1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁP LUẬT về đất DI TÍCH, LỊCH sử, văn hóa, DANH LAM THẮNG CẢNH từ THỰC TIỄN THI HÀNH tại TỈNH NAM ĐỊNH

91 105 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 708,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình liên quan đến đề tài luận văn được đề cập trên đây, ở những mức độ và phạm vi khác nhau đã phân tích khái niệm, đặc điểm của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cản

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH, LỊCH SỬ, VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH TỪ THỰC TIỄN

THI HÀNH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH, LỊCH SỬ, VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH TỪ THỰC TIỄN

THI HÀNH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH

PHẠM NGỌC DUY

CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ : 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN QUANG TUYẾN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 20

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Ngọc Duy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và

sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến về đề tài luận

văn: "Pháp luật về đất di tích, lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh từ thực tiễn thi

hành tại tỉnh Nam Định" Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất

nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Trường

Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 20

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Ngọc Duy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH Ở VIỆT NAM 9

1.1 Lý luận về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh 9

1.1.1 Lý luận về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 9

1.1.2 Lý luận về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh 14

1.2 Lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 21

1.2.1 Cơ sở xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 21

1.2.2 Khái niệm pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 24 1.2.3 Cấu trúc pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 26

1.2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh 27

Tiểu kết Chương 1 32

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 33

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 33

2.1.1 Nội dung quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 33

2.1.2 Nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 40

2.1.3 Nội dung quy định về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 41

Trang 6

2.1.4 Nội dung quy định về thu hồi đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 44 2.1.5 Nội dung quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,giải quyết tranh chấp tố cáo về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 44 2.1.6 Nội dung quy định về xử lý vi phạm đối với đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 47

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định 48

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội đến việc thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 48 2.2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định 55 2.2.3 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 57

Tiểu kết Chương 2 64 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 66 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định 66

3.1.1 Một số định hướng chủ yếu hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 66 3.1.2 Một số định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đất

di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định 68

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định 70

3.2.1 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh 70

Trang 7

3.2.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đất di tích

lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định 71

Tiểu kết Chương 3 75

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HĐND : Hội đồng nhân dân

KT-XH : Kinh tế - xã hội QSDĐ : Quyền sử dụng đất SDĐ : Sử dụng đất

TN&MT : Tài nguyên vả môi trường UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi dựng nước và giữ nước cho tới hôm nay, Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm và biến cố Tất cả được thể hiện một cách rõ nét qua những di tích lịch sử, văn hóa còn được lưu giữ và bảo tồn đến tận ngày nay Ở đó có sự kết hợp hài hòa giữa thắng cảnh tự nhiên và công trình kiến trúc tinh tế tạo nên một Việt Nam rất đặc trưng Việt Nam vốn nổi tiếng là một quốc gia có nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp, là địa điểm thu hút ngày càng đông khách du lịch quốc tế Danh lam thắng cảnh của nước ta là một trong những niềm tự hào đối với bạn bè năm châu Mỗi vùng đất, địa danh, hay di tích ở Việt Nam đều gắn liền với những truyền thuyết lịch sử Mỗi phong tục, tập quán lại bắt nguồn từ những câu chuyện mang đậm tính nhân văn, lòng ái quốc của tổ tiên Qua nhiều thế hệ, bản sắc văn hóa Việt được tiếp nối, lưu truyền ngày càng phong phú và đa dạng Ở Việt Nam, theo thống

kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến nay đã có 2.795 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được xếp hạng Bên cạnh đó là hàng vạn di tích với quy

mô và giá trị lịch sử, văn hóa khác nhau trải khắp các vùng, miền của đất nước và gắn bó chặt chẽ với cuộc sống cộng đồng dân cư Những năm gần đây, vấn đề bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và của toàn xã hội Tuy nhiên, muốn bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh có hiệu quả thì khó tách rời với việc quản lý và sử dụng đất (SDĐ) di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh theo đúng pháp luật Bởi lẽ,

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được xây dựng hoặc hình thành trên đất và gắn liền với đất thành một khối thống nhất không thể tách rời Suy cho cùng mọi hành vi quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đều tác động, ảnh hưởng đến di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Trong điều kiện kinh tế thị trường khi đất đai ngày càng có giá trị thì có không ít tổ chức, cá nhân do

Trang 10

ham muốn lợi nhuận đã không từ một thủ đoạn nào kể cả việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, SDĐ nói chung và quản lý, SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng Đã có rất nhiều vụ việc xâm phạm, lấn, chiếm hoặc xây dựng nhà trái phép trên đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh diễn ra trong thời gian gần đây ở tất cả các địa phương được công luận lên tiếng, gióng lên hồi chuông báo động như Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường (TN&MT)

(2018), Lạng Sơn: Buông lỏng quản lý, đất di tích bị xâm hại, của tác giả Hoàng Nghĩa, Thứ sáu - 14/12 09:34; Báo Dân việt điện tử (2019), Di tích khảo cổ quốc

gia bị xâm phạm ngay giữa trung tâm thành phố Hạ Long, của tác giả Nguyễn Quý,

ngày 13/9/2019; Báo Nhân dân điện tử (2017), Cần xử lý nghiêm việc chiếm đất

công ở di tích lịch sử quốc gia đền Bảo Hà, của tác giả Quốc Hồng, Thứ Ba, 01/08,

00:24:01; Báo Dân trí điện tử (2012), Chiếm đất di tích lịch sử cấp quốc gia để

"chia lô bán nền", của tác giả Hồng Long, Thứ Ba 10/04 - 00:04; Báo ảnh Dân tộc

và Miền núi (2018), Nhiều điểm, khu di tích ở Lạng Sơn bị xâm hại, lấn chiếm, của

tác giả Quang Duy, 11:02, 26/11/2018; Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh điện

tử (2011), Chiếm đất di tích làm của riêng, của tác giả Hùng Anh, Thứ Tư, ngày

9/11 - 00:04 v.v Dư luận đặt câu hỏi tại sao việc quản lý đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh lại bị buông lỏng và để xảy ra nhiều hành vi vi phạm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị và sự tồn tại của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đặt ở các địa phương trong bối cảnh Đảng và Nhà ta đang xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các quy định về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thường xuyên được

rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện với việc ban hành Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh một cách hệ thống, toàn diện về lý luận và thực tiễn Có như vậy mới có thể đưa ra được câu trả lời thỏa đáng

Trang 11

Nam Định là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, bao gồm 1.330 di tích lịch sử văn hóa; trong đó, 349 di tích được xếp hạng (có 02 di tích quốc gia đặc biệt là di tích đền Trần - chùa Phổ Minh và di tích chùa Keo Hành Thiện), 81 di tích cấp quốc gia và 266 di tích cấp tỉnh Nhiều quần thể di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và kiến trúc như: Quần thể di tích văn hóa Trần, Phủ Dầy, Chùa Cổ Lễ, Chùa Keo Hành Thiện, Cầu Ngói Chùa Lương, Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh Mặt khác, tỉnh Nam Định còn có hơn 400 nhà thờ công giáo với kiến trúc đặc trưng phương Tây tập trung ở các huyện phía Nam cũng có sức hút đối với du khách trong nước và quốc tế Những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã có từ rất lâu đời, có những ngôi chùa, ngôi đền đã xuống cấp trầm trọng, hay bị một số người dân lấn chiếm, xâm phạm di tích để làm nơi kinh doanh, buôn bán,… Loại trừ nguyên nhân tác động của thiên nhiên nắng, mưa, lũ lụt, thiên tai… thì sự xuống cấp nghiêm trọng một số di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Nam Định xuất phát từ những hành vi vi phạm pháp luật đất đai trong quản

lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng này góp phần bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

tại tỉnh Nam Định Trên đây là những lý do để học viên lựa chọn đề tài: "Pháp luật

về đất di tích, lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định" làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được giới luật học nước ta quan tâm tìm hiểu Thời gian qua đã có một số công trình khoa học tiêu biểu về vấn đề này được công bố như: i) Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT -

Bộ TN&MT (2010): Báo cáo tổng kết khoa học đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu cơ sở lý

luận, thực tiễn và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật đất đai" do TS

Nguyễn Văn Tài - Chủ nhiệm, Hà Nội; ii) Nguyễn Quang Tuyến (2008): Pháp luật

về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, Tạp chí Luật học, số 6; iii)

Nguyễn Thế Hùng (2004), Đôi điều về tu bổ di tích tín ngưỡng - tôn giáo, Tạp chí

Trang 12

Di sản văn hóa, số 6; iv) Đặng Văn Bài (2006), Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử -

văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành, Tạp chí Di sản văn hóa, số 15;

v) Nguyễn Thị Mai Lê (2014), Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính đất đai, Tạp chí Tài chính, số 12; vi) Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật

Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; vii) Hoàng Nghĩa (2018), Lạng Sơn: Buông lỏng quản lý, đất di tích bị xâm hại, Báo điện tử TN&MT, Thứ sáu - 14/12

09:34; viii) Nguyễn Quý (2019), Di tích khảo cổ quốc gia bị xâm phạm ngay giữa

trung tâm TP Hạ Long, Báo Dân việt điện tử, ngày 13/9; ix) Quốc Hồng (2017), Cần xử lý nghiêm việc chiếm đất công ở di tích lịch sử quốc gia đền Bảo Hà, Báo

Nhân dân điện tử, Thứ Ba, 01/08, 00:24:01; x) Hồng Long (2012), Chiếm đất di tích

lịch sử cấp quốc gia để "chia lô bán nền", Báo Dân trí điện tử, Thứ Ba 10/04 - 00:04;

xi) Quang Duy (2018), Nhiều điểm, khu di tích ở Lạng Sơn bị xâm hại, lấn chiếm, Báo ảnh Dân tộc và Miền núi, 11:02, 26/11/2018; xii) Hùng Anh (2011), Chiếm đất di

tích làm của riêng, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh điện tử, Thứ Tư, ngày

9/11 - 00:04 v.v

Các công trình liên quan đến đề tài luận văn được đề cập trên đây, ở những mức độ và phạm vi khác nhau đã phân tích khái niệm, đặc điểm của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nói chung và đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng; đánh giá thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh… cũng như đề xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh ở một số địa phương v.v Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài được công bố, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 13

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật

về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm phân tích khái niệm, đặc điểm; ý nghĩa và tiêu chí phân loại di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; giải mã nội hàm khái niệm và đặc điểm đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; phân loại đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa

và danh lam thắng cảnh bao gồm phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; cấu trúc pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các điều kiện đảm bảo thực thi pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh…

- Tìm hiểu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định

- Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

- Các trường phái lý thuyết, học thuyết, quan điểm khoa học về di tích lịch

sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh; đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Trang 14

- Quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển nền văn hóa truyền thống tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và bảo vệ và giữ gìn các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng trong nền kinh tế thị trường

- Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

- Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng liên quan đến một số lĩnh vực pháp luật Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn vào những nội dung cụ thể sau đây:

- Giới hạn về nội dung: Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các

văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý và SDĐ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

Trong phạm vi bản luận văn này, tác giả không có tham vọng phân tích tìm hiểu các quy định về quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

mà chỉ đi sâu bình luận, đánh giá các quy định về quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về giao đất và chuyển mục đích SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về thu hồi đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về quyền và nghĩa

vụ của người SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; các quy định về

- Giới hạn về không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn thi

hành pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định

- Giới hạn về thời gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khoảng

thời gian từ năm 1993 (năm ban hành Luật Đất đai năm 1993) đến nay

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

Một là, phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải được sử dụng xuyên

suốt các chương của luận văn Phương pháp này được sử dụng khi giải mã khái niệm, đặc điểm của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; khái niệm và đặc điểm của đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; ý nghĩa của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; phân tích nội dung các quy định của pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Hai là, phương pháp đánh giá, phương pháp bình luận được sử dụng để

đánh giá thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định nhằm nhận diện những thành công, những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của bất cập, tồn tại

Ba là, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp được sử dụng để

nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định

Bốn là, phương pháp lịch sử được sử dụng trong các chương của luận văn

thể hiện việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh trong quá trình hình thành,vận động, phát triển và

dự báo xu hướng trong tương lai

Năm là, phương pháp so sánh, phương pháp lập luận lô gic, phương pháp

liên ngành được sử dụng khi tìm hiểu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định nhằm nhận diện những thành công, những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của bất cập, tồn tại; tìm hiểu những vấn đề lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

6 Những đóng góp của luận văn

Trang 16

Gía trị của luận văn được thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, tập hợp, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận

về đất di tích lịch sử - văn hóa và và danh lam thắng cảnh và pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và và danh lam thắng cảnh ở nước ta

Hai là, nghiên cứu thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và

danh lam thắng cảnh và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và và danh lam thắng cảnh tại tỉnh Nam Định

Ba là, đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch sử -

văn hóa và và danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Nam Định

Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ đối với các chuyên gia xây dựng pháp luật đất đai, cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đất đai nói chung và quản lý nhà nước về đất di tích lịch sử, văn hóa - danh lam thắng cảnh nói riêng mà còn là tài liệu có giá trị cho các cơ sở đào tạo luật ở nước ta

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh

lam thắng cảnh và pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

ở Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam

thắng cảnh và thực tiễn thi hành tại tỉnh Nam Định

Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất di tích lịch

sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Nam Định

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT DI TÍCH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA,

DANH LAM THẮNG CẢNH Ở VIỆT NAM

1.1 Lý luận về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

1.1.1 Lý luận về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

1.1.1.1 Khái niệm di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Theo quy định tại Điều 1 Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 thì: "Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Trong khái niệm này, di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và

di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 4 Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì: "Di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công

Trang 18

trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" Di tích luôn gắn liền với đất đai, địa điểm có giá trị lịch sử

Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa (gọi chung là di tích) là một bộ phận của

di sản văn hóa vật thể Theo quan niệm truyền thống, di tích lịch sử - văn hóa gồm

các bộ phận cấu thành chủ yếu sau đây: Một là, các công trình kiến trúc, địa điểm

có liên quan tới các sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa; Hai

là, những đồ vật trong nội thất các công trình kiến trúc (vật dụng cá nhân, đồ tế tự

trong các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng ); Ba là, môi trường cảnh quan thiên nhiên xen kẽ hoặc bao quanh di tích; Bốn là, những giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn

với các công trình địa điểm đó

Mặc dù, thuật ngữ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được sử dụng gắn liền với nhau Tuy nhiên, di tích lịch sử, văn hóa khác với danh lam thắng cảnh ở điểm cơ bản sau đây: Di tích lịch sử, văn hóa là công trình, địa điểm, đồ vật gắn với một giai đoạn phát triển của đất nước, của địa phương có giá trị lịch

sử giáo dục truyền thống lịch sử, yêu nước cho các thế hệ hiện tại và tương lại hoặc

có giá trị kiến trúc văn hóa phản ánh lịch sử, nguồn gốc, truyền thống văn hóa của một cộng đồng dân cư, của một địa phương, của một quốc gia; ví dụ: Di tích lịch sử Đền Trần, Chùa Phổ Minh (Nam Định) Trong khi đó, danh lam thắng cảnh thường là địa điểm, phong cảnh, cảnh quan thiên nhiên hoặc nhân tạo có cảnh đẹp nổi tiếng có giá trị tham quan, du lịch, nghỉ ngơi hoặc có giá trị khoa học, ví dụ: Danh Thắng Yên Tử (Quảng Ninh); danh thắng Chùa Hương - Suối Yến (Hà Nội)

1.1.1.2 Ý nghĩa của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội (KT-XH), công nghệ, khoa học v.v thì chất lượng cuộc sống của người dân được tăng lên Văn hóa khẳng định được vai trò quan trọng trong đời sống xã hội là nền tảng tinh thần của

xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH Các di tích lịch

sử - văn hóa có vị thế quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa của mỗi quốc gia

Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất mà là mất đi những giá trị tinh thần

Trang 19

lớn lao không gì có thể bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa các nguồn nội lực để phát triển

Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính sách, pháp luật, công tác quản lý, khoa học, kỹ thuật….Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mấy chục năm qua, hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ đã thể hiện những nỗ lực

to lớn của toàn xã hội chăm lo và bảo vệ di tích Về cơ bản hệ thống di tích của nước ta được bảo vệ, chăm sóc và tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng khẳng định nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh mới ở nước ta "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể" [24]

1.1.1.3 Các tiêu chí cơ bản phân loại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

Trên thực tế, chúng ta bắt gặp rất phổ biến các biển hiệu do người dân hoặc cộng đồng dân cư ở các địa phương tự dựng lên với nội dung "di tích lịch sử đã xếp hạng cấm xâm phạm" ở trước những ngôi chùa, ngôi đền, miếu, mộ, lăng tẩm v.v Vậy làm thế nào để có thể phân biệt được di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh với những giá trị thực sự được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định, xếp hạng, công nhận với các di tích do người dân, cộng đồng dân cư ở một địa phương tự phong Câu trả lời được tìm thấy trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật Di sản văn hóa sửa đổi) Đạo Luật này quy định các tiêu chí cơ bản

để xác định và phân loại di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; cụ thể:

Trang 20

Thứ nhất, di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: Một là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu

biểu của quốc gia hoặc của địa phương

Hai là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh

hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử

Ba là, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu

Bốn là, công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tông thể kiến

trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

Thứ hai, danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Một là, cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan

thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu

Hai là, khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,

đang dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất

Thứ ba, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là

di tích) được xếp hạng như sau:

Một là, di tích cấp tỉnh có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:

i) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương

ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;

iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;

iv) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương

Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

Trang 21

i) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch

sử của dân tộc;

ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;

iv) Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù

Ba là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của

quốc gia, bao gồm:

i) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

ii) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

iii) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

iv) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và

hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới

Thứ tư, thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau: Một là, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định xếp hạng di

tích cấp tỉnh, cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh;

Trang 22

Hai là, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di

tích quốc gia, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia;

Ba là, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt,

cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới

Thứ năm, trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn

cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó [42, Điều 28, Điều 29, Điều 30]

1.1.2 Lý luận về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

1.1.2.1 Khái niệm đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Trên thực tế đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là đất mà trên

đó xây dựng hoặc có các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được Nhà nước đánh giá, xếp hạng Thuật ngữ đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội Thuật ngữ đất di tích thường được hiểu gắn liền với quan niệm về di tích; theo đó: "Đất di tích thuộc nhóm đất phi nông nghiệp, bao gồm một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh gồm nhiều công trình kiến trúc gắn bó với nhau vào một cơ cấu thống nhất Đó có thể là: i) Trung tâm lịch sử của một đô thị cổ; ii) Khu phố cổ gồm nhiều đường phố khác nhau; iii) Di sản kiến trúc đô thị Bao gồm: Ý tưởng quy hoạch gắn kiến trúc với môi trường tự nhiên; Cơ cấu đô thị; Diện mạo kiến trúc đô thị; Lối sống, nếp sống văn minh đô thị; iv) Bộ phận di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích lịch sử - văn hóa

Đất danh lam thắng cảnh là đất có cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có

sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm

mỹ, khoa học" Thuật ngữ đất di tích nêu trên giải mà khái niệm đất di tích chủ yếu theo khía cạnh phân loại di tích và quản lý di tích Khái niệm này dường như chưa bao quát đầy đủ các loại đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

Trang 23

Thuật ngữ đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai ở nước ta Tuy nhiên, thuật ngữ này là không được giải thích chính thức trong Luật Đất đai năm 2013 Nghiên cứu nội dung các quy định về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo tác giả, đất di tích

lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được hiểu như sau: Đất di tích lịch sử, văn

hóa và danh lam thắng cảnh là một thành phần độc lập trong nhóm đất phi nông nghiệp Đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là đất mà trên đó các các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh do con người hoặc tự nhiên tạo

ra và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp quốc công nhận, xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh

Bên cạnh các đặc điểm chung của đất đai, đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là còn có một số đặc điểm riêng chủ yếu sau đây:

Một là, đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là đất mà trên đó

các các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh do con người hoặc tự nhiên tạo ra và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp quốc công nhận, xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Đây là đặc điểm quan trọng nhất để nhận diện, phân biệt đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh với các loại đất khác trong nhóm đất phi nông nghiệp như đất thăm dò, khai thác khoáng sản; đất quốc phòng - an ninh; đất ở và đất đô thị v.v Một thửa đất được xác định là đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phải thỏa mãn 02 điều kiện cơ bản sau đây: i) Trên đất phải có di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; ii) Di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh này phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay cơ quan có thẩm quyền của Liên hiệp quốc thẩm định công nhận, xếp hạng

Hai là, chế độ quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng

cảnh được quy định rất nghiêm ngặt; nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm, sử dụng sai mục đích của đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong trường

Trang 24

hợp đặc biệt phải SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh vào mục đích khác phải có ý kiến đồng ý của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Trường hợp Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch không đồng ý thì phải có

ý kiến quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Để bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh thì quy hoạch sử dụng loại đất này được phân chia thành quy hoạch vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy hoạch vùng tiếp giáp vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh và quy hoạch vùng bên ngoài, xung quanh di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa

và danh lam thắng cảnh nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi xâm phạm, lấn chiếm, xây dựng công trình, SDĐ sai mục đích v.v Đối với vùng tiếp giáp vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nghiêm cấm việc xây dựng công trình trái phép Trường hợp xây dựng công trình phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bao gồm cơ quan quản lý đất đai và cơ quan quản lý di tích lịch sử văn hóa) và phải phù hợp với quy hoạch SDĐ, quy hoạch xây dựng; không được làm ảnh hưởng đến không gian bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Vùng bên ngoài vùng tiếp giáp vùng lõi của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được xây dựng hàng rào bảo vệ nhằm ngăn chặn các hành vi lấn chiếm,

vi phạm v.v

Ba là, chủ thể SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh chủ yếu

là cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước mà người quản lý trực tiếp là ban quản lý di tích do cộng đồng dân cư bầu ra hoặc Nhà nước thành lập v.v

Bốn là, đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được Nhà nước

công nhận quyền SDĐ ổn định lâu dài Trong trường hợp tôn tạo, tu bổ và mở rộng

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư được giao quản lý di tích lịch

Trang 25

sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đó dựa trên quy hoạch SDĐ đã được cấp có thẩm quyền xét duyệt

Người sử dụng loại đất này có quyền và nghĩa vụ chung của người SDĐ quy định tại Điều 166 và Điều 170 Luật Đất đai năm 2013; không có quyền tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp và góp vốn bằng quyền SDĐ

1.1.2.2 Các loại đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được phân loại theo Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (sau đây gọi tắt là Nghị định

số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ) và các tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật Di sản văn hóa, khoản 9, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, bao gồm: i) Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); ii) Di tích kiến trúc nghệ thuật; iii) Di tích khảo cổ; iv) Danh lam thắng cảnh

Như phần trên đã đề cập, di tích được xây dựng trên đất và luôn gắn liền với đất đai Do vậy, căn cứ vào việc xếp loại di tích thì đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là đất di tích) được phân thành các loại chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đất di tích lịch sử - văn hóa

Đất di tích lịch sử, văn hóa là đất trên đó xây dựng hoặc có những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự phát triển của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau

Trang 26

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Một là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu

trong quá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Đền Hùng, Cổ Loa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ Hà Nội

Hai là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh

hùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu

di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích danh thắng Yên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân

Ba là, công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của

các thời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạng Pắc

Bó, Phòng tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần Hưng Đạo

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các di tích này không những có giá trị lịch

sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch

Thứ hai, đất di tích kiến trúc nghệ thuật

Đất di tích kiến trúc nghệ thuật là đất có quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ, ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự

Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ

Trang 27

có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), phố cổ Hội An (Quảng Nam), nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình), chùa Keo (Thái Bình), đình Tây Đằng (Hà Nội), Chùa Phật Tích (Bắc Ninh) v.v Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44,2% tổng số di tích được xếp hạng

Thứ ba, đất di tích khảo cổ học

Đất di tích khảo cổ học là đất có những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều di tích khảo cổ Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ

sử tới các thời kỳ lịch sử sau này Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Hang Con Moong,

di chỉ Đông Sơn (Hòa Bình), động Người Xưa (Ninh Bình), thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) v.v Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng

Thứ tư, đất danh lam thắng cảnh

Đất danh lam thắng cảnh là đất có cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có

sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học được công nhận, xếp hạng Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Một là, cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan

thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danh thắng Tây Thiên (Vình Phúc), Tràng An - Tam Cốc - Bích Động (Ninh Bình), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình), v.v

Trang 28

Hai là, khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,

đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang), các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam như Vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Ba Vì, vườn quốc gia Nam bãi Cát tiên v.v Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tính đến năm 2010, danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3,3% số di tích được xếp hạng

Như vậy, danh lam thắm cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại, có giá trị về lịch

sử, văn hóa, khoa học Danh lam thắng cảnh thường được kết hợp giữa công trình tôn giáo, tín ngưỡng với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Đất nước ta ở miền nhiệt đới, trải dài trên nhiều vĩ tuyến, có "Rừng vàng, biển bạc" với một hệ động, thực vật đặc biệt phong phú và nhiều hang động kỳ thú đủ sức hấp dẫn mọi du khách trong nước và quốc tế

1.1.2.3 Yêu cầu của quản lý và sử dụng đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Đất di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng phải quản lý nghiêm ngặt theo quy định tại Điều 158 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh do tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đó chịu trách nhiệm quản lý

- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh không thuộc quy định trên thì UBND cấp xã nơi có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý diện tích đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;

Trang 29

- Đối với đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh bị lấn, bị chiếm, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng trái pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời

- Trong trường hợp đặc biệt cần thiết phải SDĐ có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thẳng cảnh vào mục đích khác thì việc chuyển mục đích phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xếp hạng đối với di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó

Theo quy định tại khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2013, thì trong trường hợp đặc biệt cần thiết có thể SDĐ có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam

thắng cảnh vào mục đích khác song phải đáp ứng những yêu cầu sau: Một là, việc

chuyển mục đích sử dụng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã được cơ

quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Hai là, phải có văn bản chấp thuận của cơ

quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xếp hạng đối với di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó Như vậy, đất có di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh cũng

có thể sử dụng vào mục đích khác thuộc những trường hợp đặc biệt cần thiết song phải tuân thủ các quy định của pháp luật

1.2 Lý luận pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

1.2.1 Cơ sở xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là một chế định của pháp luật đất đai Chế định pháp luật này ra được dựa trên một số căn cứ

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác

không có được; đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng

- Tính quy phạm của pháp luật: Những quy tắc đạo đức được sử dụng một

cách phổ biến trong quan hệ ứng xử hàng ngày của con người được pháp luật "pháp

Trang 30

điển" hóa thành các quy định pháp luật Điều này có nghĩa là pháp luật xây dựng những quy tắc ứng xử mẫu thông qua nội dung các quy định để con người căn cứ vào đó tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình cho ngày càng gần với những hành vi ứng xử mẫu này

- Tính bắt buộc chung: Quy định của pháp luật được xây dựng trên cơ sở

các quy tắc đạo đức, quy ước chung được xã hội thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên khác với quy tắc đạo đức, quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi người trong xã hội Điều này có nghĩa là mọi người phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tuân thủ, chấp hành pháp luật Thông qua đó, sự công bằng, bình đẳng được thiết lập giữa những chủ thể, những giai tầng khác nhau trong xã hội Mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc thụ hưởng các giá trị văn hóa, tinh thần của cha ông để lại và có bổn phận, trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

- Tính cưỡng chế: Sự tuân thủ quy tắc đạo đức của con người được thực

hiện dựa trên ý thức tự giác và sức cảm hóa, sự giác ngộ, lan tỏa của lẽ phải, của ứng xử mẫu mực Khác với quy tắc đạo đức, pháp luật là thiết chế mang tính quyền lực nhà nước Nó do Nhà nước ban hành và đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều này có nghĩa là nếu con người tự giác chấp hành việc tuân thủ pháp luật thì họ sẽ được Nhà nước cho hưởng quyền và lợi ích hợp pháp; đồng thời, các quyền và lợi ích hợp pháp này được Nhà nước bảo hộ thông qua các biện pháp pháp

lý Ngược lại, nếu con người không tuân thủ pháp luật thì họ sẽ nhận được những chế tài xử lý của Nhà nước Những chế tài này là sự cưỡng chế bắt buộc và được đảm bảo bởi yếu tố quyền lực nhà nước Thuộc tính này đã làm cho pháp luật có tính nghiêm minh và nhờ đó trật tự xã hội nói chung và trật tự trong quản lý, SDĐ

di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng được thiết lập và duy trì

- Tính thích ứng: Pháp luật không hoàn toàn là sản phẩm mang tính chủ

quan của con người mà nó còn là "tấm gương" phản chiếu thực tế sinh động cũng như yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Khi hoàn cảnh khách quan của đời

Trang 31

sống xã hội thay đổi thì pháp luật cũng phải tự thay đổi theo nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Có như vậy thì pháp luật mới phù hợp và có thể đi vào cuộc sống

Do có những đặc trưng cơ bản trên đây mà pháp luật trở thành biện pháp quản lý xã hội có hiệu quả nhất "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật chứ không phải bằng đạo lý" [23] Vì vậy, pháp luật phải được sử dụng để quản lý đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; bởi lẽ, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị tinh thần vô giá, là yếu tố đảm bảo cho nước ta không bị "hòa tan" trong quá trình hội nhập quốc tế

Thứ hai, thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật mà trật tự quản lý và

SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xác lập và đi vào nề nếp; theo đó: i) Đối với những hoạt động quản lý và SDĐ phù hợp với yêu cầu của pháp luật như SDĐ đúng mục đích, thực hiện đầy đủ quy hoạch, kế hoạch SDĐ…thì pháp luật bảo vệ, khuyến khích, tạo điều kiện để nó ngày càng phát triển; ii) Đối với những hoạt động quản lý và SDĐ không phù hợp với yêu cầu của pháp luật như lấn, chiếm, xây dựng công trình trái phép trên đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh… thì pháp luật ngăn chặn, xử lý và loại bỏ dần ra khỏi đời sống xã hội Thông qua cơ chế điều chỉnh này, pháp luật xác lập một trật tự quản lý ngày càng

có hiệu quả đối với loại đất này

Thứ ba, như phần trên đã đề cập, đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng

cảnh trên đó tồn tại các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Đây là loại đất không chỉ có giá trị vật chất mà còn có giá trị tinh thần vô cùng to lớn Có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng là bảo vật quốc gia không

để xác định hoặc "cân đong, đo đếm" quy đổi thành tiền được Hay nói cách khác, những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh này là vô giá, có bao nhiều tiền cũng không thể mua hoặc tái tạo được Hơn nữa, giá trị căn bản, cốt lõi của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh chính là giá trị phi vật chất gắn liền với một

sự kiện lịch sử, một thời kỳ phát triển mà không thể tái tạo hoặc "làm giả" được Vì vậy, việc bảo tồn, giữ gìn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phải

Trang 32

giữ nguyên vẹn giá trị gốc/giá trị ban đầu Do đó, đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phải được bảo vệ nghiêm ngặt, quản lý chặt chẽ hơn so với các loại đất phi nông nghiệp khác để đảm bảo giá trị gốc, giá trị ban đầu và không được làm thay đổi hiện trạng ban đầu, sơ khai của di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Muốn vậy, việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phải được thực hiện bằng pháp luật

Thứ tư, bằng pháp luật, Nhà nước thành lập một hệ thống cơ quan được tổ

chức chặt chẽ, thống nhất từ trung ương đến địa phương và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để các cơ quan nhà nước này phối, kết hợp các hoạt động quản

lý đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; kịp thời xử lý các tình huống nảy sinh trong quá trình quản lý Hệ thống cơ quan này chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý thống nhất đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Mặt khác, việc quản lý đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh liên quan đến các bộ ngành, địa phương mà trước hết là Bộ TN&MT; Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch; UBND các cấp nơi có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Vấn đề đặt ra là cần phải xác lập một cơ chế phối kết hợp thống nhất, chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ ngành, địa phương trong quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh v.v

1.2.2 Khái niệm pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là một lĩnh vực của pháp luật đất đai Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và SDĐ di tích lịch

sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nhằm bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo các giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bền vững, phát huy giá trị đích thực trong đời sống xã hội

Trang 33

Bên cạnh các đặc điểm chung của pháp luật đất đai, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh còn có một số các đặc điểm riêng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

là lĩnh vực pháp luật tổng hợp Nó bao gồm quy phạm pháp luật của một số lĩnh vực pháp luật có liên quan mà trước hết là lĩnh vực pháp luật đất đai, pháp luật về quy hoạch, kiến trúc; pháp luật hành chính và pháp luật về di sản văn hóa v.v

Pháp luật đất đai quy định về chế độ quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân SDĐ

di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Pháp luật quy hoạch, kiến trúc quy định về các nguyên tắc chung, điều kiện, yêu cầu, mục đích xây dựng quy hoạch, không gian kiến trúc; hệ thống quy hoạch v.v Những quy định này đòi hỏi phải tuân thủ khi xây dựng quy hoạch di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, xây dựng không gian kiến trúc của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Pháp luật hành chính quy định về cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nước; quy định nguyên tắc, thời hiệu, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính v.v Những quy định này đòi hỏi khi xây dựng cơ cấu, tổ chức các cơ quan quản lý đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phải tuân thủ

Pháp luật về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy hoạch di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; vấn đề bảo tồn, giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Những quy định này đòi hỏi tổ chức, cá nhân quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phải tuân thủ để không gây phương hại đến

di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Trang 34

Thứ hai, pháp luật về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là lĩnh

vực thuộc pháp luật công Nó bao gồm các quy định về quản lý đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quy định

về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về vấn đề thanh tra, xử lý vi phạm về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Thứ ba, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh còn

chịu ảnh hưởng của các điều ước quốc tế về di sản văn hóa; các quyết định của Tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) về công nhận các di sản vật thể, phi vật thể của nhân loại Điều này có nghĩa là khi quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, tổ chức, cá nhân SDĐ không chỉ tuân thủ pháp luật của Việt Nam mà còn phải chịu sự tác động của điều ước quốc tế về di sản văn hóa; các quyết định của Tổ chức UNESCO về công nhận các

di sản vật thể, phi vật thể của nhân loại; ví dụ không được đổ các chất thải xuống Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) di sản văn hóa thế giới

Thứ tư, pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bao

gồm các văn bản luật và văn bản hướng dẫn thi hành Nội dung các văn bản luật chủ yếu là các quy định có tính nguyên tắc về quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh nên khó triển khai thi hành Các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành dưới các thể thức nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thông tư, thông tư liên tịch, quyết định của bộ ngành, của UBND các cấp quy định chi tiết, cụ thể về quản lý và sử dụng loại đất này nên dễ áp dụng khi triển khai thi hành trên thực tế v.v

1.2.3 Cấu trúc pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh

Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy phạm pháp luật được cấu trúc theo các nhóm cơ bản sau đây:

Một là, nhóm các quy phạm pháp luật về chế độ quản lý đất di tích lịch sử,

văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về quy hoạch, kế hoạch

Trang 35

SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); quy định về hệ thống cơ quan quản lý đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về nội dung quản lý nhà nước

về đất di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Hai là, nhóm các quy phạm pháp luật về chế độ SDĐ di tích lịch sử, văn

hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ; các quy phạm pháp luật về chế độ SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về hình thức SDĐ, thời hạn SDĐ; quy định về chủ thể SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

Ba là, nhóm các quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của chủ thể SDĐ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh bao gồm các quy định về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; quy định về giải quyết tranh chấp đất

di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh v.v

1.2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa

và danh lam thắng cảnh

Xây dựng pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là việc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý và sử dụng loại đất này Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là việc bảo đảm cho lĩnh vực pháp luật này được thực thi trên thực tế và phát huy tác dụng tích cực Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bao gồm:

Thứ nhất, đảm bảo về chính trị

Chính trị là biểu hiện tập trung đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền

Ở nước ta, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và

xã hội Quan điểm, đường lối của Đảng là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng pháp luật Do vậy, pháp luật phải thấm nhuần các quan điểm, đường lối chính trị của Đảng với phương châm chính trị là linh hồn của pháp luật Đường lối của Đảng ta

Trang 36

được "luật hóa", được "hóa thân" vào các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức, xã hội và cá nhân Như vậy, có thể nói việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là kết quả tất yếu phải gắn chặt với quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực đất di tích lịch

sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh

Thứ hai, đảm bảo về pháp lý

Là sự đồng bộ, tương thích, thống nhất của hệ thống pháp luật áp dụng để quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về đất đai tương đối đầy đủ Riêng đối với việc quản lý và SDĐ

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đã có nhiều văn bản như Luật Đất đai năm 2013, Luật Di sản văn hóa năm 2009,… Trong đó, có nhiều chế tài đảm bảo cho việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được tuân thủ nghiêm chỉnh, chặt chẽ Các văn bản này một mặt quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục xử lý vi phạm, mặt khác quy định chi tiết về các hành vi vi phạm về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bị xử lý, quy định về thẩm quyền

xử lý của các cơ quan nhà nước v.v đã tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình xử

lý vi phạm về đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được thực thi một cách nghiêm minh, đúng pháp luật; đồng thời, là cơ sở cho việc xử lý đúng người, đúng tội, ngăn ngừa có hiệu quả hành vi vi phạm pháp luật xảy ra

Thứ ba, đảm bảo về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá thông qua trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai (trong đó có đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh)

Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai là một trong những yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đạt hiệu quả cao Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "cán bộ

Trang 37

là cái gốc của mọi công việc" [35, tr 269], hoặc "muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" [35, tr 240] Cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải là người có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt công việc được giao; đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt Thực tiễn đã chứng minh rằng các chủ thể này mà trình độ, năng lực yếu kém, lại thiếu trách nhiệm, thiếu nhiệt tình trong công việc thì việc thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đạt hiệu quả thấp Phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Họ phải biết kết hợp giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước với điều kiện KT-XH, điều kiện thực tiễn của đất nước, của từng địa phương để thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh Bản thân cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải là người gương mẫu trong chấp hành pháp luật, là người có uy tín, có đạo đức trong cộng đồng, trong xã hội thì mới có thể thuyết phục được người khác Như vậy, để bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đạt hiệu quả cao cần nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ, bên cạnh đó còn phải tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản

lý nhà nước về đất đai

Thứ tư, đảm bảo về ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp

luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật Pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó ý thức pháp luật của các chủ thể là yếu tố chủ quan có ý nghĩa rất quan trọng Các chủ thể trong thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh bao

Trang 38

gồm: các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư SDĐ…

Trong nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, không tuân thủ pháp luật là do trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân; nhưng cũng có trường hợp công dân có trình độ văn hóa nhất định, có hiểu biết pháp luật nhưng đạo đức, nhân cách kém nên vẫn cố tình vi phạm pháp luật hoặc một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền lợi dụng chức vụ quyền hạn, công việc được giao để tham nhũng, tiêu cực, trục lợi, thực hiện hành vi trái pháp luật Trong một xã hội ngày càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo cơ sở cho việc nâng cao ý thức pháp luật, vì phải có trình độ văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu, nhận thức về pháp luật, xây dựng tình cảm, lòng tin vào pháp luật; qua đó chuyển hóa thành hành vi tích cực thực hiện theo yêu cầu của pháp luật Sự bảo đảm thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh không chỉ xuất phát từ ý thức pháp luật của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, đoàn thể mà còn từ ý thức pháp luật của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư SDĐ v.v Do vậy, nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm thực hiện hiệu quả lĩnh vực pháp luật này

Thứ năm, đảm bảo về nguồn vốn, cơ sở vật chất

Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về đất di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh nói riêng đòi hỏi phải có những chi phí nhất định Thực tế đã chứng minh làm bất cứ điều gì mà thiếu kinh phí, cơ sở vật chất thì khó

có thể thực hiện được Lĩnh vực quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cũng không nằm ngoài "quy luật" này Muốn quản lý và SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh có hiệu quả thì phải tiến hành thống kê, đánh giá, phân loại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; lập hồ sơ bảo tồn; xây dựng quy hoạch, kế hoạch SDĐ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh v.v

Trang 39

Những hoạt động này đòi hỏi Nhà nước phải đảm bảo về nguồn vốn, cơ sở vật chất lên đến hàng ngàn tỷ đồng Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, chúng ta cần xã hội hóa, kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp, nhà hảo tâm đóng góp kinh phí vào việc duy tu, tôn tạo, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; đồng thời, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, của các nước trong việc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia

Trang 40

sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được xây dựng và gắn liền với đất Bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh không thể tách rời với việc bảo vệ đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh

2 Trong nền kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở nên có giá trị Vì lợi nhuận mà không ít tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; thậm chí có hành vi vi phạm rất nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến các giá trị của di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Điều này gây ra sự công phẫn và lo ngại của dư luận xã hội Đấu tranh, xử lý các vi phạm về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là rất cần thiết Do những đặc trưng riêng mà các biện pháp khác không có được nên việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh bằng pháp luật là không thể thiếu được

3 Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh là một lĩnh vực của pháp luật đất đai Nó bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ việc quản lý và SDĐ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh góp phần bảo vệ hiệu quả các giá trị vô giá của

di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh Các điều kiện đảm bảo thực thi lĩnh vực pháp luật này bao gồm điều kiện về chính trị, điều kiện về pháp lý, điều kiện về nguồn nhân lực, điều kiện về ý thức pháp luật và điều kiện về vốn, cơ sở vật chất v.v

Ngày đăng: 22/04/2020, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w