Nhóm công cụ chính sách tạo cơ chế thúc đẩy thị trường

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế công cộng (Trang 139 - 142)

CHƯƠNG 6: CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CHỦ YẾU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

2. Nhóm công cụ chính sách tạo cơ chế thúc đẩy thị trường

2.1. Tự do hoá thị trường.

2.1.1. Nới lỏng sự điều tiết.

Chính phủ có thể tham gia rất sâu vào việc điều tiết thị trường thông qua các quy định về giá cả, sự gia nhập hoặc rời bỏ ngành. Sự can thiệp đó của Chính phủ thường được xây dựng dựa trên những lý do như để hạn chế hành vi tìm kiếm đặc lợi của một số doanh nghiệp trong ngành (như đối với độc quyền tự nhiên chẳng hạn), để đảm bảo công bằng xã hội hoặc để nuôi dưỡng một số ngành chiến lược (như trong bảo hộ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 136 thương mại). Tuy nhiên, những thay đổi nhanh chóng về công nghệ hoặc sở thích của người tiêu dùng có thể làm thay đổi cơ cấu của ngành và do đó làm cho tính hợp lý của những luận cứ trên không còn đúng nữa. Điều này có thể thấy rõ trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Xu thế toàn cầu hoá, những lợi ích to lớn của thương mại tự do và tác dụng của công nghệ thông tin làm giảm mạnh chi phí giao dịch, tất cả những điều đó đã làm cho luận cứ bảo hộ các ngành sản xuất trong nước bằng hàng rào thương mại ngày càng có ít giá trị. Kết quả là, tự do hoá thương mại đã trở thành một trào lưu không thể đảo ngược.

Tuy nhiên, cũng cần lường trước những hậu quả của việc nới lỏng sự điều tiết.

Trước hết đó là sự chống đối của những đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ sự điều tiết trên. Mỗi quyết định nới lỏng sự điều tiết đều hàm chứa những ý nghĩa phân phối rất khác nhau. Vì thế, trước khi tiến hành nới lỏng sự điều tiết, cần phải xây dựng một lực lượng mạnh mẽ, ủng hộ sự cải cách và phải chứng minh được một cách thuyết phục về lợi ích xã hội của việc giảm bớt điều tiết. Thứ hai, mỗi ngành đều chịu sự điều tiết của nhiều quy định khác nhau. Vì thế việc nới lỏng sự điều tiết không có nghĩa là bãi bỏ đồng loạt tất cả mọi quy định trong ngành.

2.1.2. Hợp thức hoá.

Hợp thức hoá ở đây là muốn nói đến việc giảm thiểu xu hướng hình sự hoá các giao dịch kinh tế. Động lực chính của việc hợp thức hoá này thường bắt nguồn từ việc thay đổi thái độ xã hội đối với những hành vi nhất định, qua đó chuyển dần từ các hình thức trừng phạt theo kiểu hình sự (bỏ tù, tịch thu tài sản,…) sang các hình thức điều tiết bằng kinh tế (bồi thường, nộp phạt, thể chế hoá…).

2.1.3. Đa dạng hoá các loại hình cung cấp hàng hoá dịch vụ.

Thuật ngữ đa dạng hoá ở đây có thể được hiểu theo nhiều cách:

 Việc chuyển từ cung cấp hàng hoá công cộng miễn phí sang thu phí sử dụng.

 Thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia cung cấp hàng hoá dịch vụ bằng cách chuyển những hàng hoá dịch vụ trước đây vẫn do các cơ quan Nhà nước cung cấp sang hình thức ký hợp đồng thuê khu vực tư nhân (thuê ngoài).

 Việc bán khoán, cho thuê, cổ phần hoá… các doanh nghiệp Nhà nước.

 Phi độc quyền hoá (tức là mở cửa những ngành trước đây vẫn do doanh nghiệp Nhà nước tham gia và cạnh tranh).

2.2. Hỗ trợ sự hình thành thị trường.

2.2.1. Xác lập quyền về tài sản đối với những hàng hoá hiện có.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 137 Trong chương 2, chúng ta đã đề cập đến việc chuyển giao quyền về tài sản cho một trong các bên tham gia giao dịch thị trường để nội hoá các ngoại ứng. Đây chính là thí dụ điển hình về chính sách can thiệp thuộc loại này. Tuy nhiên, cũng cần nhắc lại hạn chế của Định lý Coase là giải pháp này chỉ thực hiện được nếu việc thiếu vắng quyền về tài sản là do hạn chế về mặt thể chế (chẳng hạn như việc giao đất, giao rừng).

Còn nếu là do bản chất của hàng hoá không thể xác lập được quyền về tài sản (thí dụ như đối với không khí, các luồng cá ngoài biển khơi…) thì giải pháp này không thực hiện được. Ngay cả khi việc xác lập quyền về tài sản là khả thi thì để thực hiện điều đó cũng cần giải quyết hàng loạt những rào cản khác nữa về mặt pháp lý, hành chính, chính trị, xã hội và tác động về mặt phân phối của việc trao quyền tài sản.

2.2.2. Tạo ra những hàng hoá mới có thể trao đổi trên thị trường.

Cũng như trong phần bàn về các biện pháp khắc phục ngoại ứng trong chương 2, giải pháp hình thành thị trường về giấy phép xả thải nhằm đảm bảo phân bổ hạn ngạch xả thải giữa các doanh nghiệp với tổng chi phí thấp nhất đã được đề xuất. Trong một hệ thống như vậy, các doanh nghiệp sẽ tối đa hoá lợi nhuận bằng cách hạn chế việc xả thải của mình ở mức mà giá mua thêm một giấy phép xả thải đúng bằng chi phí biên của việc hạn chế ô nhiễm. Nếu tất cả các doanh nghiệp được mua bán tự do giấy phép xả thải thì mỗi doanh nghiệp đều sẽ đứng trước một mức giá như nhau đối với đơn vị ô nhiễm cuối cùng và sẽ không thể tìm được cách nào rẻ hơn để đáp ứng mục tiêu đã định về tổng mức ô nhiễm tối ưu xã hội.

2.3. Mô phỏng thị trường.

Trong trường hợp không thể đảm bảo một sự cạnh tranh thực sự trong thị trường thì Chính phủ vẫn có thể can thiệp để tạo ra sự cạnh tranh giành thị trường. Cụ thể hơn, các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh với nhau dưới hình thức đấu thầu hoặc đấu giá để được quyền cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ. Hình thức này đặc biệt quan trọng trong những trường hợp Chính phủ trao nhượng quyền kinh doanh cho một doanh nghiệp nào đó (như trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên hay cung cấp các dịch vụ công ích). Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này, cần nhận thức được những nguy cơ tiềm ẩn của nó:

Thứ nhất, vì những doanh nghiệp giành được nhượng quyền kinh doanh sẽ có vị thế độc quyền hoặc gần như độc quyền nên họ sẽ có động cơ và cơ hội để bỏ giá thầu thấp nhằm giành được nhượng quyền, rồi sau đó gian dối chất lượng cung cấp hàng hoá. Do đó, đi kèm theo giải pháp này, Chính phủ cần tăng cường công tác kiểm tra

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 138 giám sát chất lượng, hoặc đề ra những quy định chi tiết về kỹ thuật buộc nhà thầu phải tuân thủ.

Thứ hai, nếu số lượng nhà thầu tham gia đấu thầu ít thì có nguy cơ hình thành thị trường độc quyền nhóm, trong đó các nhà thầu cấu kết với nhau để lần lượt giành nhượng quyền trong các lần đấu thầu hoặc đấu giá khác nhau. Ngay cả khi số lượng nhà thầu đông, nhưng số lượng gói thầu còn lớn hơn khiến không nhà thầu nào có thể thực sự kham được hết thì sự cạnh tranh thực sự giữa các nhà thầu cũng chưa chắc đã tồn tại.

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế công cộng (Trang 139 - 142)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(164 trang)