CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi Hội đồng sáng kiến sở LĐ&TB xã hội Nghệ An Hội đồng sáng kiến Trung tâm GD DN người khuyết tật Số T[.]
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng sáng kiến sở LĐ&TB xã hội Nghệ An
- Hội đồng sáng kiến Trung tâm GD-DN người khuyết tật
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
1 Hà Thị Hồng
TT GDDNngười khuyếttật Nghệ An
Giáo viên Đại học 100%
2 Hồ Thị Mơ 22/1/1982
TT GDDNngười khuyếttật Nghệ An
Giáo viên Đại học 100%
3 Đỗ Thị Trang 20/11/1987
TT GDDNngười khuyếttật Nghệ An
Giáo viên Đại học 100%
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 03/2022
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
* Về nội dung của sáng kiến: Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho ngườikhuyết tật là khâu quan trọng không chỉ tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập vớicộng đồng, phát triển kinh tế bền vững mà còn giữ nhiệm vụ giúp Nhà nước giảm bớtgánh nặng an sinh xã hội, chung tay thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa –
xã hội Qua thời gian nghiên cứu, nhóm tác giả đã thực hiện được các nội dung, cụ thểnhư sau:
- Thứ nhất, nêu rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, khách thể nghiên cứu vàđối tượng nghiên cứu; giả thuyết nghiên cứu; nhiệm vụ nghiên cứu; giới hạn phạm vinghiên cứu; các phương pháp nghiên cứu và kế hoạch thực hiện đề tài
Trang 2- Thứ hai, đề cập đến hệ thống các cơ sở lý luận liên quan như: các khái niệm, tiêuchí xác định hiệu quả đào tạo, chỉ rõ mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu quả đào tạo, từ
đó có những lý luận chặt chẽ để có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảđào tạo nghề cho người khuyết tật tại Trung tâm GD- DN người khuyết tật tỉnh Nghệ An
- Thứ ba, tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng hiệu quả đào tạo nghề chongười khuyết tật tại Trung tâm GD- DN người khuyết tật tỉnh Nghệ An ở các thành tốkhác nhau như: nội dung, phương pháp, đội ngũ GV, điều kiện cơ sở vật chất trang thiết
bị dạy học, công tác tư vấn nghề và giải quyết việc làm Sau khi xử lý số liệu cho thấythực trạng hiệu quả đào tào nghề may công nghiệp cho người khuyết tật tại Trung tâmcòn nhiều bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn dẫn đến việc học sinh ra trường chưađáp ứng được yêu cầu sản xuất
- Thứ tư, dựa trên cơ sở lý luận được nghiên cứu và thực trạng đã khảo sát, đánhgiá, tác giả tiến hành đề xuất năm giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề may côngnghiệp cho người khuyết tật tại Trung tâm GD- DN người khuyết tật tỉnh Nghệ An,
* Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
Do điều kiện thực tiễn chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu nghề may công nghiệp
có số lượng học viên theo học nhiều nhất tại trung tâm giáo dục – dạy nghề người khuyếttật về các nội dung dung như: Nội dung chương trình đào tạo, phương pháp dạy học thựchành đang được sử dụng, chất lượng đội ngũ giáo viên, việc ứng dụng công nghệ trongquá trình dạy học và công tác tư vấn nghề, giải quyết việc làm
Trong suốt thời gian thực hiện, chúng tôi đã tiến hành một số hoạt động nhằmđánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất Chúng tôi đã tiếnhành lấy ý kiến chuyên gia là cán bộ quản lý, các giáo viên trực tiếp giảng dạy trong vàngoài Trung tâm giáo dục – dạy nghề người khuyết tật bằng phiếu hỏi ý kiến Kết quảtổng hợp đã thấy tính cấp thiết và tính khả thi đạt gần 90% Việc áp dụng sáng kiến sẽgóp phần đảm bảo người khuyết tật được trang bị kiến thức, kỹ năng nghề vững chắc,giúp họ tự tin trong công việc, tự chủ được cuộc sống của mình
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể mang lại hiệu quảcao nhất khi có điều kiện thuận lợi về các mặt: Phòng thư viện – các máy tính được nốimạng nội bộ và mạng internet phòng thư viện Giáo viên và học sinh hưởng ứng tích cực
và được bồi dưỡng tập huấn nâng cao chuyên môn dạy nghề Cán bộ quản lý quan tâmchỉ đạo và tạo điều kiện
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiếntheo ý kiến của nhóm tác giả: Sáng kiến là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên, họcsinh khuyết tật trong quá trình dạy nghề may tại Trung tâm giáo dục- dạy nghề ngườikhuyết tật Nghệ An
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiếntheo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng
Trang 3thử: Quan sát giờ học của các lớp thực nghiệm được tiến hành theo tiến trình đã xây dựngthì có những nhận xét sau: Học sinh khuyết tật thông hiểu và nhận thức rõ quá trình họcnghề may Học sinh có niềm tin dựa trên cơ sở khoa học và khả năng của người khuyếttật nói chung và bản thân mình nói riêng trong việc học và kết thúc khóa nghề yêu cầuđặt ra Học sinh sau khi học xong chủ động hơn và xin việc nghề may dễ dàng hơn Sángkiến của nhóm tác giả được các cô trong phòng dạy nghề tham khảo và dùng trong quátrình giảng dạy đào tạo nghề, đặc biệt là cô Hồ Thị Mơ hiện đang giảng dạy cùng nghề và
Nơi công tác
(hoặc nơithường trú)
Chức danh chuyên môn Trình độ
Nội dung công việc
hỗ trợ
1 Vương Thị Liên 1992 Phòng dạy
nghề
Giáoviên Đại học
Dạy thựcnghiệm
2 Lê Thị Mỹ Trinh 1982 Phòng dạy
nghề
Giáoviên
Đại học Dạy thực
nghiệmChúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật vàhoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
CƠ QUAN, ĐƠN VỊ
Tp.Vinh, ngày 25 tháng 07 năm 2023
NGƯỜI NỘP ĐƠN
Hà Thị Hồng Lĩnh
Hồ Thị Mơ – Đỗ Thị Trang
Trang 4SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRUNG TÂM GD DẠY NGHỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT NGHỆ AN
-o0o -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC- DẠY NGHỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỈNH NGHỆ AN
- Họ và tên nhóm tác giả: Hà Thị Hồng Lĩnh – Giáo viên
Hồ Thị Mơ - Giáo viên
Đỗ Thị Trang – Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trung tâm GD – DN người khuyết tật Nghệ An
Nghệ An, tháng 7 năm 2023
Trang 5THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: Hà Thị Hồng Lĩnh Nam/Nữ: Nam, Sinh năm: 1972
- Quê quán: Thanh Tùng – Thanh Chương – Nghệ An
- Chức vụ: Giáo viên Trung tâm giáo dục - dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Đơn vị công tác: Trung tâm giáo dục - dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp
- Trình độ chuyên môn (ghi từ học hàm, học vị nếu có): Cử nhân
- Là đồng tác giả của nhóm tác giả có sáng kiến kinh nghiệm
2 Họ và tên: Hồ Thị Mơ Nam/Nữ: Nữ Sinh năm: 1982
- Quê quán: Quỳnh Thạch – Quỳnh Lưu – Nghệ An
- Chức vụ: Giáo viên Trung tâm giáo dục - dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Đơn vị công tác: Trung tâm Giáo dục- Dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Trình độ lý luận chính trị: Sơ cấp
- Trình độ chuyên môn (ghi từ học hàm, học vị nếu có): Cử nhân
- Là đồng tác giả của nhóm tác giả có sáng kiến kinh nghiệm
3 Họ và tên: Đỗ Thị Trang Nam/Nữ: Nữ Sinh năm: 1991
- Quê quán: Liên Hòa – Quảng Yên – Quảng Ninh
- Chức vụ: Giáo viên Trung tâm giáo dục - dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Đơn vị công tác: Trung tâm Giáo dục- Dạy nghề người khuyết tật Nghệ An
- Trình độ lý luận chính trị:
- Trình độ chuyên môn (ghi từ học hàm, học vị nếu có): Cử nhân
- Là đồng tác giả của nhóm tác giả có sáng kiến kinh nghiệm
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 7,06% dân số, trong
đó, có khoảng 60% người khuyết tật trong độ tuổi lao động
Trong 10 năm, từ 2011 – 2021, ước tính trên cả nước đã tổ chức đào tạo nghề từ300.000 – 350.000 NKT, trong đó có trên 213 NKT được hỗ trợ đào tạo nghề theo Đề án
Theo dự báo trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm
do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng còn lại sau chiến tranh của chất độc hóahọc, tai nạn giao thông và hậu quả thiên tai
Nhà nước ta đã có nhiều chính sách chăm lo cho người khuyết tật Bộ Luật laođộng ban hành năm 1994 đã dành một mục riêng với những điều quy định về lao động làngười khuyết tật và khẳng định: “Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật vàkhuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật” Tại điều 125 của Bộ Luậtcũng nêu rõ: “Hàng năm, nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người khuyết tậtphục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay vớilãi suất thấp để họ tự tạo việc làm, ổn định đời sống”
Trang 6Tuy nhiên, chỉ có gần 12% người khuyết tật được học nghề Nhận thức của bảnthân người khuyết tật và gia đình về đào tạo nghề cho người khuyết tật còn chưa cao, dẫnđến nhu cầu học nghề của người khuyết tật rất thấp, chỉ có 13,7% người khuyết tật có nhucầu học nghề.
Tỷ lệ người khuyết tật sau đào tạo nghề tìm được việc làm còn rất thấp và chủ yếu
là tự tạo việc làm, số có thể tìm được việc làm trong các doanh nghiệp lớn hầu như khôngđáng kể
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Đa số ngườikhuyết tật phải sống với gia đình, nhận trợ cấp xã hội thường xuyên, có mức sống nghèohoặc trung bình, bởi chính họ khó có thể lao động, làm việc với năng suất như ngườikhác nếu không được đào tạo một cách bài bản
Nếu giáo dục đặc biệt với mục tiêu là hình thành và phát triển nhân cách toàn diện,
có tính tự lập tối đa và sự phụ thuộc tối thiểu, làm tiền đề người khuyết tật tự khẳng định
và hòa nhập xã hội, thì phải xem công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật là nhiệm vụtrọng tâm, là công việc cuối cùng, quan trọng trong quá trình nuôi dạy và phục hồi chứcnăng cho người khuyết tật
Vấn đề dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật ngày càng được nhà nước quantâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện Pháp luật lao động quy định các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế phải nhận từ 2-3% lao động là người tàn tật vào làm việc tùy theoloại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động là người tàn tật theoquy định phải đóng một khoản tiền vào Quỹ việc làm cho người tàn tật Tuy nhiên, hiệnnay hầu hết các doanh nghiệp không thực hiện được quy định này, phần lớn những ngườikhuyết tật có việc làm không ổn định, chủ yếu là tự tạo việc làm, làm việc trong các tổchức, cơ sở mang tính nhân đạo từ thiện Rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổnđịnh trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
Nguyên nhân là do công tác tuyên tuyền phổ biến, kiểm tra giám sát chưa đượcquan tâm thực hiện Mặt khác, bản thân người khuyết tật chưa đáp ứng được yêu cầutuyển dụng của các doanh nghiệp
Tại tỉnh Nghệ An, số lượng người khuyết tật là hiện có 203.000 người (Thống kêcủa Sở LĐ-TB&XH Nghệ An - cuối năm 2020) Trong đó, số lượng người khuyết tậttrong độ tuổi lao động khoảng 70.000 người
Trong giai đoạn Nghệ An cùng cả nước đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa nềnkinh tế và xã hội, vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy người cho người khuyết tật là khâu quantrọng không chỉ tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, phát triểnkinh tế bền vững mà còn giữ nhiệm vụ to lớn giúp Nghệ An giảm bớt gánh nặng an sinh
xã hội, chung tay thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế văn hóa- xã hội của đất nước
Trang 7Vấn đề đặt ra là làm thế nào để công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật đạtđược hiệu quả tốt nhất, đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình địa phương của tỉnhNghệ An, từ đó có thể nghiên cứu áp dụng trong phạm vi cả nước.
Trước tình hình đó, bản thân là giáo viên công tác ở mảng xã hội thuộc ngành Lao
động TB&XH, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng may cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm GD- DN người khuyết tật tỉnh Nghệ An” với mong muốn góp một phần công sức vào công tác chuyên môn thuộc ngành mình
công tác, từ đó chung tay góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hươngmình
II CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trong những năm vừa qua, đề tài về người khuyết tật được nhiều nhà tâm lý học
và xã hội học quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên vấn đề dạy nghề và hiệu quả đào tạo nghềcho người khuyết tật vẫn còn rất hạn chế
Một số sáng kiến kinh nghiệm liên quan đến dạy nghề người khuyết tật đã đượcnghiên cứu Nhưng hiện nay chưa có sáng kiến kinh nghiệm chuyên sâu về giải phápnhằm nâng cao kĩ năng may cho học sinh khuyết tật tỉnh Nghệ An nói chung và đối vớitrung tâm giáo dục dạy nghề người khuyết tật Nghệ An nói riêng
1 Một số khái niệm cơ bản:
1.1 Hiệu quả đào tạo:
K.Mark đã viết: “ Người ta phải có khả năng sống trước rồi mới làm ra lịch sử.Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo” Conngười không thể tồn tại mà thiếu những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, ở Như vậy, “mặc”
là một trong những nhu cầu cơ bản không thể thiếu của con người Chính vì điều đó, cácngành học về may mặc, thời trang được ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu “mặc”ngàycàng cao của con người
Hiểu một cách đơn giản, ngành công nghệ may là ngành nhằm thỏa mãn, đáp ứngnhu cầu về may mặc, thời trang của con người với những sản phẩm đa dạng được thựchiện thông qua hệ thông sản xuất công nghiệp hiện đại, vừa đảm bảo về thẩm mỹ vừađảm vảo về sản lượng sản xuất
1.2 Phân loại hiệu quả đào tạo:
Hiệu quả đào tạo cũng có nhiều mức cao, thấp khác nhau và có thể xem xét ở haikhía cạnh: hiệu quả trong quá trình đào tạo và hiệu quả ngoài quá trình đào tạo:
a) Hiệu quả trong quá trình đào tạo:
Hiệu quả trong quá trình đào tạo phản ánh kết quả đào tạo trong quá trình đào tạo,qua tỉ lệ bỏ học và kết quả tốt nghiệp ở nhà trường
Hiệu quả trong quá trình đào tạo được xem xét là diễn biến quá trình từ đầu vào,quá trình dạy học, đến đầu ra Đầu vào gồm nhiều nhân tố, trong đó có chi phí quá trìnhđào tạo Đầu ra là số lượng, chất lượng và cơ cấu của những người tốt nghiệp
Trang 8Hiệu quả trong quá trình đào tạo có quan hệ mật thiết với chất lượng, tỉ lệ bỏ học.Chất lượng đào tạo cao thì số học sinh bỏ học ít, số học sinh tốt nghiệp của khóa họccàng nhiều, vì thế hiệu quả tỏng quá trình đào tạo càng cao Tuy nhiên, hiệu quả trongquá trình đào tạo không chỉ tính đến chất lượng và số lượng học sinh tốt nghiệp mà còntính đến việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong quá trình đào tạo có hợp lý haykhông.
Các nhóm tiêu chí xác định hiệu quả trong quá trình đào tạo:
- Nhóm các tiêu chí liên quan đến đầu vào của quá trình đào tạo
- Nhóm các tiêu chí liên quan đến quá trình đào tạo
- Nhóm các tiêu chí liên quan đến đầu ra của quá trình đào tạo
Một số chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả trong quá trình đào tạo:
- Quy mô tuyển sinh hàng năm
- Tình hình học sinh bỏ học
- Tỷ lệ tốt nghiệp
- Chi phí đào tạo/số học sinh tốt nghiệp
- Tỷ lệ học sinh/1 giáo viên
b) Hiệu quả ngoài quá trình đào tạo:
Hiệu quả ngoài được đánh giá ngoài nhà trường và ngoài quá trình đào tạo.Thường có thể đánh giá từ 6 tháng sau khi học sinh tốt nghiệp Hiệu quả ngoài được xemxét về khả năng đóng góp của người học vào sự nghiệp phát triển đời sống văn hóa – xãhội bằng công việc làm cụ thể, bằng sự thích ứng với thực tiễn, phát huy và phát triểnđược nghề nghiệp bản thân sau khi ra trường
* Về mặt kinh tế:
Hiệu quả ngoài là tỷ lệ giữa lợi nhuận thu được do những học sinh tốt nghiệp tìmđược việc làm mang lại cho nền kinh tế cũng như cá nhân trong quá trình lao động so vớitổng chi phí đào tạo
Nghĩa là khi xét hiệu quả ngoài của đào tạo, phải gắn đào tạo với sử dụng
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ngoài của đào tạo:
- Tỉ lệ giữa số học sinh tốt nghiệp tìm được việc làm với tổng số học sinh tốtnghiệp
- Tỉ lệ giữa số học sinh tốt nghiệp có việc làm đúng ngành, nghề và trình độ đàotạo với tổng số học sinh có việc làm
- Khả năng thích ứng nghề nghiệp trong thực tiễn, khả năng phát triển và thăngtiếng trong nghề nghiệp của học sinh tốt nghiệp
* Về mặt xã hội:
Giáo dục và đào tạo góp phần làm biến đổi nhân cách, thay đổi phẩm giá củangười học, biến họ từ người có nghề thành một người lao động chân chính, một công dântốt góp phần cống hiến cho sự phát triển của xã hội
Trang 91.3 Dạy nghề trình độ sơ cấp:
* Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp:
Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hànhmột số công việc của một nghề: có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỹ năng, tácphong công nghiệp, có sức khỏe Tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp cókhả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
* Thời gian học nghề trình độ sơ cấp:
Dạy nghề trình độ sơ cấp được thực hiện từ ba tháng đến dưới một năm đối vớingười có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học
* Yêu cầu nội dung, phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp:
Nội dung dạy nghề trình độ sơ cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ sơcấp, tập trung vào năng lực thực hành nghề, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển củakhoa học, công nghệ
Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hànhnghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề
* Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp:
Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp,quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hìnhthức dạy nghề, cách thức đánh giá kết quả học tập đối với modun, mỗi nghề
* Giáo trình dạy nghề trình độ sơ cấp:
Giáo trình dạy nghề trình độ sơ cấp cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹnăng của mỗi modun trong chương trình dạy nghề, tạo điều kiện để thực hiện phươngpháp dạy học tích cực
Người đứng đầu cơ sở dạy nghề quy định tại Điều 15 của Luật này tổ chức biênsoạn và duyệt giáo trình làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức
* Cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp:
Trung tâm dạy nghề
Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơcấp
Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọichung là doanh nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đạihọc, cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp
* Chứng chỉ sơ cấp nghề
Người học nghề học hết chương trình sơ cấp nghề có đủ điều kiện thì được dựkiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở dạy nghề quy định tại Điều 15của Luật này cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lýnhà nước về dạy nghề ở trung ương
1.4 Các phạm trù liên quan đến người khuyết tật:
Trang 10Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bịsuy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động sinh hoạt, học tậpgặp khó khăn.
Theo Pháp lệnh về người tàn tật, năm 1998, Người tàn tật là người bị khiếmkhuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tậtkhác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặpkhó khăn
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi dùng cụm từ người khuyết tật để gọi chungcho người tàn tật và người khuyết tật
Khuyết tật vận động là những cơ quan vận động bị tổn thương do những khuyết tậtkhác nhau (chấn thương, hậu quả của một số bệnh) gây nên những khó khăn khi dichuyển, hoạt động cầm nắm, đứng, ngồi
Phần lớn người khuyết tật vận động có năng lực trí tuệ phát triển bình thường.Khuyết tật nghe, nói (khiếm thính) là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe,nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giaotiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
1.5.1 Năng lực của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:
- Năng lực giáo viên là điều kiện quan trọng góp phần đảm bảo chất lượng đào tạocho một cơ sở đào tạo Giáo viên có kiến thức chuyên môn sâu rộng, tay nghề cao, khảnăng sư phạm tốt, có tư duy khoa học sáng tạo sẽ hình thành ở học sinh kiến thức vữngvàng, năng lực tự học và khả năng thích ứng tốt với công việc
- Bên cạnh đó, năng lực của người cán bộ quản lý đóng góp rất quan trọng việcđảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường Người quản lý biết tổ chức xây dựng mộtchương trình đào tạo hợp lý, phát huy tối đa khả năng của giáo viên, có sự đầu tư về cơ
sở vật chất, nắm được thực lực của đơn vị, từ đó tạo nên một bộ máy hoạt động nhịpnhàng và hiệu quả
1.5.2 Nội dung chương trình:
Theo từ điển Giáo dục học, năm 2001, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu
là văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung và kiến thức và kỹ
Trang 11năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức
và phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sởgiáo dục và đào tạo
Theo PGS.TS Lê Đức Ngọc thì “Chương trình đào tạo là một văn bản pháp quy về
về kế hoạch tổ chức đào tạo một văn bảng, bao gồm: mục tiêu đào tạo; nội dung và yêucầu bắt buộc, tự chọn hay tùy ý, phân bố thời lượng của các môn học, kế hoạch thực hiệnchương trình và điều kiện xét cấp văn bằng”
Thuật ngữ chương trình đào tạo có thể dùng ở nhiều cấp độ khác nhau như:chương trình đào tạo của một ngành học, khóa học, môn học
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu làchương trình môn học
* Phân loại chương trình đào tạo:
- Chương trình môn học: là loại chương trình đào tạo mà cấu trúc, nội dung cơ bảnđược thiết kế chủ yếu từ các môn học theo từng lĩnh vực khoa học cụ thể như: tư nhiên,
xã hội- nhân văn hoặc khoa học công nghệ
Chương trình môn học sử dụng theo học chế năm học
- Chương trình mô- đun là loại chương trình đào tạo được xác lập trên cơ sở lựachọn và tổng hợp các Mô- đun đào tạo
Mô đun trong đó tổ hợp các kiến thức, kỹ năng liên quan cùng các chỉ dẫn, quytrình cụ thể để tạo ra một trình độ nhận thức hay năng lực chuyên môn nhất định
Mô đun là một đơn vị học tập trọn vẹn, có tính độc lập tương đối Sau khi hoànthành một mô – đun, người học có năng lực hành nghề tương ứng
Phương tiện dạy học đóng vai trò quan trọng trong giáo dục người khuyết tật.Người khuyết tật cần có sự hỗ trợ của các phương tiện giáo dục đặc biệt như: chữ nổi,sách nói, ngôn ngữ kí hiệu, …
Trang 121.6 Đặc điểm của nghề may dạy cho người khuyết tật tại trung tâm giáo dạy nghề người khuyết tật Nghệ An.
dục-Tên nghề: May công nghiệp
Trình độ đào tạo: Sơ cấp nghề
Đối tượng tuyển sinh: người bị khuyết tật, có trình độ học vấn tiểu học
Số lượng mô đun đào tạo: 11 mô đun
Văn bằng được cấp sau khi tốt nghiệp: chứng chỉ sơ cấp nghề
Mô tả nghề: Nghề may trang bị cho người học kiến thức cơ bản về phương phápcắt may và thực hành trên từng loại thiết bị máy may, trên tất cả các chất liệu vải
Cơ hội việc làm của nghề: sau khi học nghề, người học có thể tự tính vải, đo, cắtmay để làm ra sản phẩm Có thể làm việc tại các cơ sở, xí nghiệp may hoặc tự mở tiệm
Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả đào tạo nghề nói chung và đặc biệt trong đào tạonghề cho người khuyết tật nói riêng, phải phân tích, làm rõ nội dung của từng nhân tố,tìm cách tác động vào chúng để phát huy cao nhất những mặt có lợi và hạn chế tối đa cácmặt bất lợi của các nhân tố
Phần cơ sở lý luận của đề tài giúp người nghiên cứu định hướng và xác định rõ ýnghĩa của các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn, xác định cơ sở, mô hình, kỹ thuật để vậndụng vào việc đánh giá, nhận định về việc nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho ngườikhuyết tật
Đồng thời, chỉ rõ mối quan hệ giữa chất lượng và hiệu quả đào tạo, từ đó có những
lý luận chặt chẽ để có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghềmay cho người khuyết tật tại Trung tâm giáo dục- dạy nghề người khuyết tật tỉnh NghệAn
2 Thực trạng về hiệu quả đào tạo nghề may cho người khuyết tật tại trung tâm:
Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng đào tạo nghề cho người khuyết tật tạiTrung tâm GD-DN người khuyết tật Nghệ An theo 2 phương thức khác nhau:
Thứ nhất, thông qua các số liệu từ các báo cáo các năm của Trung tâm GD-DNngười khuyết tật tỉnh Nghệ An
Thứ hai, thông qua việc sử dụng kết hợp 5 loại mẫu phiếu khảo sát dành cho cáccán bộ quản lý trực tiếp tại trung tâm, các giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy, cán bộquản lý tại các doanh nghiệp có sử dụng lao động là người khuyết tật đã qua các lớp dạynghề tại trung tâm, người lao động và học sinh đã và đang học
Nhóm tác giả đã tìm hiểu thực trạng hiệu quả, chất lượng đào tào nghề cho ngườikhuyết tật tại Trung tâm qua nhiều khía cạnh khác nhau: nội dung chương trình đào tạo,các nhóm phương pháp dạy học được sử dụng, chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vậtchất trang thiết bị phục vụ dạy học và công tác tư vấn nghề, tạo việc làm cho học sinh củaTrung tâm