Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1/ Mô tả thực trạng phụ nữ sau sinh có dấu hiệu trầm cảm và 2/ Xác định một số yếu tố liên quan ở phụ nữ sau sinh tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ TÂM
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI XÃ LẠC VỆ,
HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
Trang 2NGUYỄN THỊ TÂM
THỰC TRẠNG TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI XÃ LẠC VỆ, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện thuận lợi của lãnh đạo, thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên, tôi xin gửi lời cám ơn tới Ban Giám Hiệu cùng các thầy cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Với lòng biết ơn sâu sắc, học viên xin bày tỏ lòng kính trọng tới TS Nguyễn Thanh Bình và TS Dương Minh Đức đã tận tình hướng dẫn khoa học và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin cám ơn ThS Nguyễn Thị Nga, người bạn và cũng
là giáo viên của Nhà trường đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi tôi hoàn thiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm y tế huyện Tiên Du, Trạm y tế xã Lạc Vệ đã tạo mọi điều kiện và giúp
đỡ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Cuối cùng tôi luôn ghi nhớ sự chia sẻ, động viên, hết lòng giúp đỡ của gia đình, bạn bè cho tôi thêm nghị lực để hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Trang 4ii
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Thực trạng trầm cảm sau sinh 9
1.4 Các thang đo đánh giá trầm cảm sau sinh 18
1.5 Khung lý thuyết 21
1.6 Địa bàn nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 26
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6 Các biến số/chủ đề nghiên cứu: 30
2.7 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 30
2.8 Quản lý và phân tích số liệu 31
2.9 Đạo đức nghiên cứu 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33
Trang 5iii
3.2 Thực trạng trầm cảm sau sinh của các bà mẹ 34
3.3 Xác định một số yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh của các bà mẹ 41
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Thực trạng PNSS có dấu hiệu trầm cảm của mẫu nghiên cứu 52
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng TCSS 53
4.2.1 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân, sức khỏe của mẹ và TCSS 54
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Phụ Lục 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 69
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi nghiên cứu 70
Phụ lục 3: PHIẾU TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ 83
Phụ lục 4: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU 86
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU PHỤ NỮ SAU SINH 88
Phụ lục 5: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 91
Trang 6iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
EPDS Endinburgh Postnatal Depression Scale
(Thang đo trầm cảm phụ nữ sau sinh Edinburgh) PDSS The Postpartum Depression Screening Scale
(Thang đo trầm cảm phụ nữ sau sinh của Beck) PNSS Phụ nữ sau sinh
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1:Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33 Bảng 3.2: Mô tả chi tiết điểm các câu trả lời theo thang đo EPDS 34 Bảng 3.5: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và đặc điểm nhân khẩu học của mẹ 41 Bảng 3.6: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và tình trạng hộ gia đình 41 Bảng 3.7: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và tiền sử sản khoa, tiền sử bệnh tật của người mẹ 42 Bảng 3.9: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và yếu tố thuộc nhóm sức khỏe của trẻ 45 Bảng 3.10: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và yếu tố chăm sóc giai đoạn sau sinh 46 Bảng 3.11: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và các yếu tố thuộc sự hỗ trợ của gia đình và xã hội 47 Bảng 3.12: Mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và yếu tố sự hỗ trợ bà mẹ nhận được 49
Trang 8vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ TCSS theo tháng tuổi của trẻ 39 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ TCSS theo số con của bà mẹ 40 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ PNSS có dấu hiệu trầm cảm trong mẫu nghiên cứu 40
Trang 9vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Theo báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới, trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật trên toàn thế giới, khoảng 45-70% những người tự sát có rối loạn trầm cảm và 15% số bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát.Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra trầm cảm sau sinh (TCSS) có nhiều hậu quả tiêu cực đối với không chỉ người mẹ mà còn cho trẻ sơ sinh và gia đình Gần đây tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về chủ
đề này, tuy nhiên nghiên cứu về TCSS ở vùng nông thôn còn rất hạn chế Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1/ Mô tả thực trạng phụ nữ sau sinh có dấu hiệu trầm cảm và 2/ Xác định một số yếu tố liên quan ở phụ nữ sau sinh tại xã Lạc
Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2018
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang, chọn mẫu toàn bộ 202 bà mẹ có con trong giai đoạn 1-6 tháng tuổi trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018 có hộ khẩu thường trú tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du tham gia vào nghiên cứu Các thông tin được thu thập thông qua bộ câu hỏi định lượng và phỏng vấn sâu Tình trạng TCSS được đánh giá qua thang đo Endinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS) Số liệu được nhập bằng Epidata và phân tích bằng phần mềm SPSS
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ sau sinh có dấu hiệu trầm cảm trong cộng đồng là 10,2%, chỉ số EPDS trung bình là 8,9 ± 5,9 điểm Các yếu tố được tìm thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới tình trạng TCSS gồm: tính chất nghề nghiệp không ổn định của mẹ (OR=5, p<0,05), bé hay ốm đau (OR=4,6, p<0,05), bé quấy khóc (OR=6,5, p<0,05), khó khăn khi cho bé ăn, ngủ (OR=2,7, p<0,05), mẹ mất ngủ sau sinh (OR=3,7, p<0,05), mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong gia đình (OR=3, p<0,05), quan hệ vợ chồng không tốt (OR=3,3, p<0,05), quan hệ với bố mẹ chồng không tốt (OR=2,9, p<0,05), sự hỗ trợ, chia sẻ của chồng (OR=3,2, p<0,05), hỗ trợ chia sẻ cảm xúc (OR=2,7, p<0,05)
Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị: cần có những chương trình, hoạt động cải thiện thực trạng TCSS trên địa bàn, tập trung vào những nhóm phụ nữ có các đặc điểm: tính chất nghề nghiệp không ổn định, kinh tế phụ thuộc vào gia đình, bị áp lực giới tính, em bé hay ốm, không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, chồng
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới (TCYTTG) trầm cảm (TC) là nguyên nhân hàng đầu gây ra tàn tật trên toàn thế giới, có đến 3-5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm rõ rệt [18] Khoảng 45-70% những người tự sát có rối loạn trầm cảm
và 15% số bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát Mỗi năm căn bệnh này cướp đi 850.000 mạng người, đến năm 2020 trầm cảm sẽ là căn bệnh xếp thứ 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu người mắc bệnh nhưng chỉ có 25%
số đó được điều trị kịp thời và đúng phương pháp [6]
Trầm cảm xảy ra và ảnh hưởng mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội Các yếu tố có thể dẫn tới tỷ lệ trầm cảm tăng cao như mất người thân, mất việc, bị lạm dụng Theo báo cáo của TCYTTG năm 2008, trong khi trầm cảm xảy ra ở cả nam
và nữ, thì gánh nặng trầm cảm ở nữ giới cao gấp hai lần so với nam giới (WHO, 2008), đặc biệt là nữ giới trong giai đoạn mang thai và sinh con Việc làm mẹ gây ra nhiều thay đổi đột xuất và được coi là một biến cố gây stress phổ biến trong cuộc đời người phụ nữ Trong những năm gần đây, stress ở giai đoạn sau sinh hay còn gọi là bệnh trầm cảm ở phụ nữ sau sinh có xu hướng tăng nhanh Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh khá cao, từ 10-30% [7, 31, 45] Ngoài ra, trầm cảm sau sinh (TCSS) có nhiều hậu quả tiêu cực đối với không chỉ người mẹ
mà còn cho trẻ sơ sinh và gia đình Một trong những hậu quả trầm trọng và đáng lo ngại nhất của trầm cảm là tự tử Người mẹ có thể xuất hiện những ý nghĩ, hành vi tự sát, hủy hoại bản thân mình và nguy hiểm hơn nữa là hủy hoại chính đứa con mình
đã sinh ra [10, 30]
Trầm cảm sau sinh đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương Tây Tại Việt Nam, dù đã được quan tâm, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về TCSS Một nghiên cứu ở bệnh viện Hùng Vương cho thấy TCSS chiếm tỷ lệ 40% Các nghiên cứu về TCSS còn nhiều hạn chế về quy mô và đối tượng do thường chỉ tập trung vào một nhóm nhất định như sản phụ trong bệnh viện, có con gửi dưỡng nhi, thai kỳ có nguy cơ cao, người hay đến khám [10, 11, 15] Ngoài các nghiên cứu trong bệnh viện thì thời gian gần đây hai nghiên cứu tại khu vực đô
Trang 112 thị cho tỷ lệ TCSS là 28,3% tại Hà Đông, Hà Nội năm 2013 [14] và 30,2% tại Đống
Đa, Hà Nội năm 2016 [7] Điều này cho thấy tỷ lệ TCSS khá cao ở các phụ nữ tại khu vực đô thị Các nghiên cứu trầm cảm sau sinh tại khu vực nông thôn chưa được quan tâm Câu hỏi đặt ra: tỷ lệ trầm cảm sau sinh của phụ nữ vùng nông thôn là bao nhiêu? Các yếu tố liên quan đến trầm cảm của phụ nữ sau sinh tại vùng nông thôn là gì? Từ đó có sự quan tâm đúng mức trong các gia đình, cộng đồng và xã hội
Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh với diện tích 108 km2 và dân số 124.396 nghìn dân (2015) là một huyện với tốc độ phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng Lạc Vệ
là một xã có diện tích lớn nhất huyện Tiên Du, với 2 khu công nghiệp vừa và nhỏ đóng trên địa bàn xã, đã thu hút một lượng lớn người nhập cư tại xã Hàng năm, gần
500 đứa trẻ được sinh ra và được Trạm y tế quản lý Các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại địa phương chủ yếu là cung cấp biện pháp tránh thai và quản lý thai nghén trên sổ sách, chưa quan tâm tới tư vấn, phát hiện và điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung và tình trạng TCSS nói riêng [17] Với mong muốn góp phần nâng cao hiểu biết về rối loạn trầm cảm sau sinh, phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho người bệnh, giảm rủi ro cho gia đình và gánh nặng cho ngành y tế, bên cạnh đó còn nhằm nâng cao sức khỏe cho cộng đồng chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu: Thực trạng trầm cảm ở phụ nữ sau sinh và một số yếu tố liên quan tại xã
Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2018
Trang 123
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng trầm cảm ở phụ nữ sau sinh tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh tại xã Lạc
Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2018
Trang 13
vô tích sự, thiếu tự chủ và đặc biệt là làm cho con người cảm thấy cuộc sống như không đáng sống, Trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất kỳ độ tuổi nào, ở mỗi đối tượng khác nhau sẽ có biểu hiện khác nhau [8, 51]
1.1.2 Trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh là bệnh mô tả một loạt những biểu hiện suy giảm về tinh thần lẫn thể chất, xảy ra với một số sản phụ trong thời kỳ hậu sản Triệu chứng có thể xuất hiện vài ngày hoặc thậm chí vài tuần sau sinh, có thể xảy ra sau bất cứ lần sinh nào, không chỉ có ở đứa con đầu, có thể tự giảm dần trong một khoảng thời gian ngắn hoặc cũng có thể kéo dài
Trầm cảm sau sinh xuất hiện trong vòng 4 tuần đầu sau sinh, có thế kéo dài đến tháng thứ 12 sau sinh nếu không được chẩn đoán và điều trị TCSS biểu hiện bằng tính khí bất ổn, thường xấu đi vào buổi chiều, đặc trưng bởi sự chán nản, cảm giác bất lực và lo âu về khả năng chăm sóc con của mình, các bà mẹ thường lo lắng, kích thích và hay than phiền đau đầu, đau bụng, khó tiêu, ớn lạnh… tự trách bản thân mình và đôi khi muốn tự tử TCSS có thể gặp ở mọi phụ nữ (70% người bị TCSS không có tiền sử bệnh lý tâm thần nào) [41]
Trầm cảm sau sinh có thể ở mức độ nhẹ hoặc ở mức độ nguy hiểm như có
ý tưởng muốn tự sát hoặc những hành động làm chết chính con mình Trầm cảm sau sinh dễ làm người phụ nữ mất khả năng chăm sóc trẻ an toàn, và nếu không điều trị, các triệu chứng có thể ngày càng xấu hơn và kéo dài thậm chí cả năm [5]
Trang 14Giảm hoặc mất mọi quan tâm thích thú
Người mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một
cố gắng nhỏ
Các triệu chứng phổ biến khác
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm và bi quan
- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ
- Ăn ít ngon miệng
Các triệu chứng sinh học của trầm cảm như: sút cân (5% trọng lượng cơ thể trong vòng 4 tuần), giảm dục năng, ít ngủ, thức dậy sớm, sững sờ
Dựa vào các triệu chứng trên TC có thể chia thành 3 mức độ [2]:
Mức độ nhẹ (F32-ICD 10): phải có ít nhất 2/3 triệu chứng chính cộng thêm
2/7 triệu chứng phổ biển khác Chưa có nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội và nghề nghiệp
Mức độ trung bình (F32.1 – ICD10): phải có ít nhất 2/3 triệu chứng chính
cộng thêm 3/7 triệu chứng phổ biến khác Có nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, xã hội và nghề nghiệp
Trang 156
Mức độ nặng (F32.2 – ICD10): phải có 3/3 triệu chứng chính cộng thếm
4/7 triệu chứng phổ biến khác Ít có khả năng tiếp tục công việc gia đình, xã hội và nghề nghiệp Có triệu chứng sinh học của trầm cảm
Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán Những biểu hiện của TC cũng thay đổi hình thái và mức độ theo sự phát triển của từng đối tượng nhất định và phản ứng riêng biệt của từng người Ở phụ nữ sau sinh triệu chứng thường có những điểm riêng biệt nổi bật là các biểu hiện khí sắc trầm, luôn cảm thấy buồn chán, có ý nghĩ hủy hoại và các hành vi kích động Ngoài ra biểu hiện trầm cảm còn mang sắc thái của văn hóa xã hội, truyền thống gia đình họ tộc, lối sống của mọi người trong gia đình
1.1.3.2 Triệu chứng và phân loại trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh có các triệu chứng điển hình sau:
Cảm giác buồn bã: sau khi sinh, phụ nữ thường cảm thấy mệt mỏi và tâm
trạng thường xuyên buồn bã, trải qua giai đoạn cơn buồn thoáng qua Cùng với cảm giác buồn bã, khóc và mau nước mắt cũng là những dấu hiệu khác của chứng trầm cảm sau sinh Sản phụ sẽ dễ có những cảm giác không vui vẻ, muốn khóc nhưng không thể khóc trong hầu hết thời gian Hoặc có khi bùng nổ cảm xúc vì những chuyện nhỏ nhặt Nếu cảm giác buồn bã này kéo dài và không biến mất sau một hoặc hai tuần sau sinh thì có khả năng là dấu hiệu của chứng trầm cảm sau sinh [21, 50]
Mệt mỏi, mất ngủ và các triệu chứng khó ngủ khác: Trẻ sơ sinh có khả
năng phá vỡ đồng hồ sinh học bình thường và khiến bạn cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức Mệt mỏi quá mức là dấu hiệu của bệnh thiếu máu hoặc những vấn đề về thể chất, hoặc cũng có thể là dấu hiệu của chứng TC Mất ngủ, khó ngủ và cảm giác buồn ngủ kéo dài cũng là những triệu chứng của TCSS [3]
Biếng ăn/tăng cân: Chán ăn có thể là một triệu chứng TCSS Một số phụ nữ
có xu hướng ăn nhiều khi gặp TC Nếu người mẹ tăng hoặc giảm cân thì đó có thể
là dấu hiệu của chứng TCSS (ngoại trừ việc giảm cân bình thường sau sinh) [3]
Trang 167
Giảm ham muốn tình dục: Nhiều phụ nữ gặp phải tình trạng giảm ham
muốn sau sinh Đây không phải là điều đáng lo ngại, nhưng nếu kết hợp cùng với các triệu chứng khác thì có thể là chỉ báo của chứng TCSS [3]
Tự làm tổn thương bản thân và con: Xu hướng tự làm tổn thương bản thân
và con là triệu chứng nguy hiểm nhất của hội chứng TCSS Người bị trầm cảm sau sinh có ý nghĩ hay hành vi tự tử, một số người luôn có cảm giác bị hại nên tìm cách trả thù hay đối phó Có những bà mẹ nghĩ con mình bị ma quỉ nhập nên tìm cách trừ tà, như vậy rất nguy hiểm đến tính mạng của bé Ngay cả những người thân khác trong gia đình cũng vậy, bà mẹ có thể mang dao đâm người thân chỉ vì hoang tưởng bị hại [3, 16]
1.1.4 Nguyên nhân và hậu quả của trầm cảm sau sinh
1.1.4.1 Nguyên nhân của trầm cảm sau sinh:
Trầm cảm sau sinh gây ra bởi nhiều yếu tố khác nhau trên những phụ nữ có các đặc điểm và hoàn cảnh cũng khác nhau TCSS có các nguyên nhân sau:
Các nguyên nhân sinh học-di truyền: Việc thay đổi các hooc-môn sinh dục
(estrogen và progesterol) sau khi sinh tác động vào cơ chế điều hòa cảm xúc làm tăng cảm giác mệt mỏi, buồn chán Việc sụt giảm trọng lượng kèm với việc chảy máu khi sinh làm ảnh hưởng tới hệ tim mạch và huyết áp Bên cạnh đó, việc căng thẳng và đau đớn khi sinh làm tăng adrenalin- một chất hóa học trong máu làm cho cơ thể thêm mệt mỏi và căng thẳng Ngoài ra, gia đình hoặc bản thân người mẹ bị mắc trầm cảm hoặc những rối loạn cảm xúc hay bản thân người mẹ mắc trầm cảm trong quá trình mang thai nhưng không được tư vấn và điều trị kịp thời cũng là nguyên nhân gây TCSS [10, 13]
Các nguyên nhân do tâm lý- xã hội: Mâu thuẫn trong các mối quan hệ
gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng, việc quá lo lắng trong việc chăm sóc con cái (đặc biệt là những người lần đầu làm mẹ, mang thai quá sớm), sinh khó/con mắc bệnh, thiếu sự hỗ trợ trong việc chăm sóc con cái, chăm sóc khi con
ốm, tự mình chăm sóc con ban đêm (đặc biệt với trẻ hay khóc đêm) là những nguyên nhân gây TCSS [10, 13]
Trang 178
Ngoài các nguyên nhân trên, giới tính trẻ hay mâu thuẫn gia đình cũng là yếu tố nguy cơ của căn bệnh TCSS Cụ thể, các mâu thuẫn gia đình không được giải quyết triệt để, phụ nữ không được sự cảm thông của chồng và gia đình dễ dẫn đến TCSS Vấn đề giới tính của trẻ cũng là một nguyên nhân khiến phụ nữ mắc TCSS Do phải chịu áp lực của gia đình chồng về chuyện sinh con trai nên khi nhìn thấy đứa con mình sinh ra có giới tính không mong muốn, người phụ nữ dễ
có tâm lý chán nản, buồn bã… Hay nhiều trường hợp khác các bà mẹ mẹ sinh ra đứa con do không có sự chuẩn bị chu đáo, tất cả những lo lắng về việc chăm sóc con khiến người phụ nữ bị áp lực nặng nề Tình trạng này kéo dài khiến người phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm Một số trường hợp khác, nhiều bà mẹ cảm thấy căng thẳng, mất ngủ, lo lắng về khả năng chăm sóc bé Từ đó cảm thấy mất hứng thú sống và mất kiểm soát cuộc sống bản thân [10, 13]
1.1.4.2 Hậu quả của trầm cảm sau sinh
Trầm cảm góp phần không nhỏ vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu và ảnh hưởng đến mọi người khắp nơi trên thế giới Ngày nay, người ta ước tính có khoảng 350 triệu người mắc phải những triệu chứng TC và ước chừng 1 triệu người tự tử mỗi năm do chứng bệnh này [4, 50] Bảng khảo sát sức khỏe tâm thần thế giới thực hiện ở 17 quốc gia cho thấy rằng trung bình cứ 20 người thì có 01 người đã từng trải qua giai đoạn trầm cảm trong năm vừa rồi Các rối loạn TC thường bắt đầu ở giai đoạn tuổi trẻ, chúng làm suy giảm các hoạt động chức năng của chúng ta và thường xuất hiện lặp đi, lặp lại Vì những lý do đó trầm cảm là nguyên nhân hàng đấu thế giới làm mất khả năng hoạt động của con người Theo WHO dự báo, đến năm 2020 TC sẽ đứng thứ 2 về gánh nặng bệnh lý của nhân loại sau bệnh tim mạch [13] Và điều đáng lo ngại nhất của bệnh này là tự tử, có khoảng 15-20% bệnh nhân TC có ý định tự tử và cứ một người tự tử do TC thì có hơn 20 người khác đang cố gắng kết thúc cuộc sống của mình [16]
Tại Việt Nam, những năm gần đây TC được biết đến như một căn bệnh toàn cầu, nó được nhắc đến là một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây gánh nặng bệnh tật và tử vong trong nhóm các bệnh không lây nhiễm thông qua báo cáo tổng quan chung của ngành y tế Việt Nam Theo ước tính của Bộ Y tế, đến năm
Trang 189
2030, TC sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở nước ta Tỷ
lệ mắc TC ở một giai đoạn nào đó trong năm là 5,8% nam và 9,5% ở nữ giới Trầm cảm được đặc biệt chú ý ở giai đoạn phụ nữ sau sinh, trong 10 bà mẹ sau sinh thì có khoảng 1 đến 2 người bị trầm cảm [1]
Tương tự như trầm cảm, trầm cảm sau sinh không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn ảnh hưởng đến con cái, người thân trong gia đình
Ảnh hưởng đến mẹ: Tình trạng trầm cảm nặng kéo dài quá 2 tuần, người
mẹ sẽ rơi vào trạng thái rối loạn tư duy và hành vi, với các biểu hiện như luôn cho rằng mình và con mắc bệnh hiểm nghèo, buồn rầu và hay khóc vô cớ, mất định hướng về không gian và thời gian, không làm chủ được bản thân, có những lời nói hay hành vi thô bạo, xúc phạm tới người xung quanh Thậm chí, nhiều người
mẹ còn không quan tâm tới con của mình, bỏ mặc, hành hạ con, thậm chí giết hại con hoặc tự sát Bên cạnh đó, việc trầm cảm kéo dài làm rối loạn hệ thống nội tiết cho cơ thể, có thể khiến cho người mẹ mất sữa, rối loạn chuyển hóa, nguy cơ cao
về các chứng bệnh tim mạch và tiêu hóa [3, 5]
Ảnh hưởng đến con: Trẻ nhỏ có mẹ mắc chứng TC sẽ chịu nhiều tác động
không tốt cho sự phát triển tinh thần và trí tuệ như: Trẻ có xu hướng có những cảm xúc và hành vi bất thường như dễ bị kích động, khó kiểm soát cảm xúc, dễ nổi cáu, tăng động, trẻ chậm trong việc phát triển nhận thức, chậm nói, chậm đi hơn những trẻ khác, khó khăn trong học tập, hạn chế kỹ năng về toán học, chỉ số IQ thấp hơn, có nguy cơ bị còi cọc, thiếu cân hơn gấp 1,5 lần những đứa trẻ khác Đáng lo ngại hơn nữa những bà mẹ đó còn xuất hiện cảm giác căm ghét đứa con mình sinh ra từ đó nảy sinh ý định hủy hoại chúng [25]
1.2 Thực trạng trầm cảm sau sinh
1.2.1 Trên thế giới
Trầm cảm nói chung và TCSS nói riêng đang là vấn đề cần giải quyết trên toàn thế giới Tỷ lệ PNSS có các rối loạn tâm thần chiếm khoảng 20% tại các nước phát triển, và ở các nước tại Châu Phi, Trung Đông và Châu Á, tỷ lệ này lại chiếm 20-45%
Trang 1910
Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên đối tượng là PNSS Cụ thể,một nghiên cứu ở PNSS tại Jordan (2007), tỷ lệ TCSS ở PNSS tại thời điểm 6-8 tuần là 22,1%, tại thời điểm 6 tháng sau sinh tỷ lệ này là 21,2% Nnghiên cứu cho thấy trầm cảm trước sinh, mang thai ngoài ý muốn, mối quan hệ không tốt với mẹ chồng, không hài lòng với việc chăm sóc bản thân và em bé, căng thẳng, thiếu hỗ trợ xã hội, phương thức sinh con, và không có kiến thức nuôi con có liên quan đến trầm cảm sau khi sinh [46]
Năm 2012, một nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại Thổ Nhĩ trên 318 phụ nữ sau sinh 6 tuần đã cho tỷ lệ TCSS là 31,4% Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu
tố liên quan tới trầm cảm sau sinh gồm: vấn đề sức khỏe khi mang thai, người mẹ
có nghề nghiệp là nội trợ, thai kỳ không được mong đợi, giới tính của đứa trẻ sau sinh, phương thức sinh [29] Tại Iran, nghiên cứu cho kết quả TCSS là 25,3% [39] Tại Ấn Độ, khi nghiên cứu TCSS ở phụ nữ nông thôn miền Nam Ấn Độ, có con đang nằm viện từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 10 sau sinh cũng cho tỷ lệ TCSS là 31,4% [35]
Tỷ lệ TCSS ở Argentina, trong nghiên cứu cắt ngang của Mathisen S.E và cộng sự (2013) là 18,6% [44] Một nghiên cứu tại Nhật Bản (2014), tỷ lệ TCSS là 10%, tuy nhiên nghiên cứu cũng giải thích sự chênh lệch về tỷ lệ là do đối tượng nghiên cứu lại là những bà mẹ có trẻ sinh ra khỏe mạnh, bình thường, không có biến chứng mang thai và sinh non [35]
Tương tự, nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 346 phụ nữ cho con đến tiêm chủng, có con từ 6 đến 10 tuần tuổi tại Nepal (2015) bị TCSS là 30%: 346 bà
mẹ mang con đến phòng tiêm chủng đã tham gia vào nghiên cứu, các vấn đề sức khỏe trong quá trình mang thai, lo lắng/căng thẳng khác liên quan đến TCSS [28]
Một nghiên cứu cắt ngang tại Đài Loan (2017) cho tỷ lệ TCSS là 34,4% trong
6 tháng sau sinh: có 180 phụ nữ tham gia vào nghiên cứu, các yếu tố bảo vệ người
mẹ khỏi TCSS là cho trẻ bú mẹ, hỗ trợ xã hội và giới tính em bé phù hợp với kỳ vọng, tuy nhiên các yếu tố điều trị vô sinh, tuổi mẹ cao (trên 35 tuổi), mang thai nhờ thụ tinh nhân tạo là những yếu tố nguy cơ gây TCSS cao [43]
Trang 2011
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra thực trang TCSS khá cao giữa các khu vực (dao động trong khoảng 30%), đối tượng PNSS của các nghiên cứu này cũng được lựa chọn tại nhiều thời điểm khác nhau trong khoảng từ 4 tuần đến 6 tháng
1.2.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có một vài nghiên cứu về TCSS trong vài năm gần đây Những nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây chỉ ra trầm cảm là hiện tượng thường gặp sau sinh đẻ Nó thường bắt đầu trong vòng 4-6 tuần sau sinh và là một vấn đề của sức khỏe cộng đồng đáng kể, ảnh hưởng đến phụ nữ và gia đình của
họ
Đã có một số nghiên cứu về TCSS tại các bệnh viện, tỷ lệ TCSS dao động từ 12,5% đến 70,8% trong nhóm phụ nữ có con sinh non, gửi dưỡng nhi, con bị ốm Cụ thể, nghiên cứu của tác giả Lâm Xuân Điền tại bệnh viện Từ Dũ đã chỉ ra
tỷ lệ này chiếm 12,5% [10], và một vài các nghiên cứu khác cũng được tiến hành trong bệnh viện trên đối tượng phụ nữ sau sinh phải kể đến như nghiên cứu của tác giả Lương Bạch Lan (2008) tại bệnh viện Hùng Vương là 11,6% [15] và tác giả Phạm Ngọc Thanh (2010) tại bệnh viện Nhi Đồng I cho kết quả 70,8% [12] Kết quả của nghiên cứu của Phạm Ngọc Thanh cho tỷ lệ cao do ĐTNC là các bà mẹ có con sinh non đang nằm viện tại khoa sơ sinh, chứng tỏ sức khỏe của em bé sau sinh ảnh hưởng đến TCSS Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thanh Hiệp
và cộng sự (2008) tại Bệnh viện Từ Dũ cho thấy tỷ lệ TCSS chiếm 21,6% trên nhóm đối tượng phụ nữ có thai kỳ nguy cơ cao đến khám tại bệnh viện [11].Tuy nhiên, thực trạng này mới chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu trong bệnh viện và đối tượng có nguy cơ vì vậy tỷ lệ này chưa đại diện cho bức tranh của cộng đồng
và cần có nhiều nghiên cứu hơn để có cái nhìn toàn cảnh về thực trạng căn bệnh trầm cảm
Mặt khác, đã có một vài nghiên cứu phản ánh thực trạng TCSS tại cộng đồng Chẳng hạn như nghiên cứu cắt ngang của tác giả Võ Văn Thắng và cộng sự tại thành phố Đà Nẵng (2014), tỷ lệ TCSS là 19,3% [38] Cho tỷ lệ TCSS lớn hơn,
Trang 21có con sinh non, hay có nghiên cứu tại cộng đồng nhưng ở thành phố… dẫn đến các con số trên chưa thể đại diện cho cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng tại nông thôn Thực tế, vấn đề TCSS chưa được đánh giá toàn diện và cần có các nghiên cứu thêm về vấn đề này
1.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh
Sau khi sinh, người mẹ có những thay đổi mạnh mẽ về sinh lý, thể chất, tinh thần Đây là giai đoạn mà sức khỏe của người mẹ và đứa trẻ sơ sinh cần được quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là các quan tâm dành cho biến đổi về mặt tâm lý Trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi đã tìm hiểu được các yếu tố liên quan
để xác định RLTC ở đối tượng PNSS trong cộng đồng nông thôn là các yếu tố có liên quan đến đặc điểm của đối tượng cụ thể là: nhóm yếu tố cá nhân, nhóm yếu tố sức khỏe mẹ và bé, nhóm yếu tố về chăm sóc giai đoạn sau sinh và nhóm yếu tố
hỗ trợ của gia đình và xã hội
1.3.1 Nhóm yếu tố cá nhân và sức khỏe của mẹ
Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, nghề nghiệp, học vấn, nghề nghiệp là các
yếu tố nhân khẩu học được đề cập trong các nghiên cứu về TCSS
Như nghiên cứu của Chuan- Chen Li (nghiên cứu từ tháng 4/2014 đến tháng 5/2015) đã chỉ ra tuổi mẹ cao (>35 tuổi) là yếu tố nguy cơ của TCSS (OR=8,313) [43] Bên cạnh đó các yếu tố về nghề nghiệp cũng được đề cập có mối liên quan đến TCSS trong nghiên cứu trên 1379 sản phụ ở Quarta dó A Bener và cộng sự, thực hiện năm 2001 Ngoài ra, trình độ học vấn của người mẹ cũng được coi là
Trang 2213
một yếu tố liên quan đến TCSS, trong một nghiên cứu trên 1.659 đối tượng phụ
nữ giai đoạn sau sinh cho thấy bà mẹ trẻ có học vấn cao hơn (từ trung học trở lên) thì tỷ lệ mắc TCSS cao hơn chiếm 67,5% trong khi trình độ thấp hơn chiếm 35,7% [42]
Tỷ lệ các bà mẹ có việc làm không ổn định có tỷ lệ TCSS cao hơn những người có việc làm ổn định (26,7% và 16,9%), bên cạnh đó, những phụ nữ phụ thuộc về tài chính vào chồng hoặc gia đình họ có tỷ lệ cao hơn Về sắp xếp cuộc sống gia đình, bà mẹ sống ở nhà thuê hoặc những người đang sống chung với cha
mẹ có tỷ lệ TCSS (22,0%) cao hơn so với các bà mẹ sống trong nhà riêng của họ (13,8%) [36]
Tình trạng hộ gia đình
Nghiên cứu C.T.Beck (2001) đã chỉ ra có mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và TCSS, những phụ nữ mà chưa kết hôn/đã ly thân, ly dị có nguy cơ TCSS cao hơn phụ nữ đã kết hôn/sống chung với chồng
Những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là giai đoạn gần sinh hoặc sau sinh cũng là một yếu tố nguy cơ của TCSS Theo A.Bener (2011), những phụ nữ sau sinh ở những gia đình có thu nhập hàng tháng thấp thì tỷ lệ mắc TCSS cao hơn ở nhừng gia đình có thu nhập cao (p<0,001) Kết quả này cũng giống với nghiên cứu của Emma Robertson (2004) Theo Laura A Pratt and Debra Gi Brody (tháng 8/2008) cho thấy người ở độ tuổi 18-39, 40-59 có thu nhập dưới mức nghèo thì
tỉ lệ trầm cảm cao hơn hẳn ở những người có thu nhập mức trên (tỉ lệ trầm cảm tương ứng là 11,5%/3,5% và 22,4%/5,9%) [37, 44]
Tiền sử sản khoa
Theo nghiên cứu của Chuan-Chen Li (2007), người mẹ trải qua quá trình điều trị vô sinh hay mang thai nhờ thụ tinh nhân tạo là yếu tố nguy cơ cao đối với TCSS Điều này có thể do những áp lực mà người mẹ đã phải trải qua trong quá trình cố gắng mang thai để lại, những tâm lý đó ảnh hưởng đến cả quá trình sau sinh [47]
Những vấn đề khi sinh như sinh sớm, sinh khó, cũng như các tai biến sản khoa như sản giật, tiền sản giật, chảy máu nhiều khi sinh, nhiễm trùng hậu
Trang 23Tiền sử bệnh tật của mẹ: Theo Khitam Ibrahen Mohammad (2007) chỉ
ra tiền sử bản thân và gia đình có vấn đề về tâm thần là yếu tố liên quan đến TCSS, kết quả này giống với kết quả nghiên cứu của S.D Stone (2008): TCSS tăng lên nếu gia đình có người mắc bệnh lý về tâm thần [46]
Trầm cảm thai kỳ cũng là yếu tố nguy cơ của TCSS Theo nghiên cứu của tác Glasser (Israel), Da Costa D (Canada) và Machado Ramirez F (Tây Ban Nha) cho rằng triệu chứng trầm cảm trong thai kỳ là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất về sự xuất hiện TCSS Vào năm 1996, M.W.O’Hara và A.M.Swan đã tiến hành phân tích tổng hợp (meta analytic) 13 nghiên cứu bao gồm 1000 đối tượng, C.T Beck cũng thu thập số liệu từ 21 nghiên cứu trên 2300 đối tượng năm 2001 [23, 49] Phân tích tổng hợp 4 nghiên cứu gồm 428 đối tượng của C.T Beck cho kết quả lo âu là yếu tố liên quan có hiệu lực trung bình với TCSS Hiệu lực mạnh hơn của mối liên quan này được báo cáo trong phân tích tổng hợp của M.W.O’Hara trên 600 đối tượng
Đặc điểm tâm lý của bà mẹ
Trong một nghiên cứu tại Quatar trên 1.659 phụ nữ ở giai đoạn sau sinh cho thấy mang thai ngoài ý muốn có mối liên quan có ý nghĩa với TCSS (OR =1,9, p<0,001) Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Huỳnh Thị Duy Hương và cộng
sự (2005) cho kết quả: Những bà mẹ có thai kỳ ngoài ý muốn có tỷ lệ TCSS cao gấp 5,08 lần các bà mẹ khác [11, 52] Nghiên cứu tại Đà Nẵng của Võ Văn Thắng
và cộng sự (2014) cũng chỉ ra rằng những bà mẹ có thai bất ngờ có nhiều khả năng
bị TCSS hơn những người đã có dự định mang thai (27,0% và 17,8%) [38]
Kỳ vọng về giới tính của trẻ cũng là yếu tố nguy cơ của TCSS Nhìn chung, các bà mẹ mong đợi giới tính của con (thường là bé trai) mà sinh bé gái
Trang 2415
có tỷ lệ trầm cảm sơ sinh cao (27,8%) [38] Theo nghiên cứu tổng quan về các yếu
tố nguy cơ liên quan đến TCSS ở Châu Á, đã chỉ ra rằng sinh con gái hay việc không hải lòng với giới tính của trẻ có liên quan đến TCSS Hay nghiên cứu của Khitam Ibrahen tại Jordan (2007) cũng cho thấy sinh bé gái làm phát triển TCSS [46]
Những sự kiện gây căng thẳng, stress cũng là yếu tố nguy cơ cả TCSS Đó
là những sự kiện như mất mát người thân, ly dị, thất nghiệp, di cư Theo Roberson (2004): các sự kiện gây căng thẳng trên có thể làm tăng nguy cơ mắc TCSS [34]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thắng và cộng sự (2014) cho kết quả những người phụ nữ lo lắng các vấn đề khác ngoài việc sinh con có tỷ lệ TCSS (34,2%) cao hơn những người không lo lắng (12,0%) [38]
Đặc điểm cho con bú sữa mẹ: Cho con bú sữa mẹ là một yếu tố bảo vệ đối
với TCSS, đó là kết quả nghiên cứu của Chuan-Chen Li (2007) [43] Những lợi ích của việc cho con bú dược công nhận trên toàn thế giới, bao gồm cả lợi ích cho con
và người mẹ
1.3.2 Nhóm yếu tố sức khỏe của trẻ
Giới tính trẻ: Giới tính của trẻ là yếu tố nguy cơ của TCSS Theo nghiên
cứu tổng quan về các yếu tố nguy cơ liên quan đến TCSS ở Châu Á, đã chỉ ra rằng sinh con gái hay việc không hải lòng với giới tính của trẻ có liên quan đến TCSS Hay nghiên cứu của Khitam Ibrahen tại Jordan (2007) cũng cho thấy sinh bé gái làm phát triển TCSS [46]
Con dạ/con so: Gần đây, hai nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy đây cũng
là một trong yếu tố ảnh hưởng đến TCSS Những bà mẹ sinh con đầu (con so) có nguy cơ bị trầm cảm gấp 2 lần bà mẹ sinh con dạ [9, 11]
Tình trạng sức khỏe con ngay sau sinh: Những em bé từ khi sinh ra cho
thường xuyên ốm đau, phải đi thăm khám bác sĩ thì các bà mẹ của em bé đó có nguy cơ TCSS cao gấp 4 lần các bà mẹ khác [9]
Trang 2516
Dị tật bẩm sinh của trẻ: 8% sản phụ có con sinh ra có vấn đề về sức khoẻ
như dị tật bẩm sinh bị TCSS so với 3,6% trong nhóm sản phụ có con bình thường Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [43]
Tính khí trẻ: Tính khí của em bé được đánh giá ngoan hay không
ngoan cũng là một yếu tố có mối liên quan ý nghĩa thống kê với tình trạng trầm cảm của PNSS, nếu một em bé có tính khí không ngoan, hay hờn dỗi, khó nuôi thì khả năng TCSS của các bà mẹ có em bé như vậy cao hơn các bà mẹ khác 3,4 lần Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Những đứa trẻ sinh ra mà bú sữa khó, hay quấy khóc, khó ngủ…là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng cho bà mẹ: 10,5% sản phụ phải tự chăm sóc bé về đêm bị TCSS so với 3,7% trong nhóm sản phụ có chồng hay người khác giúp Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Có 17% sản phụ gặp khó khăn khi cho con bú bị TCSS so với 3,3% trong nhóm sản phụ cho con bú bình thường Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,01) [10]
Tại Việt Nam nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Duy Hương là Nguyễn Thanh Hiệp cho kết quả những đứa trẻ hay quấy khóc và khó ngủ về đếm càng làm cho bà mẹ có nguy cơ cao bị TCSS [9] Theo kết quả của C.T.Beck trên 789 đối tượng
bà mẹ sau sinh đã cho thấy con hay quấy khóc, khó dỗ dành là nguyên nhân gây căng thẳng cho bà mẹ và là một trong những yếu tố liên quan cao với tình trạng TCSS [22]
Khó khăn trong việc chăm sóc trẻ: Bên cạnh đó, một loạt những khó khăn
khi chăm sóc bé như khó khăn trong việc cho bé ăn, cho bé ngủ hay quấy khóc ban đêm đều có mối liên quan với TCSS Các bà mẹ càng gặp nhiều vấn đề trong chăm sóc trẻ càng có nguy cơ TCSS cao, cụ thể như những bà mẹ gặp khó khăn khi cho con ăn sẽ có nguy cơ bị TCSS cao gấp 5,6 lần bà mẹ khác với p<0,001, hay một số bà mẹ khác vướng phải khó khăn khi cho bé ngủ thì tỷ lệ TCSS cao gấp 2,9 các bà mẹ không gặp khó khăn trên, thêm vào đó tính khí bé quấy khóc thường xuyên về đêm thì khả năng TCSS cao gấp khoảng 2,2 lần những bà mẹ khác [8, 16]
Trang 2617
Tình trạng sức khỏe của trẻ: Các bà mẹ có trẻ bị bệnh có nhiều khả năng
mắc TCSS (35,2%) hơn các bà mẹ có con khỏe mạnh (13,6%) [38] Rõ ràng, sức khỏe của trẻ sơ sinh tác động đáng kể về tâm trạng của người mẹ
1.3.3 Nhóm yếu tố chăm sóc giai đoạn sau sinh
Chế độ nghỉ ngơi sau sinh: Sau khi sinh các bà mẹ bị kiệt sức nhiều do
đau, do mất máu, do can thiệp thủ thuật, cũng như các căng thẳng tâm lý trong quá trình chuyển dạ… Vì vậy, được chăm sóc và nghỉ ngơi sau sinh có ý nghĩa rất lớn với họ, nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy mối liên quan giữa hai yếu tố này trong đó những bà mẹ không được nghỉ ngơi hoàn toàn 30 ngày sau sinh có nguy cơ bị TCSS cao hơn những bà mẹ khác 2008 [15]
Áp dụng kiêng cữ sau sinh: Theo nghiên cứu của Linda M và cộng sự, tất
cả phụ nữ đều theo ít nhất là một hình thức kiêng cữ truyền thống (nút tai, đi tất, không xem tivi, ), có sự tương quan giữa số ngày kiêng cữ và điểm số EPDS (p<0,001) [26]
Tập thể dục sau sinh: Sức khỏe thể chất trong suốt giai đoạn sau sinh
cũng là yếu tố liên quan đến TCSS Nghiên cứu của Võ Văn Thắng (2014) cho kết quả những bà mẹ tập thể dục sau sinh ít có nguy cư bị TCSS (5,0%) hơn những người không (20,9%) Tập thể dục sau sinh giúp phụ nữ phục hồi sau sinh, lấy lại sức khỏe và giảm stress [38]
Chế độ ăn bồi dưỡng sau sinh: Một chế độ ăn lành mạnh, nhiều chất,
đặc biệt là chất sắt sau sinh giúp bà mẹ phục hồi sức khỏe nhanh hơn Đã có bằng chứng cho thấy thiếu máu do thiếu sắt liên quan đến những triệu chứng của bệnh
TC [26] Ngoài ra, tỷ lệ TCSS ở những phụ nữ không ăn các thực phẩm có hại cũng thấp hơn những phụ nữ có ăn những loại thực phẩm này, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [47]
Mất ngủ sau sinh: Sau sinh, nghỉ ngơi và ngủ nghỉ là một yếu tố vô cùng
quan trọng đối với các bà mẹ Các bà mẹ bị rối loạn giấc ngủ sẽ có nguy cơ bị trầm cảm [27, 33]
Trang 2718
1.3.4 Nhóm yếu tố hỗ trợ của gia đình và xã hội
Các yếu tố thuộc đặc điểm này là bệnh tâm thần ở chồng, chứng nghiện rượu, tình trạng kinh tế của chồng, chồng thất nghiệp/công việc bấp bênh, xung đột hôn nhân/quan hệ không tốt với chồng, thiếu sự hỗ trợ chia sẻ từ chồng, hối hận về hôn nhân, sự tham gia của người chồng trong việc chăm sóc trẻ, bạo lực gia đình, bị chồng đánh Các xung đột trong hôn nhân hay bất hòa trong các mối quan hệ gia đình cũng là yếu tố nguy cơ của TCSS [45] Theo nghiên cứu của Lê Quốc Nam (2002): 60% sản phụ có mối quan hệ với chồng “xấu” trong lần sanh này bị TCSS so với 4,5% trong nhóm sản phụ có mối quan hệ với chồng “tốt và trung bình”, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 001) [10]
Phân tích của Võ Văn Thắng (2014) cho thấy rằng những phụ nữ không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, chồng có tỷ lệ TCSS (44,9%) cao hơn so với những người được hỗ trợ từ chồng của họ (16,0%) [38] Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Fisher và cộng sự [26] Sau khi sinh, phụ nữ cần sự hỗ trợ rất lớn
từ chồng và gia đình
32% người phụ nữ sau sinh sợ chồng của họ trong năm đầu tiên sau khi sinh con có triệu chứng của TCSS, có điểm EPDS cao hơn Bên cạnh đó, có sự khác biệt trong tỷ lệ TCSS ở phụ nữ bị chồng đánh (38,9%) so với những người không
bị (18,1%) [38]
1.4 Các thang đo đánh giá trầm cảm sau sinh
Hiện nay, trên thế giới đã phát triển nhiều thang đo giúp sàng lọc và hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng về các RLTC ở các nhóm đối tượng khác nhau, có thể kể đến một số loại thang đo hay được sử dụng trong các nghiên cứu gần đây như: Thang đánh giá lo âu-trầm cảm-stress (DASS 42), thang đánh giá trầm cảm Beck sử dụng cho đối tượng người trưởng thành (BDI), thang đánh giá lo âu Zung (Zung SDS) cũng đã được sử dụng để đánh giá TCSS ở một số nghiên cứu [52], tuy nhiên các thang đo này khi áp dụng cho đối tượng phụ nữ sau sinh người ta nhận thấy một số hạn chế vẫn còn tồn tại như các biểu hiện trầm cảm được dùng trong thang đo: mất ngủ, lo lắng, bất an, nhịp tim nhanh… rất dễ nhầm với hiện tượng BabyBlue của PNSS Với các lý do trên, nhu cầu đặt ra phải có bộ công cụ
Trang 2819 thiết kế dành riêng cho PNSS, để tránh nhầm lẫn giữa các biểu hiện bệnh lý trầm
cảm thật sự của bệnh nhân và hiện tượng “cơn buồn thoáng qua” của đối tượng
PNSS [21]
Hầu hết tất cả phụ nữ sau sinh đều trải qua giai đoạn “Cơn buồn thoáng qua” (Baby Blue) khoảng 70-80% nhưng không phải ai cũng bị TCSS [21] Baby Blue là một hiện tượng thường gặp nhất sau khi sinh, nó thường xuất hiện vài ngày sau khi sinh, thông thường là ngày thứ 3, thứ 4 với các biểu hiện sản phụ cảm thấy mệt lử, không thể ngủ, cảm giác thèm ăn thay đổi, hay cáu gắt, lo lắng mình làm mẹ chưa tốt…mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thay đổi hocmon và thay đối tâm lý Tất cả các biểu hiện của hội chứng Baby Blue rất dễ nhầm với hiện tượng TCSS Tuy nhiên điểm khác biệt lớn nhất cần phân biệt đó là hội chứng Baby blue không phải
là bệnh lý, nó có thể diễn ra và biến mất trong vòng vài ngày hoặc 2 tuần sau sinh nếu như bà mẹ có chế độ nghỉ ngơi, ăn uống hợp lý và sự hỗ trợ của gia đình… Nếu như các biểu hiện trên kéo dài trên 2 tuần và có xu hướng nặng lên thì bệnh nhân bị TCSS
Để khắc phục hạn chế của các thang đo trước và đáp ứng nhu cầu thực tại
về thang đo dành cho PNSS trên thế giới đã phát triển 2 loại thang đo đặc thù riêng cho đối tượng PNSS: thang đo PDSS (Pospartum Depression Screening Scale) và thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale) [22, 24]
1.4.1 Thang đo PDSS (Pospartum Depression Screening Scale):
Thang đo PDSS của Beck (2001) xây dựng bao gồm 35 câu hỏi xung quanh
7 khía cạnh: rối loạn giấc ngủ và ăn uống, lo lắng, bất an, rối loạn cảm xúc, suy giảm nhận thức, mất lòng tự trọng, cảm giác tội lỗi/xấu hổ và ý nghĩ tự tử để tìm hiểu về những cảm nhận của bà mẹ sau sinh trong vòng 2 tuần vừa qua [23] Trong nghiên cứu đầu tiên về chuẩn hóa thang đo PDSS, 525 bà mẹ được lựa chọn vào nghiên cứu trong vòng 6 tuần đầu của thời kỳ hậu sản để đánh giá về độ tin cậy và tính hợp lý của bộ công cụ, phân tích kết quả cho thấy độ tin cậy được thể hiện qua chỉ số Cronbach’s Alpha cao hơn 0,80 [52] Về thời gian sau này, thang đo PDSS được sử dụng nhiều trên thế giới và được chuẩn hóa tại một số quốc gia: Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Canada, Brazil,… Tuy nhiên hiện nay bộ công cụ này chưa
Trang 2920
có bản tiếng Việt được công bố cũng như chưa có nghiên cứu nào chuẩn hóa bộ công cụ này tại Việt Nam [22] Có thể là do tính phức tạp trong 7 khía cạnh và độ dài của bộ công cụ so với thang đo EPDS
1.4.2 Thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale):
Thang đo EPDS được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về TCSS ở Việt Nam và một số quốc gia như: Các Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất, Thái Lan, Indonesia, Na uy, Nhật Bản, Pakistan, Trung Quốc, Hồng Kong, Ấn Độ,… Cấu trúc của thang đo EPDS chỉ bao gồm 10 câu hỏi tự điền Nội dung chủ yếu tìm hiểu về tâm lý, cảm xúc ngoại trừ 1 câu có liên quan đến giấc ngủ là triệu chứng thực thể Thang đo EPDS là bộ công cụ được biết đến dành cho đối tượng PNSS với giá trị chẩn đoán dương tính tốt, độ nhạy và độ đặc hiệu cao
Tại Việt Nam bộ công cụ này đã được kiểm định thông qua nghiên cứu trên 465 PNSS có con từ 4 tuần đến 6 tháng tuổi ở Thừa Thiên Huế với kết quả kiểm định thang đo này đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy trong việc sàng lọc các triệu chứng của trầm cảm, lo âu trong nhóm PNSS ở Việt Nam [6, 40] Vì vậy, nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo EPDS làm công cụ đo lường và sàng lọc TCSS vì thang đo này có cấu trúc ngắn gọn, rõ ràng, đã được kiểm định về tính giá trị và độ tin cậy, sử dụng ở nhiều nơi trong và ngoài nước
EPDS là thang đo dành cho PNSS dưới hình thức là tự điền, phiên bản gốc
là tiếng Anh và đã được Việt hoá cho phù hợp với điều kiện kinh tế- văn hóa- xã hội nước ta Thang đo EPDS được thiết kê ngắn gọn, dễ hiểu và đơn giản trong cách tính điểm với cấu trúc 10 câu hỏi tìm hiểu về cảm nhận của PNSS trong vòng 7 ngày qua bao gồm các trạng thái lo âu, phiền muộn, cảm giác tội lỗi và tự sát Mỗi câu gồm 4 lựa chọn trả lời tính theo thang điểm từ 0-3, trong đó các câu 1,2 và 4 được tính theo mức tăng dần từ 0 với câu đầu tiên cho đến 3 là câu cuối cùng, còn lại các câu 3,5-10 được tính theo cách ngược lại điểm số sẽ giảm dần từ
3 ở câu đầu tiên cho đến 0 là câu cuối cùng Tổng điểm của bộ công cụ từ 0-30 điểm, trong đó điểm càng cao thì mức độ RLTC càng nặng
Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo: Dựa trên nền của các thang đo trầm cảm có sẵn như BDI, SAD,…cùng với kinh nghiệm chẩn đoán lâm sàng và điều trị
Trang 3021 bệnh nhân của tác giả thì bộ công cụ EPDS đã được hình thành, cụ thể với các thang đo có sẵn tác giả sẽ giữ lại các câu hỏi có đặc điểm liên quan đến PNSS và loại bỏ các câu không phù hợp cho đối tượng này và xây dựng thêm một số câu hỏi, ban đầu bộ câu hỏi gồm 13 câu hỏi được chọn ra để nghiên cứu và đánh giá trên mẫu là 60 PNSS và cho kết quả rằng thang đo phân biệt tốt khả năng trầm cảm và không trầm cảm Tuy nhiên, khi phân tích nhân tố lại cho thấy 13 câu hỏi này không chỉ đo lường trầm cảm mà còn đo lường các yếu tố khác cụ thể là 1 câu hỏi về cảm giác làm mẹ và 2 câu khác hỏi về sự khó chịu Vì vậy, bộ câu hỏi được rút gọn thành 10 câu và tiếp tục được nghiên cứu trên 84 đối tượng PNSS cho kết quả có thể phân biệt rõ rệt đối tượng bị trầm cảm ở điểm cắt 12/13
Với điểm cắt 12/13 độ nhạy và độ đặc hiệu của thang đo EPDS lần lượt là 86% và 78%, giá trị dự đoán dương tính là 73%, độ tin cậy của thang đo cũng được đánh giá cho kết quả tốt với chỉ số Cronbach’s Alpha là 0,87 Với tất cả các điều kiện trên tác giả đã đưa ra và khuyến nghị bộ công cụ EPDS rất hữu ích trong việc sàng lọc RLTC ở cộng đồng và trong các nghiên cứu khoa học
Ngưỡng phân biệt của TCSS: Với kết quả đạt được là 86%, 78%, 73% tương ứng với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị chẩn đoán dương tính trong nghiên cứu đánh giá chất lượng thang đo trên đối tượng PNSS ở Anh với điểm cắt 12/13 của tác giả J.Cox cho đến nay ngưỡng này vẫn được cho là ngưỡng có thể phân biệt tốt nhất tất cả các trường hợp trầm cảm điển hình theo chẩn đoán lâm sàng và được
áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới về TCSS
1.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo khung lý thuyết của tác giả Võ Văn Thắng [38], xác định các biến số và công cụ nghiên cứu
Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn, nghiên cứu của chúng tôi không nghiên cứu hết được các yếu tố của nghiên cứu của tác giả, chỉ tập trung vào những yếu tố có thể đánh giá và phù hợp tại địa phương tiến hành nghiên cứu Các yếu tố như: PARA, khám thai, uống viên sắt sau sinh, tai biến sau sinh, kiêng ăn sau sinh, tái khám sau sinh, quan hệ tình dục sau sinh, giảm ham thích tình dục sau sinh, tuổi
Trang 3122
thai của trẻ khi sinh… không được sử dụng trong nghiên cứu này Một số yếu tố không phù hợp ở vùng nông thôn như tập thể dục sau sinh chúng tôi không tiến hành nghiên cứu
Thông tin thu thập trong phần nghiên cứu định tính nhằm đi sâu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến TCSS
Trang 3223
Yếu tố cá nhân và sức khỏe của mẹ
- Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, nghề nghiệp, học
vấn, tính chất nghề nghiệp của bà mẹ…
- Tình trạng hộ gia đình: kinh tế gia đình, tình trạng
hôn nhân, nơi cư trú hiện tại…
- Tiền sử sản khoa: tiền sử điều trị hiếm muộn, mang
thai nhờ thụ tinh nhân tạo/can thiệp y tế, phương
pháp sinh, tai biến sau sinh
- Tiền sử bệnh tật: tình trạng sức khỏe, trầm cảm thai
kỳ…
- Đặc điểm tâm lý: thai kỳ được mong đợi, giới tính
con như mong đợi (sinh con trai), lo lắng/phiền
muộn khác ngoài việc sinh con, áp lực giới tính
Sức khỏe của trẻ sau sinh
- Giới tính của trẻ khi sinh
- Con dạ/con so;
- Khó khăn khi cho trẻ ăn, khó khăn khi cho trẻ ngủ
- Mức độ TCSS (trên số điểm EPDS)
- Tỷ lệ TCSS theo đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng hộ gia đình
- Tỷ lệ TCSS theo tháng tuổi của con
- Tỷ lệ TCSS theo số con của bà mẹ
Chăm sóc giai đoạn sau sinh
- Chế độ nghỉ ngơi hoàn toàn sau sinh
- Chế độ ăn bồi dưỡng sau sinh
- Mất ngủ sau sinh
Hỗ trợ của gia đình và xã hội:
- Mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong gia đình
- Mối quan hệ với bố mẹ chồng, bố mẹ đẻ, chồng
- Hỗ trợ chăm sóc bản thân, công việc gia đình, chia sẻ cảm xúc
Trang 3324
1.6 Địa bàn nghiên cứu
Tiên Du là huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Ninh Phía Bắc giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Yên Phong, phía Nam giáp huyện Thuận Thành, phía Đông giáp huyện Quế Võ, phía Tây giáp thị xã Từ Sơn Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Tiên Du là 108 ha, với 14 đơn vị hành chính, gồm 01 thị trấn và
13 xã [17]
Xã Lạc Vệ có diện tích lớn nhất huyện là 10,57km2, dân số 10744 người
Xã Lạc Vệ nằm ở phía đông nam huyện Tiên Du, có vị trí quan trọng với các huyện của tỉnh cũng như nằm trên trục đường đi tỉnh Hải Dương Xã có nền kinh tế trung bình của huyện Tiên Du với có 1 khu công nghiệp, thu hút nhiều lao động, cả trong tỉnh và các tỉnh khác
Công tác sức khỏe sinh sản tại tỉnh Bắc Ninh nói chung và xã Lạc Vệ nói riêng đã quan tâm đến tình hình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe vị thành niên và nam học cho nhân dân trong tỉnh Công tác quản lý thai nghén đã được duy trì thường xuyên ở tất cả các xã, phường, thị trấn; Khám và chăm sóc thai cho các bà mẹ có thai trong toàn tỉnh, phát hiện sớm
và tư vấn chăm sóc thai nghén; nắm được những trường hợp thai nguy cơ cao để
có biện pháp ngăn ngừa và gửi tuyến trên kịp thời; Đảm bảo an toàn sinh đẻ, giảm tai biến sản khoa, không để xảy ra tử vong mẹ Hoạt động kế hoạch hóa gia đình cũng được quan tâm như: đa dạng các biện pháp tránh thai, cung cấp rộng rãi các biện pháp tránh thai mới, đồng thời cung ứng đầy đủ các biện pháp để kết hợp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; Đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc sơ sinh và trẻ nhỏ; Nạo phá thai an toàn, xử trí tốt các biến chứng và chăm sóc sau nạo phá thai;
Dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; Phát hiện sớm ung thư đường sinh sản; Khám và
tư vấn điều trị vô sinh và chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên – thanh niên và nam học [17]
Đi đôi với sự phát triển nhanh về kinh tế lãnh đạo và các ban ngành của xã còn thường xuyên quan tâm đến các vấn đề về y tế, các chương trình nâng cao sức
Trang 34tế, văn hóa, xã hội của huyện làm địa bàn nghiên cứu
Trang 3526
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng định lượng:
Phụ nữ sau sinh (PNSS) từ 1-6 tháng tại xã Lạc Vệ - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bà mẹ có con từ 1- 6 tháng tuổi
- Hiện tại đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu, có hộ khẩu thường trú
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đang mắc bệnh nặng, không tỉnh táo (tâm thần…), không thể tham gia nghiên cứu
- Phụ nữ sinh con trong khoảng thời gian trên nhưng trẻ đã tử vong
Đối tượng định tính: Phụ nữ sau sinh đã xác định bị trầm cảm sau sinh và không bị trầm cảm sau sinh (Qua kết quả nghiên cứu định lượng)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 01/2018 đến tháng 6/2018
Địa điểm: xã Lạc Vệ - huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng được tiến hành trước, sau đó tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng của nghiên cứu định tính
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
d
p p
Z
Trang 3627
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z1-α/2 = 1,96 p: 0,302 (theo nghiên cứu của tác giả trước) [7]
d: Khoảng sai lệch chấp nhận được, chọn d = 0,07
Thay vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu n = 165 Dự phòng 10% các trường hợp trả lời thiếu thông tin, vắng mặt hoặc từ chối tham gia nghiên cứu, làm tròn số ta có cỡ mẫu nghiên cứu n = 180 người Theo số liệu quản lý thai nghén trên địa bàn xã, từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018, có khoảng 200 phụ nữ đã sinh con và đang có thai được quản lý Dựa trên con số ước lượng chúng tôi tiến hành chọn mẫu toàn bộ số phụ nữ có con sinh trong khoảng thời gian 01/09/2017-30/3/2018
Dựa theo danh sách tiêm chủng và thống kê sổ đẻ tại xã trong vòng 6 tháng (Từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018), danh sách ban đầu có 214 phụ nữ đã sinh con (có hộ khẩu thường trú) Trên thực thế, có 12 người không tham gia phỏng vấn với nhiều lý do: về nhà mẹ đẻ sống, không liên hệ được qua điện thoại, đến 3 lần không gặp được đối tượng…Tổng số đối tượng được nghiên cứu là 202 phụ nữ
Tổng số người tham gia nghiên cứu định tính là 6 người, cụ thể phỏng vấn sâu: 6 Phỏng vấn sâu (03 PVS phụ nữ sau sinh bị TCSS và 03 PVS phụ nữ sau sinh không bị TCSS) Chọn chủ đích 03 đối tượng ở mỗi nhóm có các đặc điểm sau: PNSS dưới 25 tuổi, có trình độ cấp 3 chọn 01 phụ nữ, PNSS từ 26 đến 30 tuổi, trình
độ trung cấp chọn 01 phụ nữ, PNSS trên 30 tuổi, trình độ cấp 2 chọn 01 phụ nữ
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Quá trình thu thập số liệu
Quá trình thu thập số liệu được tiến hành trong tháng 4/2018:
Bước 1: Lập danh sách phụ nữ sinh từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018,
bao gồm các thông tin như: họ tên đối tượng, ngày tháng năm sinh, địa chỉ liên hệ
Trang 3728
Danh sách này chủ yếu được rút ra từ sổ tiêm chủng và sổ đẻ của trạm y tế Sổ đẻ
và sổ tiêm chủng của trạm y tế ghi chép hết tất cả các trường hợp mà trạm quản lý
Bước 2: Dựa vào danh sách đã lập, ĐTV tiếp cận đối tượng tại gia đình theo
địa chỉ liên hệ ghi trong sổ đẻ và số tiêm chủng dưới sự dẫn đường của y tế thôn Sàng lọc đối tượng, với mỗi đối tượng mà thỏa mãn tiêu chuẩn chọn lựa thì ĐTV giới thiệu về nghiên cứu và mời đối tượng tham gia nghiên cứu
Công cụ thu thập số liệu
Toàn bộ thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi có cấu trúc bao gồm 2 phần: phần phỏng vấn và tự điền (phụ lục 2) Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên khung lý thuyết và tham khảo một vài nghiên cứu về TCSS được tiến hành trong nước [8, 36], bên cạnh đó bộ câu hỏi còn được thiết kế để thu thập những thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu Nội dung cụ thể của bộ câu hỏi bao gồm cấu phần như sau:
Cấu phần phỏng vấn
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Phần B: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của mẹ
Phần C: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của con
Phần D: Các yếu tố liên quan đến quá trình mang thai và chuyển dạ
Phần E: Các yếu tố liên quan đến môi trường, gia đình và xã hội
Cấu phần tự điền: Hình thức trắc nghiệm tâm lý, sử dụng thang đo EPDS
Điều tra viên sau khi thu thập hết thông tin ở phần A sẽ cho ĐTNC trả lời phiếu trắc nghiệm tâm lý, sau khi ĐTNC tự điền xong phiếu sẽ phỏng vấn tiếp các phần sau Điều này giúp ĐTNC trả lời các câu hỏi tự điền chính xác hơn, không bị quá trình phỏng vấn làm cho mệt mỏi dẫn đến việc điền phiếu trắc nghiệm mà không suy nghĩ
kỹ
Trước khi đi thu thập số liệu chính thức tại xã Lạc Vệ, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 đối tượng trên địa bàn xã có điều kiện kinh tế, văn hóa tương đồng với địa bàn nghiên cứu Lần thử nghiệm thứ nhất được tiến hành trên 3 đối tượng, sau đó bộ công cụ được chỉnh sửa theo những ý kiến của đối tượng
Trang 3829
được phỏng vấn Sau đó, bộ công cụ được thử nghiệm trên 2 đối tượng và không gặp khó khăn gì, bộ công cụ chính thức được đưa vào nghiên cứu
Điều tra viên: ĐTV được chọn vào để thu thập thông tin cho nghiên cứu là
cán bộ của Trung tâm kiểm soát bệnh tật, đã tốt nghiệp Thạc sỹ/Cử nhân y tế công cộng, có kinh nghiệm làm việc với cộng đồng Các ĐTV được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn và nội dung chính của bộ công cụ trước khi tiến hành thu thập số liệu tại xã nghiên cứu Nghiên cứu viên cũng là ĐTV
2.5.2 Nghiên cứu định tính
- Công cụ thu thập số liệu: là bản hướng dẫn PVS
Sử dụng hướng dẫn PVS đối với các đối tượng thuộc nhóm PNSS nhằm
tìm hiểu các thông tin về TCSS, các yếu tố liên quan đến TCSS (Chi tiết phụ lục 4)
Sau khi tiến hành điều tra định lượng, xác định được phụ nữ bị TCSS, đã lựa chọn và tiến hành PVS với 03 phụ nữ bị TCSS và 03 phụ nữ không bị TCSS
- Điều tra viên: Toàn bộ số liệu của luận văn được học viên trực tiếp thu thập
dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ giải quyết các khó khăn của giảng viên hướng dẫn là người có nhiều kinh nghiệm trong triển khai nghiên cứu y tế
- Cách thức thu thập: Sử dụng kỹ thuật PVS Tất cả các cuộc PVS đều được
ghi âm và điều tra viên ghi chép các nội dung chính Nơi thực hiện thu thập số liệu
do ĐTNC lựa chọn, đảm bảo một số tiêu chuẩn: an toàn và thuận tiện, tạo sự tin tưởng cho ĐTNC khi chia sẻ các thông tin nhạy cảm
Bảng 2.1 Cỡ mẫu, chọn mẫu và công cụ thu thấp số liệu
Nhóm đối tƣợng Cỡ mẫu Chọn mẫu thập số liệu Công cụ thu Phụ nữ sau sinh 06 phụ nữ
Chọn chủ đích trong tổng số phụ nữ sau sinh bị trầm cảm
bán cấu trúc
(Chi tiết phụ lục 4)
Không bị TCSS 03 phụ nữ
Chọn chủ đích trong tổng số phụ nữ sau sinh không bị trầm cảm theo độ tuổi
Trang 3930
2.6 Các biến số/chủ đề nghiên cứu:
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Bao gồm 5 nhóm chính:
- Trầm cảm sau sinh
- Nhóm yếu tố cá nhân và sức khỏe của mẹ
- Nhóm liên quan đến sức khỏe của trẻ
- Nhóm liên quan đến chăm sóc giai đoạn sau sinh
- Nhóm liên quan đến sự hỗ trợ của gia đình và xã hội
(Chi tiết biến nghiên cứu phụ lục 5)
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Gồm các nội dung, chủ đề nghiên cứu:
- Yếu tố cá nhân của mẹ ảnh hưởng đến TCSS: tuổi, nghề nghiệp, học vấn, kinh tế, tình trạng hôn nhân, tiền sử sản khoa, tiền sử bệnh tật, áp lực giới tính khi sinh
- Yếu tố của con ảnh hưởng đến người mẹ: con dạ/con so, con ốm đau, tính khí con, các khó khăn khi chăm sóc trẻ
- Yếu tố chăm sóc sau sinh: những kiêng cữ sau sinh, nghỉ ngơi sau sinh, mất ngủ
- Yếu tố hỗ trợ sau sinh: những hỗ trợ của gia đình, chồng với PNSS
- Các khuyến nghị giải pháp làm giảm/tránh tình trạng TCSS cho phụ nữ trên địa bàn xã
2.7 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
Trầm cảm sau sinh
Trầm cảm sau sinh được đánh giá bằng thang đo EPDS Phương thức tính điểm cụ thể như sau: câu 1,2 và 4 cách tính điểm tăng dần từ 0 cho đáp án đầu tiên cho đến 3 là đáp án cuối cùng Các câu còn lại 3,5 cho đến 10 có cách tính điểm ngược lại, điểm số sẽ được tính giảm dần 3 điểm ở đáp án đầu tiên cho đến 0 điểm ở đáp án cuối cùng (Cách tính điểm theo phụ lục 3)
Trang 4031
Tổng số điểm của thang đo từ 0 đến 30 điểm Trong khuôn khổ nghiên cứu này chúng tôi sử dụng điểm cắt 12/13, đây là điểm cắt được khuyến nghị sử dụng của tác giả và được dùng nhiều trong các nghiên cứu tại Việt Nam
Kết quả của thang đo với tổng điểm 0 đến 30 được phân biệt như sau:
- Tổng điểm các câu ≤ 12: Không bị trầm cảm
Kinh tế gia đình:
Theo mức chuẩn nghèo mới trong giai đoạn 2016 – 2020, thì hộ có khó khăn về kinh tế là những hộ có thu nhập từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống tại thành thị và 700.000 đồng/người/ tháng tại nông thôn
2.8 Quản lý và phân tích số liệu
Quản lý số liệu
Nhập liệu: Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu, số liệu được nhập lại ngẫu nhiên 5-10% phiếu để đảm bảo tính chính xác khi nhập liệu, số liệu dưới định dạng Epidata được chuyển sang SPSS để làm sạch và phân tích
Kiểm tra tính logic và nhất quán: Việc kiểm tra tính logic và nhất quán theo logic của bộ câu hỏi được tiến hành, sử dụng hai phương pháp: thứ nhất tiến hành kiểm tra tính nhất quán trong khi nhập số liệu bằng cách sử dụng tính năng kiểm tra lập trình của phần mềm Epidata và thứ hai là viết các lệnh kiểm tra
Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích số liệu