Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện toàn cầu hoá

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế công cộng (Trang 112 - 117)

CHƯƠNG 4: CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HOÁ

2. Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong điều kiện toàn cầu hoá

2.2. Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô trong điều kiện toàn cầu hoá

Toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với việc nền kinh tế nội địa phải tham gia vào các quan hệ với thị trường vốn quốc tế. Do đó, chính sách kinh tế vĩ mô không chỉ phụ thuộc vào những biến số trong nước mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, điều đó được thể hiện thông qua tác động của sự chu chuyển vốn quốc tế và tỷ giá hối đoái của mỗi quốc gia.

* Chu chuyển vốn hoàn hảo: diễn ra khi các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán tài sản ở bất kỳ nước nào một cách nhanh chóng, với chi phí thấp và số lượng không hạn chế tại mức lãi suất quốc tế hiện hành.

* Chu chuyển vốn không hoàn hảo: diễn ra khi các tài sản trong và ngoài nước không hoàn toàn thay thế được cho nhau hoặc việc chu chuyển của các luồng vốn bị hạn chế.

Trong điều kiện toàn cầu hóa chúng ta giả định vốn sẽ được chu chuyển hoàn hảo, chỉ tập trung vào phân tích trường hợp một nền kinh tế nhỏ, tức là một nền kinh tế không có khả năng ảnh hưởng đến lãi suất quốc tế. Do vậy trong mô hình phân tích, lãi suất quốc tế được coi là một biến ngoại sinh.

Để đưa thêm vào tác động của các luồng chu chuyển vốn quốc tế vào một nền kinh tế nhỏ, mở cửa cần bắt đầu với sự mô tả sơ qua về thị trường ngoại hối. Chênh lệch cung cầu ngoại hối gọi là cán cân thanh toán.

* Cán cân thanh toán

BoP = (X + CI) - (IM + CO) = (X - IM) + (CI - CO) Trong đó:

X: Lượng xuất khẩu của quốc gia.

CI: Các nguồn vốn vào.

IM: Nhập khẩu của quốc gia đó.

CO: Các nguồn vốn ra.

X - IM: Xuất khẩu ròng (cán cân tài khoản vãng lai) CI - CO: Chu chuyển vốn ròng (cán cân tài khoản vốn)

- Đường BoP: là đường cân bằng cán cân thanh toán, hay quỹ tích tất cả mọi sự kết hợp giữa lãi suất (i) với sản lượng (Y) làm thị trường ngoại hối cân bằng.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 109 if: lãi suất thế giới.

id: lãi suất trong nước.

Đường BoP có các trường hợp:

BoP = 0: Cân bằng cán cân thanh toán (if =id) BoP < 0: Thâm hụt cán cân thanh toán (If >id) BoP > 0: Thặng dư cán cân thanh toán (if <id) Tỷ giá hối đoái:

- Chế độ tỷ giá cố định: Chính phủ cam kết duy trì một tỷ giá định trước. Bất cứ khi nào sự biến động của nền kinh tế có nguy cơ đe dọa phá vỡ tỷ giá cam kết thì Chính phủ sẽ mua vào hoặc bán ra dự trữ ngoại tệ để đưa tỷ giá quay về mức ban đầu.

- Chế độ tỷ giá thả nổi: Tỉ giá sẽ do thị trường tự điều tiết và Chính phủ không can thiệp.

2.2.1. Đối với nền kinh tế nhỏ và áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi.

* Chính sách tài khoá mở rộng

Giả sử nền kinh tế lúc đầu ở trạng thái cân bằng cán cân thanh toán E0. Chính phủ muốn tăng chi tiêu trong nước bằng cách tăng mua sắm của Chính phủ hoặc giảm thuế. Đường IS sẽ dịch chuyển lên vị trí cân bằng mới là E1, tại đó lãi suất trong nước cao hơn lãi suất quốc tế. Do đó đã kích thích một luồng vốn vào mới để cân bằng lãi suất. Lúc này cung ngoại hối sẽ lớn hơn cầu ngoại hối sẽ làm cho đồng nội tệ lên giá dẫn tới xuất khẩu giảm nhập khẩu tăng. Với hai xu hướng trên sẽ làm tổng cầu giảm và đường IS dịch chuyển sang trái, quá trình này sẽ vẫn tiếp diễn cho đến khi lãi suất trong nước trở lại vị trí cũ và điểm cân bằng dịch chuyển về E0. Dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo, chính sách tài khoá trở nên vô hiệu.

id = if

BoP = 0

0 Y i

BoP < 0 BoP > 0

Hình 38: Đường BoP

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 110

* Chính sách tiền tệ mở rộng:

Giả sử nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tại điểm E0. Nếu Chính phủ áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng, sẽ làm cung tiền tăng lên. Đường LM dịch chuyển sang LM1 và điểm cân bằng mới là E1. Tại đây, lãi suất sẽ thấp hơn lãi suất cân bằng quốc tế (id < if) dẫn đến cung ngoại hối giảm và tỉ giá danh nghĩa tăng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.

Tỉ giá tăng sẽ kích thích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu dẫn đến tổng cầu tăng đường IS dịch chuyển sang phải và quá trình này diễn ra cho đến khi mức lãi suất trở về mức cân bằng với mức lãi suất quốc tế và điểm cân bằng mới là E2.

(2) (1)

LM

IS1

IS0

E1

E0 BoP = 0

id = if

0 Y

i

Y0

Hình 39: Tác động của chính sách tài khoá mở rộng dưới chế độ tỷ giá thả nổi

BoP = 0 LM0

E2

E0

id = if

0 Y0 Y1 Y

IS1

IS0

LM1

Hình 40 : Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng dưới chế độ tỷ giá thả nổi

i

E1

(2) (1)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 111 Chính sách tiền tệ mở rộng tác động tới sản lượng thông qua việc thay đổi tỉ giá hối đoái, chứ không phải lãi suất.

2.2.2. Đối với nền kinh tế nhỏ và áp dụng tỷ giá hối đoái cố định.

* Chính sách tài khoá mở rộng:

Giả sử Chính phủ quyết định sử dụng chính sách tài khoá mở rộng. Chính sách này đã làm dịch chuyển đường IS sang phải.

Nền kinh tế trong nước có sự gia tăng sản lượng quốc tế cùng với lãi suất. Lãi suất trong nước cao hơn lãi suất quốc tế sẽ thu hút các nhà đầu tư, vốn nước ngoài chảy vào trong nước, dẫn đến cung tiền ngoại hối tăng lên giống như trường hợp tỷ giá thả nổi. Nhưng Chính phủ cam kết cố định tỷ giá nên ngân hàng trung ương phải tung tiền nội tệ để mua ngoại tệ làm cho đường LM dịch chuyển sang phải, điểm cân bằng mới là E2.

Như vậy ngược lại với trường hợp tỷ giá thả nổi, sự mở rộng tài khoá trong điều kiện cố định tỷ giá làm tăng tổng cầu và chính sách tài khoá đã phát huy tác dụng lớn nhất.

* Chính sách tiền tệ mở rộng

Nếu Chính phủ quyết định thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm cho cung tiền tăng làm đường LM dịch chuyển sang phải tới điểm cân bằng E1, lãi suất trong nước giảm thấp hơn lãi suất quốc tế khiến cho luồng vốn chuyển ra nước ngoài gây ra hiện tượng thiếu cung ngoại hối, đồng nội tệ mất giá. Ngân hàng trung ương phải bán

(2) (1)

BoP = 0 E2

E1

E0

LM1

LM0

IS1

IS0

Y1

Y0

0 id = if

Y i

Hình 41: Tác động của chính sách tài khoá mở rộng dưới chế độ tỉ giá cố định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 112 ngoại tệ để duy trì tỷ giá cố định. Dưới chế độ tỷ giá cố định chính sách tiền tệ hoàn toàn vô hiệu.

Tóm lại, tác dụng của chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng trong điều kiện một nền kinh tế nhỏ, mở cửa và chu chuyển vốn hoàn hảo được tổng kết trong bảng sau:

Chế độ tỷ giá Chính sách tài khóa mở rộng Chính sách tiền tệ mở rộng

Tỷ giá cố định

Sản lượng tăng Lãi suất không đổi Tỷ giá cố định

Sản lượng không đổi Lãi suất không đổi Tỷ giá cố định Tỷ giá thả nổi

Sản lượng không đổi Lãi suất không đổi Tỷ giá giảm

Sản lượng tăng Lãi suất không đổi Tỷ giá tăng

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập Chính phủ các quốc gia vẫn có thể sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ để ổn định và phát triển kinh tế. Nhưng phải lưu ý hai vấn đề sau:

 Không thể đồng thời cùng một lúc thực hiện 3 mục tiêu là duy trì tỷ giá hối đoái cố định, chu chuyển vốn tự do và duy trì chính sách tiền tệ độc lập.

 Khi mức độ liên kết ở cấp cao, các quốc gia không thể độc lập trong việc sử dụng các công cụ chính sách tài khóa và tiền tệ để ổn định nền kinh tế mà phải có sự phối hợp với nhau trong việc thực thi các chính sách.

BoP = 0 (2)

(1) LM1

LM0

IS E1

E0

0 Y0 Y

id = if

i

Hình 42: Tác động của chính sách tiền tệ mở rộng dưới chế độ tỷ giá cố định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế công cộng (Trang 112 - 117)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)