Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Quá trình phát triển nhận thức về vai trò của Chính phủ
1.1.1 Khái niệm về Chính phủ:
Tất cả chúng ta đều có mối quan hệ gắn bó với các cơ quan, tổ chức nhà nước, được gọi là khu vực công cộng Bộ máy đứng đầu và chịu trách nhiệm điều hành khu vực này là Chính phủ Khái niệm Chính phủ có thể được hiểu khác nhau tùy vào góc độ nghiên cứu, nhưng trong môn Kinh tế công cộng, chúng ta chỉ xem xét vai trò điều tiết kinh tế của Chính phủ.
Chính phủ là tổ chức có nhiệm vụ thực thi quyền lực và điều tiết hành vi của cá nhân trong xã hội, nhằm phục vụ lợi ích chung và tài trợ cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà xã hội cần.
Các hệ thống đường giao thông, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, nếu do tư nhân xây dựng sẽ có chất lượng tốt nhưng chi phí rất cao Để bù đắp chi phí và có lãi, tư nhân sẽ không đầu tư, dẫn đến việc Chính phủ phải đảm nhận vai trò đầu tư.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2 kiểm soát hành vi của các hãng gây ô nhiễm bằng cách đánh thuế; Chính phủ trợ giá cho các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào vùng sâu, vùng xa
Chính phủ quyết định các hoạt động và chi tiêu của mình thông qua lựa chọn tập thể của xã hội Quá trình này dẫn đến việc hình thành các thể chế chính trị.
Thể chế chính trị là hệ thống nguyên tắc và quy trình được quần chúng chấp nhận, quy định chức năng và quyền hạn của Chính phủ, cũng như cách thức quản lý chi tiêu của Chính phủ.
Thông qua những thể chế này, nguyện vọng của nhân dân sẽ được phản ánh hoặc đề cập đến trong các quyết định của Chính phủ
Các bộ luật của nhà nước cần được đa số đại biểu thông qua để có thể áp dụng vào thực tiễn, với mỗi đại biểu đại diện cho một tỉnh hoặc thành phố.
1.1.2 Các mô hình tổ chức kinh tế và vai trò của Chính phủ:
Chính phủ, với vai trò là thể chế điều hành quốc gia, có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ các khuôn khổ pháp lý, đánh thuế và chi tiêu Tuy nhiên, việc Chính phủ nên có vai trò tích cực trong điều tiết nền kinh tế quốc dân vẫn là vấn đề gây tranh cãi qua nhiều thế kỷ Các quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ đã dẫn đến sự hình thành các mô hình tổ chức kinh tế đa dạng Bài viết này sẽ xem xét ba mô hình tổ chức kinh tế điển hình.
Mô hình kinh tế thị trường thuần tuý là nền kinh tế nơi mọi hàng hoá và dịch vụ do khu vực tư nhân sản xuất, với các giao dịch diễn ra tự do trên thị trường Giá cả được xác định bởi sự tương tác giữa cung và cầu, cho phép cá nhân tự do mua bán hàng hoá theo sở thích và khả năng tài chính của họ Trong mô hình này, vai trò của Chính phủ được giữ ở mức tối thiểu.
Mô hình kinh tế thị trường thuần tuý, được phát triển từ quan điểm “bàn tay vô hình” của Adam Smith trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), nhấn mạnh vai trò hạn chế của Chính phủ trong nền kinh tế Trong mô hình này, các cá nhân và chủ hãng tự quyết định các quan hệ kinh tế, với động cơ lợi nhuận thúc đẩy việc cung cấp hàng hoá Sự cạnh tranh đảm bảo rằng chỉ những hãng đáp ứng đúng nhu cầu xã hội với chất lượng cao và giá thành hợp lý mới có thể tồn tại.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3 thị trường sẽ dẫn dắt việc sản xuất ra những hàng hóa mà mọi người mong muốn theo cách tốt nhất
Trước khi quan điểm của Adam Smith ra đời, các nhà kinh tế học Pháp đã nhấn mạnh vai trò tích cực của Chính phủ trong việc thúc đẩy ngoại thương và thương mại, thuộc trường phái trọng thương Đến thế kỷ 19, John Stuart Mill và Nassau Senior, hai nhà kinh tế học người Anh, đã phát triển một lý thuyết mới.
Laissez-faire, theo quan điểm của Adam Smith, nhấn mạnh rằng Chính phủ không nên can thiệp vào hoạt động của khu vực tư nhân Thuyết này cho rằng việc để cho các doanh nghiệp tư nhân tự do cạnh tranh sẽ mang lại lợi ích tốt nhất cho xã hội.
Mô hình kinh tế thị trường thuần tuý không thể giải thích các thất bại của thị trường và những cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
20 Đỉnh cao là cuộc Đại suy thoái những năm 30 của thế kỷ XX, trong đó sản lượng của cả khối tư bản chủ nghĩa (TBCN) sụt giảm 1/4, còn hơn 25% lực lượng lao động không có việc làm
Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, được áp dụng tại Liên Xô và các nước XHCN, cho phép một cơ quan trung ương của Chính phủ quyết định tất cả các vấn đề về sản xuất và phân phối sản phẩm Điều này khác biệt hoàn toàn so với mô hình kinh tế thị trường thuần tuý, nơi các lực lượng thị trường tự do quyết định Hệ quả của việc áp đặt giá cả và sản lượng một cách tuỳ tiện đã dẫn đến sự chủ quan, làm giảm động lực phấn đấu, gây lãng phí tài sản và giảm hiệu quả trong phát triển đất nước.
Sự thay đổi vai trò Chính phủ trong quá trình phát triển
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều quốc gia đang nỗ lực xây dựng nền kinh tế tự chủ và vững mạnh, với Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển Thông qua kế hoạch hóa và chính sách bảo hộ, các nước đã phát triển ngành công nghiệp nội địa nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào nước ngoài Chính phủ cần phân bổ nguồn lực và xác định các ngành công nghiệp chiến lược để bảo vệ và phát triển Tuy nhiên, nhiều quốc gia đã gặp khó khăn với khu vực công nghiệp kém hiệu quả và nông nghiệp yếu kém, dẫn đến sự hoài nghi về vai trò của Chính phủ Ngược lại, một số nước công nghiệp mới đã chuyển sang chiến lược hướng ngoại, tin rằng tự do hóa kinh tế sẽ thúc đẩy tăng trưởng, và đã đạt được thành công ấn tượng Điều này đã làm thay đổi quan điểm về vai trò của Chính phủ trong thập kỷ 1980.
Sự can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ trong việc phân bổ nguồn lực không mang lại hiệu quả trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng năng lượng.
Vào năm 1979, nhiều nước châu Mỹ Latinh đã trải qua khủng hoảng nợ vào đầu thập kỷ 1980, dẫn đến việc các nhà kinh tế kêu gọi thu hẹp sự can thiệp của Chính phủ và cho phép thị trường hoạt động tự do hơn Các chính sách được áp dụng bao gồm giảm giá trị đồng bản tệ, tự do hóa lãi suất, thu hẹp khu vực công, giảm điều tiết thị trường và xóa bỏ can thiệp trực tiếp vào thương mại và đầu tư Trong giai đoạn này, hiệu quả kinh tế được ưu tiên hàng đầu, trong khi công bằng xã hội bị xem nhẹ Sự thu hẹp khu vực công đã dẫn đến cắt giảm ngân sách, đặc biệt là cho các dịch vụ thiết yếu như giáo dục và y tế, gây ra phong trào phản đối mạnh mẽ đối với các quan điểm này.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Vai trò của Chính phủ đã chuyển biến, hiện nay tập trung vào việc tăng cường thể chế, xây dựng khung pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi, tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, phát triển cơ sở hạ tầng và hỗ trợ người nghèo Những yếu tố này được gọi là “quản trị quốc gia” hay “điều hành Nhà nước” Trong thập niên 90, Chính phủ chủ yếu đóng vai trò bổ sung cho thị trường và can thiệp vào đời sống kinh tế thông qua các chính sách và quản lý bằng luật pháp.
Chính phủ và khu vực công cộng
Khái niệm Chính phủ thường đi đôi với khu vực công cộng, là thuật ngữ chỉ các lĩnh vực thuộc Chính phủ Ngược lại, khu vực tư nhân đề cập đến những lĩnh vực không thuộc Chính phủ Sự phân biệt giữa hai khu vực này dựa vào cách thức phân bổ nguồn lực trong xã hội.
Trong nền kinh tế hỗn hợp hiện nay, có sự kết hợp giữa phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường và phi thị trường.
Phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường yêu cầu tuân thủ các quy luật như sự khan hiếm, cung - cầu và giá trị, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội Mục tiêu chính của phương thức này là tối đa hóa lợi ích.
Phân bổ nguồn lực theo cơ chế phi thị trường sử dụng các công cụ can thiệp của Chính phủ để điều tiết phân bổ thị trường, bao gồm thuế, trợ cấp, mệnh lệnh hành chính và doanh nghiệp Nhà nước.
Khu vực công cộng là bộ phận của nền kinh tế, nơi nguồn lực được phân bổ thông qua cơ chế phi thị trường Khu vực này bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
Hệ thống cơ quan quyền lực của Nhà nước bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan hành pháp như Chính phủ, các bộ, viện và Ủy ban nhân dân các cấp, cùng với các cơ quan tư pháp như tòa án và viện kiểm sát.
Hệ thống quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…
Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội bao gồm các yếu tố quan trọng như đường xá, bến cảng, cầu cống, mạng lưới thông tin đại chúng, hệ thống cung cấp dịch vụ công, trường học, bệnh viện công và các công trình bảo vệ môi trường.
Các lực lượng kinh tế của Chính phủ bao gồm Doanh nghiệp Nhà nước, tập đoàn kinh tế Nhà nước và lực lượng dự trữ quốc gia Cần lưu ý rằng khu vực công cộng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6 gồm cả các doanh nghiệp Nhà nước, mặc dù các doanh nghiệp này ngày càng phải hoạt động theo những nguyên tắc, quy luật của thị trường, những chúng vẫn là công cụ điều tiết kinh tế của Chính phủ, thuộc sở hữu của Chính phủ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ
Hệ thống an sinh xã hội bao gồm các thành phần quan trọng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại trợ cấp xã hội, chẳng hạn như trợ cấp khẩn cấp, trợ cấp cứu đói và trợ cấp thất nghiệp.
Các giai đoạn phát triển của khu vực công ở Việt Nam
1.4.1 Trước năm 1986 Đây là thời kỳ mà cơ chế kế hoạch hoá tập trung từ trung ương đang thống trị ở Việt Nam Trong thời kỳ này khu vực công cộng là khu vực chỉ đạo, chi phối mọi mặt của đời sống xã hội và Chính phủ phủ can thiệp sâu vào đời sống kinh tế Trong nền kinh tế, Chính phủ phát triển kinh tế quốc doanh trên tất cả các lĩnh vực, bao cấp cho kinh tế tập thể, hạn chế kinh tế tư nhân và gia đình, lập kế hoạch sản xuất, thu mua và phân phối sản phẩm chi tiết đến từng người dân Chính phủ quy định giá cho từng loại sản phẩm, sử dụng một phần ngân sách để trợ giá cho các loại sản phẩm vì thế đã giúp cho giá cả ổn định nhưng lại không mang đúng giá trị của sản phẩm Doanh nghiệp Nhà nước giữ vị trí độc quyền cao trong nền kinh tế Khu vực tư nhân nhỏ bé, bị khu vực công cộng chèn ép khó phát triển Thị trường và người tiêu dùng không có tiếng nói đối với doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước Tóm lại, trước năm 1986 thì khu vực tư nhân bị khu vực công cộng chèn ép và thay thế
Sau năm 1986, khu vực công cộng đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986, đánh dấu bước chuyển mình trong phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước đã quyết định chuyển sang cơ chế thị trường, phân định rõ vai trò giữa khu vực công cộng và tư nhân Chính phủ không còn đóng vai trò là lực lượng kinh doanh mà chuyển sang định hướng, tổ chức và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh Khu vực tư nhân được công nhận và đồng hành cùng khu vực công trong phát triển kinh tế Chính phủ đã thực hiện nhiều cải cách thể chế để thúc đẩy khu vực tư nhân, bao gồm khoán sản phẩm, phát triển các thành phần kinh tế và mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời cải tiến hệ thống doanh nghiệp Nhà nước bằng cách giải thể các doanh nghiệp không hiệu quả.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7 làm ăn thua lỗ, giữ lại các doanh nghiệp chủ chốt nhằm bình ổn thị trường, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước…
Quá trình đổi mới đã làm thay đổi đáng kể vai trò của KVC tại Việt Nam Một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế là tỷ lệ chi tiêu của Chính phủ so với GDP.
2000, quy mô chi tiêu của Chính phủ chỉ chiếm 22,6% tổng GDP thì đến năm 2010 chi tiêu của Chính phủ đã tăng lên đến 30,6% tổng GDP của nền kinh tế
Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế đã mang lại thành công đáng kể cho Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt gần 7,3% trong giai đoạn 2001-2010, đưa Việt Nam vào nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.170 đôla, vượt qua ngưỡng các nước đang phát triển có thu nhập thấp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong khi kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định và các cân đối lớn được giữ vững Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, góp phần vào thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo, được quốc tế đánh giá cao Chỉ số phát triển con người đạt 5,75, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới, và chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn đã giảm từ 2,3 lần năm 1999.
Vào năm 2008, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã tăng từ 67 lên 75 tuổi Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cũng giảm mạnh từ 33,8% xuống dưới 18% Đến năm 2008, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêu Thiên niên kỷ được đề ra cho năm 2015.
Khu vực công cộng tại Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới Những vấn đề này thể hiện rõ trên nhiều phương diện khác nhau.
Bộ máy hành chính hiện nay vẫn còn mang tính quan liêu, với hệ thống văn bản quản lý và pháp quy chồng chéo, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế Đội ngũ cán bộ còn yếu kém về phẩm chất, trình độ và chuyên môn, đồng thời tinh thần trách nhiệm chưa cao Hơn nữa, bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với người dân, không đáp ứng được các nhu cầu và bức xúc của họ.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đang có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Tình trạng mất cân đối trong phát triển kết cấu hạ tầng giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi, cũng như giữa các khu vực miền Bắc, miền Nam và miền Trung vẫn diễn ra nghiêm trọng Nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực này cần được cải thiện để khắc phục những vấn đề hiện tại.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8 chủ yếu vẫn từ ngân sách Nhà nước và vốn Hỗ trợ phát trợ phát triển chính thức (ODA) Hiệu quả hoạt động của hệ thống KCHT còn thấp
Hệ thống doanh nghiệp Nhà nước hiện đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng, bao gồm hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp Tốc độ phát triển chậm, nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào sự bảo hộ của Nhà nước Quy mô doanh nghiệp nhỏ, cơ cấu không hợp lý, công nợ gia tăng, và tình trạng lao động thiếu việc làm cùng với trình độ quản lý yếu kém là những yếu kém chưa được khắc phục.
Hệ thống an sinh xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, với diện bao phủ và mức hỗ trợ thấp, chưa đủ để giúp đỡ các đối tượng khó khăn Quỹ an sinh xã hội nhỏ bé, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và chưa thu hút được nguồn lực từ nhiều phía Số lượng người tham gia các hình thức bảo hiểm như bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp còn thấp, không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân Chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhìn chung còn kém, với nhiều tiêu cực và phiền hà trong việc tiếp cận dịch vụ, đặc biệt là bảo hiểm y tế.
Nguyên nhân của những yếu kém:
Xuất phát điểm của Việt Nam rất thấp với ngân sách Nhà nước quy mô nhỏ và tình trạng mất cân đối kéo dài Do đó, ngân sách chủ yếu chỉ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, chưa đủ điều kiện để đầu tư cho khu vực công cộng.
Bộ máy hành chính đã quen với cách quản lý quan liêu và bao cấp, trong khi cải cách hành chính diễn ra chậm hơn so với cải cách kinh tế, dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Cơ chế thu hút vốn đầu tư vào khu vực công cộng từ các thành phần kinh tế khác vẫn chưa rõ ràng Tâm lý thụ động và sự trông chờ vào Nhà nước và chính quyền cấp trên vẫn còn nặng nề, trong khi thói quen được bảo hộ chưa có dấu hiệu thay đổi.
Tỷ lệ nghèo vẫn còn cao, đặc biệt ở các vùng cao, vùng sâu và vùng xa, nơi cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn và thất nghiệp ở thành phố đang trở thành vấn đề nan giải Hệ thống an sinh xã hội hiện nay còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, đặc biệt là về tài chính và nghiệp vụ, dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa đạt yêu cầu.
Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế
KVC và KVTN đóng vai trò khác nhau trong nền kinh tế thị trường, nhưng hoạt động của chúng lại có ảnh hưởng lẫn nhau.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9 lại với nhau và cũng liên kết với nhau trong một quá trình kinh tế chung Để hiểu rõ hơn về sự liên kết này, chúng ta hãy cùng xem xét sự có mặt của KVC, hay Chính phủ, trong vòng tuần hoàn kinh tế sẽ làm thay đổi bức tranh kinh tế nói chung như thế nào
Trong nền kinh tế đơn giản được mô tả ở Hình 1-(a), có hai đối tác chính là khu vực hộ gia đình và khu vực doanh nghiệp Hộ gia đình sở hữu tất cả các nguồn lực sản xuất và quyết định cách sử dụng chúng, chịu ảnh hưởng từ giá cả thị trường Doanh nghiệp cần mua các nguồn lực này từ hộ gia đình qua thị trường các yếu tố sản xuất, thể hiện qua các đường (1) và (2) trong hình Đường (1) biểu thị giao dịch vật chất từ hộ gia đình sang doanh nghiệp, trong khi đường (2) thể hiện giao dịch tiền tệ từ doanh nghiệp trả cho hộ gia đình để mua các nguồn lực sản xuất.
Doanh nghiệp kết hợp các nguồn lực để sản xuất hàng hóa và dịch vụ, sau đó bán cho hộ gia đình theo cung Các giao dịch vật chất và tiền tệ diễn ra theo chiều ngược lại qua thị trường hàng hóa và dịch vụ, tạo nên vòng tuần hoàn khép kín của nền kinh tế không có Chính phủ, tiết kiệm và đầu tư.
Khi Chính phủ tham gia, nó trở thành một đơn vị sử dụng nguồn lực lớn, mua đầu vào từ hộ gia đình và nắm quyền sở hữu các nguồn lực sản xuất như vốn và đất đai Chính phủ cũng sản xuất hàng hóa dịch vụ qua doanh nghiệp công và mua nhiều đầu vào từ doanh nghiệp tư nhân Để thanh toán cho các khoản mua sắm, Chính phủ yêu cầu hộ gia đình và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế, phí Ngoài ra, Chính phủ có thể buộc các khu vực này chuyển nhượng quyền sử dụng nguồn lực với giá thấp hơn giá thị trường Đổi lại, Chính phủ sử dụng nguồn lực để tạo ra hàng hóa và dịch vụ công như quốc phòng, giáo dục và y tế, đồng thời cung cấp các khoản chuyển nhượng cho cá nhân và doanh nghiệp như bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp.
Trường Đại học Kinh tế Huế
(a) Vòng tuần hoàn kinh tế khi không có Chính phủ
(a) Vòng tuần hoàn kinh tế khi có Chính phủ
Hình 1: Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế
Thị trường hàng hóa, dịch vụ
Thị trường yếu tố sản xuất
Hộ gia đình Doanh nghiệp
(9) Dịch vụ công, chuyển nhượng
(9) Dịch vụ công, chuyển nhượng (10)Thuế, phí, lệ phí
Thị trường hàng hóa, dịch vụ
Thị trường yếu tố sản xuất
Hộ gia đình Doanh nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Mức độ giao dịch giữa KVC (Chính phủ) và KVTN khác nhau đáng kể giữa các quốc gia Trong các nền kinh tế hỗn hợp, khu vực Chính phủ thường chiếm từ 25 đến 50% GDP Ngược lại, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các giao dịch không có sự hiện diện của cung cầu như hình 1-(a), vì mọi giao dịch đều do Chính phủ kiểm soát thay vì thị trường.
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn kinh tế, làm phức tạp thêm các giao dịch Việc hiểu rõ vị trí và vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường là cần thiết Câu hỏi đặt ra là tại sao cần có sự can thiệp của Chính phủ và thời điểm nào là thích hợp để thực hiện điều này.
Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế
Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi
2.2.1 Nội dung định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi
Kinh tế học Phúc lợi là một lĩnh vực trong lý thuyết kinh tế, tập trung vào việc nghiên cứu mong muốn của xã hội đối với các trạng thái kinh tế khác nhau.
Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi khẳng định rằng trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà các nhà sản xuất và người tiêu dùng chấp nhận giá cả, thì dưới những điều kiện nhất định, nền kinh tế sẽ tự động đạt được phân bổ nguồn lực hiệu quả theo tiêu chuẩn Pareto.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mọi cá nhân đều phải chấp nhận mức giá giống nhau và không thể tác động đến giá cả Các hãng sản xuất lựa chọn phương án sản xuất với tổng chi phí thấp nhất, khi đó đường đẳng lượng tiếp xúc với đường đẳng phí, dẫn đến độ dốc của đường đẳng lượng (MRTSLK) bằng độ dốc của đường đẳng phí (PL/PK) Điều này cho thấy điều kiện hiệu quả sản xuất được thỏa mãn, với MRTS X LK MRTS Y LK = PL/PK Đối với cá nhân, họ tối đa hóa lợi ích tiêu dùng bằng cách để đường bàng quan tiếp xúc với đường ngân sách, tức là độ dốc đường bàng quan (MRSXY) bằng độ dốc đường ngân sách (PX/PY).
PX, PY không đổi nên MRS A XY = MRS B XY = PX/PY hay điều kiện hiệu quả phân phối được thoả mãn
Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, các hãng tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất tại điểm mà chi phí biên bằng giá, tức là MCX = PX và MCY = PY Khi thay thế kết quả này vào điều kiện thứ ba của hiệu quả Pareto, chúng ta có thể phân tích sâu hơn về sự phân bổ tài nguyên trong nền kinh tế.
MRS A XY = MRS B XY = P X /P Y = MC X /MC Y = MRT XY
Hay điều kiện hỗn hợp được thoả mãn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Khi các cá nhân theo đuổi động cơ tối đa hóa lợi ích, phân bổ nguồn lực sẽ đạt hiệu quả Hiệu quả Pareto yêu cầu tỉ số giá giữa các hàng hóa phải tương ứng với tỉ suất chi phí biên của chúng, và thị trường cạnh tranh sẽ đảm bảo điều này Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi phản ánh luận điểm về bàn tay vô hình của A Smith.
2.2.2 Hạn chế của tiêu chuẩn Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học phúc lợi
Tiêu chuẩn Pareto và Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi là những chỉ dẫn quan trọng cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, nhưng chúng cũng bộc lộ bốn hạn chế chủ yếu.
Thứ nhất, Định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi chỉ đúng trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo
Hiệu quả chỉ là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phân bổ nguồn lực, không phải là tiêu chuẩn duy nhất để xác định tính tốt hay xấu của nó.
Thứ ba, tiêu chuẩn Pareto chỉ đưa ra một dấu hiệu tốt về hiệu quả phân bổ nguồn lực trong điều kiện nền kinh tế ổn định
Thứ tư, Định lý cơ bản của kinh tế học Phúc lợi được nghiên cứu trong bối cảnh một nền kinh tế đóng
Các lý do trên đã tạo nên cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế, đó là:
Chính phủ can thiệp để khắc phục thất bại thị trường, nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực
Chính phủ can thiệp để phân phối lại thu nhập và nguồn lực, nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Chính phủ cần can thiệp để duy trì sự ổn định của kinh tế vĩ mô, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các thành phần trong nền kinh tế quốc dân.
Chính phủ đại diện cho quyền lợi quốc gia trên trường quốc tế.
Thất bại thị trường - cơ sở để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế
Thất bại của thị trường xảy ra khi thị trường cạnh tranh không đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở mức mà xã hội mong muốn.
Những trường hợp thất bại thị trường chủ yếu:
Trên thị trường, sự thống trị của một hoặc một số ít hãng có thể dẫn đến tình trạng độc quyền, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh Các công ty nắm giữ quyền lực độc quyền có khả năng tạo ra lợi nhuận siêu ngạch bằng cách tăng giá mà không lo ngại về sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17 mới gia nhập thị trường Do đó cần phải có sự can thiệp của Chính phủ nhằm kiểm soát thị trường một cách chặt chẽ để đảm bảo rằng các rào cản đối với sự gia nhập thị trường không trở thành những phương tiện khuyến khích quyền lực độc quyền
2.3.2 Ngoại ứng Đây là trường hợp xảy ra khi tác động của một giao dịch trên thị trường gây ảnh hưởng đến một đối tượng thứ ba ngoài người bán và người mua, nhưng tác động đó không được tính đến Trong những trường hợp như vậy, cân bằng thị trường sẽ không đạt hiệu quả xã hội, vì lợi ích biên hoặc chi phí biên của tư nhân không nhất quán với lợi ích hoặc chi phí biên mà xã hội chấp nhận Để giúp cho các hoạt động của thị trường đạt mức tối ưu xã hội thì Chính phủ phải can thiệp để buộc các bên tham gia giao dịch thị trường phải tính đến tác động mà mình gây ra cho đối tượng thứ ba
Thị trường không thể cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ do khó khăn trong việc chia nhỏ chúng thành đơn vị tiêu dùng Những hàng hóa này, được gọi là hàng hóa công cộng (HHCC), mang lại lợi ích chung cho tất cả mọi người Đặc điểm nổi bật của HHCC là tính không cạnh tranh, cho phép nhiều người cùng thụ hưởng mà không làm giảm lợi ích của người tiêu dùng hiện tại Quốc phòng là một ví dụ điển hình, vì sự biến động dân số không ảnh hưởng đến an ninh của công dân Thêm vào đó, HHCC còn có tính không loại trừ, nghĩa là khó ngăn cản những người không đóng góp tài chính vẫn được hưởng lợi từ dịch vụ, như trong trường hợp bảo vệ quốc gia.
Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hàng hóa công cộng, vì doanh nghiệp tư nhân không thể hoạt động hiệu quả nếu doanh thu không đủ để bù đắp chi phí.
2.3.4 Thông tin không đối xứng
Người tiêu dùng và nhà sản xuất thường yêu cầu Chính phủ can thiệp vào thị trường do thiếu thông tin về mua sắm và sản xuất Trong một số trường hợp, một bên tham gia thị trường có thông tin chi tiết hơn về sản phẩm so với bên còn lại, dẫn đến hiện tượng thông tin không đối xứng.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trong thị trường y tế, bác sĩ nắm giữ nhiều thông tin về sản phẩm hơn bệnh nhân Ngược lại, trong thị trường bảo hiểm, khách hàng thường hiểu rõ hơn về xác suất rủi ro so với công ty bảo hiểm.
Khó khăn trong việc thu thập thông tin ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của thị trường, dẫn đến việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả Điều này tạo cơ hội cho bên có thông tin đầy đủ hơn lợi dụng lợi thế để thu lợi Sự can thiệp của Chính phủ là cần thiết để bổ sung thông tin cho thị trường và kiểm soát hành vi của những bên có lợi thế thông tin, nhằm đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả.
Sự vận hành chu kỳ của nền kinh tế đã dẫn đến lạm phát và thất nghiệp trở thành vấn đề nghiêm trọng, gây thiệt hại cho xã hội Chính phủ đã chủ động áp dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ nhằm ổn định nền kinh tế và hướng tới mục tiêu toàn dụng nhân công.
Những cơ sở khác cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế
Các nguyên nhân dẫn đến thất bại của thị trường cho thấy thị trường có thể tạo ra những kết cục không hiệu quả Ngay cả khi nền kinh tế hoạt động hiệu quả, Chính phủ vẫn cần can thiệp để giải quyết vấn đề mất công bằng xã hội và quản lý hàng hóa khuyến dụng cũng như phi khuyến dụng.
2.4.1 Mất công bằng xã hội
Thị trường cạnh tranh và hiệu quả Pareto chỉ phản ánh hiệu quả kinh tế mà không đề cập đến phân phối thu nhập, dẫn đến sự bất công trong phân phối tài nguyên Điều này có thể khiến một số nhóm người nghèo không có đủ nguồn lực để sinh sống Do đó, chính phủ cần có trách nhiệm trong việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em và người tàn tật Chính phủ thực hiện các chương trình trợ cấp trực tiếp và đầu tư vào cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường học và trạm xá để cải thiện đời sống cho những người cần giúp đỡ.
2.4.2 Hàng hoá khuyến dụng, phi khuyến dụng
Hàng hoá khuyến dụng là những sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi ích cho cả cá nhân và xã hội, nhưng thường không được tiêu dùng tự nguyện Do đó, Chính phủ cần can thiệp để bắt buộc người dân sử dụng những hàng hoá này nhằm đảm bảo lợi ích chung.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Hàng hoá phi khuyến dụng là những sản phẩm và dịch vụ có thể gây hại cho cá nhân và xã hội, nhưng người tiêu dùng thường không tự nguyện từ bỏ Do đó, Chính phủ cần áp dụng các biện pháp để không khuyến khích hoặc cấm sử dụng những hàng hoá này Tại Việt Nam, rượu và thuốc lá là những hàng hoá phi khuyến dụng được hạn chế, trong khi cờ bạc, ma túy và vũ khí là những loại hàng hoá bị cấm hoàn toàn.
Chức năng, nguyên tắc và những hạn chế trong sự can thiệp của Chính phủ vào nền
Chức năng của Chính phủ
3.1.1 Phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Chính phủ tập trung vào việc phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, đáp ứng mong muốn của xã hội Để đạt được điều này, Chính phủ cung cấp hàng hoá công cộng và điều tiết đầu tư vào các ngành và vùng theo quy hoạch, đồng thời khắc phục các thất bại của thị trường như độc quyền, ngoại ứng và thông tin không đối xứng.
3.1.2 Phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội
Mặc dù thị trường có thể hoạt động hiệu quả, nhưng nó vẫn dẫn đến sự phân phối thu nhập không đồng đều trong xã hội Do đó, chính phủ cần can thiệp để phân phối lại thu nhập một cách công bằng hơn Việc này thường được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chi tiêu, và đôi khi còn thông qua các mệnh lệnh hành chính trực tiếp.
3.1.3 Ổn định kinh tế vĩ mô
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kinh tế, Chính phủ cần ngăn chặn tái diễn các cuộc suy thoái nghiêm trọng như những năm 1930 Để thực hiện điều này, Chính phủ sử dụng các công cụ như chính sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập và giám sát thị trường tài chính Đồng thời, Chính phủ cũng chú trọng vào việc hoạch định các chính sách thúc đẩy tăng trưởng, nhằm ổn định và phát triển thị trường, tránh những thất bại do thị trường gây ra.
3.1.4 Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế
Trong những năm gần đây, thương mại và tài chính quốc tế đã trở nên rất quan trọng Chính phủ đóng vai trò đại diện cho quyền lợi quốc gia trên các diễn đàn quốc tế và đàm phán các hiệp định có lợi cho các quốc gia khác Các lĩnh vực thường xuất hiện trên các diễn đàn kinh tế quốc tế hiện nay bao gồm
Trường Đại học Kinh tế Huế
- Tự do hóa thương mại và đầu tư
-Các chương trình hỗ trợ quốc tế
-Phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô giữa các quốc gia
- Bảo vệ môi trường thế giới.
Nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường
Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Chính phủ cần hướng tới mục tiêu cuối cùng và dài hạn là hỗ trợ, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động một cách hiệu quả hơn.
Khu vực công trong nền kinh tế thị trường cần đóng vai trò là chất xúc tác cho sự phát triển của khu vực tư nhân, nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội Chính phủ cần tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, đồng thời thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật Điều này sẽ đảm bảo sự ổn định kinh tế, an ninh chính trị và trật tự, cũng như công bằng xã hội.
Chính phủ cần ưu tiên các biện pháp can thiệp vào thị trường mà không gây méo mó, nhằm đảm bảo sự tương hợp với cơ chế hoạt động của thị trường.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc tìm kiếm phương pháp can thiệp không gây méo mó thị trường là rất khó khăn Do đó, khi áp dụng nguyên tắc này, cần lựa chọn hình thức can thiệp sao cho ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường nhất.
Những hạn chế của Chính phủ khi can thiệp
3.3.1 Hạn chế do thiếu thông tin
Để một chính sách can thiệp đạt hiệu quả, cần có thông tin đầy đủ về thị trường Tuy nhiên, Chính phủ thường gặp phải tình trạng thiếu thông tin, dẫn đến những can thiệp không chính xác và thiếu thực tiễn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Khi Chính phủ quyết định trợ cấp cho người nghèo, việc thiếu thông tin đầy đủ về tình trạng nghèo đói và nhu cầu cụ thể của từng địa phương có thể dẫn đến việc trợ cấp không đúng đối tượng Điều này không chỉ gây lãng phí ngân sách quốc gia mà còn có thể làm trầm trọng thêm sự phân hóa thu nhập trong xã hội.
3.3.2 Hạn chế do thiếu khả năng kiểm soát phản ứng của cá nhân
Chính phủ thường gặp khó khăn trong việc dự đoán phản ứng của cá nhân trước những thay đổi chính sách mà họ đưa ra Khi sự phản ứng của tư tưởng và hành vi của người dân không được lường trước, điều này có thể dẫn đến những hệ quả không mong muốn trong quá trình thực hiện chính sách.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu môn học
Đối tượng nghiên cứu của môn học
Kinh tế học nghiên cứu về khan hiếm nguồn lực và cách xã hội lựa chọn phân bổ và sử dụng các nguồn lực này Nó trả lời bốn câu hỏi cơ bản liên quan đến việc quản lý và tối ưu hóa nguồn lực khan hiếm.
- Sản xuất như thế nào?
- Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?
Kinh tế công cộng phân tích hành vi của khu vực công và Chính phủ trong việc can thiệp vào nền kinh tế thị trường, nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học từ góc độ lợi ích xã hội.
Hầu hết hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được cung cấp bởi khu vực tư nhân dựa trên tín hiệu giá cả, phản ánh mối quan hệ cung cầu Khi giá tăng, người mua sẵn sàng trả cao hơn để sở hữu hàng hóa, điều này cho thấy nhu cầu tăng lên.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22 nhà sản xuất tư nhân tăng lượng cung ứng cho thị trường, và qua đó sẽ nhận được mức lợi nhuận cao hơn Điều ngược lại sẽ đúng khi giá giảm
Nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là hàng hóa công cộng, không có thị trường rõ ràng, khiến cho tín hiệu giá cả không còn hiệu lực Do đó, khu vực tư nhân thường không tham gia cung cấp những hàng hóa này Tuy nhiên, xã hội cần thiết phải có các dịch vụ như đường xá, sân bay, hải cảng và y tế Vì vậy, Chính phủ cần xem xét việc cung cấp những hàng hóa và dịch vụ này dựa trên lợi ích và chi phí xã hội biên.
4.1.2 Sản xuất như thế nào?
Chính phủ cần thiết lập các cơ chế và chính sách đặc biệt nhằm thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc khai thác và thu lợi nhuận, chẳng hạn như miễn giảm thuế và trợ cấp một phần Một phương pháp hiệu quả là áp dụng hình thức BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) để khuyến khích đầu tư tư nhân, đặc biệt đối với những hàng hóa mà tư nhân có khả năng sinh lợi từ dịch vụ Qua đó, Chính phủ có thể đạt được mục tiêu cung cấp hàng hóa mong muốn, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia.
Ký hợp đồng với khu vực tư nhân để sản xuất hàng hóa theo đơn đặt hàng của Chính phủ là một hình thức sử dụng ngân sách Nhà nước Hình thức này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn khi các sản phẩm được sản xuất bởi tư nhân có năng suất và chất lượng tốt hơn so với doanh nghiệp Nhà nước.
Chính phủ nên trực tiếp sản xuất thông qua doanh nghiệp Nhà nước khi khu vực công có ưu thế hơn khu vực tư nhân.
Trong khu vực tư nhân, các doanh nghiệp thường không chú trọng đến công bằng xã hội vì nó không trực tiếp gia tăng lợi nhuận Do đó, trách nhiệm đảm bảo công bằng xã hội thuộc về Chính phủ Chính vì vậy, trong nhiều chính sách của Chính phủ, công bằng xã hội luôn được ưu tiên hàng đầu.
4.1.4 Các quyết định kinh tế được đưa ra như thế nào?
Trong khu vực tư nhân, các quyết định thường mang tính cá nhân hoặc tập thể nhỏ nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Ngược lại, trong khu vực công cộng, quyết định được đưa ra bởi chủ sở hữu xã hội (người dân) hoặc các đại diện được bầu chọn, như các nhà chính trị điều hành Chính phủ Sự khác biệt chính giữa hai khu vực này là tính chất tập thể trong việc ra quyết định ở khu vực công cộng.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23 những quyết định này rất cao Các nhóm người do Chính phủ đại diện lại rất khác nhau về quyền lợi, mục đích theo đuổi Do đó, quyết định của khu vực công là một quá trình lựa chọn công cộng rất phức tạp, thường xuyên có xung đột về lợi ích, đòi hỏi phải có cơ chế điều hoà.
Nội dung nghiên cứu môn học
Kinh tế công cộng tập trung vào ba khía cạnh chính sau:
Khu vực công cộng tham gia vào nhiều hoạt động kinh tế, và việc tổ chức các hoạt động này cần được phân tích kỹ lưỡng Môn học sẽ tập trung vào việc đánh giá các hình thức can thiệp của Chính phủ và xem xét tính hợp lý của những can thiệp này trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Việc tìm hiểu và dự đoán tác động của chính sách Chính phủ là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong đời sống xã hội Dự kiến phản ứng của các thành viên trong xã hội trước sự thay đổi của môi trường pháp lý giúp hiểu rõ hơn về những thay đổi này.
Đánh giá các phương án chính sách yêu cầu hiểu rõ tác động của chúng và thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá Trước tiên, cần xác định mục tiêu của chính sách, sau đó đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của phương án đề xuất Bên cạnh đó, cần xem xét các tác động phụ dự kiến từ mỗi phương án chính sách.
CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ PHÂN BỔ LẠI NGUỒN LỰC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ
Độc quyền
1.1.Độc quyền thường Độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có loại hàng hoá nào thay thế gần gũi Tuy nhiên, trên thực tế thì không có độc quyền thường, vì hàng hoá nói chung ít nhiều có sản phẩm thay thế
1.1.1 Nguyên nhân xuất hiện độc quyền
Độc quyền xuất hiện từ quá trình cạnh tranh, nơi các doanh nghiệp kém hiệu quả và có quyết định sai lầm sẽ bị thôn tính bởi những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Khi một doanh nghiệp vượt trội đánh bại các đối thủ và chiếm lĩnh thị phần, hiện tượng độc quyền sẽ xảy ra, dẫn đến sự đào thải những doanh nghiệp yếu kém khỏi thị trường.
- Do được Chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường Nhiều hãng trở thành độc quyền nhờ Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào nào đó
Trường Đại học Kinh tế Huế
Chính phủ thường thiết lập cơ chế độc quyền Nhà nước cho những ngành được xem là chủ đạo của quốc gia, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định cho các lĩnh vực này.
Chế độ bản quyền bảo vệ quyền lợi của các nhà phát minh và sáng chế, khuyến khích họ đầu tư vào nghiên cứu và phát triển Điều này không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn cải thiện đời sống tinh thần cho xã hội Tuy nhiên, các quy định này cũng tạo ra một vị thế độc quyền lớn cho người sở hữu bản quyền, mặc dù vị thế này không phải là vĩnh viễn.
Việc sở hữu nguồn lực đặc biệt giúp người nắm giữ có được vị thế độc quyền trên thị trường.
Nam Phi sở hữu những mỏ kim cương lớn nhất thế giới, mang lại cho quốc gia này lợi thế gần như độc quyền trong việc khai thác và bán kim cương, điều mà các quốc gia khác không thể đạt được.
Việc mở rộng sản xuất giúp giảm giá thành, đặc biệt trong ngành có lợi tức tăng dần theo quy mô Điều này dẫn đến sự không hiệu quả khi nhiều hãng cùng cung cấp một dịch vụ Các hãng đã có mặt trên thị trường có khả năng liên tục giảm giá khi mở rộng sản xuất, tạo ra hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các hãng mới Tình huống này được gọi là độc quyền tự nhiên.
Ví dụ: Các ngành cung cấp điện, nước, ngành đường sắt…
1.1.2 Tổn thất phúc lợi do độc quyền thường gây ra
Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận trong độc quyền là hãng sẽ sản xuất tại điểm MR
Trong thị trường độc quyền, mức giá được xác định tại điểm mà chi phí biên (MC) không bằng giá (P), khác với thị trường cạnh tranh nơi P = MC Điều này cho phép các doanh nghiệp độc quyền bán sản phẩm với giá cao hơn và sản lượng thấp hơn so với thị trường cạnh tranh, từ đó thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Thị trường độc quyền, như mô tả trong Hình 8, cho thấy rằng khi không có sự can thiệp của nhà nước, hàng độc quyền sẽ sản xuất tại mức Q0 và bán với giá P, tạo ra lợi nhuận siêu ngạch tương ứng với diện tích PEE0P0 Tuy nhiên, mức sản lượng này không đạt hiệu quả tối ưu, vì tại Q0, lợi ích biên (MB) vẫn lớn hơn chi phí biên (MC).
Đường cầu thể hiện mức giá tối đa mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho một đơn vị hàng hóa bổ sung Đây là số tiền tối đa mà họ chấp nhận chi trả mà không cảm thấy thiệt hại Theo định nghĩa về lợi ích biên, mức giá này cũng chính là lợi ích biên (MB) từ việc tiêu dùng hàng hóa.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34 hóa tạo ra Vì thế, đường cầu cũng chính là đường lợi ích xã hội biên (MSB) Vậy, điểm sản xuất hiệu quả phải là Q0, tại đó MB = MC Đây cũng chính là mức sản lượng sẽ được sản xuất nếu thị trường này là cạnh tranh hoàn hảo
Thặng dư sản xuất S(PEE0F) S(P1E1F)
Thặng dư tiêu dùng S(SEP) S(SE1P1)
Lợi ích xã hội S(SFE0E) S(SE1F)
Tổn thất do độc quyền S(EE0E1)
Nếu doanh nghiệp độc quyền sản xuất tại mức sản lượng Q0, xã hội sẽ chịu tổn thất một mức lợi ích ròng tương ứng với diện tích tam giác EE0E1.
1.1.3 Các giải pháp can thiệp của Chính phủ
Mục tiêu của can thiệp Chính phủ trong việc chống độc quyền là tăng sản lượng từ Q0 lên Q1 và giảm giá từ P xuống P1, nhằm loại bỏ tổn thất phúc lợi xã hội.
Để đối phó với nguy cơ xuất hiện hành vi độc quyền trên thị trường, việc ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền là rất cần thiết Các chính sách này bao gồm những điều luật nhằm ngăn chặn các hành vi không công bằng và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35 định (như cấm các hãng cấu kết để cùng nâng giá), hoặc hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định Biện pháp này thường được sử dụng ở những nước có thị trường phát triển, nhằm điều tiết những hãng lớn, chiếm một thị phần rất lớn
Ngoại ứng
2.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm
Ngoại ứng xảy ra khi hành động của một đối tượng, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến phúc lợi của một đối tượng khác mà không được phản ánh trong giá cả thị trường.
Trường Đại học Kinh tế Huế
- Ngoại ứng tiêu cực: là những chi phí được áp đặt lên một đối tượng thứ ba
(ngoài người mua và người bán trên thị trường), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường
Một ví dụ điển hình về ngoại ứng tiêu cực là ô nhiễm môi trường do các nhà máy gây ra Khi một nhà máy xả thải vào dòng sông, nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống xung quanh mà còn làm giảm lợi nhuận từ hoạt động đánh cá Đáng chú ý, nhà máy không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại này, dẫn đến việc chi phí sản xuất không bao gồm các tổn thất mà họ gây ra.
Ngoại ứng tích cực là những lợi ích mà bên thứ ba nhận được, không chỉ giới hạn giữa người bán và người mua, và những lợi ích này không được thể hiện trong giá cả thị trường.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin không chỉ mang lại lợi nhuận lớn cho các công ty máy tính mà còn tạo ra sự tiện lợi cho người dùng, đồng thời cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy những cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống.
2.1.3 Đặc điểm của ngoại ứng
- Ngoại ứng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra
- Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay mang lại lợi ích) cho ai nhiều khi chỉ mang tính tương đối
- Sự phân biệt giữa tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại ứng chỉ là tương đối
Tất cả các ngoại ứng đều không hiệu quả từ góc độ xã hội Khi có ngoại ứng, chi phí và lợi ích mà thị trường xác định không tương ứng với chi phí và lợi ích mà xã hội chấp nhận, dẫn đến sản lượng tối ưu của thị trường không phù hợp với sản lượng tối ưu của xã hội.
2.2.1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực
Trong một ví dụ về sự tương tác giữa một nhà máy sản xuất bột giấy và một hợp tác xã đánh cá, cả hai đều sử dụng chung một cái hồ Nhà máy xả thải vào hồ, dẫn đến việc cá chết và ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt của HTX Để tối ưu hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng Q0 với giá P0, tại điểm cân bằng A (MPC = MB) Tuy nhiên, mức sản lượng tối ưu cho xã hội lại khác biệt.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39 hội là Q * ứng với mức giá là P * , điểm cân bằng là B (MSC = MB) Vì vậy tại mức Q0 sẽ gây tổn thất cho xã hội một lượng bằng diện tích hình ABC
Hình 10: Ngoại ứng tiêu cực
MPC: chi chí biên của nhà máy
MEC: chi phí mà nhà máy gây thiệt hại cho HTX
MSC: chi phí biên của xã hội
MB: lợi ích biên của nhà máy
Q0: sản lượng tối ưu về thị trường (MB = MPC)
Q * : sản lượng tối ưu về xã hội (MB = MSC)
Như vậy khi ngoại ứng tiêu cực xảy ra thị trường có xu hướng sản xuất nhiều hơn so với mức hiệu quả tối ưu pareto (Q * < Q0)
Chúng ta có thể xác định mức tổn thất phúc lợi xã hội bằng công thức:
Tổn thất phỳc lợi xó hội = S∆ABC = ẵ ∆Q x (MSC(Q0) – MPC(Q0))
2.2.2 Giải pháp khắc phục ngoại ứng tiêu cực
Trường Đại học Kinh tế Huế
Giải pháp của Chính phủ nhằm giảm sản xuất của các hãng, từ đó giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sản lượng tối ưu xã hội, cụ thể là giảm sản lượng từ mức Q0 xuống Q* Điều này sẽ giúp giảm bớt tổn thất xã hội.
Thuế Pigou là loại thuế áp dụng cho mỗi đơn vị sản phẩm do các hãng gây ô nhiễm, với mức thuế tương đương với chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu xã hội.
Hình 11: Đánh thuế đối với ngoại ứng tiêu cực
Hình 11 thể hiện các đường chi phí và lợi ích từ hình 10, trong đó MEC tại mức sản lượng tối ưu xã hội là đoạn aQ * hay đoạn AE Khi áp dụng thuế, đường MPC của nhà máy dịch chuyển song song lên thành MPC + t Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà máy sẽ sản xuất tại điểm Q * khi MB = MPC + t, đáp ứng mong muốn của xã hội Chính phủ thu được doanh thu thuế bằng thuế t nhân với sản lượng Q *, tương ứng với diện tích tô đậm trong Hình 11.
Chính phủ sẽ sử dụng thuế này để bồi thường cho bên chịu tác động ngoại ứng
Trường Đại học Kinh tế Huế
- Không khuyến khích nhà sản xuất giảm sản lượng sẽ dẫn đến tăng giá và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Khó xác định chính xác mức thuế suất
Trong bối cảnh số lượng người gây ô nhiễm là cố định, việc trả tiền cho họ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường có thể giúp đạt được sản lượng hiệu quả Mặc dù phương pháp này có vẻ lạ lẫm ban đầu, nhưng nó thực chất hoạt động tương tự như việc áp dụng thuế.
Hình 12: Trợ cấp đối với ngoại ứng tiêu cực
Khi nhà máy ngừng sản xuất một đơn vị sản lượng, Chính phủ sẽ trợ cấp cho họ một khoản bằng MEC tại Q* Nhà máy sẽ xem xét lợi ích biên ròng từ việc sản xuất thêm một đơn vị so với mức trợ cấp nếu không sản xuất Nếu trợ cấp lớn hơn lợi ích biên ròng, nhà máy nên ngừng sản xuất Lợi ích biên ròng được xác định bởi khoảng cách giữa hai đường MB và MPC Như hình 12 cho thấy, từ Q* đến Q0, lợi ích biên ròng của nhà máy thấp hơn mức trợ cấp, do đó nhà máy sẽ không sản xuất các đơn vị này khi có trợ cấp.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Đối với các đơn vị sản lượng từ Q0 trở xuống, lợi ích biên ròng lớn hơn khiến chính sách trợ cấp trở nên kém hấp dẫn với nhà máy, dẫn đến việc ngừng sản xuất tại Q0 Để tài trợ cho trợ cấp, Chính phủ sẽ phải tăng thuế, điều này có thể gây ra sự phi hiệu quả ở các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Sự phi hiệu quả do thuế gây ra có thể không nhỏ hơn phi hiệu quả từ ngoại ứng Tuy nhiên, giải pháp này vẫn được áp dụng trong thực tiễn, như chương trình định canh định cư nhằm hạn chế nạn phá rừng.
Chính phủ sẽ bán giấy phép cho phép các nhà sản xuất được xả một lượng phế thải
Z* đại diện cho lượng phế thải phát sinh trong quá trình sản xuất tại Q* Các công ty sẽ tham gia đấu giá để mua giấy phép xả thải, và công ty nào đưa ra mức giá cao nhất sẽ được cấp giấy phép Giá của những giấy phép này sẽ đạt mức cân bằng thị trường, đảm bảo lượng ô nhiễm tương ứng với mục tiêu mà Chính phủ đề ra Mức giá cân bằng cho các giấy phép xả thải được gọi là phí xả thải.
Chính phủ có thể cấp giấy phép xả thải miễn phí cho các công ty, đồng thời cho phép các công ty này trao đổi và mua bán giấy phép với nhau.
* Kiểm soát trực tiếp bằng mức chuẩn thải
Chính phủ yêu cầu mỗi hàng gây ô nhiễm chỉ được gây ô nhiễm ở một mức nhất định gọi là mức chuẩn thải, nếu không sẽ bị buộc đóng cửa
Cách làm này thường không có hiệu quả khi có nhiều hãng cùng gây ô nhiễm, nhưng mỗi hãng có khả năng giảm ô nhiễm với các chi phí khác nhau
* Quy định quyền sở hữu tài sản
Hàng hoá công cộng
3.1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng
3.1.1.Khái niệm hàng hoá công cộng và hàng hoá cá nhân
Hàng hoá công cộng là những sản phẩm và dịch vụ mà mỗi đơn vị sản xuất ra được sử dụng chung trong xã hội Việc tiêu dùng của một cá nhân không ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của người khác.
Ví dụ: An ninh quốc phòng, chiếu sáng công cộng, công viên, truyền hình…
Hàng hoá cá nhân là những sản phẩm được sản xuất và định giá bởi từng đơn vị, sau đó được bán trên thị trường Sự tiêu dùng của một cá nhân có thể tác động đến thói quen tiêu dùng của những người khác.
Ví dụ: Bánh mỳ, sách vở, máy tính…
3.1.2 Thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng
Hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, nghĩa là việc thêm một người sử dụng không làm giảm lợi ích của những người tiêu dùng hiện tại Do đó, việc tăng số lượng người tiêu dùng không làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến chi phí biên phục vụ thêm một người sử dụng hàng hóa công cộng bằng 0 (MC = 0) Vì vậy, việc định giá cho những hàng hóa này trở nên vô nghĩa và không khả thi.
Các chương trình truyền thanh và truyền hình không cạnh tranh trong tiêu dùng, cho phép nhiều người theo dõi cùng một lúc mà không ảnh hưởng đến nhau Việc một người mở hoặc tắt đài vô tuyến không làm giảm mức độ tiêu dùng của những người khác.
Hàng hoá công cộng không thể loại trừ trong tiêu dùng, dẫn đến việc khó khăn hoặc tốn kém trong việc ngăn chặn những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng Điều này khiến cho nhu cầu sử dụng hàng hoá công cộng gia tăng mà không có sự đóng góp tài chính từ những người tiêu dùng này, tạo ra vấn đề "kẻ ăn không".
An ninh quốc phòng là một dịch vụ công mà mọi người đều được hưởng, ngay cả khi không đóng thuế Những người không chịu trả thuế vẫn có thể nhận được lợi ích từ an ninh quốc phòng, và việc giam giữ họ cũng không ngăn cản việc này.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 46 phát sóng thì bất kể ai có phương tiện thu thanh đều có thể thưởng thức các chương trình này, cho dù họ không trả đồng nào cho đài phát thanh
3.1.3 Phân loại hàng hoá công cộng
Hàng hoá công cộng thuần tuý là loại hàng hoá sở hữu đầy đủ hai thuộc tính của hàng hoá công cộng Khi một lượng hàng hoá công cộng nhất định được cung cấp cho một cá nhân, nó sẽ ngay lập tức có thể được tiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng.
Ví dụ: Phát thanh truyền hình, đèn hải đăng, quốc phòng…
Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng dịch vụ là 0 Ví dụ, chi phí biên để cung cấp một ngọn đèn hải đăng là P đồng Khi ngọn đèn đã được xây dựng và bật sáng, chi phí phục vụ cho một hay nhiều con tàu trên vùng biển đó đều giống nhau.
Chi phí biên để sản xuất hàng hóa công cộng (HHCC) vẫn lớn hơn 0, tương tự như các hàng hóa khác, do việc sản xuất thêm HHCC yêu cầu sử dụng thêm nguồn lực xã hội Ví dụ, nếu cần xây dựng thêm một ngọn đèn hải đăng, sẽ tốn thêm P đồng, và chi phí biên cho việc xây dựng đèn được thể hiện trong hình 14-b.
* Hàng hoá công cộng không thuần tuý: là loại hàng hoá chỉ có một trong hai thuộc tính của HHCC và có ở những mức độ khác nhau
Ví dụ: Truyền hình cáp, các trận bóng đá…
Chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng một lượng hàng hoá công cộng thuần tuý
Chi phí biên để sản xuất hàng hoá công cộng thuần tuý
Số người sử dụng Đơn vị hàng hoá công cộng thuần tuý
Hình 14: Chi phí biên sản xuất và tiêu dùng HHCC thuần tuý
Trường Đại học Kinh tế Huế
Tùy thuộc vào mức độ tạo ra ngoại ứng trong sản xuất hoặc tiêu dùng hàng hóa, cũng như khả năng thiết lập cơ chế mua bán quyền sử dụng hàng hóa, hàng hóa có thể được chia thành hai loại không thuần túy.
Hàng hoá công cộng có thể dẫn đến tình trạng tắc nghẽn khi có nhiều người cùng sử dụng, gây ra sự ùn tắc và làm giảm lợi ích của người tiêu dùng.
Chi phí biên phục vụ cho những người tiêu dùng tăng thêm sẽ không còn bằng 0 sau một giới hạn nhất định, mà bắt đầu tăng dần, như được thể hiện trong hình.
15 Điểm giới hạn đó được gọi là điểm tắc nghẽn
Trong hình 15, điểm Q * là điểm tắc nghẽn Nếu như số người tiêu dùng nhỏ hơn
Khi số lượng hàng hóa công cộng đạt mức Q*, không xảy ra tình trạng tắc nghẽn và nhu cầu của người tiêu dùng được đáp ứng đầy đủ Tuy nhiên, nếu số lượng người tiêu dùng vượt quá Q*, một số hàng hóa công cộng sẽ không đủ để thỏa mãn nhu cầu, dẫn đến sự cạnh tranh giữa các cá nhân tiêu dùng.
Ví dụ: Những con đường dẫn vào trung tâm thành phố trong giờ cao điểm
Hàng hóa công cộng có thể loại trừ, hay còn gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, là những sản phẩm mà lợi ích mà chúng mang lại có thể được định giá.
Ví dụ: Những cây cầu, con đường có trạm thu phí, công viên thu vé vào cửa …