CHƯƠNG 4: CHÍNH PHỦ VỚI VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG KINH TẾ VĨ MÔ TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HOÁ
2. Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong điều kiện toàn cầu hoá
2.1. Tác động toàn cầu hoá đến sự ổn định của nền kinh tế
2.1.1. Khái niệm về toàn cầu hoá.
* Toàn cầu hóa: là quá trình hình thành và phát triển các thị trường khu vực và toàn cầu, làm gia tăng sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia thông qua sự lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các định chế quản lý các hoạt động này. (Theo Bộ Ngoại giao-2008-Sổ tay công tác ngoại vụ).
Toàn cầu hoá được phản ánh trên tất cả các khía cạnh của đời sống nhân loại như: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá...
(3) E2
E1
E0
Y* Y Y1
0 P0
P1
P2
P
(2) (1)
AD0
AD1
SAS0
SAS1
AS
Hình 37: Sử dụng chính sách quản lý cầu để đưa nền kinh tế về cân bằng dài hạn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 106 Toàn cầu hoá kinh tế thể hiện sự liên kết quốc tế ngày càng sâu sắc các quá trình sản xuất, kinh doanh và các loại hình thị trường giữa các nền kinh tế.
Toàn cầu hóa kinh tế (như việc gia nhập WTO), khu vực hóa kinh tế (việc gia nhập các tổ chức hoặc diễn đàn mang tính khu vực như ASEAN, APEC, ASEM…) và phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế song phương (tham gia các hiệp định song phương về tự do hóa thượng mại hay nới lỏng kiểm soát các luồng vốn) là ba hoạt động cơ bản trong quá trình hội nhập kinh tế của các quốc gia.
* Hội nhập kinh tế quốc tế: là quá trình một quốc gia triển khai các chính sách, biện pháp nhằm tự do hóa các hoạt động kinh tế và mở của thị trường của mình để tham gia vào thị trường khu vực và thế giới, gia nhập các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
2.1.2. Những cấp độ liên kết kinh tế quốc tế - biểu hiện của mức độ hội nhập kinh tế.
Khu vực mậu dịch tự do: là hình thức và mức độ hội nhập đầu tiên và thấp nhất của quá trình liên kết kinh tế khu vực, nó là cơ sở hình thành một liên minh kinh tế quốc tế giữa các quốc gia trên cơ sở dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để hàng hoá, dịch vụ được dịch chuyển tự do giữa các nước. Ví dụ: khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) thành lập vào ngày 28/1/1992 tại Singapore, Việt nam trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này vào ngày 28/7/1995, các thành viên tham gia vào tổ chức này phải thực hiện hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT); Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), kí kết ngày 12/8/1992, hiệu lực từ ngày 1/1/1994. Nội dung của hiệp định này là: Giúp cho kinh tế của ba nước: Mỹ, Canada và Mexico được dễ dàng. Cụ thể là việc Mỹ và Canada có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ sang Mexico và Mexico cũng dễ dàng chuyển giao nguồn nhân lực sang hai nước kia. Ngoài ra hiệp định này còn giúp cho 3 nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới về kinh tế với các khối như EU, AFTA…
Đồng minh thuế quan: là hình thức liên kết cao hơn so với khu vực mậu dịch tự do, trình độ liên kết cao hơn không chỉ thể hiện ở việc loại bỏ các hạn chế thuế quan và các hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên mà còn thiết lập biểu thuế quan chung của khối với các nước ngoài liên minh. Ví dụ: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này vào ngày 10/11/2006.
Thị trường chung: là hình thức liên kết kinh tế cao hơn các hình thức trước đó, các nước tham gia thị trường chung ngoài việc áp dụng các biện pháp giống như đồng minh thuế quan trong buôn bán quốc tế còn cho phép vốn và lao động được tự do
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 107 di chuyển giữa các nước, thông qua thành lập một thị trường thống nhất. Ví dụ: Thị trường chung Trung Mỹ; Thị trường chung Châu Âu (EU).
Liên minh tiền tệ: là hình thức chủ yếu của liên kết kinh tế trên lĩnh vực tiền tệ, khi tham gia vào liên minh này các nước phải phối hợp các chính sách tiền tệ với nhau và thực thi một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối: thống nhất đồng tiền dự trữ khu vực; thống nhất ngân hàng trung ương và các giao dịch tiền tệ và thanh toán quốc tế với các tổ chức tài chính thế giới. Điển hình là khu vực đồng Euro.
Liên minh kinh tế: Hình thức liên minh kinh tế được thực hiện ở trình độ cao của liên kết kinh tế, thể hiện ở việc hàng hoá, dịch vụ, sức lao động và vốn được di chuyển tự do giữa các quốc gia thành viên và cùng thực hiện một chính sách thuế với các quốc gia nằm ngoài liên minh.
2.1.3. Những cơ hội và thách thức.
* Những cơ hội:
- Toàn cầu hoá tạo điều kiện để phát huy lợi thế so sánh, thúc đẩy việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, tranh thủ được lợi ích của việc phân bổ hợp lý trên bình diện quốc tế và do đó phát huy cao độ các nhân tố sản xuất hữu dụng cho từng quốc gia.
- Tự do hoá luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn tới việc hạ thấp hàng rào thuế quan, đơn giản hoá trong khâu thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, đầu tư.
- Toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn và tạo điều kiện để đa dạng hoá các loại hình đầu tư, nhờ đó vừa nâng cao hiệu quả vừa hạn chế rủi ro.
- Toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao vốn, kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho các nước phát triển, đồng thời giúp các nước tiếp nhận đầu tư có thêm nhiều cơ hội phát triển.
* Những thách thức:
- Sự bất ổn của thị trường tài chính quốc tế. Tính chất bất ổn xét ở dạng tiềm năng tỷ lệ thuận với quy mô phát triển của thị trường tài chính.
- Nguy cơ tụt hậu của một số quốc gia. Trong khi một số quốc gia tranh thủ được lợi ích của hội nhập quốc tế và thị trường quốc tế... thì có một số các quốc gia khác không tranh thủ được những thuận lợi đó sẽ chịu nguy cơ tụt hậu.
- Nguy cơ chính sách của các nước yếu bị phụ thuộc vào chính sách của các nước mạnh.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 108 - Xu hướng hình thành độc quyền, tập trung quyền lực vào một số tập đoàn kinh tế lớn.
- Ô nhiễm môi trường.