

2009 cũng chỉ 5,7% [27].Trong khi đó có 4,9% trẻ 4 - 6 tuổi tại Hà Nội bị TC-BP

thì ở TP Hồ Chí Minh tỷ lệ này còn cao hơn rất nhiều: 6% trẻ < 5 tuổi và 22,7% học sinh cấp I [14] Theo thống kê của bác sĩ Trần Thị Ngọc Bích bệnh viện Nhi Đồng 1, trẻ em đến khám bệnh tại bệnh viện đã gặp: (2,2% trẻ béo phì năm 1994; 5,4% trẻ béo phì năm 1995; 7,9% trẻ béo phì năm 1996) [14] Theo kết quả điều tra của Vũ Thị Thư về Thực trạng thừa cân béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh 8-11 tuổi của một số trường tiểu học tại Hà Nội năm 2003 thì tỷ lệ TC-BP là 7,5% và 3,5% [39] Theo thống kê của Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, tình trạng thừa cân, béo phì trong lứa tuổi học sinh tiểu học gia tăng đáng kể, đến cuối năm

2010 tỷ lệ là 11,5% Qua cuộc khảo sát, tỷ lệ học sinh thừa cân, béo phì tại các trường học ở các quận trung tâm của TP HCM tăng bình quân hằng năm 20% Một

số nơi tỷ lệ học sinh tiểu học bị thừa cân, béo phì lên tới 38,5%, có trường gần 40% [41] Nghiên cứu cắt ngang năm 2007 tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh ở học sinh từ 9-11 tuổi cho thấy tỷ lệ béo phì ở các trường ở trung tâm thành phố cao hơn các trường ở ngoại thành, cụ thể tại TP Hà Nội thì tỷ lệ béo phì của trường ở quận Đống Đa là 7,1%, ở huyện Đông Anh là 1,1% Tại TP Hồ Chí Minh trường học ở quận 1 có tỷ lệ béo phì là 41,1% và trường ở quận 7 có tỷ lệ là 10,8% [9]

1.5 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP:

1.5.1 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP trên thế giới:

Theo kết quả điều tra tại Trung Quốc vào năm 2014 của Xue Y và cộng sự ở

814 trẻ em ở độ tuổi 7-12 tuổi thì tỷ lệ thừa cân là 22,88% và béo phì là 9,09% [71]

HUPH

Trang 27

Theo kết quả nghiên cứu của Lozano-Rojas G và các cộng sự về tỷ lệ TC-BP ở trẻ

vị thành niên tại một khu đô thị của Lima-Peru năm 2012 thì tỷ lệ thừa cân là 33.7%

và tỷ lệ béo phì là 14,4% [53] Theo nghiên cứu của Pirincci E và cộng sự về “Tỷ lệ

và yếu tố nguy cơ đến thừa cân và béo phì trong trường tiểu học ở thành phố Elazig, Đông Thổ Nhĩ Kỳ năm 2007” có tỷ lệ thừa cân là 13,2% và béo phì là 1,6%, ăn trong khi xem tivi và ăn thức ăn nhanh có liên quan đến TC-BP [52] Theo nghiên cứu của Li N và cộng sự về “Cân nặng khi sinh có nguy cơ thừa cân và béo phì ở trẻ dưới 3 tuổi ở Trung Quốc” có kết quả là cân nặng khi sinh có liên quan đến thừa cân và tỷ lệ thừa cân lúc 6 tháng là 34,7%/16,8%, 1 tuổi là 36,4%/17,7%, 2 tuổi là 26,6%/11,0%, 3 tuổi là 22,3%/9,3% cho trẻ trai và trẻ gái tương ứng [60] Theo nghiên cứu của Wu LJ và cộng sự “Mối liên quan gữa béo phì và huyết áp ở trẻ 7-

10 tuổi tại Trung Quốc” kết luận là béo phì có liên quan đến tăng huyết áp ở trẻ em[55]

1.5.2 Các nghiên cứu đã tiến hành về TC-BP ở học sinh tiểu học tại Việt Nam:

Theo Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự nghiên cứu về “Thừa cân béo phì

và một số đặc điểm dich tễ học ở học sinh tiểu học tại quận 10 TP Hồ Chí Minh năm học 2008 – 2009” thì tỷ lệ TC-BP là 20,8% và 7,7% [7] Theo Trương Tuyết Mai và cộng sự nghiên cứu về “Tình trạng thừa cân béo phì và rối loạn lipid máu ở trẻ 4-9 tuổi tại một số trường ở quận Hoàn Kiếm Hà Nội” thì tỷ lệ TC-BP là 21,9%

và 18,0% và học sinh nam có tỷ lệ cao hơn học sinh nữ [19] Theo Phan Thanh Ngọc nghiên cứu về “Mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng với thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên” thì tỷ lệ TC-BP là 18,1%, trong đó tỷ lệ TC-BP ở trẻ nam cao hơn trẻ trẻ nữ và tỷ lệ TC-BP cao nhất ở trẻ 8 tuổi [21] Theo Đặng Oanh nghiên cứu về “tình trạng thừa cân béo phì của học sinh tiểu học tại Tây Nguyên năm 2010” thì tỷ lệ TC-BP tại 4 thành phố thuộc khu vực Tây Nguyên là 6,1%, trong đó tại Buôn Ma Thuột là 9,1%, PleiKu là 7,8%, tại thị xã Gia Nghĩa và thành phố Kom Tum là 3,6% [26] Theo Nguyễn Doãn Thành và cộng sự nghiên cứu về “Tình trạng dinh dưỡng ở học sinh tiểu học quận 5 thành phố Hồ Chí Minh” thì 21,2% học sinh có nguy cơ bị thừa cân và tỷ lệ nam sinh có nguy cơ thừa cân và

HUPH

Trang 28

thừa cân cao hơn so với nữ sinh [33] Theo Lê Thị Kim Quí và cộng sự nghiên cứu

về “ Hiệu quả của một số giải pháp can thiệp phòng chống thừa cân béo phì cho học sinh tiểu học tại quận 10 TP Hồ Chí Minh năm học 2008 – 2009” thì tỷ lệ TC-BP là 20,8% và 7,7% và đa số học sinh TC-BP đều là nam giới [29] Theo Ngô Văn Quang và cộng sự nghiên cứu về “Thừa cân và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học thành phố Đà Nẵng” thì có 4,9% được xác định là thừa cân, 7,7% là nguy cơ thừa cân và trẻ trai cao gấp 4 lần trẻ gái [28] Theo Trương Thanh nghiên cứu về

“Thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học thành phố Vũng Tàu” thì tỷ lệ TC-BP là 9,9% [34]

Theo Cao Thị Yến Thanh và cộng sự nghiên cứu về “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì của học sinh tiểu học nội thành thành phố Buôn Ma thuột năm 2004” thì Tỷ lệ TC-BP là 10,4% và các yếu tố liên quan đến TC-BP là thói quen ăn uống, hoạt động của trẻ và sự hiểu biết của bố mẹ [32] Theo

Lê Thị Hợp nghiên cứu về “Mối liên quan giữa tập quán, thói quen ăn uống với thừa cân béo phì của học sinh tiểu học quận Đống Đa-Hà Nội” thì tỷ lệ thừa cân là 9,9% và trẻ thừa cân tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng (bơ, chất béo, chất béo thịt

và các thực phẩm rán), các bữa ăn thêm mỗi ngày đều cao hơn nhóm không béo phì, thời gian dành cho các hoạt động định canh định cư, đặc biệt là xem tivi và chơi trò chơi điện tử của nhóm thừa cân cao hơn đáng kể so với nhóm khác [16] Theo Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự nghiên cứu về “Xu hướng gia tăng thừa cân béo phì trẻ tiền học đường và học đường thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010 và yếu

tố liên quan” thì tỷ lệ TC-BP ở trẻ dưới 5 tuổi tăng gấp 3 lần từ 3,7% (năm 2000) tăng lên 10,7% (năm 2010), tỷ lệ thừa cân ở học sinh 6-18 tuổi tăng từ 11,6% (năm 2002) tăng gấp đôi lên 21,9% (năm 2009), tỷ lệ béo phì cũng tăng từ 4,0% (năm 2002-2004) lên 7,3% (năm 2009) Yếu tố liên quan của thừa cân ở học sinh TP Hồ Chí Minh là kinh tế gia đình khá/giàu, nam giới và sống ở vùng nội thành [12] Theo Vương Thuận An nghiên cứu về “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ lứa tuổi từ 6-11 tại trường tiểu học Kim Đồng thị xã Tây Ninh năm 2009” thì tỷ lệ thừa cân là 20,3%, béo phì là 13,7% và các yếu tố liên quan như tình trạnh thừa cân của bố (OR=3,7), trẻ không bú sữa mẹ hoàn toàn (OR=1,56), trung

HUPH

Trang 29

bình thời gian hoạt động tĩnh (học bài, xem tivi, chơi game, ) nhiều hơn trung bình thời gian hoạt động động [1] Theo Hoàng Thị Đức Ngàn nghiên cứu về "Mối liên quan tiêu thụ thực phẩm, hoạt động thể lực với thừa cân, béo phì ở trẻ em tiểu học

và tác động của điều kiện kinh tế xã hội” thì tỷ lệ TC-BP của trẻ lần lượt là 16,8%

và 14,7 % Trẻ tiêu thụ nước giải khát và các thực phẩm giàu đường/mật có nguy cơ TC-BP tăng 2-6 lần, tiêu thụ thực phẩm giàu chất béo và tinh bột của trẻ ở những gia đình có kinh tế thấp có thể làm tăng nguy cơ TC-BP Giới tính nam, việc sử dụng máy vi tính và thời gian hoạt động tĩnh tại cũng làm tăng nguy cơ TC-BP của trẻ [20] Theo Trịnh Thị Thu Thủy nghiên cứu về “Nghiên cứu tình trạng thừa cân béo phì và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh 6-11 tuổi tại quận Đống Đa”, trẻ ăn nhanh và ăn thêm bữa tối trước khi ngủ, hoạt động tĩnh tại đều là yếu tố nguy cơ TC-BP của trẻ [40] Theo Bùi Đức Văn nghiên cứu về “Nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học tại huyện Cái Nước tỉnh Cà Mau năm 2009” thì tỷ lệ TC-BP là 7,26%, thói quen ăn uống nhiều chất béo, thích ăn ngọt, thời gian tĩnh tại dài, cân nặng lúc sinh >3500gram, có bố và mẹ thừa cân, tần xuất tiêu thu thực phẩm thịt mỡ, chiên rán đều là yếu tố nguy cơ TC-BP của trẻ [43] Theo Trần Thị Xuân Ngọc nghiên cưu về “Thực trạng và hiệu quả can thiệp thừa cân béo phì của

mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng ở trẻ em từ 6-14 tuổi tại Hà Nội” thì tỷ

lệ TC-BP là 10,7%, thói quen phàm ăn hay ăn vặt, có bố mẹ và anh chị em thừa cân, gia đình có mức chi tiêu ăn uống cao và chơi game ≥ 2 giờ/ngày đều là yếu tố nguy

cơ TC-BP của trẻ [23]

1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu:

Thành phố Sóc Trăng có tổng số hộ là 30.414 136.129 , mật độ dân số 1.787 người/km2

c 03 , là đầu mối giao lưu giữa các huyện, thị xã trong tỉnh Phía Bắc của Thành phố giáp huyện Châu Thành và Long Phú; phía Nam giáp với Huyện Mỹ

Tú, Mỹ Xuyên và Trần Đề; phía Đông giáp với huyện Trần Đề và Long Phú; phía Tây giáp với huyện Mỹ Tú, Mỹ Xuyên và Thạnh Trị tổng diện tích tự nhiên là 7.616 ha, được chia thành 10 phường với 60 khóm Thành phố Sóc Trăng có vị trí

HUPH

Trang 30

nằm ở trung tâm đầu mối giao thông đường bộ như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 60, nằm giữa 2 tuyến Quốc lộ 91C (Nam Sông Hậu) và quản lộ Phụng Hiệp Đường thủy có sông Maspero, sông Santard đi ra Đại Ngãi dễ dàng lưu thông đến cảng Cái Côn, Cái Cui ở phía Bắc và cảng biển Trần Đề ở phía Nam,…Thành phố Sóc Trăng là một trong những đô thị trung tâm của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao lưu kinh tế của tỉnh

rộng mối quan hệ giao lưu văn hóa, tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy phát triển nhanh nền kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp

Toàn thành phố có 10 trạm y tế, trong năm 2014 có 8 phường đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 Trong năm học 2013 - 2014 vừa qua, toàn thành phố có 49 trường với 29.531 học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông, trong đó có 18 trường tiểu học với 12.472 học sinh Về Y tế học đường, trong năm

2014 Trung tâm Y tế thành phố Sóc Trăng đã khám sức khỏe cho học sinh từ mầm non đến trung học cơ sở đạt tỷ lệ 100%

Thành phố Sóc Trăng (TPST) được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III vào năm 2005 và được Chính phủ công nhận là thành phố vào năm 2007 - với diện tích tự nhiên trên 7.616 ha Hiện thành phố đang được UBND tỉnh chỉ đạo điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng với định hướng lên đô thị loại II, đồng thời mở rộng địa giới hành chính ra các hướng về Cần Thơ và hướng Đông, Đông-Nam thành phố (hướng Mỹ Xuyên) với diện tích sau khi mở rộng khoảng 12.000 ha và dân số khoảng 200.000 người Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 15%, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố cũng liên tục tăng nhanh, hiện đạt trên 53 triệu đồng/người/năm, đến nay thành phố Sóc Trăng cơ bản không còn

hộ nghèo Những năm gần đây, ở thành phố Sóc Trăng cùng với phát triển kinh tế thì tốc độ phát triển hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại ngày càng gia tăng cả

về số lượng, quy mô và đa dạng về ngành nghề kinh doanh Các siêu thị, trung tâm thương mại đã góp phần đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng tăng của nhân dân, phù hợp với xu thế hiện tại Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi để thị trường bán lẻ của

HUPH

Trang 31

thành phố ngày càng phát triển Bên cạnh đó thì các cửa hàng bán thức ăn nhanh tại

hệ thống siêu thị rất phát triển, đồng thời các nhà hàng, quán ăn cũng phát triển rất

nhiều để phục vụ nhu cầu ăn uống, vui chơi, giải trí của người dân

HUPH

Trang 32

- Thay đổi lối sống

- Sự sẵn có của thức ăn nhanh

- Thiếu sân chơi cho trẻ vận động

Yếu tố chế

độ ăn uống:

- Ăn nhiều chất béo

- Ăn thừa năng lượng

- Ăn nhiều

đồ ăn nhanh

- Mức độ háu ăn của trẻ

- Thói quen

ăn vặt của trẻ

- Mức độ

ăn vặt của trẻ

- Tổng số bữa ăn trong 1 ngày

- Loại thực phẩm trẻ thích ăn

Yếu tố hoạt động thể lực:

- Phương tiện trẻ đến trường

- Thời gian trẻ dành cho các hoạt động

- Sở thích vận động của trẻ

- Mức độ hoạt động của trẻ

HUPH

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh đang học tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Sóc Trăng

- Cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp học sinh

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ ngày 10/12/2014 đến 31/7/2015

- Địa điểm: Một số trường tiểu học tại địa bàn thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc

Trăng

2.3 Thiết kế nghiên cứu: chia thành 2 giai đoạn

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ thừa cân – béo

phì ở học sinh tiểu học thành phố Sóc Trăng

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu bệnh chứng để tìm hiểu một số yếu tố liên quan

đến thừa cân – béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Sóc Trăng

n: là kích thước mẫu tối thiểu cần có

Trang 34

Do chọn mẫu cụm nên ta nhân đôi cỡ mẫu, ta có cỡ mẫu cần nghiên cứu là

- Nhóm chứng (nhóm không TC – BP): là số học sinh nhóm chứng (không

TC – BP) đồng ý trả lời phiếu điều tra bằng hoặc nhiều hơn với số học sinh TC –

BP qua điều tra cắt ngang ở giai đoạn 1 (theo tỷ lệ 1:3 thì có 681 đối tượng tham gia nghiên cứu)

2.5 Phương pháp chọn mẫu

- Giai đoạn 1:

Thành phố Sóc Trăng hiện có 18 trường tiểu học, tổng số 12.472 học sinh

Chọn trường: Chọn ngẫu nhiên 3 trường tại 3 khu vực trên địa bàn thành phố Mỗi trường chọn 400 học sinh

Chọn lớp: Mỗi lớp là 1 cụm (mỗi lớp có khoảng 40 học sinh) nên mỗi trường chọn 10 lớp (tương ứng với 400 học sinh), chọn ngẫu nhiên mỗi khối 2 lớp

Chọn học sinh: Mỗi lớp được chọn, chọn toàn bộ học sinh

- Giai đoạn 2:

* Nhóm bệnh (nhóm TC – BP): là toàn bộ số học sinh được xác định là TC –

BP qua điều tra cắt ngang đồng ý trả lời phiếu điều tra (227 đối tượng nghiên cứu)

* Nhóm chứng (nhóm không TC – BP): là số học sinh không TC – BP có cùng tuổi, cùng giới với nhóm bệnh đồng ý trả lời phiếu điều tra (số học sinh nhóm chứng bằng hoặc nhiều hơn với số học sinh nhóm TC-BP theo tỷ lệ 1:3) (681 đối tượng nghiên cứu)

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Thu thập số đo nhân trắc của trẻ

- Cách tính tuổi: lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh

- Cân trọng lượng:

HUPH

Trang 35

+ Dùng cân điện tử Tanita với độ chính xác 100gr Cân được hiệu chỉnh trước khi cân và sau khi cân mỗi 10 học sinh

+ Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0 Học sinh chỉ được mặc quần áo mỏng (đồng phục), không đi dép, đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng

+ Cân nặng được ghi bằng kilogram (kg) với một số lẻ

- Đo chiều cao đứng:

+ Dùng thước đo dinh dưỡng 3 mảnh bằng gỗ của Unicef với độ chính xác 1mm

+ Để thước đo theo chiều thẳng đứng vuông góc với mặt đất nằm ngang, học sinh không đi dép, đứng quay lưng vào thước đo Gót chân, bắp chân, mông, bả vai và chẩm theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình Người đo dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước

+ Chiều cao được ghi bằng centimet (cm) với một số lẻ

- Thu thập số đo nhân trắc: Cân trọng lượng và đo chiều cao của trẻ được

tiến hành tại trường của trẻ đang học, thời gian bắt đầu cân đo là sau giờ chơi của mỗi buổi, sử dụng các công cụ thu thập như: cân điện tử Tanita, thước đo dinh dưỡng 3 mảnh bằng gỗ của Unicef và phiếu điều tra nhân trắc (phụ lục 1)

2.6.2 Phát vấn

Phát vấn bằng bộ câu hỏi được soạn sẵn trong phiếu phát vấn (phụ lục 2) thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp của trẻ, gửi đến nhà cho cha, mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp của trẻ được chọn trong nhóm bệnh và nhóm chứng (giai đoạn 2) trả lời và gửi lại sau một tuần để thu thập một số yếu tố liên quan Sau khi Phụ huynh nộp lại phiếu phát vấn thì điều tra viên đến nhà phỏng vấn điều tra tần xuất

sử dụng thực phẩm 1 tháng qua của trẻ (phụ lục 3): để thu thập yếu tố liên quan về tiêu thụ thực phẩm của trẻ

HUPH

Trang 36

- Nhóm biến số về kinh tế xã hội: kinh tế của gia đình trẻ

- Nhóm biến số chế độ ăn uống của trẻ: mức độ háu ăn (ăn nhanh), thói quen

ăn vặt, mức độ ăn vặt, tổng số bữa ăn của trẻ trong 1 ngày, mức độ ăn uống bên ngoài của gia đình trẻ, loại thực phẩm trẻ thích ăn (thói quen) và tần xuất tiêu thụ thực phẩm trong 1 tháng vừa qua của trẻ

- Nhóm biến số về vấn đề vận động của trẻ: phương tiện trẻ đến trường, sở thích vận động của trẻ, mức độ hoạt động của trẻ và thời gian hoạt động trong 1 ngày của trẻ

Chi tiết về biến số nghiên cứu (xem tại phụ lục 5)

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

- Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2007, tình trạng thừa cân béo phì của trẻ 5 – 19 tuổi được đánh giá theo chỉ số Z-Score (BMI theo tuổi và giới) [47], cụ thể:

- Z-Score của BMI < -3SD: Suy dinh dưỡng mức độ nặng

- -3SD ≤ Z-Score của BMI < -2SD: Suy dinh dưỡng mức độ vừa

- -2SD ≤ Z-Score của BMI ≤ +1SD: Binh thường

- +1SD < Z-Score của BMI ≤ +2SD: Thừa cân

- Z-Score của BMI > +2SD: Béo phì

- Đánh giá kiến thức của phụ huynh học sinh về phòng chống TC-BP (xem phụ lục 4)

2.9 Phương pháp phân tích số liệu

Làm sạch số liệu: các phiếu cân đo và bộ câu hỏi sau khi điều tra sẽ được kiểm tra và bổ sung nếu có thiếu sót (Hỏi trực tiếp đối tượng trả lời phiếu điều tra khi tiến hành phỏng vấn điều tra tần xuất sử dụng thực phẩm 1 tháng qua của trẻ)

Nhập và xử lý số liệu:

HUPH

Trang 37

- Số liệu nhân trắc được nhập bằng phần mềm Anthro plus và xử lý bằng phần mềm SPSS 18 Sử dụng các phép kiểm định: xác định tần số và tỷ lệ (%)

- Các phiếu điều tra được nhập bằng phần mềm epidata 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 18 Sử dụng các phép kiểm định: xác định tần số và tỷ lệ (%), kiểm định chi bình phương để đánh giá sự khác biệt thống kê (p<0,05), tỷ số chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% (KTC 95%)

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu được triển khai sau khi được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng thông qua

- Khi tiến hành nghiên cứu phải được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu các trường, phụ huynh học sinh và học sinh

- Nghiên cứu đảm bảo người tham gia nghiên cứu không chịu sự tổn hại nào

về tinh thần hay thể chất (hàng năm việc tham gia cân đo của trẻ tại trường được diễn ra theo định kỳ 2 lần 1 năm nên không ảnh hưởng gì về việc cân đo trẻ trong quá trình nghiên cứu) Sự tham gia của phụ huynh học sinh là tự nguyện, người tham gia được quyền chọn lựa tham gia hay từ chối tham gia nghiên cứu, được quyền từ chối trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi

- Kết quả nghiên cứu sẽ được giữ bí mật cho đối tượng nghiên cứu chỉ được

sử dụng để đưa ra các khuyến nghị nhằm lựa chọn các giải pháp phòng và chống TC-BP ở trẻ em tuổi học đường, mà không sử dụng vào các mục đích khác

2.11 Sai số và biện pháp khắc phục

- Sai số đo lường: Chuẩn hóa và hiệu chỉnh cân và thước đo trước khi điều tra và trong quá trình cân đo, mỗi 10 trẻ thì được cân đo lại 2 trẻ Chọn cân điện tử Tanita có mức sai số tối thiểu (100gr), chọn thước đo dinh dưỡng 3 mảnh bằng gỗ của Unicef có mức sai số tối thiểu (1mm) Tập huấn cho điều tra viên cách cân, đo

và cách trả lời câu hỏi khi đối tượng tham gia nghiên cứu hỏi về bộ câu hỏi

- Sai số hồi tưởng/nhớ lại: giảm thiểu bằng cách chủ yếu hỏi những câu hỏi

mà đối tượng nghiên cứu dễ nhớ như: tăng cân khi mang thai, cân nặng của con khi sinh,…

HUPH

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Theo công thức tính cỡ mẫu thì dự kiến có 1200 học sinh được điều tra (mỗi trường 400 học sinh, chọn 10 lớp, mỗi lớp 40 học sinh) Trên thực tế đã có 1305

học sinh được điều tra (do mỗi lớp đều có số học sinh lớn hơn 40)

Bảng 3 1 Tần số và tỷ lệ trẻ phân bố theo giới, tuổi, dân tộc

số (70,3%)

HUPH

Trang 39

Bảng 3 2 Tỷ lệ thừa cân – béo phì của trẻ phân bố theo tuổi

Kết quả bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ thừa cân tập trung nhiều ở nhóm 9-10 tuổi, tỷ

lệ béo phì tập trung nhiều ở nhóm 7-9 tuổi

3.2 Tỷ lệ thừa cân – béo phì của trẻ:

Bảng 3 3 Cân nặng trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới

Kết quả bảng 3.3 cho thấy cân nặng trung bình của học sinh 6-11 tuổi không

có sự khác biệt giữa 2 giới nam và nữ (p>0,05), sự gia tăng cân nặng giữa các nhóm tuổi tương đối đồng đều ở cả nam và nữ Tuy nhiên ở nhóm 8 tuổi thì sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

HUPH

Trang 40

Bảng 3 4 Chiều cao trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới

Kết quả bảng 3.4 cho thấy chiều cao trung bình của học sinh 6-11 tuổi không

có sự khác biệt giữa 2 giới nam và nữ (p>0,05), sự gia tăng chiều cao giữa các nhóm tuổi tương đối đồng đều ở cả nam và nữ Tuy nhiên ở nhóm 10 tuổi thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Bảng 3 5 Z-score của BMI theo tuổi và giới trung bình của học sinh theo nhóm tuổi và theo giới

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w