1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Skkn 2023) vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học hợp đồng khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực hs

57 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học hợp đồng khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực hs
Tác giả Vận dụng Mô hình Lớp Học Đảo Ngược Và Phương Pháp Dạy Học Hợp Đồng Khi Dạy Viết Văn Nghị Luận Ở Chương Trình Ngữ Văn 10 Nhằm Phát Triển Năng Lực HS
Trường học Trường THPT Nguyễn Trãi
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, muốn HS đạt hiệu quả học tập bền vững, phát huy năng lực tự học, HS được tham gia cao nhất vào hoạt động học, học theo khả năng, tốc độ tiếp nhận kiến thức của bản thân thì mô hì

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Xuất phát từ đích đến của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của HS, từ đó hình thành những năng lực và phẩm chất đi theo HS suốt cả cuộc đời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chỉ đạo, hướng dẫn đổi mới nội dung, phương pháp và cách thức kiểm tra, đánh giá, trong đó đặc biệt là chỉ

đạo đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục Mặt khác, cuộc cách mạng công

nghệ 4.0 đã đem đến cho giáo dục những sự thay đổi lớn về phạm vi, phương pháp tiếp cận tri thức, mô hình và không gian học tập Chính vì thế, trong dạy học, người GV cần phải học hỏi, vận dụng linh hoạt những mô hình, phương pháp dạy học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu của dạy học trong thời đại mới hướng tới việc đánh thức và hình thành năng lực, phẩm chất cho HS

Định hướng chung của chương trình GDPT năm 2018 nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đối với việc vận dụng các phương pháp giáo dục là dạy học tích hợp

và phân hoá; đa dạng hoá các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS Vì vậy, nên việc thay đổi và vận dụng các PPDH mới là điều cần thiết Để phát huy tối đa những năng lực, phẩm chất của HS, GV cần hiểu rõ đặc điểm, phong cách học tập của HS Mỗi học sinh có những phong cách học tập, khả năng tư duy và năng lực khác nhau Vì vậy, muốn HS đạt hiệu quả học tập bền vững, phát huy năng lực tự học, HS được tham gia cao nhất vào hoạt động học, học theo khả năng, tốc độ tiếp nhận kiến thức của bản thân thì mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp DHTHĐ là hình thức và phương pháp dạy học tích cực giúp đạt được những yêu cầu trên

Phần viết văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 có vị trí quan trọng đối với việc đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục THPT môn Ngữ văn về hình thành, phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học ở mức độ cao hơn hai cấp học trước Khâu phân tích mẫu, lý thuyết quy trình viết rất quan trọng và dung lượng kiến thức phần này khá dày dặn Vì vậy, để đảm bảo HS hiểu, biết lý thuyết quy trình viết làm tiền đề cho thực hành viết – nội dung trọng tâm trong giờ học trên lớp thì GV vận dụng mô hình lớp học đảo ngược Mô hình lớp học hiện đại này sẽ giúp HS tự học ở nhà theo tốc độ tiếp nhận của bản thân, chuẩn bị cho phần thực hành ở trên lớp, giải quyết áp lực thời gian và đạt được mục tiêu của giờ dạy viết Phần thực hành viết trên lớp, GV tổ chức, hướng dẫn HS lập dàn ý hoặc viết đoạn văn theo những đề tài thường định sẵn Sau tiết thực hành viết, mỗi HS hoặc nhóm HS sẽ thực hành tạo lập một văn bản nghị luận theo đề tài tự chọn thuộc dạng nghị luận đó, hoàn chỉnh bài viết nộp cho GV trước tiết trả bài Để HS

có ý thức, trách nhiệm với nhiệm vụ học tập của mình, HS được lựa chọn nhiệm vụ học tập vừa sức với bản thân, tự đánh giá năng lực, đánh giá đồng đẳng Đặc biệt, khi sử dụng phương pháp dạy học này, GV sẽ đánh giá, phân hoá được năng lực

Trang 2

của HS, từ đó điều chỉnh phương pháp giáo dục tổng thể, gắn với từng cá nhân HS

ở chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực HS

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đối với HS: Phát triển năng lực cho HS THPT qua việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học hợp đồng khi dạy phần viết văn nghị luận

ở chương trình Ngữ văn 10

- Đối với GV: giúp GV bổ sung thêm một cách thiết kế bài giảng khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10 Từ đó, GV được trau dồi về năng lực chuyên môn và tạo điều kiện để GV đa dạng hoá các hình thức phân hoá, đánh giá

Bảng 1 Thống kê khách thể nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp khi dạy học viết văn nghị luận nhằm phát triển năng lực cho HS qua việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học hợp đồng

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Phần viết văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 có vị trí quan trọng đối với việc đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục THPT môn Ngữ văn về hình thành, phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học ở mức độ cao hơn hai cấp học trước Khâu phân tích mẫu, lý thuyết quy trình viết rất quan trọng và dung lượng kiến thức phần này khá dày dặn Nắm vững được quy trình viết thì các

em mới thực hành viết thành thạo Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đa số HS còn lúng túng trong khâu soạn bài, chưa nắm vững được quy trình viết, kỹ năng viết đoạn, bài văn còn non, hành văn chưa mạch lạc, chặt chẽ Vì thế, nếu đề xuất và thực hiện đồng bộ các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi này trong các tiết học phần viết văn nghị luận sẽ giúp HS phát huy được tính chủ động, tích cực trong khâu soạn bài; phục vụ cho HS lập dàn ý và viết đoạn văn, bài văn thuận lợi hơn; đồng thời có thể phát triển được các phẩm chất, năng lực ở HS Từ đó, góp

Trang 3

phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học trong nhà trường

V NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dụng sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về mô hình lớp học đảo ngược, phương pháp dạy học hợp đồng

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10

- Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và PP DHTHĐ khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực HS

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét khả năng ứng dụng của đề tài trong việc nâng cao hiệu quả khi dạy viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực HS

2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn mô hình

lớp học đảo ngược, PP DHHĐ và dạy học phát triển năng lực HS, đề xuất quy trình tổ chức dạy học phần viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10 (gồm 6 bài) theo mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học hợp đồng

- Về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu cho HS khối 10 tại trường THPT Tân Kỳ

- Về thời gian: Thời gian khảo sát và thực hiện vấn đề nghiên cứu trong năm học 2022 – 2023

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra, khảo sát; Phương pháp thống kê, so sánh; Phương pháp thực nghiệm sư phạm

VII NHỮNG LUẬN ĐIỂM CẦN BẢO VỆ CỦA ĐỀ TÀI

Dạy học thông qua việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và PP DHTHĐ vào phần viết văn nghị luận ở chương trình Ngữ văn 10, chúng tôi đã đưa ra các giải pháp cụ thể:

- Giải pháp 1: Xác định các năng lực cần hình thành cho HS

- Giải pháp 2: Nắm rõ quy trình thực hiện mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học theo hợp đồng

- Giải pháp 3: Quy trình vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và phương pháp dạy học theo hợp đồng khi dạy văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực cho HS

Đây là các giải pháp rất cần thiết và phù hợp khi dạy văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 Điều này không chỉ phát triển được các phẩm chất, năng

Trang 4

lực cần thiết cho HS mà còn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường

VIII ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

1 Tính mới của đề tài

- Biện pháp đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta tại thời điểm hiện nay

- Sử dụng mô hình dạy học hiện đại và phương pháp dạy học mới vào dạy học những bài chú trọng vào tính thực hành là đúng với yêu cầu của hình thức và phương pháp dạy học này cũng như tinh thần của những tiết học làm văn trong chương trình Ngữ văn THPT mới

- Biện pháp của chúng tôi đưa ra sẽ giải quyết được áp lực về nội dung dạy học lý thuyết trong thời gian 1 tiết học để GV tập trung vào việc tổ chức, hướng dẫn HS thực hành nhằm hình thành năng lực viết Đồng thời, với video sẵn có, HS

có thể thoải mái, linh động trong không gian học tập cũng như tiến trình, tốc độ học phù hợp với khả năng tiếp thu của mình

- Bên cạnh khai thác những video sẵn có trên youtube, chúng tôi còn thiết kế các video bài giảng theo ý đồ sư phạm của mình Điều đó tạo ra sự tương thích với tiết học trực tiếp trên lớp và sự thống nhất trong nội dung dạy học Đồng thời, việc thiết kế học liệu số, bài giảng điện tử sẽ trau dồi năng lực số cho GV và cũng là yêu cầu về năng lực cần có của GV trong thời đại 4.0

- Biện pháp này còn tạo điều kiện để GV đa dạng hoá các hình thức phân hoá, đánh giá HS Đồng thời, việc lập hợp đồng dạy học khiến HS có trách nhiệm hơn với sản phẩm bài viết của mình nên sẽ phát huy được hết năng lực của bản thân

2 Tính khoa học

- Đề tài là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, logic

từ lý thuyết kết hợp nhuần nhuyễn với thực tiễn để có thể áp dụng vào công tác dạy

học Viết văn nghị luận hiệu quả

3 Tính hiệu quả

3.1 Về mặt nhận thức

- GV và HS nhận thức được vai trò của mô hình và phương pháp dạy học hiện đại này trong dạy viết văn nghị luận Chúng tôi chia sẻ những kinh nghiệm với đồng nghiệp để áp dụng trong những bài dạy viết khác và được sự đồng tình,

ủng hộ

3.2 Về mặt hành động

- Khảo sát kết quả bài viết tại lớp thực nghiệm thu được những kết quả tích cực

- Sản phẩm cụ thể của HS trong và sau giờ học nhằm phát triển năng lực viết văn nghị luận với từng dạng bài

Trang 5

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan về mô hình lớp học đảo ngược

- Lớp học đảo ngược (Flipped classroom) là một phương pháp đào tạo mới trong đó cung cấp nội dung học tập cho người học trước khi vào lớp Đây là mô hình giảng dạy năng động, có thể hiểu rằng so với phương pháp học tập truyền thống, người học đến lớp nghe thầy cô giảng bài rồi về nhà làm bài tập sẽ được

“đảo ngược” bằng phương pháp người học phải xem các tài liệu học tập (hồ sơ môn học, slide bài giảng, video, giáo trình, các bài hướng dẫn…) ở nhà thông qua

hệ thống quản lý học tập (classroom, zalo, …) Giờ học ở lớp sẽ dành cho các hoạt động tương tác giúp củng cố thêm các khái niệm đã tìm hiểu Từ đó, giúp người dạy và người học thảo luận, nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề trong nội dung môn học Với mô hình lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy, nhiệm vụ của HS là tự học kiến thức và làm bài tập mức thấp ở nhà Sau đó, vào lớp các em được GV tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau Các bài tập ở mức cao cũng được thực hiện ở lớp dưới sự hỗ trợ của GV và các bạn cùng nhóm Cách học này đòi hỏi HS phải dùng nhiều đến hoạt động trí

não nên được gọi là “High thinking” Phương pháp này không cho phép HS ngồi

nghe thụ động nên giảm được sự nhàm chán HS có thể học mọi lúc, mọi nơi và với mọi thiết bị chỉ cần thiết bị đó có thể online được như smartphone, máy tính bảng, máy tính bàn kết nối Internet…

- Nguyên tắc tổ chức hoạt động học tập theo mô hình lớp học đảo ngược: lớp học đảo ngược đảm bảo nguyên tắc phải lấy người học làm trung tâm Thời gian ở lớp được dành để khám phá các kiến thức sâu hơn và tạo ra những cơ hội học tập thú vị cho HS Những bài giảng, những video giáo dục trực tuyến do GV thiết kế, tuyển chọn để truyền tải nội dung kiến thức sẽ được HS sử dụng ở bên ngoài lớp học Các học liệu có thể được trình bày đa dạng, phù hợp với phong cách học, phương thức học khác nhau Các công cụ có thể cung cấp thông tin phản hồi tức thì, ẩn danh cho người dạy và người học nhằm mục đích đánh giá và đánh giá cải tiến, điều chỉnh vì sự tiến bộ của người học (ví dụ: câu hỏi kiểm tra nhanh, câu hỏi thăm dò/khảo sát, các công cụ đánh giá theo tiến trình ) Nhờ một số chức năng của công cụ công nghệ, việc thu thập dữ liệu về sự tiến bộ và thành tích học tập của người học, dự báo các khó khăn, thách thức đối với người học cũng được cung cấp Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là điều kiện quan trọng để triển khai mô hình lớp học đảo ngược

Như vậy, mô hình lớp học đảo ngược là hình thức tổ chức dạy học đã và đang chứng tỏ sự phù hợp và có nhiều ưu thế trong tổ chức dạy học ở các nhà trường hiện nay

1.2 Tổng quan về phương pháp dạy học theo hợp đồng

Trang 6

- Phương pháp dạy học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó mỗi

HS (hoặc mỗi nhóm nhỏ) làm việc với một gói các nhiệm vụ khác nhau (nhiệm

vụ bắt buộc và tự chọn) trong một khoảng thời gian nhất định Trong học tập theo hợp đồng, HS được quyền chủ động xác định thời gian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập dựa trên năng lực và nhịp độ học tập của mình

- Cách tiến hành dạy học theo hợp đồng gồm có hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị gồm 3 bước:

Bước 1: Xem xét các yếu tố cần thiết để dạy học theo hợp đồng đạt hiệu quả,

cụ thể là cần lựa chọn nội dung học tập phù hợp, phải xác định được thời gian của hợp đồng và chuẩn bị các tài liệu đầy đủ để việc dạy học đạt hiệu quả cao

Bước 2: Thiết kế các dạng bài tập và các nhiệm vụ học tập

Bước 3: Thiết kế văn bản hợp đồng Văn bản hợp đồng bao gồm nội dung mô

tả nhiệm vụ cần thực hiện, phần hướng dẫn thực hiện, phần tự đánh giá những hoạt động HS đã hoàn thành và kết quả

+ Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học theo hợp đồng gồm 3 bước:

Bước 1: Giới thiệu tên chủ đề/bài học và các nội dung, phương pháp học

tập được ghi trong hợp đồng Đồng thời thống nhất các nguyên tắc học theo hợp đồng với HS và phát hợp đồng cho từng cá nhân hoặc nhóm HS

Bước 2: HS đọc và đăng ký thời gian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập ghi trong hợp đồng và ký cam kết với GV

Bước 3: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để thực hiện các bài tập, nhiệm

vụ trong hợp đồng

- Phương pháp dạy học này có nhiều ưu điểm bởi phương pháp này giúp tăng cường tính độc lập và sự hợp tác ở HS HS được lựa chọn và tham gia nhiệm vụ học tập phong phú, đa dạng hơn Còn GV thì có thể tổ chức hình thức dạy học này trong lớp học với không gian hạn chế, ít điều kiện di chuyển Hơn nữa, GV có thể phân hóa và đánh giá được năng lực của từng HS

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Thực trạng từ phía chương trình

Trong chương trình Ngữ văn 10 gồm có 6 bài làm văn về nghị luận:

Bài 1: Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện

Bài 2: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ

Bài 3: Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen, một quan niệm Bài 4: Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội

Trang 7

Bài 5: Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học (Chủ đề và nhân vật trong tác phẩm truyện)

Bài 6: Viết bài luận về bản thân

Dung lượng phần viết trong chương trình Ngữ văn 10 gồm có 9 bài thì có tới

6 bài là văn nghị luận Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của kiểu làm văn này trong chương trình Ngữ văn 10 Tuy nhiên, phân bố tiết học, mỗi bài như vậy gồm

2 tiết, trong đó có 1 tiết học lý thuyết, kỹ năng làm văn, 1 tiết trả bài Trong khi, dung lượng kiến thức của mỗi bài học là rất nhiều từ phân tích mẫu, cho đến hình thành kiến thức kiểu bài, trang bị lý thuyết quy trình viết cho đến thực hành viết theo quy trình Tất cả trong một tiết học là áp lực lớn về mặt thời gian Và yếu tố thời gian sẽ ảnh hưởng đến trau dồi năng lực cho HS vừa đảm bảo tiến độ giảng dạy Tiết trả bài đảm bảo yêu cầu kiểm tra đánh giá quá trình học tập của HS Để phát huy năng lực cũng thì cần phảo đa dạng hoá sản phẩm học tập của HS theo khả năng của từng HS

2.2 Thực trạng từ phía giáo viên

Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng giảng dạy của GV bằng việc phát câu hỏi cho 12 GV môn Ngữ văn để các thầy cô phát biểu những cảm nhận và nêu

ý kiến, nguyện vọng của mình khi giảng dạy Phần Viết văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 Nội dung khảo sát như sau:

SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ Quan tâm đến hoàn thành kế

Trang 8

Nội dung khảo sát Có Không Ý kiến khác

SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ

Quan tâm đến phần viết văn nghị

Hứng thú với phần viết văn nghị

Mong muốn GV đổi mới phương

pháp khi giảng dạy phần viết văn

Câu hỏi 2: Lí do em không hứng thú với phần

Viết văn nghị luận?

b Hình thức phong phú: bài viết, video,

Qua bảng 2 bảng khảo sát, chúng ta có thể thấy HS rất quan tâm đến phần Viết văn nghị luận vì các em ý thức được tầm quan trọng của nó đối với kiểm tra, thi cử nhưng lại không thấy hứng thú khi học phần này Nguyên nhân là giờ dạy nặng về

lý thuyết chưa có thời gian để hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS thực hành, luyện tập về các kĩ năng viết và GV chưa sử dụng phương pháp mới để phát triển năng lực HS Hình thức kiểm tra, đánh giá còn đơn điệu, sản phẩm HS còn mang tính truyền thống chưa phát triển các năng lực khác trong việc thể hiện, trình bày bài viết của HS

Trang 9

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP 3.1 Xác định các năng lực cần hình thành cho HS

Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi sau:

- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;…

- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một

số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của HS

- Năng lực Ngữ văn bao gồm năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Trong

đó, năng lực văn học được thể hiện cụ thể với các biểu hiện sau:

+ Phân biệt được các văn bản văn học và văn bản phi văn học, nhận biết được một số thể loại văn học tiêu biểu, các thành tố tạo nên tác phẩm văn học và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung

+ Biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật; nhận biết, lý giải, phân tích và đánh giá những đặc sắc về hình thức biểu đạt, trên cơ sở đó tiếp nhận một cách hợp lý và sáng tạo nội dung, những giá trị thẩm mĩ thể hiện trong văn bản

+ Trình bày được kết quả cảm nhận và lí giải giá trị của tác phẩm văn học, tác động của tác phẩm văn học đối với người đọc

- Năng lực ngôn ngữ được thể hiện ở kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Trong đó, đối với kĩ năng viết, không chỉ yêu cầu HS biết viết chữ, viết câu, viết đoạn mà còn tạo ra được các kiểu văn bản Trong dạy học viết, cần chú ý rèn luyện cho HS quy trình và cách viết bao gồm: xác định nhiệm vụ viết; thu thập và xử lí dữ liệu; đề xuất ý tưởng; triển khai và làm rõ ý tưởng; viết, diễn đạt thành bài văn; trình bày trên trang giấy; đọc lại và sửa chữa bổ sung; công bố bài viết Khi dạy phần viết, cần chú ý văn bản mẫu để HS thị phạm nắm được đặc điểm của kiểu loại văn bản, sau đó yêu cầu HS vận dụng sáng tạo để làm ra văn bản của riêng mình, phản ánh những suy nghĩ, tình cảm chân thực của bản thân

3.2 Nắm rõ quy trình thực hiện mô hình lớp học đảo ngược và PP DHTHĐ

3.2.1 Mô hình lớp học đảo ngược

3.2.1.1 Nguyên tắc

- Tạo được kho học liệu số, bài giảng

Để tạo được kho học liệu số, bài giảng, GV có thể khai thác những tài nguyên sẵn có ở trên mạng, youtube như các video về truyện ngắn, chương trình

Trang 10

cảm nhận thơ, video bài giảng… Cũng có thể, GV sử dụng các phần mềm Powerpoint, ispring suiter… để tạo video bài giảng đẹp mắt và đúng ý đồ sư phạm của mình

- Đảm bảo tất cả HS đều được tiếp cận với học liệu số và bài giảng

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy 100% HS có điện thoại di động, 30% HS

có máy tính bàn, laptop… Nếu tạo bài giảng elearning thì phải dùng máy tính mới

có thể đọc được Số lượng HS có máy tính, laptop không nhiều Thế nên, để đảm bảo tất cả HS có thể tiếp cận với học liệu số và bài giảng, chúng tôi thiết kế video bài giảng điện tử, học liệu số có thể là trang Word, powerpoint, video…

- Coi trọng vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV:

Trong dạy học tích cực, vai trò của người GV rất quan trọng GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để

HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Khi sử dụng mô hình dạy học đảo ngược, GV phải chọn lọc những nguồn học liệu số, video bài giảng chất lượng hoặc tự tạo ra những sản phẩm ấy để cung cấp cho HS với các nhiệm vụ học tập cụ thể trong phiếu học tập Chuyển giao nhiệm vụ học tập và các học liệu số qua nền tảng mạng, đảm bảo HS đều tiếp cận được Trong quá trình các em làm việc độc lập với video bài giảng, nếu có vấn đề gì khúc mắc, HS có thể trao đổi với GV qua tin nhắn, mesenger, zalo…

- Giám sát kết quả tự học của HS

Với mô hình lớp học đảo ngược, năng lực tự học của HS sẽ được phát huy tối

đa Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể quản lý, giám sát quá trình tự học của HS trong khi GV không thể tham gia trực tiếp trong tiến trình học

ấy Giải pháp tốt nhất là kết hợp với sự quản lý của phần mềm, ứng dụng học tập kết hợp với sản phẩm học tập của HS như là vở ghi, hoàn thành phiếu học tập, làm bài tập cuối video, … Với các hình thức ấy, GV sẽ giám sát được mức độ tham gia

và cả kết quả tự học của HS

3.2.1.2 Quy trình

- Bước 1: Chọn nội dung

Nếu PP DHTHĐ ưu tiên những nội dung dạy học mang tính thực hành thì

mô hình lớp học đảo ngược lại phù hợp với những kiến thức mang tính chất lý thuyết đơn giản và được trình bày khá cụ thể ở SGK Những phần kiến thức này sẽ được đưa vào video bài giảng kết hợp với những học liệu số cần thiết GV sử dụng CNTT để tạo ra video bài giảng hoặc khai thác những video sẵn có trên mạng và chuyển giao nhiệm vụ học tập cho HS tự học Trên lớp, GV và HS sẽ tập trung đào sâu vào kiến thức lý thuyết và thực hành, luyện tập để khắc sâu kiến thức, phát huy năng lực, phẩm chất của HS một cách cao nhất

- Bước 2: Thiết kế kế hoạch bài học

Trang 11

Thiết kế hoặc chia sẻ học liệu số, bài giảng điện tử

Cuộc cách mạng công nghệ đã mang tới cho giáo dục những tiện ích lớn lao trong tất cả mọi phương diện từ phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, mô hình dạy học và cả nội dung dạy học… GV không chỉ sử dụng SGK, tài liệu giấy, cách tổ chức dạy học trực tiếp trong không gian vật lý mà còn có thể khai thác các học liệu số trên kho tài nguyên mạng vô tận, mô hình dạy học gián tiếp qua thế giới ảo Nhưng muốn khai thác hoặc thiết kế những học liệu số, bài giảng điện tử hay nói cách khác là muốn chuẩn bị những nội dung cho mô hình lớp học đảo ngược thì GV cần có trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và kĩ năng sử dụng ICT trong giảng dạy Tất cả năng lực của GV được thể hiện qua việc xây dựng video bài giảng một cách khoa học, phù hợp với đối tượng người học Nội dung video bài giảng cho HS xem trước ở nhà với nội dung thảo luận trên lớp phải đảm bảo tính tương tích, tính liền mạch, logic với nhau GV có thể sử dụng các ứng dụng hiện đại thông dụng để thiết kế bài giảng như ispring suite, storyline… để có thể thiết kế video bài giảng theo ý đồ sư phạm của mình HS chủ động nghiên cứu các đoạn video bài giảng để nắm cơ bản những kiến thức lý thuyết đã được trình bày một cách có hệ thống Muốn vậy, HS cần có những kỹ năng: Kĩ năng sử dụng ICT, kĩ năng tìm kiếm kiến thức trên mạng, kĩ năng tự học và cá nhân hóa việc học tập của bản thân

Thiết kế nhiệm vụ học tập

Mục đích của việc thiết kế nhiệm vụ học tập là để hướng dẫn HS khai thác video bài giảng, học liệu số trong quá trình tự học Vì vậy, GV cần thiết kế phiếu học tập để hỗ trợ các em trong quá trình tự học Nội dung của phiếu học tập là những nội dung cần lưu ý trong video bài giảng, trả lời các câu hỏi kiểm tra kiến thức hay các bài tập ngắn, chuẩn bị nội dung cho tiết học trực tiếp trên lớp HS có thể hoàn thành các nhiệm vụ học tập ấy trong phiếu, hoặc có thể thực hiện trong vở ghi của các em Sau khi HS tự học ở video bài giảng mà GV cung cấp thì các em

sẽ ôn tập lại những kiến thức đã học được thông qua bài tập trắc nghiệm dưới hình thức trò chơi ở các ứng dụng học tập Nói tóm lại, nhiệm vụ học tập cho HS ở mô hình lớp học đảo ngược có hai dạng Thứ nhất là những câu hỏi hướng tới việc khai thác những nội dung trọng yếu ở video bài giảng Thứ hai là những câu hỏi bài tập ôn tập kiến thức hoặc chuẩn bị cho phần luyện tập thực hành ở trên lớp

Lựa chọn nền tảng mạng để chuyển giao nhiệm vụ học tập

Mô hình lớp học đảo ngược chỉ hiệu quả khi tất cả HS đều được tiếp cận với nguồn học liệu số, video bài giảng cũng như những nhiệm vụ học tập mà GV đã chuẩn bị Muốn vậy, GV cần phải biết sử dụng các ứng dụng công nghệ để chuyển giao nhiệm vụ học tập Đồng thời, phải đảm bảo, HS cả lớp đều biết sử dụng và có

sử dụng các ứng dụng ấy để nhận nhiệm vụ GV có thể chuyển giao nhiệm vụ học tập thông qua nhóm lớp ở Zalo, facebook, ứng dụng Google classroom…

- Bước 3: Tổ chức dạy viết theo mô hình lớp học đảo ngược

Trang 12

Giai đoạn 1: Tìm hiểu kiến thức mới

Khác với hình thức học tập trực tiếp trên lớp, với mô hình lớp học đảo ngược,

GV và HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ này ở nhà Ở giai đoạn này, đầu tiên GV phải hướng dẫn HS cách tự học, tự làm việc với video Ví như việc cần phải có điện thoại thông minh, ipad hoặc máy tính; phải biết cách truy cập youtube, mở bài giảng và học Để có video bài giảng, GV phải nghiên cứu kĩ yêu cầu của bài học,

sử dụng các ứng dụng tạo video bài giảng để sản xuất video Sau đó, GV cung cấp học liệu cho HS qua các ứng dụng Do dung lượng video có thể nặng nên để dễ dàng trong việc chuyển giao, GV có thể đưa lên youtobe và sau đó chuyển qua zalo, facebook, googole classroom Trong quá trình HS học tập, GV sẽ hỗ trợ kĩ năng CNTT hoặc kiến thức nếu HS có nhu cầu Với HS, nhiệm vụ của các em sẽ là làm việc với video bài giảng để nắm bắt, hiểu được những kiến thức lý thuyết đa phần ở mức độ nhận biết, ghi chép các kiến thức thu nhận được, hoàn thành các nhiệm vụ học tập ở phiếu học tập, ghi lại những thắc mắc, những điều chưa rõ về nội dung video và chuẩn bị cho tiết học trực tiếp ở trên lớp theo yêu cầu của GV Giai đoạn 2: Đào sâu vào kiến thức và luyện tập

Giai đoạn này diễn ra ở lớp học HS và GV tương tác với nhau, HS tương tác với bạn học trong lớp về bài học đã tìm hiểu trước đó ở nhà Ở bước này, GV tổ chức thảo luận theo nhiều hình thức khác nhau, giải đáp các câu hỏi của học sinh, chốt lại kiến thức trọng tâm, phần lớn thời gian tập trung cho phần thực hành ứng dụng các kiến thức đã học HS sẽ đặt câu hỏi để làm rõ vấn đề, nghe GV giải đáp, giảng giải, làm việc nhóm, thảo luận tình huống, tranh luận, thực hành kỹ năng,

thuyết trình cá nhân và nhóm, khắc sâu thêm kiến thức lý thuyết đã học được 3.2.2 Phương pháp dạy học theo hợp đồng

3.2.2.1 Nguyên tắc vận dụng phương pháp

Đảm bảo HS là đối tượng trung tâm của quá trình dạy viết

Tức là trong tiết học, HS chính là đối tượng chính để khai phá kiến thức Chính vì thế, GV phải làm sao với những cách thức gợi mở vấn đề ở một mức độ nhất định tác động đến tư duy của HS, khuyến khích HS tìm tòi và cùng bàn luận

về vấn đề đó Ngoài ra, HS cần được viết như một hoạt động trải nghiệm thể hiện mình và được sáng tạo

Ở phương pháp này, HS là chủ thể quyết định nhiệm vụ và hoạt động của mình, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập, HS có thể yêu cầu GV hoặc HS khác hỗ trợ Sự chủ động của HS chính là chìa khóa mở ra kết quả của phương pháp Do đó, HS cần được làm quen với phương pháp, biết cách học theo hợp đồng

và đặc biệt HS cần có kĩ năng học tập tích cực, làm việc tự giác, chủ động, sáng tạo

và biết hợp tác khi cần thiết

Coi trọng vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV

Trang 13

Trong dạy học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ “nhàn” hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động Lúc đó, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS

Đảm bảo viết theo tiến trình viết

Trong khi dạy học, GV và HS chưa có ý thức phân định rõ các giai đoạn cơ bản (cụ thể: trước khi viết, viết, sửa lại và công bố) trong tổng thể tiến trình viết mà thường quan tâm đến sản phẩm sau cùng, tức là bài viết đã hoàn thành của HS Năng lực viết của HS cũng thường được đánh giá dựa trên các bài viết hoàn chỉnh, chứ chưa được xem xét trong quá trình HS viết bài Khi thực hiện học theo hợp đồng, HS được chú ý rèn luyện các thao tác cần thực hiện trong quá trình tạo ra một bài viết, từng bước hình thành thói quen viết theo tiến trình và có thể chủ động trong hoạt động viết

3.2.2.2 Quy trình vận dụng phương pháp

Bước 1: Chọn nội dung và quy định thời gian

Trước hết, GV cần xác định nội dung nào của môn học có thể được dạy học thông qua hình thức này, điều này sẽ ảnh hưởng đến số lượng các hợp đồng phân công cho HS Để đảm bảo đúng đặc điểm của PP DHTHĐ, các HS phải tự quyết định được thứ tự các nhiệm vụ cần thực hiện để hoàn thành bài tập được giao Do vậy nhiệm vụ trong hợp đồng có thể chọn là một bài ôn tập hoặc luyện tập là phù hợp nhất Hoặc cũng có thể với bài học mới mà trong đó có thể thực hiện các nhiệm vụ không theo thứ tự bắt buộc

Các nhiệm vụ được giao cũng cần bắt đầu từ hợp đồng đơn giản đến hợp đồng với nhiệm vụ ngày càng phức tạp hơn GV cần xác định nội dung của hợp đồng và phương pháp sử dụng

Nhiệm vụ bắt buộc: Được xây dựng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học Nhiệm vụ tự chọn: Là những nhiệm vụ mang tính chất củng cố, mở rộng, nâng cao hoặc liên hệ thực tế

Quy định thời gian: GV phải quyết định thời gian học tập theo hợp đồng Việc xác định thời hạn của hợp đồng theo số tiết học trên lớp là tốt nhất để giúp các HS quản lý thời gian tốt hơn HS cần có thêm thời gian nghiên cứu và kí hợp đồng, có thời gian GV và HS nghiệm thu hợp đồng Ngoài ra có thể bố trí cho HS thực hiện hợp đồng ngoài giờ học chính khóa hoặc ở nhà tùy theo nhiệm vụ cụ thể

Bước 2: Thiết kế kế hoạch bài học

- Thiết kế văn bản hợp đồng

Trang 14

Học theo hợp đồng chỉ khả thi khi các HS có thể đọc, hiểu và thực thi các nhiệm vụ một cách tương đối độc lập Các tài liệu cho HS cần được chuẩn bị đầy

đủ Trước hết, học theo hợp đồng cần chủ yếu dựa trên những nội dung sẵn có ở SGK, sách bài tập hoặc tài liệu có sẵn Hợp đồng sẽ chỉ đơn giản là chỉ ra số trang

và số các nhiệm vụ/ bài tập nhất định Ngoài ra nội dung hợp đồng còn bao gồm cả những nhiệm vụ được viết trên những tấm thẻ hoặc những phiếu học tập riêng GV

có thể bổ sung những nhiệm vụ mới hoặc sửa đổi những bài tập đã có cho phù hợp với yêu cầu của học theo hợp đồng và đảm bảo mục tiêu bài học Nội dung văn bản hợp đồng bao gồm nội dung nhiệm vụ cần thực hiện và có phần hướng dẫn thực hiện cũng như tự đánh giá kết quả

- Thiết kế các dạng bài tập/nhiệm vụ

Một hợp đồng luôn phải đảm bảo tính đa dạng của các bài tập/nhiệm vụ Không phải HS nào cũng có cách học tập và các nhu cầu giống nhau Sự đa dạng bài tập/nhiệm vụ sẽ đảm bảo rằng trong mỗi hợp đồng, tất cả các phương pháp học tập của mỗi HS đều được đề cập Mặt khác, HS cũng cần được làm quen với những bài tập không đề cập trực tiếp đến quan điểm riêng của mình

- Thiết kế những nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn

Một hợp đồng tốt tạo ra được sự khác biệt giữa nhiệm vụ bắt buộc và nhiệm

vụ tự chọn Điều này cho phép GV tôn trọng nhịp độ học tập khác nhau của HS

- Nhiệm vụ bắt buộc: giúp cho mọi HS đều đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng của chương trình, đạt được yêu cầu của bài học và tạo điều kiện để mọi HS đều có thể thực hiện được với sự trợ giúp hoặc không cần trợ giúp

- Nhiệm vụ tự chọn: nếu GV chỉ hạn chế giao các bài tập bắt buộc GV sẽ gặp phải nhiều vấn đề Ví dụ: Một số HS tiếp thu nhanh sẽ hoàn thành bài tập sớm hơn còn những HS khác sẽ thiếu thời gian Nhiệm vụ tự chọn giúp HS vận dụng, mở rộng, làm sâu sắc kiến thức và rèn luyện kĩ năng có liên quan đến kiến thức đã học Bài tập tự chọn không nhất thiết phải là “bài tập thú vị”, bài tập khó chỉ dành cho

HS khá, giỏi

Bước 3: Tổ chức dạy viết thông qua phương pháp dạy học theo hợp đồng

GV cần giới thiệu phương pháp học theo hợp đồng, ban đầu cần tập trung vào hình thức làm việc độc lập Hình thức tổ chức còn tương đối mới mẻ nhưng

GV và HS có thể dần làm quen với điều đó HS có thể làm việc độc lập và tận dụng thời gian Điều này làm tăng đáng kể mức độ tham gia của HS Tuy nhiên, chỉ hình thức tổ chức thì chưa thể đảm bảo chắc chắn có sự tham gia Mọi thứ đều phụ thuộc vào cách thức áp dụng phương pháp vào thực tế dạy học Để duy trì mức

độ thích hợp của sự tham gia, thay đổi hướng tới một sự khác biệt trong phương pháp học theo hợp đồng là điều không thể thiếu Chỉ khi nào khả năng của cá nhân từng HS được đề cập, các em mới có thể phát triển và tiếp tục tham gia

- Tổ chức kí hợp đồng nhiệm vụ học tập

Trang 15

GV nêu mục đích bài học, phương pháp học tập chủ yếu và trao hợp đồng cho các HS Các HS nghiên cứu nội dung của hợp đồng một cách kĩ lưỡng để hiểu các nhiệm vụ trong hợp đồng GV và HS trao đổi những điều còn chưa rõ trong hợp đồng HS quyết định chọn nhiệm vụ tự chọn trên cơ sở năng lực của mình HS

kí vào bản hợp đồng và đánh dấu các nhiệm vụ tự chọn

- Tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện hợp đồng

Sau khi kí hợp đồng, HS tự lập kế hoạch để thực hiện các nhiệm vụ Tùy thời gian của hợp đồng, GV tổ chức cho HS có thể thực hiện ở trên lớp, ở nhà, ở thư viện, trong phòng thí nghiệm hoặc vào mạng để hoàn thành các nhiệm vụ trong hợp đồng GV yêu cầu HS thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập nhưng nếu cần vẫn có thể nhận trợ giúp của GV và các HS khác Trong quá trình HS thực hiện hợp đồng tại lớp, GV cần theo dõi và hướng dẫn kịp thời khi HS gặp khó khăn cần

hỗ trợ GV hướng dẫn HS nhận phiếu hỗ trợ phù hợp hoặc tăng mức hỗ trợ khi cần thiết Đặc biệt, đối tượng HS trung bình, yếu ngoài trợ giúp của GV cần trợ giúp của HS khá giỏi trong lớp thông qua hoạt động hợp tác cùng chia sẻ GV có cơ hội hướng dẫn cho HS của mình: Trả lời câu hỏi, chữa lỗi, giới thiệu ngắn gọn cho nhóm nhỏ, quy định thời gian cụ thể của từng hoạt động, quan sát và đánh giá nội dung cần được cải thiện HS có thể yêu cầu được trợ giúp hoặc hệ thống sửa lỗi

- Tổ chức nghiệm thu hợp đồng

Trước khi kết thúc các nhiệm vụ theo thời gian quy định, GV thông báo cho

HS một khoảng thời gian nhất định ở trên lớp để họ nhanh chóng hoàn thành hợp đồng của mình Nếu nhiệm vụ giao cho HS hoàn thành ở nhà, GV dành cho HS một khoảng thời gian nhất định để hoàn thành hợp đồng và chuẩn bị nghiệm thu hợp đồng tại lớp học Để nghiệm thu hợp đồng, trước hết GV có thể yêu cầu HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng Khi hoàn thành hợp đồng, HS vẫn có thể được tham gia tích cực vào việc đánh giá Thay vì đánh giá chỉ dựa trên nhận xét của

GV hoặc đánh giá theo kết quả hoạt động, một hình thức đánh giá trên phạm vi rộng hơn, tổng hợp hơn có thể được áp dụng như một phương pháp tăng cường sự tham gia trong các hoạt động của HS HS tự đánh giá kết quả của mình theo hướng dẫn của hợp đồng

GV có thể tổ chức cho HS đánh giá đồng đẳng Cơ sở của hình thức đánh giá này là bản hợp đồng, trong đó HS sẽ trình bày những hoạt động đã hoàn thành và kết quả Điều này thể hiện sự tiến bộ mà các em đã đạt được và giúp phát hiện những khó khăn gặp phải HS có thể trao đổi hợp đồng và kết quả thực hiện để đánh giá lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của GV HS đánh giá phải ghi tên vào hợp đồng của HS được đánh giá để GV có thể kiểm tra đưa thông tin phản hồi

GV đánh giá và nghiệm thu hợp đồng trên cơ sở HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng Trên cơ sở đánh giá cá nhân và đánh giá đồng đẳng, GV có nhận xét đánh giá riêng về từng cá nhân và kết quả thực hiện hợp đồng như thế nào GV có thể phát hiện liệu hợp đồng đã đủ khó hay chưa hay quá khó khiến HS không thể

Trang 16

hoàn thành đúng hạn Khi chuẩn bị cho hợp đồng tiếp theo, cần dựa trên những kết quả đánh giá của hợp đồng trước đó Trên cơ sở tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, GV có thể nghiệm thu hợp đồng tại lớp của một số HS, còn HS khác có thể

sẽ được thu hợp đồng và thực hiện đánh giá tại nhà và thông báo cho HS vào giờ sau

3.3 Quy trình vận dụng mô hình lớp học đảo ngược và PP DHTHĐ khi dạy văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực

HS

3.3.1 Quy trình vận dụng mô hình lớp học đảo ngược

* Thiết kế bài giảng điện tử, nhiệm vụ học tập và chuyển giao nhiệm vụ học tập

Thiết kế bài giảng điện tử hoặc khai thác các bài giảng ở youtube

Để có thể vận dụng mô hình lớp học đảo ngược thì những kiến thức lý thuyết đơn cần phải được chuyển hoá thành video bài giảng để HS tự học qua video Vì vậy, bên cạnh khai thác những video sẵn có ở youtube thì chúng tôi có tự thiết kế một số video bài giảng

- Lựa chọn nền tảng mạng để chuyển giao nhiệm vụ học tập: Website, Google classroom, Zalo, messenger

* Tổ chức mô hình lớp học đảo ngược

- Giai đoạn 1: Tìm hiểu kiến thức mới

GV chiếu 4 đáp án: Tự sự, thuyết minh, biểu cảm và nghị luận GV dừng nói khoảng 10 giây đợi HS tự trả lời và chọn đáp án nghị luận

Vào bài: Nghị luận là một kiểu làm văn quan trọng của chương trình Ngữ văn Mặc dù đã làm quen với kiểu bài này khá nhiều khi phân tích tác phẩm thơ, truyện như phân tích, cảm nhận đoạn thơ, đoạn truyện, nhân vật… Song, chắc hẳn các em khá lúng túng khi phân tích, đánh giả chủ đề, hình thức nghệ thuật của tác phẩm truyện theo đúng với đặc trưng thể loại Cho nên, hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài học…

Phần hình thành kiến thức mới

Ở phần này, GV chuyển những kiến thức lý thuyết thành video bài giảng Sau khi dạy lý thuyết, GV sẽ làm mẫu cho HS để các em hình dung cách làm thực

Trang 17

tế khi viết một bài văn theo kiểu bài này tạo điều kiện tốt cho tiết thực hành sẽ diễn

ra ở trên lớp HS làm việc với video, ghi bài, học bài theo tốc độ tiếp nhận của mình Nội dung của video bài giảng như sau:

I Kiểu văn bản

- Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện là dạng bài ta chia nhỏ các phương diện của tác phẩm để tìm hiểu chi tiết và đưa ra những nhận xét, đánh giá của bản thân về các phương diện đó của tác phẩm

- Các yếu tố của truyện gồm có:

+ Chủ đề

+ Các yếu tố về hình thức nghệ thuật: nhan đề, cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện, lời thoại, ngôi kể…

- Yêu cầu của kiểu bài

+ Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm truyện (nhan đề, tên tác giả ) và ý kiến khái quát của người viết về tác phẩm

+ Tóm tắt tác phẩm truyện (vừa đủ để người đọc nắm nội dung chính)

+ Phân tích cụ thể, rõ ràng về tác phẩm truyện (chủ đề, nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng) với những cứ liệu sinh động

+ Đánh giá về tác phẩm truyện dựa trên những lí lẽ và bằng chứng thuyết phục

+ Khẳng định giá trị của tác phẩm truyện

II Phân tích mẫu

Bài viết tham khảo: Giá trị hay là sự vô giá của quà tặng trong truyện Quà giáng sinh của O Hen-ry

* Đọc bài mẫu

Đọc bài mẫu theo hướng dẫn ở thẻ đọc :

- Nhan đề của bài viết cho biết tên truyện, tên tác giả và hướng phân tích của người viết

+ Tên truyện Quà giáng sinh

+ Tên tác giả là O.Henry

+ Hướng phân tích là giá trị hay là sự vô giá của quà tặng trong tác phẩm

- Giới thiệu và cung cấp thông tin khái quát về tác phẩm

+ Tên tác phẩm, xuất xứ

+ Tên nhà văn, vị trí của nhà văn

+ Vấn đề nghị luận

- Tóm tắt nội dung câu chuyện

+ Giới thiệu nhân vật chính, hoàn cảnh thiếu thốn, nghèo khổ của hai vợ chồng Gim và Đê-la

- Sự kiện chính:

+ Đê-la bán tóc mua dây đeo đồng hồ

+ Lúc tặng quà: Gim không còn cái đồng hồ vì đã bán mua kẹp tóc cho

Đê-la

Trang 18

+ Hai vợ chồng cất món quà cùng ngồi ăn tối

- Phân tích cốt truyện, nhân vật tình huống truyện, lời thoại

+ Cốt truyện: đơn giản Chỉ có Đê-la được miêu tả kĩ

+ Nhân vật Đê-la được miêu tả ở hành động, việc làm

+ Tình huống truyện: buổi tối trước ngày giáng sinh, không gian trong căn phòng của hai vợ chồng và điều đặc biệt ở khoảnh khắc họ tặng quà cho nhau + Lời thoại ngắn gọn, giản đơn

- Nêu tác dụng của việc kể chuyện ở ngôi thứ 3

+ Câu chuyện được kể khách quan

+ Người kể chuyện không đưa ra bất kì nhận xét nào

- Xác định chủ đề của truyện

+ Giá trị thực sự của món quà nằm ở sự trân trọng, tình yêu thương của người tặng dành cho người nhận quà

- Đoạn kết khẳng định giá trị của truyện, độ phổ biến, sức sống lâu bền

và khả năng tái sinh

+ Truyện ngắn được yêu thích nhất

+ Tái sinh nhiều lần dưới những hình thức nghệ thuật khác nhau

+ Mời gọi những cách đọc khác nhau trong những thời điểm khác nhau của cuộc đời

* Trả lời câu hỏi phân tích mẫu

+ Bài văn nghị luận cung cấp những thông tin về giá trị về truyện ngắn

“Quà giáng sinh của O.Hen-ry”: nội dung chính của truyện, cốt truyện, nhân vật,

tình huống truyện, lời thoại, ngôi kể

3 Tác giả bài viết đã triển khai luận điểm theo trình tự nào?

- Trình tự phân tích trong bài viết:

+ Giới thiệu chung

+ Tóm tắt VB

+ Phân tích các yếu tố nghệ thuật

+ Phân tích, đánh giá chủ đề

+ Kết luận: tóm lược ý kiến đánh giá, khẳng định giá trị của truyện

II Hướng dẫn viết

Trang 19

1 Quy trình viết

a Lý thuyết về quy trình viết

Bước 1: Chuẩn bị viết

* Tìm ý: Để tìm ý trả lời các câu hỏi:

Vì sao tác phẩm được lựa chọn để phân tích, đánh giá? Điều gì khiến bạn yêu thích tác phẩm? -> xác định thể loại, giá trị của tác phẩm

Câu chuyện được kể trong tác phẩm diễn ra như thế nào? -> tóm tắt tác phẩm Chủ đề của truyện là gì? -> chủ đề - nội dung chính

Truyện có những nét đặc sắc nào về nghệ thuật? -> hình thức nghệ thuật Những câu nào trong đoạn cần được trích dẫn và phân tích để làm sáng tỏ chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật? -> dẫn chứng

Cần nhận xét và đánh giá như thế nào về thành công hay hạn chế của tác phẩm?

- Tóm tắt tác phẩm truyện (vừa đủ để người đọc nắm được nội dung chính)

- Phân tích, đánh giá hình thức nghệ thuật– tình huống, nhân vật, ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, lời kể, giọng văn (lí lẽ + phân tích dẫn chứng)

- Phân tích, đánh giá chủ đề truyện dựa trên những dẫn chứng trong tác phẩm 3 Kết bài

- Khẳng định giá trị của tác phẩm truyện (có thể dùng các nhận định, ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình về tác phẩm)

- Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân

Bước 3: Viết

- Viết theo dàn ý đã gạch sẵn

- Các luận điểm ở thân bài cần tập trung vào chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật Trật tự các luận điểm có thể linh hoạt

- Mỗi luận điểm cần làm sáng tỏ bằng dẫn chứng cụ thể trong truyện

- Thể hiện những ý kiến, đánh giá riêng của người viết

- Trích dẫn ý kiến của người khác phải dẫn nguồn: của ai? Ở đâu?

Bước 4: Chỉnh sửa, hoàn thiện

- Kiểm tra ý lớn và chi tiết: kiểm tra các ý lớn đã được triển khai thành các đoạn mạch lạc chưa; cách sắp xếp các ý đã phù hợp chưa

- Kiểm tra từng luận điểm đã có dẫn chứng chưa Nếu chưa cần bổ sung

Trang 20

2 Thân bài

- Tóm tắt truyện

Cốt truyện của tác phẩm xoay quanh những sự kiện gắn liền với nhân vật chính là Ngô Tử Văn Chàng là một kẻ sĩ nổi tiếng khảng khái, chính trực vốn không chịu được sự tác yêu tác quái của hồn ma tên tướng giặc bại trận nên đã đốt đền của hắn, trừ hại cho dân Tên hung thần kiện chàng ở âm phủ Tử Văn được thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên tướng giặc, đồng thời bày cho chàng cách đối phó với hắn Xuống âm phủ, trước Diêm Vương, chàng đã dũng cảm vạch trần tội ác của tên hung thần Công lí được thực thi: tên tướng giặc bị trừng trị, thổ thần được phục chức, Tử Văn được sống lại, sau đó được nhận chức Phán sự đền Tản Viên chuyên trông coi việc xử án

- Các yếu tố về hình thức nghệ thuật

(1) Nhân vật

Nhân vật trong truyện được phân thành hai tuyến thiện –ác, chính –tà mang đặc trưng của lối xây dựng nhân vật truyền thống của VHDG và VHTĐ Ngô Tử Văn là nhân vật chính, đại diện cho cái Thiện là hình tượng tiêu biểu của kẻ sĩ cương trực, khẳng khái, kiên quyết chống gian tà Nhân vật không được miêu tả đầy đủ toàn bộ hành trình cuộc đời, số phận mà chỉ chọn những thời điểm ý nghĩa nhất để bộc lộ tính cách nhân vật Nhà văn giới thiệu trực tiếp lai lịch, tính cách của nhân vật từ đầu tác phẩm và minh chứng cho phẩm chất ấy qua các sự kiện tuyến tính: đốt đền, gặp hồn ma tên tướng giặc bại trận, vụ xử kiện ở Minh ti.Vì tức giận bởi sự lộng hành của yêu quái, Tử Văn đã đốt đền tà, làm một việc kinh thiên động địa với một tâm thế nghiêm cẩn, ngang tàn của kẻ nắm trong tay chính nghĩa Với lập trường kiên định ngay từ hành động ban đầu “vung tay không sợ gì

cả, Tử Văn thản nhiên trước sự đe doạ của tên hung thần; ngạc nhiên bởi sự bất lực, cam chịu của thổ công, tận dụng sự giúp đỡ của thổ công để đấu tranh chống

Trang 21

cái Ác trong hành trình sắp tới; sự cứng cỏi, dũng cảm tự làm luật sư cho mình trong phiên toà đầy bất lợi và giành chiến thắng Đối lập với Tử Văn là hình ảnh tên Bách hộ họ Thôi – hiện thân cho cái xấu, cái ác Sống thì cướp nước, chết thì cướp đền Bản chất xâm lược đến chết không thay đổi Cái ác ở hắn gắn liền với sự gian xảo, nguỵ trang và sức mạnh thao túng khiến cho chân lí bị bưng bít, xuyên tạc Xây dựng tuyến nhân vật đối lập, nhà văn khiến cho câu chuyện trở nên kịch tính, hấp dẫn và thể hiện rõ nét tư tưởng đề cao kẻ sĩ và phơi lộ những mặt trái của

xã hội đương thời và khát khao công lý, chính nghĩa trong xã hội phi nhân đạo

(2) Yếu tố kì ảo

Yếu tố kì ảo là một nét đặc trưng của truyện truyền kì, là phương tiện để nhà văn gửi gắm cảm hứng thế sự và đồng thời tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện Yếu tố kì ảo trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” biểu hiện ở thế giới nhân vật kì ảo, sự việc chết đi sống lại của Tử Văn, không gian kì ảo Các nhân vật kì ảo như hồn ma tên tướng giặc, thổ công, Diêm Vương, quỷ dạ xoa đã hư cấu nên một thế giới hư ảo về cõi âm, hồn ma, chước quỷ, thần linh rất sinh động, đáng sợ mà cũng gần gũi với con người Ở đó có người tốt, kẻ xấu; người yếu thế kẻ áp bức; có những oan ức; những thiếu sót, hồ đồ như cõi thực trần gian Mỗi nhân vật xuất hiện đều đóng vai trò tạo ra những thử thách hoặc để giúp đỡ Tử Văn trên hành trình bảo vệ công lý Không chỉ thế giới nhân vật, Nguyến Dữ còn bao gói tác phẩm trong bầu không khí truyện ma quái, hoang đường Đó là không gian giấc

mơ – nơi nối liền giữa cõi trần và cõi âm Đặc biệt là thế giới âm phủ “ở đó có một con song lớn, trên song bắc một cái cầu dài, hơn nghìn thước, gió tanh song xám, hơi lạnh thấu xương Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ Dạ Xoa mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác…” Một không gian u ám, lạnh lẽo, đầy âm khí được khắc dựng không khỏi khiến người đọc phải rung mình Sự chết đi sống lại của Tử Văn cũng

là một dấu ấn của yếu tố kì ảo, phản ánh niềm tin vào luật nhân quả, quan niệm luân hồi chuyển kiếp của con người

(3) Kết thúc truyện

Kết thúc truyện là chiến thắng của Ngô Tử Văn Đây là một kết thúc có hậu, chứng tỏ Nguyễn Dữ đã tìm về với truyền thống nhân đạo và yêu nước của dân tộc của Việt Nam trong truyện cổ: ở hiền gặp lành, chính nghĩa thắng gian tà Cuối truyện Tử Văn nghe lời của thổ công vui vẻ chết nhận chức phán sự đền Tản Viên bởi “Người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” Cách lựa chọn của Tử Văn đã thể hiện quan niệm vô thường về đời người và tư tưởng lập danh của Nho gia “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” Đây là triết lý sống tích cực của người xưa và còn ý nghĩa cho tới hôm nay và mai sau

- Phân tích, đánh giá chủ đề

Thông qua các phương tiện nghệ thuật đặc trưng của thể loại và hư cấu sáng tạo của tác giả, cốt lõi hiện thực đã được cài cắm một cách tự nhiên và rõ nét Sống trong giai đoạn xã hội phong kiến bắt đầu bộc lộ những suy thoái, mảnh đất hiên

Trang 22

thực cho cảm hứng thế sự xuất hiện Nguyễn Dữ đã phản ảnh những mặt tối của hiện thực đương thời trong tác phẩm Đó là tệ nạn tham nhũng của quan lại; thái độ làm việc quan liêu, tắc trách, vô trách nhiệm của của những người có chức quyền; bất công ngang trái khi kẻ ác thì được bảo vệ, tiếp tay bởi bộ máy công quyền trong khi người dân lương thiện chịu oan khuất, cam chịu, uất ức; Đồng tiền có sức mạnh thao túng công lý và uy quyền Bức tranh hiện thực ấy được thể hiện rõ trong lời nói của Thổ công “Rễ ác mọc nhanh, khó long lay động” Tôi đã định thưa kiện, nhưng có nỗi ngăn trở: Những đền miếu gần quanh, vì tham của đút, đều bênh vực cho nó cả” Trong cơn tức giận khi sự thật được phơi bày, Diêm Vương quát mắng các quan: “Lũ các ngươi chia toà sở, giữ chức sự, cầm lệnh chí công, làm phép chí công, thưởng thì xứng đáng mà không thiên vị, phạt thì đích đáng mà không nghiệt ngã; vậy mà còn có sự dối trá, càn bậy như thế…” Mượn lời nhân vật, nhà văn trút tiếng thở dài, căm tức trước những bất công và mong ước triệt phá những ung nhọt của xã hội đem đến công lý cho nhân dân Bên cạnh mặt tối của hiện thực thì vẫn có những kẻ sĩ, những con người cứng cỏi, dũng cảm dám tiên phong trong cuộc chiến chống lại cái ác, họ sẽ là người chấn hưng kỉ cương, phép nước, đem công bằng cho muôn dân Hiện thực và nhân đạo, hai cảm hứng ấy xuyên suốt tác phẩm làm nên sức sống của “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”

3 Kết bài

Với sự thành công khi sử dụng bút pháp hiện thực và bút pháp kì ảo, Nguyễn

Dữ đã đem đến những cho tác phẩm một bức tranh chân thực về xã hội Việt Nam ở thế kỉ XVI, XVII Cảm hứng sáng tác lấy xưa để nói nay lấy cái “kì” để nói cái

“thực”, những vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm dường như vẫn mang tính thời

sự, những mong ước về xã hội công bằng đang là mục tiêu chung của cả nhân loại Đối với riêng tôi, tác phẩm đã giúp tôi nhận ra cuộc sống không đơn thuần chỉ màu hồng, con người không phải toàn người tốt, có những lúc phải đối mặt với những bất công trong đời; nhưng tác phẩm đã dạy tôi, không bao giờ được im lặng trước cái ác, phải dũng cảm, cứng cỏi và cả mưu trí trong cuộc đấu tranh lớn ấy của loài người trong hành trình nhân sinh

2 Thực hành viết theo quy trình

Yêu cầu HS chuẩn bị dàn ý cho đề văn sau:

Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn “Chữ người tử tù”

Chuẩn bị cho tiết thực hành viết trên lớp:

Chuẩn bị viết: Xác định những yếu tố nghệ thuật và chủ đề của tác phẩm

Trang 23

Đây là giai đoạn được thực hiện trên lớp học GV hướng dẫn HS ôn tập nhanh kiến thức lý thuyết, tập trung vào nội dung thực hành

+ Phát vấn để ôn tập nhanh những kiến thức đã học kết hợp với việc kiểm tra

vở ghi của HS

Các câu hỏi như:

Câu 1: Trình bày yêu cầu về kiểu bài

Câu 2: Quy trình viết bài phân tích, đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm truyện trải qua mấy bước? Nêu yêu cầu cụ thể của từng bước

+ Vẽ sơ đồ tư duy dàn ý của bài phân tích, đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm truyện Sản phẩm này giao cho HS chuẩn bị ở nhà và lên trình bày để các em ôn tập công thức dàn ý, một trong phần kiến thức lý thuyết trọng tâm mà HS cần nắm để thực hành lập dàn ý tạo cơ sở để dựng đoạn, bài văn.)

+ Lập dàn ý cho đề văn GV tổ chức HS cùng xây dựng dàn ý cho đề văn đã chọn Do chưa quen với việc tự đọc hiểu một văn bản ngoài nên để tránh tình trạng các em hoang mang và cũng là tận dụng kiến thức đã học trên lớp về truyện “Chữ người tử tù” nên GV và HS lựa chọn tác phẩm này để làm ngữ liệu cho quá trình thực hành, luyện tập quy trình viết

+ Chia lớp thành nhóm và yêu cầu các em viết đoạn GV cung cấp phiếu chỉnh sửa đoạn văn để các em tự điều chỉnh Sau đó yêu cầu các nhóm trình bày đoạn văn đã viết GV nhận xét, góp ý để các em hoàn thiện từng đoạn Rồi nối các đoạn lại với nhau để thành một bài văn hoàn chỉnh

+ Luyện tập viết bài văn hoàn chỉnh

Đề văn: Viết bài văn phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện mà em thích Giới thiệu phương pháp học theo hợp đồng Tổ chức cho HS kí hợp đồng học tập và nhắc nhở các em hoàn thành đúng thời hạn hợp đồng để chuẩn bị cho tiết trả bài

Giai đoạn 3: Sau giờ học trên lớp

GV yêu cầu HS thực hành các bước của quy trình viết cho các truyện ngắn

mà các em thích theo hợp đồng học tập các em đã kí với GV

3.3.2 Quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng

3.3.2.1 Thiết kế kế hoạch bài học

Hoạt động 1: Xây dựng đề văn

Để đáp ứng yêu cầu về thoả mãn những phong cách học, sự hứng thú, lợi thế khác nhau của HS, GV xây dựng nhiều đề văn cho một bài viết để HS được lựa chọn Mặt khác, GV cần vận dụng CNTT để có thể thiết kế đề văn mang tính thẩm

mĩ về hình thức trình bày

Trang 24

Một số đề văn: Phân tích, đánh giá chủ đề và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm thơ trong số những tác phẩm sau:

Hoạt động 2: Xây dựng các nhiệm vụ học tập

Nhiệm vụ 1: Lập dàn ý

Để hỗ trợ HS trong quá trình tìm ý, lập dàn ý, GV có thể giới thiệu HS tìm nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghị luận xuất hiện trong đề bài Mặt khác, GV cần sử dụng phiếu học tập để hỗ trợ HS trong quá trình tìm ý, lập dàn ý

Nhiệm vụ 2: Viết nháp

HS tiến hành phác thảo bản nháp đầu tiên của mình dựa trên dàn ý mà các em đã

có từ giai đoạn trước Hoạt động này diễn ra tại nhà, và thời gian thực hiện phụ thuộc vào năng lực cũng như sự chủ động của các em Vì đặc trưng của hoạt động viết là công việc mang tính cá nhân, do đó GV không can thiệp trực tiếp vào quá trình viết nháp của HS

- HS có thể sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp hoặc song hành để tổ chức các đoạn, miễn sao đảm bảo mỗi đoạn đều có:

+ Câu chủ đề chứa đựng quan điểm của người viết

+ Các lí lẽ (thông tin cần thiết) để làm rõ cho câu chủ đề

+ Dẫn chứng minh hoạ (nếu cần)

+ Câu tóm tắt lại nội dung cả đoạn và liên kết với vấn đề nghị luận mà cả bài hướng đến

- Cần tập trung và để hoạt động viết diễn ra liên tục tối thiểu là 20 phút (phù hợp với chu trình xử lí thông tin của não bộ), sau đó có thể giải lao tối đa 5 phút rồi viết tiếp

- Luôn ghi nhớ mục đích của giai đoạn này là tạo ra một bản nháp hoàn chỉnh chứ không phải viết một bản nháp hoàn hảo, vì thế đừng lo sợ về chuyện sai chính

tả hay ngữ pháp, sẽ còn có hoạt động viết lại và chỉnh sửa diễn ra sau đó

tác phẩm truyện thì dùng phiếu chỉnh sửa sau:

Nhiệm vụ 4: Nộp bài – công bố sản phẩm

Tuỳ thuộc vào năng lực của từng HS và cam kết các em đã kí trong hợp đồng

sẽ có hình thức công bố sản phẩm khác nhau Đó cũng là minh chứng để đánh giá

Trang 25

phân hoá HS Ngoài cách nộp bài viết tay vào giấy, các em có thể trình bày sản phẩm theo các hình thưc sau: văn bản đa phương tiện, video, podcast…

Thời gian thực hiện: 2 ngày

Địa điểm thực hiện: tại nhà

Tôi xin cam kết thực hiện theo đúng hợp đồng

GV HS

(Kí và ghi rõ họ tên) (Kí và ghi rõ họ tên)

Chú thích:

Hoạt động cá nhân 1: Hoàn thành mức yếu

4 Hoàn thiện (nội

dung bài viết)

6,5

Nhiệm vụ tự chọn

Bài viết được thể hiện theo

Trang 26

Hoạt động với sự hỗ trợ của HS khác 2: Hoàn thành mức trung bình

Hoạt động với sự hỗ trợ của GV 3: Hoàn thành mức khá

để giới thiệu về nội dung hợp đồng, những nhiệm vụ các em phải hoàn thành, nhiệm vụ tự chọn…giải đáp những thắc mắc của HS về các mục trong hợp đồng, cùng HS tham gia kí hợp đồng Những lần sau, khi HS đã quen với hợp đồng học tập thì việc nhận nhiệm vụ và kí kết hợp đồng sẽ diễn ra nhanh gọn hơn

Phiếu đánh giá bài viết

Phiếu đánh giá bài viết

Tiêu chí Thang điểm chấm

chéo

Thang điểm GV chấm

Nêu vấn đề nghị luận (1,0 điểm) 1 2 3 4 5 1 2 3 4 5

Hệ thống luận điểm, triển khai luận điểm

Trang 27

3.4 Kế hoạch dạy học thực nghiệm

Tiết 39:

VIẾT BÀI LUẬN THUYẾT PHỤC NGƯỜI KHÁC TỪ BỎ MỘT THÓI

QUEN HAY MỘT QUAN NIỆM

- Giao tiếp và hợp tác: Tăng cường khả năng trình bày, diễn đạt ý kiến, ý

tưởng trước lớp, tổ nhóm học tập, tương tác tích cực với các bạn trong tổ nhóm,

khi thực hiện nhiệm vụ hợp tác

- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Chủ động đề ra kế hoạch học tập, thực hiện

nhiệm vụ học tập cá nhân và nhóm học tập, xử lí linh hoạt sáng tạo các tình huống

phát sinh khi thực hiện nhiệm vụ học tập

b Năng lực cốt lõi: Viết

Quy trình viết

- Viết được văn bản đúng quy trình, bảo đảm các bước đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp trước; có hiểu biết về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn

Thực hành viết

- Viết được một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm

2 Phẩm chất

- Biết ứng xử chuẩn mực, cảm thông, chia sẻ với đối tượng được thuyết phục

- Tin tưởng vào điều mình đang hướng tới

- Lịch lãm, tế nhị trong cách sử dụng ngôn ngữ,

II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

Trang 28

1 Thiết bị: Máy chiếu, máy tính, clip liên quan đến bài học

2 Học liệu: SGK, SGV, kế hoạch bài dạy, sách tham khảo, phiếu học tập,

bảng kiểm đánh giá,…

III TIẾN TRÌNH DẠY – HỌC

- Tất cả các kiến thức lý thuyết chuyển thể thành video bài giảng để học sinh tự

học Video bài giảng bao gồm những nội dung sau:

HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG

a Mục tiêu: Kết nối – tạo hứng thú cho học sinh, chuẩn bị tâm thế tiếp cận kiến thức về kiểu bài, kết nối kiến thức trong cuộc sống vào nội dung của bài học

b Nội dung hoạt động: HS trả lời câu hỏi

c Sản phẩm: Câu trả lời đúng của HS, cảm nhận ban đầu về vấn đề đặt ra

Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:

HS xem video và trả lời câu hỏi theo yêu cầu của GV vào phiếu học tập

Bước 3: Báo cáo, thảo luận:

- Phiếu học tập của HS

Bước 4: Kết luận, nhận định:

Dự kiến câu trả lời

- Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông: Đây là một thói quen gây nguy hiểm cho bản thân khi không may gặp phải va chạm và là thói quen vi phạm luật an toàn giao thông

- Hút thuốc lá điện tử: Hiện nay, hiện tượng này đã xuất hiện trong học đường

ở các cấp, thậm chí ở HS THCS Thói quen nay gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, kinh tế, vi phạm nội quy trường học và ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ

- Đánh tài xỉu là hình thức đánh bạc qua mạng Đây cũng là một hiện tượng xuất hiện khá nhiều trong môi trường học đường gây ra những hậu quả nghiệm trọng đối với việc học của HS, kinh tế của gia đình và an ninh trật tự trường học

Ngày đăng: 27/07/2023, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Ban biên soạn chuyên từ điển: New Era (2014), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Ban biên soạn chuyên từ điển: New Era
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2014
[2] Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên) – Đỗ Hương Trà (2018), Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2018
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDDT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
[4] Trần Anh Dũng (2011), “Hợp đồng dạy học” – một công cụ để nghiên cứu những sai lầm của học sinh, Số 25, Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng dạy học – một công cụ để nghiên cứu những sai lầm của học sinh
Tác giả: Trần Anh Dũng
Nhà XB: Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP HCM
Năm: 2011
[5] Thái Thị Hiền, Phùng Thị Phương (2022), Sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Ngữ văn 11) theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Ngữ văn 11) theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh”
Tác giả: Thái Thị Hiền, Phùng Thị Phương
Năm: 2022
[6] Nguyễn Chí Hoà, Hoàng Thị Hiền Lương, Nguyễn Kim Toại (2022), “Kế hoạch bài dạy Ngữ văn 10, bộ kết nối tri thức với cuộc sống” tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bài dạy Ngữ văn 10, bộ kết nối tri thức với cuộc sống
Tác giả: Nguyễn Chí Hoà, Hoàng Thị Hiền Lương, Nguyễn Kim Toại
Năm: 2022
[9] Đỗ Ngọc Thống (Tổng chủ biên), Bùi Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Nguyệt (2020), Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ Văn trung học phổ thông, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ Văn trung học phổ thông
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Bùi Minh Đức, Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Nguyệt
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w