“Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh hay khắc hoạ nhân vật”. Cái cốt lõi để tạo ra những tản văn hay là phải có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân; đồng thời phải tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ, mang đậm bản sắc cá tính của tác giả. Vì thế, thông qua việc tìm hiểu tản văn, người đọc có thể tiếp cận gần hơn với “cái tôi” cá nhân của nhà văn, đánh giá được sự tinh tế, nhạy bén trong lối quan sát các hiện tượng đời sống xung quanh cũng như tài năng thể hiện vấn đề của họ trong một kiểu kết cấu “lỏng” mà không hề dễ dãi của thể loại tản văn. Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn nữ xuất sắc và khá tiêu biểu trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại. Được đánh giá cao trong giới chuyên môn, được nhiều nhà xuất bản săn đón, lọt vào tầm ngắm của không ít nhà đạo diễn sân khấu điện ảnh, các tác phẩm của nữ văn sĩ này thực sự có được vị trí chắc chắn trong bức tranh văn học hiện nay. Thành công với thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết với các tác phẩm nổi tiếng như “Cánh đồng bất tận”, “Sông”v.v ..., Nguyễn Ngọc Tư cũng rất thành công trong thể loại tản văn với hàng loạt tác phẩm viết về con người, đời sống sinh hoạt của miền Tây Nam Bộ. Với một tâm hồn cởi mở, phóng khoáng và hết sức nhạy cảm của một người viết gắn bó và am hiểu vùng quê miền sông nước, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư trở thành một đặc sản cho những người thưởng thức và yêu mến những giá trị đặc sắc của văn hóa miệt vườn Cửu Long. Qua các trang viết của chị, người đọc như được tận mắt chứng kiến và hòa mình vào không gian của những dòng sông rộng lớn, những con kênh, những cánh đồng, những miệt vườn trù phú rộng mênh mông. Ở đó, những sinh hoạt hàng ngày, những hoạt động sản xuất của các cư dân nơi đây gắn với số phận của những người dân nghèo nhưng đôn hậu, chất phát cứ trở đi trở lại ám ảnh khôn nguôi.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM TẠP VĂN NGUYỄ
N NGỌC
TƯ
Trang 21.
Trang 3BỐ CỤC:
PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Giới thiệu về tản văn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư
1.1 Giới thiệu về tản văn:
1.1.1 Khái niệm:
1.1.2 Sự phát triển:
1.1.3 Đặc điểm:
1.2 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp:
1.2.2 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
Tiểu kết chương 1:
Chương 2: Đặc điểm về nội dung tản văn Nguyễn Ngọc Tư 2.1 Cảm hứng sáng tác trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
2.1.1 Các vấn đề của hiện thực đời sống
2.1.2 Hướng về quê hương nguồn cội
2.1.3 Cảm hứng hoài niệm
2.1.4 Cảm hứng con người
2.2 Đề tài trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
2.2.1 Cảnh quan văn hóa dân tộc
2.2.2 Đời sống phố thị
2.2.3 Tình yêu, hôn nhân, gia đình
2.3 Thế giới nhân vật trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
2.3.1 Hình tượng người lao động nghèo.
2.3.2 Nhân vật khát khao yêu và được yêu.
Trang 42.4 Thái độ, cách nhìn về con người và những vấn đề xã hội trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
2.4.1 Sự chân thành, ý nhị đậm chất ưu tư
2.4.2 Tâm hồn nhạy cảm với các vấn đề của đời sống
2.4.3 Sống nghĩa khí, rộng lượng, vị tha
Tiểu kết chương 2:
Chương 3: Đặc điểm về nghệ thuật tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
3.1 Ngôn ngữ Nam Bộ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
3.1.1 Sử dụng hệ thống các phương ngữ Nam Bộ
3.1.2 Lối biểu đạt đặc thù thể hiện tính cách của con người Nam Bộ
3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
3.2.1 Không gian nghệ thuật
3.2.2 Thời gian nghệ thuật
3.3 Biểu tượng trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
3.3.1 Biểu tượng “Đất- Nước”
3.3.2 Biểu tượng “Cây lúa”
3.4 Giọng điệu nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
3.4.1 Giọng điệu dân dã, mộc mạc
3.4.2 Giọng điệu trữ tình
3.4.3 Giọng điệu hài hước, dí dỏm
3.4.4 Giọng điệu suy tư, chiêm nghiệm
Tiểu kết chương 3:
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
“Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tảphong cảnh hay khắc hoạ nhân vật” Cái cốt lõi để tạo ra những tản văn hay là phải cócấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân; đồng thời phải tái hiện được nét chínhcủa các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ, mang đậm bảnsắc cá tính của tác giả Vì thế, thông qua việc tìm hiểu tản văn, người đọc có thể tiếp cậngần hơn với “cái tôi” cá nhân của nhà văn, đánh giá được sự tinh tế, nhạy bén trong lốiquan sát các hiện tượng đời sống xung quanh cũng như tài năng thể hiện vấn đề của họtrong một kiểu kết cấu “lỏng” mà không hề dễ dãi của thể loại tản văn
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn nữ xuất sắc và khá tiêu biểu trong nền văn xuôi ViệtNam đương đại Được đánh giá cao trong giới chuyên môn, được nhiều nhà xuất bản sănđón, lọt vào tầm ngắm của không ít nhà đạo diễn sân khấu điện ảnh, các tác phẩm của nữvăn sĩ này thực sự có được vị trí chắc chắn trong bức tranh văn học hiện nay Thành côngvới thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết với các tác phẩm nổi tiếng như “Cánh đồng bấttận”, “Sông”v.v , Nguyễn Ngọc Tư cũng rất thành công trong thể loại tản văn với hàngloạt tác phẩm viết về con người, đời sống sinh hoạt của miền Tây Nam Bộ Với một tâmhồn cởi mở, phóng khoáng và hết sức nhạy cảm của một người viết gắn bó và am hiểuvùng quê miền sông nước, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư trở thành một đặc sản chonhững người thưởng thức và yêu mến những giá trị đặc sắc của văn hóa miệt vườn CửuLong Qua các trang viết của chị, người đọc như được tận mắt chứng kiến và hòa mìnhvào không gian của những dòng sông rộng lớn, những con kênh, những cánh đồng,những miệt vườn trù phú rộng mênh mông Ở đó, những sinh hoạt hàng ngày, những hoạtđộng sản xuất của các cư dân nơi đây gắn với số phận của những người dân nghèo nhưngđôn hậu, chất phát cứ trở đi trở lại ám ảnh khôn nguôi
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Giới thiệu về tản văn:
1.1.1 Khái niệm:
Ở Việt Nam, người viết và người đọc không còn xa lạ gì với thể loại tản văn Có thể
dễ dàng tìm đọc tản văn trên bất kì một tờ báo nào của các tác giả và có cả nhiều tuyểntập mang tên tản văn đã được xuất bản Nhưng cách gọi tản văn vẫn còn chưa được thốngnhất về mặt nội hàm của khái niệm Còn tồn tại những ý kiến khác nhau khi định danhthể loại văn học này Có thể nói, tản văn là một thể loại văn học nằm giữa hai thể loại
truyện ngắn và ký văn học Trong Từ điển văn học, nói lên đầy đủ đặc điểm cơ bản nhất
của thể loại tản văn: Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của những hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả Như vậy, có thể hiểu tản
văn như là một thể loại văn học độc lập, xuất hiện với nhiều bài viết về vấn đề và đề tàikhác nhau Tác giả sử dụng lối viết tự do không ràng buộc với bất kì một thủ pháp nghệthuật nào Từ đó nêu lên các vấn đề bức xúc, sự thật ngổn ngang đang tồn tại, nhữngtiếng nói, quan điểm cá nhân thể hiện một cách chân thực, sắc sảo
Nhìn chung, trong đời sống hiện nay, tản văn trở thành một thể loại khá phổ biến, viếttản văn trở thành một xu hướng trong sáng tác văn chương từ người không chuyên chođến các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp Diện mạo tản văn ngày càng phong phú về đềtài, giọng vẻ và sự tồn tại của thể loại này cũng càng có ý nghĩa trong cuộc sống như hiện
nay Mảnh đất tản văn chính là nơi lưu giữ, “bảo tồn” những giá trị tinh thần vi tế và quý báu để nuôi dưỡng tâm hồn, xúc cảm của con người trước sự bào mòn của môi trường đô thị hóa, hội nhập, tăng cường khoa học kĩ thuật vào đời sống
1.1.2 Sự phát triển:
Trang 7Đã từng có quan niệm cho rằng tản văn xuất hiện từ phong trào cách mạng Ngũ Tứbên Trung Quốc do Lỗ Tấn sáng tạo ra và có sức sống mạnh mẽ từ trong lịch sử văn họcTrung Quốc Nền văn học nước này có nhiều sáng tác thuộc thể loại tản văn với các têntuổi gạo cội như Lỗ Tấn, Mạc Ngôn v.v
Ở Việt Nam, trước năm 1986, tản văn tuy đã xuất hiện nhưng chưa được phổ biếnrộng rãi Từ năm 1986 trở đi, tản văn xuất hiện phổ biến hơn và dần dần chiếm ưu thếtrong đời sống văn học đương đại Tuy chưa có vị trí cao như truyện ngắn, tiểu thuyết,thơ nhưng tản văn là thể loại có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ và dễ dàng “bén rễ” vươnmình trong vườn hoa văn học dân tộc Tản văn đã thu hút khá đông đảo đội ngũ sáng tác
và công chúng yêu văn học Trong quá trình sáng tác cũng như nghiên cứu về tản văncũng xuất hiện những thuật ngữ định danh như: tạp văn, tạp bút Trên thực tế báo chí vàxuất bản hiện nay, các tên gọi có xu thế đồng nhất và lý thuyết thể loại là thứ không đượcquan tâm tìm hiểu hay soi rọi kỹ”
Năm 2005, khi cuốn Tản mạn trước đèn của nhà văn Đỗ Chu nhận giải thưởng vănhọc của Hội Nhà văn, văn học Việt Nam bắt đầu thời kỳ tươi mới nở rộ của thể loại tản
văn với các tác phẩm: Nghiêng tai dưới gió của nữ sĩ Lê Giang, tạp bút Mạc Can, Mùi của ngày xưa (tạp bút nhiều tác giả), Tạ Duy Anh với Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối, Nguyễn Ngọc Tư với Ngày mai của những ngày mai, Dạ Ngân với Phố của làng, Gánh
đàn bà… Với số lượng tác phẩm tản văn không hề nhỏ các tác giả đã cung cấp cho ngườiđọc cái nhìn đa chiều về cuộc sống Tản văn không chỉ là thể loại thu hút khá đông đảocác cây bút đại thụ trong nền văn chương Việt Nam mà sức hấp dẫn của nó còn lan tỏathu hút các cây bút như nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương, nhà thơ Đỗ Trung
Có thể thấy so với các thể loại văn học khác, tản văn là thể loại khá “dễ tính” luôn sẵnsàng “bén rễ” những hạt giống ưu tư của bất kì nhà văn nào để lại một đội ngũ sáng táctương đối phong phú và đa dạng
Cái duyên đưa nhiều người đến với tản văn Nhưng không phải ai cũng gặt hái đượcthành công ở thể loại tưởng như dễ viết này Bởi tản văn bắt đầu từ những chuyện tưởngnhư nhỏ nhặt, vặt vãnh lúc “trà dư tửu hậu” của cuộc sống lại kết thúc bằng dư âm nằm
Trang 8sâu trong lòng bạn đọc Câu chuyện nhỏ lại mang ý nghĩa, bài học không hề nhỏ và chạmđến được trái tim con người Vậy nên mới nói tản văn là thể loại dễ viết nhưng khó hay.Đời sống văn học là đời sống hiện thực xã hội của một đất nước, một dân tộc bằng sựphản ánh qua lăng kính của nhà văn Nhu cầu xã hội và nhu cầu thưởng thức văn học đãkhiến cho một thể loại văn học mới ra đời và ngày càng hoàn thiện hơn cùng với sự pháttriển của xã hội Vấn đề thời sự nóng bỏng cho đến cái tôi con người trong cuộc sốnghiện đại cần được xem trọng Không gian của tản văn là nơi tốt nhất, lý tưởng nhất chonhững đặc điểm sáng tác này neo đậu Ngoài ra, thể loại này còn đáp ứng được như cầugiãi bày tâm tư, tình cảm người viết Viết tản văn là viết lên nỗi lòng, suy nghĩ riêng, mọithứ không bị ràng buộc, kiểm soát bởi thi pháp hay nguyên tắc sáng tác Vì vậy, nó là thểloại phục vụ đắc lực khơi dậy cảm xúc viết, cảm hứng tuôn trào ngay khi người viết chưachuẩn bị Như vậy có thể thấy, trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đương đại,tản văn đã dần khẳng định vị trí của mình trong mối tương quan với các thể loại văn họckhác Dù lực lượng sáng tác và tiếp nhận đa số là người trẻ nhưng đây không phải là lý
do khiến thể loại này làm trẻ nền văn học nước nhà Cái trẻ là do đặc trưng của thể loạimang lại, giúp người viết có thể phóng khoáng hơn trong tư duy, lập luận để thể hiệnmình Nó mở rộng môi trường cho tiếng nói văn học đồng điệu cùng lên tiếng, hay tạo racuộc tranh luận sôi nổi để xây dựng nên tác phẩm văn học xuất chúng Tản văn giúpngười ta nói đạo lý, bàn chính trị bằng một cách viết nhẹ nhàng nhưng thấm sâu vào longngười mang lại sức lan tỏa rộng rãi Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa tương ứng sovới nhu cầu đón đợi của độc giả Để tản văn phát triển đúng với một vị trí xứng tầm cần
có sự nỗ lực hơn nữa của đội ngũ sáng tác Trong dàn hợp ca của thể loại tản văn, có rấtnhiều nhà văn đã để lại tên tuổi cũng như tiếng nói của mình góp phần làm nên tác phẩm
đồng đều hay về cả nội dung lẫn chất lượng như Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Trung Quân,
Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Nhật Ánh v.v trong đó không thể không nói đến tản văn Nguyễn Ngọc Tư với những giai điệu Nam Bộ nồng ấm tình quê tình người.
Trang 91.1.3 Đặc điểm:
Tồn tại song hành và dần khẳng định vị thế của mình trong tương quan với các thểloại văn học khác, bản thân tản văn có những đặc trưng làm nên ưu thế mà các thể loạivăn học khác không thể đáp ứng hoặc đáp ứng không toàn vẹn, sâu sắc như tản văn Đặctrưng cơ bản của tản văn được xác định cơ bản trong mối quan hệ tương quan so sánh vớicác thể loại văn học khác nhưng có mối quan hệ gần gũi như truyện ngắn, tiểu thuyết,ký Trên cơ sở đó, ta xác định đặc trưng của tản văn như sau:
Về nội dung: Đặc trưng thứ nhất của tản văn là tính đa dạng về dạng thức và đề tài Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, bất cứ vấn đề gì của đời sống con người đều có
thể được đề cập đến trong tản văn như: lịch sử, hiện tại, tương lai, văn hóa, nghệ thuật Tác giả có thể viết bất cứ điều gì mà họ trăn trở, muốn giãi bày dù đó là vấn đề mang tính
vĩ mô hay chỉ là một tâm sự cá nhân nhỏ bé Mỗi trang văn đều thể hiện cái nhìn phảnánh một phương diện nào đó về xã hội có thể thời sự hoặc không thời sự Nhưng mỗi tảnvăn đều thấp thoáng đâu đó tâm trạng của người đương thời
Đặc trưng thứ hai đó là “cái tôi” của tác giả Nếu như trong truyện ngắn hoặc tiểu
thuyết “cái tôi” luôn phải giấu mình để câu chuyện tự nói lên, trong thơ “cái tôi” là cái tôicủa thế giới tâm trạng, thì tản văn mang trong mình một điều khác biệt khi để “cái tôi”được nói một cách tỉ mỉ, rõ nét, tường tận đến từng chi tiết trên tất cả các phương diệntâm hồn, tư tưởng, đến các chi tiết xác thực về đời sống riêng tư của tác giả Nguyên tắc
tự biểu hiện đã khiến tác giả tản văn lấy ngay cuộc sống của chính mình, lấy ngay nhữngđiều mắt thấy tai nghe làm chất liệu để thai nghén nên tác phẩm
Về hình thức: Thứ nhất, tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có hoặc không có cốt truyện Là tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn mà phổ biến là bài
văn ngắn gọn thậm chí chỉ là những mẩu truyện kể vài nét chân dung của ai đó, hoặc khơigợi kỷ niệm để con người được sống và quay về với thời gian hoài niệm Sự ngắn gọn cóđược do tản văn thường xây dựng kết cấu xoay quanh một tín hiệu thẩm mĩ trung tâm.Cấu trúc chọn hạt nhân là tín hiệu thẩm mĩ trung tâm - biểu tượng, xoay quanh tâm tư,
Trang 10cảm xúc Chính điều này khiến cho tản văn hàm súc, ngắn gọn Tính ngắn gọn hàm súcvẫn là ưu thế không thể thay đổi của tản văn đã khiến thể loại văn học này dần khẳngđịnh vị trí của chính mình trong dòng chảy văn học hiện đại Những ưu thế trên đã đápứng được nhu cầu đọc nhanh, cung cấp nhiều thông tin cho người đọc hiện nay Tản văn
có thể có hoặc không có cốt truyện Cốt truyện trong tản văn không có vai trò ý nghĩanhư cốt truyện trong truyện ngắn hay tiểu thuyết Nó chỉ là cái cớ để người viết trực tiếpbộc bạch tâm trạng, suy nghĩ của mình về bất cứ vấn đề gì của cuộc sống được đề cậpđến Trong tản văn, hình ảnh và chi tiết nghệ thuật mới là yếu tố quan trọng nhất, cơ bảnnhất và được coi là “nhãn tự” của tác phẩm
Thứ hai, tản văn viết về người thật việc thật và sử dụng hư cấu có giới hạn trong một mức độ và phạm vi nhất định Tản văn thường viết về kỷ niệm máu thịt, các ấn
tượng sâu đậm và những dòng hổi tưởng về quá khứ, quê hương, người thân và những nétđẹp văn hóa Những tản văn miêu tả thế giới con người qua đôi mắt, trí tuệ và con timmang đậm tính chủ quan của người viết Tác giả trở thành nhân vật người trần thuậtchiếm vị trí trung tâm trong tác phẩm, tham gia trực tiếp vào câu chuyện Đặc trưng nàykhiến tản văn gần gũi với tác phẩm kí văn học về nguyên tắc viết “người thật, việc thật”.Trong tản văn nguyên tắc tôn trọng “người thật, việc thật” được đề cao và làm điểm tựachắc chắn cho thể loại Nhưng không phải vì thế mà tác giả bê nguyên si cuộc sống vàotác phẩm mà là cái cớ để từ đó người viết mở rộng trường liên tưởng của mình về quákhứ, đào sâu nhằm phát hiện ý nghĩa văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị từ những “ngườithật, việc thật” Trong khi tiểu thuyết, truyện ngắn có sử dụng hư cấu tự do thì tản văncho dù vẫn tôn trọng nguyên tắc tái hiện sự việc, con người chân thực nhưng vẫn sử dụng
hư cấu có giới hạn trong phạm vi và mức độ nhất định
Thứ ba, là kết cấu rất tự do Kết cấu của tản văn không chú trọng vào “khai, thừa,
chuyển, hợp” như thơ ca, không phân cảnh phân hồi như kịch, mà có lúc gần lúc xa, lúctrước lúc sau, hiện thực và lịch sử, tự nhiên và xã hội Tất cả có sự giao thoa, triết lý sâusắc được biểu hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày, tình cảm nồng nàn thông qua tưởngtượng cá nhân Đặc điểm tự do trong kết cấu giúp thể loại dễ dàng truyền tải mọi cung
Trang 11bậc cảm xúc cũng như những điều phức tạp của cuộc sống muôn màu được đưa vào vănhọc trong sự thống nhất chủ đề, tình cảm, tư tưởng.
1.2 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư:
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp:
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Cà Mau Sinh ra trong một gia đình nông dân, chịđến với văn chương lặng lẽ, âm thầm Chị viết văn từ bé nhưng chỉ là viết theo sở thíchcủa mình chứ chưa bao giờ từng nghĩ đến việc sẽ theo nghề văn Các sáng tác đầu tay củachị là những truyện ngắn viết về tình bạn nơi đồng quê được đăng trên tạp chí văn nghệBán đảo Cà Mau Tên tuổi của chị thật sự bừng sáng, được mọi người biết đến khi nhậnđược giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 của nhà xuất bản Trẻ Với giải thưởng này cùng
với tác phẩm Ngọn đèn không tắt đã giúp Nguyễn Ngọc Tư lọt top mười nhân vật trẻ tiêu
biểu năm 2002 Đây là cột mốc đáng nhớ trong cuộc đời của chị Từ đây, tác giả NguyễnNgọc Tư như được tiếp thêm động lực để sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị hơn nữa
cho nền văn học Việt Nam Đặc biệt phải kể đến như Cánh đồng bất tận, Gió lạnh sau gáy, Biển của mỗi người Hầu hết những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư sáng tác đều để
lại dấu ấn riêng trong lòng độc giả không chỉ khi đó mà đến tận bây giờ
Là nữ nhà văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, với niềm đam mê viết lách, chị miệtmài viết như một cách giải tỏa và thể nghiệm Tất cả những gì gần gũi nhất xung quanhcuộc sống đều được chị tập trung quan sát và đưa vào trong mỗi trang viết của mình Quagần hai thập kỷ cầm bút, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện được bút lực dồi dào cùng nhữngphát hiện mới mẻ, tinh tế về cuộc sống, con người với biết bao trăn trở, day dứt Chị cũngdần khẳng định tên tuổi và chỗ đứng của mình trong lòng độc giả qua các sáng tác thuộcnhiều thể loại văn học mà tiêu biểu hơn cả là: truyện ngắn, tản văn và thơ
Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá là một trong số ít các nhà văn trẻ vẫn giữ gìn vàtiếp nối được hồn văn Nam Bộ ở thế kỉ XXI Chị bắt đầu tìm tòi, trải nghiệm sáng tác
bằng tập truyện ngắn đầu tay Đổi thay (1996); Ngọn đèn không tắt - Giải nhất “Văn học tuổi 20” năm 2000 Sau đó là hàng loạt các tập truyện: Biển người mênh mông
Trang 12(2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005)…
Nguyễn Ngọc Tư còn đánh dấu hành trình sáng tạo của mình qua thể tản văn, tạpbút Ở những tản văn đầu tay, người đọc có thể nhận thấy tình yêu thương gắn bó sâunặng của chị dành cho quê hương Nam Bộ cũng như những câu chuyện tình còn dang
dở dành cho đất và người nơi đây Đến giai đoạn sau, chị mở rộng phạm vi đề tài sángtác với cái nhìn sắc nét đầy chiêm nghiệm hơn về cuộc đời Cuốn tản văn đầu tiên với
tên gọi Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư ra mắt bạn đọc vào cuối tháng 12 năm 2005 là một sự
khởi đầu cho một thể loại mới mà chị muốn thử sức Sau đó, chị còn tiếp tục cho ra đời
những tập tản văn mới như Ngày mai của những ngày mai, Sống chậm thời @, Biển của mỗi người (2008), Yêu người ngóng núi (2010), Gáy người thì lạnh (2014) và gần đây nhất là tập tản văn Đong tấm lòng (2015)…
Là cây bút làm nên tên tuổi ở lĩnh vực truyện ngắn nên khi Nguyễn Ngọc Tư cho rađời những sáng tác ở thể loại thơ đã khiến độc giả vô cùng để tâm và thấy thú vị Nguyễn
Ngọc Tư từng thổ lộ: “Có những chuyện văn xuôi không nói được, có những cảm giác khó rạch ròi duy lý, tôi lấy thơ ra trút đỡ Cùng là chữ cả nhưng mỗi bề mỗi khác Viết tản văn, tôi buộc thể hiện ít nhiều quan điểm, cách nhìn cuộc đời của mình Thơ thì gần
người nhất, đôi khi cảm xúc lộ ra” Chấm là tập thơ đầu tay của chị được giới phê bình
đánh giá cao Ở địa hạt thơ, chị chọn cho mình một lối đi riêng, với cách cảm và cách thểhiện rất riêng không dễ pha lẫn Chị chọn lối viết theo vô thức và đã thành công khi chạmvào được vô thức của độc giả Có thể thấy trong mỗi sáng tác, chị không quá đề cao hayđặt nặng vấn đề về nghệ thuật Trên mỗi trang thơ, không khó để nhận ra nguồn tình cảmtrào dâng mãnh liệt cùng những nghĩ suy, trăn trở được lồng ghép vào những hình ảnh
giàu liên tưởng, sâu sắc và độc đáo Sau Chấm, Gọi xa xôi là những lắng đọng, khắc khoải của một trái tim đã bạc, tình yêu vụn vỡ, chất chứa hoài niệm, tiếng cười trẻ thơ,
hay đôi khi cũng có những cơn đau, cùng tình yêu vụn vỡ, huyễn tưởng bay đầy đất, emngồi cắn móng tay, dỗ cho nguôi nỗi gió, viễn vông bôi má hồng
Trang 13Với lối viết giản dị, chân chất, mặn mòi hương vị của vùng sông nước, NguyễnNgọc Tư đã tạo nên những dấu ấn riêng đầy ấn tượng trên văn đàn cũng như trong lòngbạn đọc Và dù ở bất cứ thể loại văn học nào, Nguyễn Ngọc Tư cũng đặt được nền móngvới những thành tựu nhất định, mang màu sắc riêng của người con gái chân chất hồnhậu miền sông nước Nam Bộ.
Là một người cống hiến nhiều cho Văn học, ngoài những tác phẩm để đời thìNguyễn Ngọc Tư còn nhận được được rất nhiều giải thưởng danh giá:
2000: Giải Nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 2 với tác phẩm Ngọnđèn không tắt, giải Mai vàng ở hạng mục Nhà văn xuất sắc
2001: Giải B Hội nhà văn Việt Nam với tác phẩm Ngọn đèn không tắt.
2003: Là một trong Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002.
2006: Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006 với tác phẩm Cánh đồng bất tận.
2008: Giải thưởng văn học ASEAN với tác phẩm Ngọn đèn không tắt.
2018: Giải thưởng LiBeraturpreis 2018 do Hiệp hội Quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin tại Đức bình chọn với tác phẩm Cánh đồng bất tận.
2019: Thuộc Top 50 người phụ nữ có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam 2018 do tạp chí
Forbes bình chọn
Các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư còn được tái bản nhiều lần và dịch ra nhiều thứtiếng trên thế giới
1.2.2 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
Đọc tản văn Nguyễn Ngọc Tư khiến cho người ta nhận ra rằng nhà văn trẻ có thể
biến mọi đề tài “tầm thường” trở thành thời sự Ẩn sau “giọng nói” trong trẻo, duyên
dáng của một cô gái là sự trải nghiệm về thời cuộc, đời sống dân dã và chiều sâu vănhoá của vùng đất cực Nam Tổ quốc Với tản văn của chị, bạn đọc còn nhận ra tìnhngười, tình quê và chút tình riêng như đan xen hoà quyện vào nhau trong mỗi tácphẩm Chị khéo léo đưa vào những chi tiết lay động lòng người khiến độc giả không
Trang 14ít lần thấy sống mũi cay xè qua mỗi trang viết của chị Nhìn bề ngoài, ta dễ nhầmtưởng tản văn của chị nhẹ nhàng nhưng nếu để ý, ta sẽ nhận ra bên trong vỏ bọc củagiọng văn tưởng nhẹ nhàng, bông đùa đó ẩn sâu nỗi niềm của một người con đất Mũi
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư - cuốn tản văn đầu tiên như một sự khỏi đầu để giới
thiệu “món ăn lạ” và đây cũng là ranh giới nhà văn xác định địa hạt đối với thể loại mới
muốn sáng tác
Đến với Ngày mai của những ngày mai, vẫn là giọng văn dung dị ấy, vẫn cái chất
Nam Bộ thấm sâu vào từng thớ thịt và trang văn nhưng lần này trang viết của chị đã
trưởng thành lên rất nhiều bởi chất triết lý chiêm nghiệm (Chân không, Nhớ bèo mây, Của người của mình ) Thế nhưng, người đọc vẫn bắt gặp lại một hình ảnh thân quen,
một tuổi thơ ngọt ngào với dáng hình quê hương yêu dấu và những người thân thương
sau bóng quê nhà (Mẹ, Ngồi buồn nhớ ngoại ta xưa) Với cuốn tản văn này, người ta
bắt gặp một Nguyễn Ngọc Tư đầy băn khoăn, trăn trở qua những câu hỏi Đến đây, cóthể nói rằng vị xót xa, nét trầm buồn đã ngấm ngầm san sẻ làm vơi bớt chất hồn nhiêntrong trẻo vốn có của Nguyễn Ngọc Tư Nhưng có điều chị vẫn là chị với giọng văn nhẹnhàng đầy nữ tính, yêu thương và trách nhiệm
Trong Biển của mỗi người là một sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế là lời tâm sự về cuộc đời
về nghiệp viết văn Câu chuyện mà chị kể gợi lên một nỗi buồn se sắt khi trongcuộcsống đầy bon chen, xô bồ này con người ta dần mất nhau không bởi vì khoảng cách địa
lý mà mất nhau vì nghi ngờ Đó chính là khoảng cách giữa hai tâm hồn Những bài viếtcủa Nguyễn Ngọc Tư buồn, nhưng không phải là nỗi buồn ủy mị khiến người đọc ủ dộtchán chường, nỗi buồn trong văn chị là một nỗi buồn mang tính nhân văn đánh thứcnhững tâm hồn để biết yêu thương sẻ chia của những kiếp người bất hạnh
Tập tản văn Gáy người thì lạnh vẫn giữ lại được cái chất giản dị, lời thủ thỉ kể
chuyện mà nghe buồn não lòng qua những câu chuyện về nông thôn, thành phố và conngười Đọc xong mỗi câu chuyện người đọc như thấy chính mình, cảm xúc với gia đình,người thân với những con người bên ta và có tình cảm đặc biệt hơn với thành phố nơi
Trang 15neo đậu của cuộc đời Mỗi tản văn là những khoảnh khắc cảm xúc bất chợt đến rồi điqua để lại bao suy nghĩ cho độc giả.
Đong tấm lòng là tập tản văn mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư Với 30 tản văn đầy
ắp hình ảnh, mùi vị, vừa gợi lại những hoài niệm của quá khứ vừa hướng con người đếnvới cánh cửa của tương lai
Tiểu kết chương 1:
Đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư người ta thường có chung cảm nhận về sự nhẹ nhàngtrầm tĩnh đôi khi như bông đùa nhưng chưa bao giờ người đọc thấy sự thờ ơ, lạnh lùng vôtrách nhiệm qua từng câu chữ Văn chị hồn hậu, thân thương bởi người viết là một người
có tâm hồn nhạy cảm Chính điều này đã giúp ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp,dung hoà giữa những giai điệu gai góc để cuộc sống được nhẹ tênh, một Nguyễn Ngọc
Tư hướng ngoại để nhìn cuộc đời nhưng cũng hướng nội để thấy rõ bản thân mình Sựxuất hiện đầy ấn tượng của Nguyễn Ngọc Tư ban đầu khiến người đọc cảm giác chỉ là sựngạc nhiên trước vẻ đẹp giản dị của những mùa truyện ngắn, nhưng càng về sau ngườiđọc lại càng bất ngờ hơn về chị với những tập tản văn đầy sức sống, sức sáng tạo mạnh
mẽ, một nội lực dồn nén, bung tỏa một cách chừng mực hợp lý Nhà văn Nam Cao từng
nói: “Sống đã rồi hãy viết!” Những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư đều đi thẳng vào
lòng người đọc có lẽ vì chị đang tập sống, nghe, nhìn, trải lòng với miền quê của mình.Chính vì vậy, những trang tản văn không chỉ để giải trí mà còn để người miền khác hiểubiết về đời sống của một vùng đất, và để cho chính những người sống ở vùng đất đó kịpnhận ra được dù không đi đâu đất cũng hóa tâm hồn
Trang 16CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Cảm hứng sáng tác trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
Theo Từ điển tiếng Việt, cảm hứng là “trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý
được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng sáng tạo hoạt động có hiệu quả” Qua tìm hiểu các tác phẩm tản văn của Nguyễn Ngọc
Tư chúng ta thấy rằng cảm hứng trong sáng tác của chị là bốn nguồn cảm hứng chủ đạoxuyên suốt: cảm hứng về các vấn đề của hiện thực thực cuộc sống, cảm hứng hướng vềquê hương nguồn cội, cảm hứng hoài niệm và cảm hứng về con người
2.1.1 Cảm hứng về các vấn đề của hiện thực đời sống:
Nguyễn Ngọc Tư đi sâu khai thác hiện thực về một đất nước còn lắm những cảnhđời khó khăn, đau khổ cùng cực kết quả của một cuộc sống nghèo Mà đại diện là vùngquê sông nước, ở nơi ấy con người với bao nhiêu buồn vui, bao nỗi nhọc nhằn lo cơm áogạo tiền Hiện thực này không mấy xa lạ vì nó là hiện thực chung của người dân nơi đây.Cái đói nghèo quẩn quanh dù họ có lao động cật lực trên cánh đồng
Cái nghèo được Nguyễn Ngọc Tư viết lại như một lẽ tự nhiên, thân thuộc từ bản
thân mình Bởi cuộc sống của những người nông dân nghèo đã ăn sâu vào máu thịt Bất
kì nhà văn nào đặt bút viết về con người, đặc biệt là người nông dân thì sẽ nói ngay đếnvấn đề cái đói, cái nghèo Đói nghèo là vấn đề đè nặng lên người dân vạn đò và đè nặnglên ngòi bút nhà văn, để chị viết một cách chân thực nhất nhưng lại không mang nặng sự
kể lể: “Mùa những bồ lúa trống trơn Mùa mua chịu Tiệm chú Mười Ba dường như chỉ
có trẻ con lai vãng Trẻ con không biết mắc cỡ khi đi mua chút dầu hôi nước mắm bằng tay không, bằng một lời hẹn mù khơi, nội con nhắn chú ráng chờ tới gặt Trẻ con không
bị tổn thương nhiều bởi túng quấn, không quá mặc cảm bởi cái nghèo (thường kèm theo chữ hèn), tụi nó không cảm thấy ngượng ngập khi nhìn thấy tên nhà mình được ghi trên cách cửa tiệm trong mùa - bán - chịu”.
Cái nghèo cái đói như ám ảnh đeo bám con người, không để cho họ bất kỳ lối thoát
nào Chuyện lo miếng ăn hàng ngày đã là một vấn đề đáng lo ngại, làm sao cho con no
cơm ngày ba bữa đã làm cho bà mẹ trong Chỉ là ghi lại một trưa vô tình không giống
Trang 17những người mẹ bình thường khác khi nói về đứa con bốn tháng tuổi của chị bị lão hàngxóm sáu mươi chín tuổi xâm hại tình dục Đúng nghĩa đó theo hình dung thì phải là người
mẹ gầy yếu, dịu dàng và đau khổ với những giọt nước mắt lăn dài trên má xót thương,những lời kể bi lụy về đứa trẻ với nỗi ám ảnh tuổi thơ hay chuyện trinh tiết Nhưng nỗi lo
của chị là nỗi lo trước mắt về tương lai gần hơn Ngày mai sẽ ra sao: “thằng em trai suy dinh dưỡng” và “đứa con cần bú, và nó thì quá gầy gò sau một biến cố không ngờ” hay
“đứa con gái lớn tới tuổi vào lớp một, thằng em trai kế với dị tật trên mắt không biết chữa được không” Chuyện về cuộc sống ngày mai sẽ ra sao khi những con người chị yêu
thương kia không thể đi học, không được chữa bệnh và đứa em trai suy dinh dưỡngkhông được ăn no Quả thật chuyện miếng cơm manh áo ghì sát đất thì làm gì chị có thể
lo xa hơn những vấn đề tổn thương của người dư giả Nói như vậy không có nghĩa là chịkhông yêu thương con mà để thấy được tình yêu của chị - một người mẹ nghèo Nói như
Nguyễn Ngọc Tư ở cuối tản văn: “Những điều cần cho tâm hồn, lúc bụng no mới nghĩ tới được ” Đó là lời tâm sự của người mẹ nghèo khổ với đứa con tội nghiệp và cũng là tâm
tư chung của người nghèo
Bên cạnh việc quan tâm đến cuộc sống nghèo khổ ở nông thôn, Nguyễn Ngọc Tư
còn hết sức quan tâm đến cuộc sống thời kinh tế thị trường với vấn đề đô thị hóa nông thôn Cuộc sống của người nông dân khi được sự “quan tâm không triệt để” của nhà
nước trong thời đổi mới cũng không sung sướng gì cho cam Trước thực trạng đó NguyễnNgọc Tư đã nói lên tất cả dưới cái nhìn của người dân Không đanh thép, dữ dội nhưngcách nói của chị “thấm” bởi sự ngọt ngào, sắc lẻm vào nỗi đau của người nông dân trongquá trình đô thị hóa Đằng sau khu đất quy hoạch dành cho khu công nghiệp là những dự
án định cư minh chứng cho cuộc sống mới văn minh và hiện đại Người đi ngang cửa là
câu chuyện của khu dân cư mới trong công cuộc đô thị hóa Câu chuyện mang đậm tínhthời sự nhưng chưa bao giờ được giải quyết triệt để mà vẫn là dấu chấm lửng bỏ ngỏ về
những lời hứa hẹn: “khu tái định cư phường X, như một lời hứa hẹn sẽ rất hiện đại và sang trọng, trung tâm hành chính, những trường cấp một, hai, ba” Nhưng mãi: “Khu quy hoạch vẫn còn dang dở, mở đường tới đâu người ta xây cất nhà theo tới đó, hết đường thì sậy mọc che giấu những thân phận bí ẩn khác”, những người dân nơi đây chưa
Trang 18sẵn sàng cho cuộc sống này, họ mãi vẫn chỉ là vị khách lạ lạc lõng buồn bã ngay trênchính quê hương mình Rồi đây cuộc sống của họ sẽ ra sao khi con đường nhựa sẽ chiếmlấn những hàng lau sậy Khi đó một là họ phải chuyển đi, hai là phải xây nhà lầu chođúng với yêu cầu của khu tái định cư mới Họ xây nhà bằng gì? Bằng tiền chạy xe ôm,tiền bán mớ rau, hay tiền bán cá? Người dân chỉ biết nhìn hàng lau sậy mịt mùng nhưchính tiền đồ tương lai của họ Mọi người chưa được chuẩn bị để có thể thích ứng vớicuộc sống của khu đô thị mới, bởi người nông dân quen chân lấm tay bùn, quen cuộcsống bình dị nơi vùng quê nghèo với mớ rau, mớ tép cũng qua ngày.
Hiện thực cuộc sống mà nữ nhà văn này đề cập đến không chỉ là cái nghèo củangười dân Nam Bộ, những khó khăn trong những khu tái định cư mà người dân phải épmình cho vừa nhưng không thể vừa nổi mà chị còn mang đến sự thú vị khi bàn tới nhữngvấn đề mang tính xã hội, những cảm thức vượt ra khỏi con mương - lau sậy Chị viết về
vấn đề cái ác, sự gia tăng bạo hành trong cuộc sống hiện đại với vấn đề thời sự nổi cộm thường ngày mà báo chí vẫn không thôi nhắc đến Đó là góc khuất mà con người
vô tình để chìm khuất đi như trong Gọi tên nỗi sợ Ngày thơ bé nỗi sợ mang tên “ông
Chà Và” với câu chuyện truyền thuyết mơ hồ nhưng nỗi sợ hoang đường đủ để những
đứa trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình và dần hình thành nhân cách Nỗi sợ càng lớn lũ
trẻ con lại càng uốn nắn hành vi của mình Nhưng khi lớn lên chúng không còn sợ “ông Chà Và” nữa mà sợ những con người hiện hữu có thật trên đời: “Giờ thì con chị bán cá ngoài chợ trời sợ công an, vì ông hay đuổi má nó chạy dài vào những ngày lễ lớn Con chị bán bánh sợ bà cho vay nặng lãi ở xóm vẫn hay chửi xói vào nhà Con anh thợ hồ sợ chính ba nó những ngày say rượu về gây gổ đuổi đánh vợ con Bọn nhỏ còn sợ cô giáo hay vơ lấy tất cả những thứ cô lấy được trong tay để làm roi”.
Nỗi sợ ngày càng chuyển đổi đối tượng và giải thiêng theo thời gian, chú công ankia đại diện cho chính nghĩa nhưng sao chỉ giỏi rượt đuổi mẹ nó Còn nếu tên trộm cònbiết sợ công an thì sẽ không có trộm cắp, cướp giật Nó nghĩ vậy Nhưng làm sao được
khi nỗi sợ đã mất, mọi suy nghĩ con người trở nên tiêu cực: “Cả thần thánh cũng giải thiêng rồi, cũng gây cho người ta cái cảm giác “có thể mua được”,“bình thường thôi,
Trang 19không đáng tin”, giống như pháp luật đã yếu mà còn mua được, lệ làng đã cũ mà còn mua được Chúng ta còn gì để tự điều chỉnh hành vi của mình những lúc bản năng tà ác ngoi lên, biết lấy nỗi sợ nào để chế ngự nó?”.
Khi không còn nghĩ đến nhau, bị che mắt bởi phù hoa con người sẵn sàng chà đạplên nhau mà chạy đến lợi ích vật chất, đó là những gì Nguyễn Ngọc Tư muốn nói đến.Chị nhận ra khi người ta không còn biết hoảng sợ điều gì thì đồng nghĩa luân lý, đạo đức
xã hội đi đến ranh giới của sự tha hóa Đồng tiền của xã hội hiện đại làm đảo ngược các
giá trị đạo đức - đó là một lời cảnh báo từ phía chị
Đối với các hiện tượng xã hội, mỗi nhà văn lại có cách nhìn nhận khác nhau,Nguyễn Ngọc Tư - một nhà văn trẻ có cách nhìn bao dung hơn nhưng không phải vì vậy
mà chị phớt lờ, thờ ơ với thói hư tật xấu của xã hội hiện đại và hệ quả được đề cập trong
Giữa người với người Chị nhận ra hai mặt của mạng xã hội “face book” - một sản phẩm
của xã hội hiện đại Chị không phủ nhận những lợi ích tích cực mà mạng xã hội mang lại:
“Nó giúp em tìm lại rất nhiều bạn học cũ, tham gia những chuyến từ thiện quen và yêu anh y sĩ đẹp trai” Nhưng chị cũng không tha thứ khi vạch mặt những tiêu cực: “Chỉ với chiếc điện thoại thông minh buộc vào mạng xã hội là thành một cần câu, anh y sĩ ung dung biến ca trực của mình thành buổi câu tin nóng hổi”, góp phần đường ai nấy đi cho cuộc tình đẹp trước sự tiếc nuối của người mẹ vì: “thấy nó hiền queo, có gì để chê đâu”.
Nhưng cái hiền hiền ấy được nhìn nhận ra sao nếu con người bận nghĩ gì khác ngoài cứu
người: “một người thấy cô gái trèo thành cầu để nhảy sông tự vẫn, anh ấy đắn đo không biết nên giữ cô gái lại, hay cứ để cổ nhảy và ta chụp ảnh đem lên mạng hái hàng trăm cái tặc lưỡi xuýt xoa” Từ bao giờ giữa người với người lại có những rằn ranh rào cản
ngăn cách nhau bằng thứ gọi là tình người mang tên của cái xã hội hiện đại, thứ dùng đểchia sẻ vô tình lại trở thành thứ chia rẽ Chính giây phút đắn đo ấy cũng đủ cho ta thấyđược sự đáng sợ của lòng người, giá trị đạo đức đã tha hóa, tình thương giữa người vớingười cũng thật đáng nguy Xã hội ngày càng hiện đại thì tình thương con người với nhaucàng bị coi rẻ, đến đồ dùng - đồ chơi mà cũng điều khiển được hành vi con người thì đóquả là một xã hội đáng báo động mà Nguyễn Ngọc Tư muốn phản ánh
Trang 20Vấn đề hiện thực đời sống luôn được các nhà văn khai thác để làm đề tài sáng tác.Song mỗi nhà văn đều có cách nhìn nhận, đánh giá và cũng có những điểm nhìn khácnhau để làm nên cái riêng trong từng sáng tác và phong cách viết khác nhau Ý thức đượcđiều đó, các sáng tác của mỗi nhà văn đều có điểm riêng biệt Nếu tác giả Dạ Ngânthường đau đáu, ngẫm ngợi về một thời đạn bom mà cả dân tộc đã đoàn kết đấu tranh và
hi sinh trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ và Pôn Pốt đau khổ của thế kỷ trước được
thể hiện rõ trong hai tập tản văn Phố của làng và Gánh đàn bà thì Nguyễn Ngọc Tư lại
thường suy ngẫm, phản ánh những vấn đề chính trị hiện thời đó là tư tưởng, lối sống củamột bộ phận con người hiện đại cùng với nó là thái độ phản đối sự thờ ơ, vô cảm, vôtrách nhiệm với quyền lợi của người dân,
Cuộc sống bề bộn và ngổn ngang những câu chuyện thế sự đời tư, hay chuyện vềmột xã hội còn nhiều mâu thuẫn, những vấn đề xã hội cấp bách cần được quan tâm.Nguyễn Ngọc Tư bằng ngòi bút của mình đã phần nào tái hiện lại hiện thực xã hội cầnnói đến một cách giản dị nhưng đầy day dứt Những tâm sự đời tư khiến người đọc thấmthía nỗi niềm tình quê, tình người và đôi khi là tiếng thở dài trước thay đổi của các thanggiá trị trong cuộc sống
2.1.2 Cảm hứng hướng về quê hương nguồn cội
Quê hương là một trong những đề tài trung tâm của văn học Đề tài quê hương bắtnguồn từ tình cảm tự nhiên nhất, sâu sắc nhất của cư dân ngàn đời gắn bó với mảnh đấtcha ông Yêu cái nơi họ sinh ra, yêu cái nơi chôn nhau cắt rốn, yêu mảnh đất dạy tanhững bước đi chập chững đầu đời và yêu mảnh đất ta nằm xuống khi nhắm mắt xuôi tay.Cảnh quê và tình quê cũng là cảm hứng chủ đạo quan trọng cho sáng tác văn học Cảmhứng về quê hương xứ sở được gợi lên với biết bao tình cảm rất sâu sắc chế ngự tâm hồncon người Nhà thơ Đồng Đức Bốn luôn nghĩ về một miền quê vẹn nguyên các giá trị cổtruyền Quê hương của nhà thơ đượm chất đồng quê cùng âm thanh của làng quê giản dị
thân thuộc làm nên hình bóng quê nhà qua đôi ba dòng lục bát: “Bao nhiêu là thứ bùa
mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình” (Gửi Tân Cương).
Mỗi nhà văn đều được nuôi dưỡng từ mảnh đất quê hương và chính quê hương cũng là
Trang 21cái nôi truyền cho họ cảm hứng cho sáng tác nghệ thuật Xuất hiện trên văn đàn một cáchđầy ấn tượng với hương vị mặn mòi của ruộng đồng miền Nam, nữ tác giả Nguyễn Ngọc
Tư ngay lập tức đã làm cho người đọc phải ngỡ ngàng và cuốn hút họ vào vùng văn học văn hóa Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư được người đọc biết đến với những tác phẩm truyệnngắn bằng một giọng văn phóng khoáng, trữ tình, đậm chất Nam Bộ Tuy nhiên, trênmảnh đất tản văn, chúng ta vẫn bắt gặp một Nguyễn Ngọc Tư hồn hậu, đằm thắm vớinhững câu chuyện chất chứa ưu tư của một người con tựa vào hồn quê mà sống, để làmnguồn cảm hứng sáng tác
-Mảnh đất Cà Mau đã sinh ra và nuôi dưỡng chị - vùng đất kết thúc của hành trìnhNam tiến với một thời đấu tranh oanh liệt, cùng quá trình khai hoang mở cõi đã hìnhthành nét văn hóa cộng cư đặc sắc của bốn dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Tất cảkhiến chị vô cùng tự hào và thêm yêu quê hương Chính điều đó đã gắn chị với cái tênlàm nên thương hiệu riêng “Đặc sản miền Nam” mà cụ thể hơn là quê hương Cà Mau.Nỗi nhớ được gợi lên như hòn than chưa từng một lần ngơi thôi cháy, cho đến khi chị gặp
ngọn lửa khác thổi bùng lên ngọn lửa nhung nhớ quê nhà Của nhớ và xa: “Tôi nhớ Cà
Mau quá trời đất, chị có gì khiến tôi đỡ nhớ không, một bài viết, hay tấm hình con đường nào ở đó cũng được ” Niềm nhớ chưa bao giờ nguôi ấy được dồn nén từ những ngày đầu, nhớ: “Cà Mau của những năm tám mươi, đường xá nội ô lổn nhổn ổ gà, mù bụi? Cầu Quay đã ngừng quay, cầu sắt Phán Tề đông người là run lẩy bẩy, qua sông Gành Hào thấy bóng mình dưới đó cũng run Sân vận động cũ mèm, nhiều chỗ sơn phết tèm lem ” và “Trong hội chợ, mùi chiến tranh còn nồng, bởi những gian trưng bày súng ống, những bài ca chiến đấu phát ra từ mấy cái loa phóng thanh khàn.”.
Chị cũng biết một Cà Mau hiền hòa với những điều bình dị mang nét riêng sauquãng thời gian náo nhiệt thực hiện cuộc chạy đua của thành thị Nhà văn bình yên cảm
nhận điều đang diễn ra với món ăn quen thuộc về quê hương: “Cà Mau có món bún nước lèo ngon lạ Vị mắm U Minh mặn mà, trong tô bún chỉ tịnh mấy miếng cá lóc trắng bong, hay chục con tôm đất lột vỏ đỏ au cạnh mớ ớt băm cay xé Mùi mắm sẽ phảng phất theo bạn hoài, ám ảnh bạn cho đến khi bạn.rửa sạch bộ râu, mùi mắm bò hóc của
Trang 22người Khmer Cà Mau còn một món tôm khô làm quà nịnh.dùng để nhậu lai rai là hết sảy, nổi tiếng ngọt thịt, vừa miệng hay mùi thuốc bắc lưu cửu quen thuộc phảng phất từ mấy tiệm thuốc của người Hoa”.
Nỗi niềm nhớ quê được chị nói lên không phụ thuộc vào thời gian xa quê dài hay
ngắn, “nhan sắc” của quê hương hay sự đổi thay của nó, mà đơn giản nhớ là nhớ, yêu là
yêu Đôi khi ở trên chính quê hương mà giữ trọn vẹn hình ảnh quê hương của ngày xưa,của cả hiện tại và truyền tình quê cho những người xa xứ Nói như vậy thì mọi thành phố,mọi quê hương đều được người ta yêu theo cách ấy, bình dị đến lạ
Cảm xúc hướng về quê hương nguồn cội còn là câu chuyện về giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc của người Khmer được chị nhắc nhở một cách kín đáo ý nhị trong tản văn
Mấy cụm khói rời Một nền văn hóa đã đi đâu trong sự đưa đẩy tưởng như đã ăn mòn
văn hóa cha ông Trong trí nhớ: “Ở miền kí ức, không khí lễ hội chưa cạn đến đáy lại đầy, mỗi năm có đến vài ba cái tết Nhưng biết đâu họ không nghĩ gì hết, quá khứ thì xa xôi, tương lai thì chẳng có gì để nghĩ về” Còn lại gì sau chuyến đi dài mang hơi thở của
cả làng quê văn hóa cho cuôc sống mưu sinh chẳng mang gì về ngoài sự nuối tiếc vềnhững điều đã qua Văn hóa một thời để nhớ để tự hào kia giờ tàn phai như nhan sắc của
cô gái Khmer già cỗi mong chờ tình yêu không còn nữa Chính sự vô vọng, nỗi buồn đã
làm tàn phai tuổi thanh xuân và làm mất đi truyền thống văn hóa phật giáo: “tết Chol Chnam Thmay kỳ rồi sân chùa không càn ai múa Lâm Thôn Trên vách phòng lục treo cái ảnh một tăng đoàn bưng y bát đi trên cách đồng xanh rì” hay “Những cư dân mới tới không phải tín đồ Phật giáo tiểu thừa nên thờ ơ ngồi giũa móng tay khi y bát đi qua”.
Xóm người Khmer cũng đã chuyển đi hết chỉ còn lại một cụm nhỏ sống xung quanhchùa Người ra đi không an vui gì, vì quen cái nếp sống cộng đồng với bà con mình,
người ở lại thờ ơ chờ đợi ngày qua ngày Cuộc sống hiện đại “biến” họ thành chủ sở hữu
những mảnh đất mới Đó là chính sách đổi mới để dồn dân vào những khu tái định cư vớinhà xây, đèn điện Nhưng cuộc sống ấy họ không quen, mà hơn thế trở nên lạ lẫm vôcùng, chỉ còn những vệt khói nhỏ bay lên le lói trong những ánh sáng bếp gas Kết thúctản văn chị chỉ để lại một câu nói khiến bao người phải suy ngẫm khá lâu và dường như
Trang 23tạo ra hình ảnh đầy sức gợi: “Rốt cuộc thì làm gì còn bầu trời nào khác cho con chim đã
bị lấy đi bầu trời”.
Đi hết vùng đất Cà Mau thân yêu, chị cũng dành tình cảm cho những người con xaquê sau cuộc di cư vì miếng cơm manh áo, dời chuyển vì cuộc sống Đó là tâm sự của chị
trong Nước cũ mưa nguồn Dù cho cuộc sống mưu sinh vẫn là gánh nặng trên vai,
nhưng chưa bao giờ cảm xúc thương nhớ một vùng quê nguôi ngoai trong họ Nỗi nhớquê, niềm tự hào về quê hương cùng những kỉ niệm thân yêu nuôi sống tâm hồn conngười, cho họ niềm tin và động lực cho cuộc sống mưu sinh Họ kể lại một cách xúc
động về vùng quê thân yêu: “Chỉ biết cái quê xứ xa xôi ấy đã phập phù trên môi của những người cha trên cuộc chuyện trò nơi cánh võng đưa cọt kẹt lúc nửa đêm, trên mảnh ruộng vừa được khai phá, hay trong những lời trăn trối cuối cùng “Ông bà mình ra đi
từ đó, nhớ!” Họ dặn dò những đứa con” Người con xa quê đang cố gắng kể lại những gì
thuộc về vùng quê nghèo nhưng độc đáo và họ yêu chính cái bình dị thế thôi
Sau cái tên, cái họ, cách phát âm của một con người là cả cuộc đời, thân phận củamột làng quê, của những người trong công cuộc khai hoang, di cư Chưa bao giờ dòngmáu quê hương nhạt bớt tình yêu và nỗi nhớ Đến cuối tản văn, câu kết thay tâm tư để nói
lên tất cả: “Cái dòng máu bạt mạng giang hồ của những người đã từng sẵn sàng bỏ lại hết: quê xứ, chùa chiền, mồ mả người thân, dấn thân vào những vùng đất mịt mờ, dòng máu ấy truyền mấy chục đời vẫn chưa lợt lạt bao nhiêu” Tình yêu quê giúp mỗi người
con xa xứ nhung nhớ về những điều đã qua, cố gắng làm tốt để sống đúng nghĩa là mìnhtrong cuộc mưu sinh và gìn giữ những điều thuộc về gốc rễ cội nguồn - nét đẹp giản dị,hồn hậu
Trong những tản văn của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã dành không ít trang văn chomảnh đất cội nguồn Không ai là không có quê hương và không nhớ, yêu quê hươngmình ngay cả khi họ đang sống trên quê Cách viết của chị luôn chan chứa tình cảm vàtràn đầy những ưu tư về một vùng quê Mỗi câu văn đều thấm đượm hồn cốt quê hương,đều nghe hơi bùn, vị mặn mòi của biển của giọt nước mắt đang chảy vào trong cho kiếpngười lưu lạc nơi viễn xứ và cho cả những con người trên mảnh đất quê nhà
Trang 24Tính cách con người được hình thành từ nhiều điều kiện khác nhau, nhưng có thểnói môi trường văn hóa là yếu tố tác động mạnh nhất Môi trường văn hóa của vùng đấtNam Bộ được tạo nên từ yếu tố địa lý, thiên nhiên ưu đãi với các thửa ruộng nặng phù sa,những con sông đầy tôm cá Người Nam Bộ có phong cách, nếp sống, lời ăn tiếng nói vàsuy nghĩ riêng thể hiện sự khoáng đạt, sởi lởi, thẳng thắn đậm hơn những vùng đất kháctrên tất cả mọi phương diện của đời sống Mảnh đất miền Tây nổi tiếng với những người
chịu chơi, được truyền lại cho con cháu qua hình ảnh “Hai Võ” ở Láng Gáo trong Người nơi biên giới: “đúng dân miền Tây thứ thiệt, nhiệt tình đến mức khách thấy không nỡ ra
về” Hai Võ chịu chơi thể hiện ân tình, hiếu khách của dân miền Tây “Khách ăn thì còn” Hai Võ sẵn sàng: “rượt bắt con gà mái đẻ cuối cùng trong bầy để hầm sả đãi khách”, hay
làm thịt con Lá - con heo cuối cùng của nhà khi có khách đến Người vợ sẵn lòng:
“Chồng kéo khách về nhà, dù nửa đêm, vợ vẫn vui vẻ đốt lửa nướng cá khô Chưa bao giờ trong nhà cạn thứ rượu thơm dịu bà tự nấu Chồng biểu làm gà bà trói gà, kêu làm
cá thì te te đi lưới cá Bữa tụi nhỏ khóc la con Lá quá, bà mẹ kêu ra vườn mà khóc, đừng
để khách nghe, họ buồn” Người đàn bà hiếu khách làm đồ ăn ngon đãi khách xong còn bản thân mình “bà để nguyên mình ướt sau khi kéo cá dưới ao đãi khách của chồng, bưng tô cơm nguội ăn với muối tiêu” Nét đẹp văn hóa ấy còn được truyền dạy cho những đứa con “sẵn sàng ăn cơm với kho quẹt nhường vịt luộc phay cho khách như thường” Sự
chịu chơi này để lại ân tình, tình nghĩa, vậy nên bao năm đi qua ai cứ nhắc đến địa danhnày thì không thể không nhớ đến Hai Võ Khi chỉ còn là nấm mồ xanh cỏ nhưng ân tình
cái thủa “khách ăn thì còn” để lại cho đời sau Tình nghĩa của thời khốn khó được đáp trả
cho những người xứng đáng
Đó là vẻ đẹp của con người Nam Bộ trong cuộc sống thường ngày Tính cách đặc
sắc của con người nơi đây gói gọn trong bốn chữ “tình”, “lòng”, “thương” và “nghĩa”.
Vẫn chất giọng đặc trưng mang tên Nguyễn Ngọc Tư, đượm buồn trong cách viết
và cách nhìn nhận vấn đề Dù yêu quê hương tha thiết, nhưng dường như chị rất ít mỉmcười khi viết Với chị, quê hương như là chiếc nôi ru chị vào giấc ngủ bình yên trướccuộc đời mưa gió, như bầu sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn giữa cuộc đời còn quá
Trang 25nhiều sóng gió thị phi Ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư đã làm sống dậy những kỉ niệm, kí ứcquê hương trong trái tim nhiều người Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ hiểu về mảng tản vănchị viết về quê hương sâu sắc như thế nào, đủ để lan tỏa làm thổn thức con tim bao độc
giả Đúng như tuyên ngôn chị từng tuyên bố: “Mai sau thế sự có đổi thay tôi vẫn viết về miền quê mình đã sinh ra, nơi ấy tôi mới sống với khát vọng cháy bỏng của con tim mình”.
2.1.3 Cảm hứng hoài niệm
Một đề tài được tản văn chú ý khai thác đó chính là viết về những điều đã qua trongquá khứ Nguyễn Ngọc Tư là một tác giả như vậy, khi chị luôn trăn trở, nuối tiếc về mộtngày xưa như thế
Trong kí ức của mình, Nguyễn Ngọc Tư không thôi nhớ về những chuyện xảy ra
xung quanh mình Trong Buổi chợ đầu đời với hình ảnh hai bà cháu đi chợ bằng xuồng:
“Có người bưng gàu nước ngồi chồm hổm bên thềm rửa mặt Có trẻ con cởi truồng tắm sáng Có ông già chống gậy ra cửa sau tựa vào cây gậy ngó mông lung Cá khô xỏ xâu phơi trên sào quần áo, những giẻ lau đủ màu sắc giắt gần đó, phơ phất như đuổi chim trên ruộng Những xô chậu, những lu khạp, những cái xõng treo xiên xẹo Đằng lưng của chợ nhìn thân thiện với người quê” Những hình ảnh giản dị đi vào vùng nhớ của đứa trẻ
lần đầu đi chợ cùng bà Điều nhìn thấy đầu tiên sẽ mãi là miền kí sâu sắc nhất Đó là mónhàng được mang ra bán buôn với sự định giá của người mua, giá trị món hàng nằm ở xuất
thân “khoai mì và bột ngọt” và tô hũ tiếu đầu đời nó ăn có giá bằng “nửa cà vung trầu”.
Trăm năm trong đôi bờ thương nhớ, chị nhớ một vùng quê sông nước với phiên chợ nổitrên sông mua bán đôi ba món quà quê nhà tự làm bằng tay Người bà chống chèo nuôi cảgia đình Buổi chợ ấy không đơn giản chỉ có sự bán mua món quà quê, đồ dùng thườngnhật mà buổi chợ cùng bà bán cho đứa trẻ bài học về cuộc sống, bán cho nó ước mơ thayđổi hiện tại Không đơn giản buổi chợ ấy làm cho đứa trẻ nhớ mãi đến khi nó bằng tuổi
người bà dẫn nó đi chợ mà vẫn chưa nguôi nỗi nhớ với dư vị tô hũ tiếu đầu đời: “Buổi chợ đầu đời mãi mãi ám ảnh con nhỏ, hai mươi tám năm sau khi nó ngồi nhớ lại, vẫn thấy cảnh mình đi chợ về te te lấy sách ra ngồi học, bởi không muốn lớn lên trồng trầu
Trang 26và rau húng lủi Vẫn nhớ trong tô hũ tiếu đầu tiên mà mình được ăn, có dư vị trầu cay xé họng Và đi bằng xuống chèo thì chợ của người chợ xa lắm, rất xa” Ngày xưa ấy không
ồn ào náo nhiệt mà chỉ như một khúc nhạc du dương đưa mãi vào hồn người, để bất cứlúc nào cũng có thể mang ra nhớ nhung một thủa xốn xang
Một nhu cầu thôi thúc Nguyễn Ngọc Tư viết về những điều đã qua để thoát khỏi xãhội hiện tại đầy rẫy phức tạp trở về với ngày xưa Nhớ về quá khứ tươi đẹp để tiếp tụcsống tốt ở hiện tại Tản văn của chị viết về quá khứ là dành cho hiện tại, nên xốn xangnhớ, ngậm ngùi thương quá khứ cũng là lẽ đương nhiên, món quà vô giá chị gửi tặngchính mình ở hiện tại và cả tương lai Đứa con của hiện tại biết về những điều đáng quý
của một thủa đã qua Đó là nghệ thuật của ca từ của tiếng hát: “Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát” hay “Tô Ánh Nguyệt năm xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run rẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời” Chính
sự giản dị, chân phương của một thời làm cho âm nhạc trong trẻo, sống mãi với thời gian.Còn thời nay khi các ca sĩ đạt đến đỉnh cao của tài năng, mọi thứ quá hoàn hảo thì sự giản
dị không còn, người ta làm mọi thứ để che đậy sự vụng về, chính điều đó làm mất đi sự
tự nhiên mà nghệ thuật cần có và nên có Hay chăng nghệ thuật ca hát ngày nay chỉ lànhững cái bắt mắt gây sự chú ý rồi phai nhanh, cố ý cho khán giả nhìn để che lấp những
thiếu sót của giọng hát: “Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét vừa bứt xé hàng khuy áo quá sex, mệt gì đâu” Nguyễn Ngọc Tư phải thốt lên rằng “Sự giản dị năm xưa mãi mãi ở lại với năm xưa” nghệ thuật ấy khiến khán giả “mệt gì đâu” cho nên người ta cần nghe những loại nhạc của các cô, các chú nghệ sĩ xưa, nghe “khỏe” bởi sự thoải mái, thảnh
thơi
Qua trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta không thể phủ nhận những kiến tạo
từ sự hi sinh của quá khứ đã làm nên giá trị cho hiện tại: “đằng sau người con gái 21 tuổi xách cái giỏ cũ kỹ đựng khối mìn nặng gần 10kg” và “tiếng nổ đã làm rung chuyển thị xã
Cà Mau lẫn trong những thi thể kẻ thù, có mẹ, đồng đội của mẹ và em Kế hoạch rời đi
đã gặp trục trặc vì những sơ suất nhỏ, và họ chọn cho mình sự hi sinh” Tuy nhiên khi
Trang 27nhìn về điều đã qua không phải quá khứ của chị lúc nào cũng tràn đầy yêu thương màhiện thực thì phũ phàng, tăm tối Vẫn còn nhiều lắm những điều trong trẻo, thánh thiện vàngọt ngào cho đời Đó là mảnh ghép tuy nhỏ nhưng sáng lấp lánh cả bầu trời thương nhớ.
Minh chứng cho điều đó là nhan đề của tản văn, “cúi xuống vùng non xanh mái " chính
là lời bài hát mãi vang vọng trong tác phẩm, được chị mãi ngân nga và “Cạnh quán cà phê Văn Nghệ có ông trải chiếu vỉa hè bán đồ cổ, hay mở cái băng nhạc Trịnh Công Sơn Hát cho quê hương Việt Nam 1 thu âm năm 1969”.
Khi viết về những kỉ niệm, tác giả luôn thể hiện quan niệm riêng của mình, khôngbắt ép người đọc một chiều quy chụp, viết tự nhiên không gượng ép nên những điều nhìnqua câu chuyện rất nhiều, giá trị của nó không kết thúc ở câu văn cuối bài cũng không kếtthúc ở dấu chấm hết Mà nó là dấu chấm lửng trong mỗi người, mãi vẫn chưa giải đáphết Những bạn đọc trẻ sau này có thể được cùng tiếng nói với cha ông để giải mã thêm
Có thể thấy, tản văn Nguyễn Ngọc Tư là sự hài hòa giữa đất và người, giữa quêhương nguồn cội và những vùng đất mới, giữa quá khứ và hiện tại Tất cả được nhà văngiải quyết rất “ngọt” không chút gượng gạo Chính sự tự nhiên, chân thật đậm chất Nam
Bộ đã tạo nên sức hút đặc biệt cho tản văn của chị Đó chính là một đặc điểm nổi bật vềphương diện nội dung trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư
2.1.4 Cảm hứng con người:
Tản văn của chị mang nét rất riêng của một người con Nam Bộ: thủng thẳng, nhỏ nhẹnhư một người con gái quê vừa lao động vừa kể chuyện, những câu chuyện da diết yêuthương nhưng cũng có khi mang ý vui tươi, hóm hỉnh chạm nhiều đến cuộc sống củangười dân lao động
Biển của mỗi người là một sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế là lời tâm sự về cuộc đời về
nghiệp viết văn Câu chuyện mà chị kể gợi lên một nỗi buồn se sắt khi trong cuộc sốngđầy bon chen, xô bồ này con người ta dần mất nhau không bởi vì khoảng cách địa lý màmất nhau vì nghi ngờ Đó chính là khoảng cách giữa hai tâm hồn Câu chuyện giản dị
mà Nguyễn Ngọc Tư kể trong Biển Của Mỗi Người gợi lên trong lòng người đọc một
nỗi buồn se sắt Trong cuộc đời quá xô bồ này, “khi mà cuộc sống ngày càng khắc nghiệt
Trang 28và lạnh lẽo, vô chừng”, con người ta dường lạc mất nhau, không chỉ vì xa xôi cách trởđường đất, mà còn vì chúng ta luôn nghi ngờ lòng tốt của một người dưng, vì khoảngcách giữa hai tâm hồn (tưởng chừng thân thiết) dường như quá lớn…
Với Gáy người thì lạnh, người đọc thấy chính mình, cảm xúc với gia đình, người thân
với những con người bên ta và có tình cảm đặc biệt hơn với thành phố nơi neo đậu củacuộc đời Tản văn là hình ảnh con người miền Tây, ở đó có hình ảnh người mẹ, ngườiông, người bạn, những em nhỏ… phải vất vả mưu sinh, cuộc sống thiếu thốn nhưng vẫnluôn tràn ngập tình yêu thương và niềm tin vào cuộc sống Qua đó, người đọc sẽ cảmnhận được sâu sắc hơn tình cảm gia đình, tình cảm giữa con người với con người trong
cuộc đời còn lắm xô bồ, rối ren… “Ờ thì cái phận người của chúng ta cũng mỏng manh vậy, mà ham sống thôi là ham, tôi nghĩ bụng”.
Ở tập tản văn mới nhất mang tựa đề Đong tấm lòng, Nguyễn Ngọc Tư đã đầu tư nhiều
hơn Trong bức tranh đồng quê có người già, trẻ nhỏ, có những thanh niên trai tráng, cócon xóm nhỏ với rặng hoa dâm bụt, những chiếc ghe vất vả ngược xuôi mùa gió chướng,
có mùa lụt nước về hay những câu chuyện ma mị dọc đường gió bụi giang hồ của miềnTây xa thẳm
Nhưng Nguyễn Ngọc Tư không chỉ nói về con người miền Tây sống gần với ruộngvườn, sông nước, với thiên nhiên bằng tâm hồn cởi mở, phóng khoáng, nghĩa khí, hàohiệp Chị gần gũi với họ đủ để lẩy ra được cả những cái nhìn phản biện về tính cách nôngdân Những đặc tính của thói quen "sống hôm nay chẳng cần biết đến ngày mai", tính
"chịu chơi, xả láng" của người nông dân miệt vườn được chị phác lại với giọng văn tưởngnhư nhẹ nhàng nhưng ẩn trong đấy là một sự rưng rưng thương cảm " Người đàn bàkéo cá dưới ao lên đãi khách cho chồng, rồi bưng tô cơm nguội ăn với muối tiêu" (bài
"người nơi biên giới") Hay câu chuyện người ta bày đặt đổi vợ đổi chồng cho nhau trong
"Miền Tây không có gì lạ", bởi theo chị ở miền Tây, không có chuyện gì là không thể xảyra
2.2 Đề tài trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư:
Trang 29Không thoát khỏi các đề tài chung của văn học, tản văn Nguyễn Ngọc Tư cũng để tạidấu ấn trong một số mảng đề tài như: cảnh quan văn hóa dân tộc; đời sống đô thị; tìnhyêu, hôn nhân, gia đình Ở mỗi đề tài nữ nhà văn đều góp nên tiếng nói riêng, màu sắcriêng
2.2.1 Cảnh quan văn hóa dân tộc:
Trong thời hội nhập và phát triển, bản sắc văn hóa là điều phải quan tâm lưu giữ, bảotồn và phát huy Bản sắc văn hóa là tấm gương soi rõ nhất về diện mạo cũng nhưbản chất của một dân tộc Làm nên bản sắc văn hóa dân tộc không thể không nói đếncảnh quan văn hóa dân tộc, một đề tài chủ yếu trong tản văn nói chung và tản văn củaNguyễn Ngọc Tư nói riêng Cảnh quan văn hóa dân tộc là những hình ảnh về thiênnhiên, phong cảnh, địa lí, thủy văn, bức tranh đời sống, sinh hoạt của con người ViệtNam ở khắp nơi Mảng đề tài này xuất hiện khá phổ biến trong văn học nói chung và đốivới tản văn nói riêng Cũng dễ hiểu bởi những nét riêng về không gian, cảnh vật, thiênnhiên, phong tục, lễ hội… của đất nước luôn gắn bó với cuộc đời mỗi người Hầu nhưtrong bất cứ tuyển tập tản văn nào, những nét đặc sắc về văn hóa dân tộc cũng đượcnhững người cầm bút quan tâm Nhiều trang văn mang đậm cảnh sắc làng quê, những nétsinh hoạt trong cuộc sống đời thường ấp ủ hồn dân tộc
Vẻ đẹp của cảnh quan văn hóa dân tộc trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư là cảnh sắcmiền Tây với sông nước hữu tình, lòng người ấm áp, những sinh hoạt giản đơn trongcuộc sống hàng ngày, những đổi thay của quê hương trên những nẻo đường ngược xuôi Miền Tây sông nước, kênh rạch chằng chịt, những cánh đồng mênh mông “cò baythẳng cánh” là những hình ảnh thân thương và quen thuộc mỗi khi nghĩ đến vùng đất này.Chính vì thế trong nhiều trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, những bức tranh quê dập dìu
sông nước mênh mang, những vụ mùa hiện hữu bàng bạc trong nhiều tuyển tập Rạch Rập trong tản văn Bánh trái mùa xưa là hình ảnh một bức tranh sông quê gắn bó với
tuổi thơ êm đềm của tác giả trong những ngày sống cùng ngoại Có lẽ vì thế mà nhà văn
đã miêu tả khá kĩ về dòng sông đầy nhớ thương đó “Tên thì rõ ràng là rạch, nhưng đoạn chảy gần chợ người ta gọi là kinh, và dòng chảy bị bóp nghẹt bởi hai dãy nhà sàn san
Trang 30sát Rạch Rập chảy sâu về phía Nam thì rộng dần ra, qua những ruộng vườn xanh ngắt”.
Đó là thủy trình Còn đây là phong cảnh: “Với những rặng dừa nước, những cây bần, cây vẹt mọc nghiêng nghiêng chểnh mảng ven bờ Những hàng đăng đó lơ phơ chồi sậy, những cái vó cất gác chếch lên hóng gió sau một đêm sũng nước Những chiếc ghe hàng bông neo lại bên rặng mắm nấu cơm chiều om lên vài lọn khói còm nhom Hai bên sông nhà cửa lưa thưa, núp ló sau những bụi rậm mọc hoang những ô rô, chùm gọng, ráng choại…” Không chỉ miêu tả bức tranh phong cảnh sông quê, ở đó, còn có cả bức
tranh sinh hoạt của con người Song dường như hình bóng cuộc sống con người chỉ thấpthoáng ẩn hiện qua “vài lọn khói còm nhom” Sông nước vẫn mênh mang nhưng ở đó vẫn
có cuộc sống của những con người bình dị Sự hòa quyện của bức tranh sông nước đóthật đẹp và nên thơ biết bao!
Cảnh quan văn hóa miền Tây còn hiện lên khá rõ qua những nếp sinh hoạt ăn,
ở, ứng xử với thiên nhiên trong cuộc sống thường ngày trong Ngủ ở Mũi “Tháng
hai quẩy túi về đồng, canh trúng mùa đìa, bắt cá lóc ký đốt rơm nướng trui ăn kèm muối ớt, uống rượu xóm Dừa, dài tới tháng tư, sa mưa, ra đồng bắt ốc lác luộc với lá sả, lá ổi chấm cơm mẻ chơi Gió chướng về Đầm Bà Tường ăn cơm nguội với ghẹm muối Tháng mười trái mắm rụng đầy những sông những rạch ven các cửa biển, mùa săn cá dứa bắt đầu” Đó không chỉ thể hiện sự “sành điệu” khi về miền
Tây thưởng thức những sản vật với “mùa nào thức ấy” mà còn có cả những trang văn
thức dậy trong ta cả nỗi thèm thuồng của khao khát muốn đi cho biết Đi về “ấp Mũi, một xóm nhỏ ở cuối trời Tổ Quốc” Nơi đó, có những căn “nhà bao nhiêu gian thì bấy nhiêu gian đầy gió” bởi “ở đó có những căn nhà không bao giờ khép cửa” dù mưa Nam hay mưa chướng Nơi đó, “người ta sống chân thật với nhau đến mức để trống cả vách nhà, của cải đồ đạc cũng có mất mát gì đâu” Nơi đó “gió vẫn như múa, như
ca, như chạy, như nấp bên ngoài cái mùng vải thơm mùi nắng Những chiếc tàu đánh
cá ì ầm chạy qua, và tiếng biển, đúng là tiếng biển lướt trên những búp lá đẫm sương trong rừng đước, rì rào rất gần” Và không gì thú bằng khi được ngủ ở đất Mũi Bởi ngủ cũng có một “quá trình hẳn hoi”: “Bao giờ lúc chạng vạng ta cũng ngồi với nhau uống vài ly cho ấm bụng, không khô mực thì hàu nướng, sò nướng chấm muối
Trang 31tiêu chanh Khuya một chút, khi ngà ngà say rồi, người dưới bếp sẽ bưng lên một nồi cháo sò huyết Trời ơi, cái mùi thơm của sò, của tiêu, của mỡ tỏi mới hít vào hơi rượu
đã tan đâu hết, còn nói gì tới cảnh xì xụp húp chén cháo nóng, nó không chê vào đâu được” Những dòng văn miêu tả đầy chất thơ đã tái hiện bức tranh văn hóa miền Tây
thật sinh động và gợi nhiều cảm xúc
Nói đến cảnh quan văn hóa dân tộc, nơi mà người ta dễ nhìn ra lối sống, sinh hoạt,những đặc sản quê hương không đâu khác là ở chợ Những phiên chợ quê bao giờ cũng
là nơi lưu giữ những kỉ niệm, những tâm tình, những món quà quê chở nặng tâm hồnngười Việt Tản văn Nguyễn Ngọc Tư có nhiều bài viết về những phiên chợ quê như
thế Buổi chợ đầu đời, Chợ nhóm bên đường, Chợ trôi, Chợ của má, Tần ngần giữa chợ…
Chợ nhóm bên đường vừa có nét thân quen, vừa có những nét riêng của chợ nhỏ ở miền
Tây mà không tìm thấy ở bất kì đâu Cái mà ở nơi nào cũng có là sự bán mua, nơi chốn
họp chợ: “Chợ lúc nào cũng nhóm ngay đầu cầu, trước cơ quan xã hay đầu cống đá vào xóm kinh… Mấy rổ hàng con con, mười người phụ nữ tay lấm áo lem ngồi với nhau là thành chợ, đông nữa hai ba mươi người cũng gọi chợ” Và chợ họp cũng chỉ để đổi trao
nhau những món hàng của nhau, không có nặng nhẹ chuyện đong đo, họp chợ còn đểhỏi han nhau chuyện chồng con, nhà cửa, ruộng lúa, vườn cây… Còn cái nét riêng
của chợ nhỏ miền Tây là ở sản vật đặc trưng chỉ có ở nơi đây “thì mớ tép rong ôm một bụng trứng xanh rờn còn ướt rượt nước mới cất vó từ dưới kinh lên đó, thì mớ cá lòng tong, lìm kìm, cá mè con còn nhảy tung nhảy tóe…, những cọng năng trắng muốt thơm ngai ngái mùi bùn, mùi nước trên đồng.”
Nếu Chợ nhóm bên đường chỉ nói chuyện người đi bán thì Tần ngần giữa chợ gợi nhớ
đến người đi mua Cũng là chợ với bao thứ hàng - sản vật quê hương Đó là “con cá đen nhẫy đang quẫy nước trong tiếng kêu ôi ối của mấy người đàn bà Đống rau cải mướt sương đêm chất ngồn ngộn dưới nền chợ Những tảng thịt tươi còn ấm nóng trên tay…” Nhưng câu chuyện lại hướng người đọc vào “chị” – người đi mua với những
“tần ngần”: mẹ chồng không thích thịt, cá lóc, bí xanh, khoai ngọt; chồng không mặn mà
Trang 32cá trê, ghét bông bí, đậu bắp,cải xanh; thằng con không thích cá rô, dưa giá; mua lê, táo
sợ ngâm hóa chất; lại thêm giá cả tăng vụt từng ngày… Bao nhiêu nỗi lo nghĩ, tính toán
đè lên người đi chợ Tần ngần giữa chợ là một tản văn đầy nội tâm Cũng nói về chợ
nhưng gợi cho người ta nhiều suy ngẫm về “niềm lo nghĩ, nỗi thương yêu” của bà, của
mẹ, của vợ, của chị…sau mỗi bữa cơm gia đình
Chợ của má gợi lại hình ảnh một khu chợ ruộng bình dị hiện hữu bất cứ một khu chợ
thực phẩm nào ở thành phố Cà Mau Nơi đó “hầu như tất cả rau trái ở quê mình có, ở chợ ruộng có” Chợ ruộng còn bày ra “mùa nào thức ấy” mang nét hồn quê bao đời.
“Ngày rằm, ngày ba mươi, chợ trang điểm bằng bông trang được cột thành khóm đỏ tươi bán cho những người cúng bàn thờ Phật Mồng hai, mười sáu, chợ lúc nhúc những chú gà non tơ Trời hạn, chợ bày thúng rau đắng đất, run rẩy xanh cho ta thèm một nồi cháo tống Bữa nắng chiều chợ có rễ tranh, mía lau.” Gọi là “Chợ của má” vì chợ ruộng đầy thân thương, bình dị và gần gũi, “nó hiền lành, lam lũ như má, bởi chợ nhỏ nhoi, khiêm tốn như má, nhưng nó mang một cái hồn sâu, mênh mông lắm nên người ta nhắc nhớ hoài, thương hoài như thương má vậy” Rõ ràng qua
những buổi chợ, khu chợ trong những trang văn Nguyễn Ngọc Tư ta có cái nhìn rõ hơnhình bóng quê hương miền Tây qua những con người, sản vật nơi đây Đó là một phầncảnh quan thôn quê không trộn lẫn, là nét đặc sắc văn hóa của con người vùng sôngnước cực nam của Tổ Quốc
Bánh trái mùa xưa gợi lên những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Việt, nơi
lưu giữ nét đẹp của sự khéo léo, công phu, của những thức quà bánh - đặc sản quêhương, và là nơi lưu giữ cái tâm, cái tình người Việt với tổ tiên, với con cháu Câuchuyện có điểm xuyết qua những ngang trái của thời mới, khi mà nhiều người thíchnhững món hàng nhanh, đẹp nhưng lại coi rẻ quà quê Thế nhưng tiếng thở dài đó đã trôi
qua rất nhanh nhường chỗ cho một niềm tin bất diệt đầy thách thức: “dẹp cả một nền văn hóa thảo thơm đồng bãi, đâu có dễ” Xuyên suốt bài viết là một niềm tin như thế với
những chiếc bánh được gọi tên không thể nào phai Có những thứ bánh dùng để cúng
quảy ông bà tổ tiên: “bánh bột đậu”, “cốm ngào đường”, “bánh kẹp cuốn”, “bánh
Trang 33bông lan”,…; có những thứ bánh để cho con trẻ ăn chơi: “bánh rau mơ”, “bánh canh ngọt”, “bánh canh mặn”, “bánh chuối hấp”, “bánh tổ”… Mỗi thứ bánh gợi lên những
công đoạn đầy công phu, khéo léo của người bà, người mẹ, người vợ với cả tấm lòngthơm thảo Những chiếc bánh không chỉ mang nét đẹp của quê hương, nó còn gợi lạitrong lòng mỗi người yêu quê những kí ức đẹp không thể nào quên
Tuy mức độ đậm nhạt có lúc khác nhau nhưng đọc những trang văn của NguyễnNgọc Tư, ta đều bắt gặp những hình ảnh thân thương về cảnh sắc đất nước và bức tranhđời sống mộc mạc, chân chất, những nét đẹp văn hóa đáng tự hào của con người ViệtNam
2.2.2 Đời sống phố thị:
Phố thị cũng là mảng đề tài chiếm được nhiều quan tâm trong tản văn của NguyễnNgọc Tư Ở tản văn Nguyễn Ngọc Tư, ta bắt gặp hình ảnh phố phường miền Nam, haynhững thành phố của đất nước mà chị có dịp đi qua Bức tranh phố thị trong tản vănNguyễn Ngọc Tư cũng buồn như những bức tranh quê trong văn của chị Cũng háo hứctrước những đổi thay nhưng cũng có khi nhà văn trăn trở, buồn, lo lắng trước những cáiđẹp đang dần mất đi mà cái xấu thì cứ lồ lộ trong quá trình đô thị hóa
Mùa hoa giữa phố - một nhan đề rất thơ, gợi lên cho người đọc những sắc màu lung
linh rực rỡ, điểm tô cho vẻ đẹp của thành phố Đi vào trang viết, tác giả cho ta một cảmxúc vui buồn lẫn lộn Mỗi dịp Tết, thành phố như được điểm tô thêm, đẹp hơn bởi
những dãy hàng hoa tươi, những hàng hoa kiểng “Mùa xuân quả là đáng chờ đợi, vỡ ngọn gió hiu hiu này, vì chỉ dịp này, những con đường ở trung tâm thành phố vốn khô khốc bê tông mới trở thành dòng sông hoa, uốn lượn rực rỡ” Nhưng xuân đến với
muôn ngàn hoa khoe sắc cho thành phố vẫn không làm lòng người vui vẻ trọn vẹn Ở cáinhìn đồng cảm với người đem lại vẻ đẹp trong những ngày giáp Tết ở thành phố, tác giảbày tỏ nỗi xót xa khi họ “thấp thỏm với cuộc được – mất, lỗ - lời” Lời văn có khi đanh
lại như trách móc những người vô tâm: “Chỉ kẻ mua là nhẩn nha, mặc cả cho hết giá Dường như con người ta có một chút khoái trá khi thấy kẻ yếu bị dồn đến cùng đường Mấy ai nhìn vào khuôn mặt sạm nắng của người bán, để thấy bất nhẫn, giống như mình
Trang 34bỏ thêm muối vào mồ hôi, làm họ càng xót xa thêm” Song dù đó là nỗi buồn thời vụ hay là nỗi buồn của muôn thuở thì ngày Tết hoa vẫn đua nở và những “cây kiểng và hoa không vì thế mà lỗi hẹn, chúng vẫn trải đầy trên những con đường trung tâm thành phố, chúng vẫn như dòng nước mát, tưới tắm tâm hồn người, làm dịu đi khói bụi thị thành” Câu chuyện của một thành phố nhưng đó cũng là câu chuyện của bao phố
phường khác ở Việt Nam mỗi khi Tết đến xuân về Cuộc mưu sinh ở bất kì đâucũng không hề dễ dàng, nhất là khi ở đó có những người vô tâm Phải chăng, đó làtâm sự mà Nguyễn Ngọc Tư muốn nói đến sau câu chuyện lắm vui buồn kia
Dời bến là một tản văn mà ở đó như nhan đề kể về một cuộc “dời bến” của một
người đàn bà quê lên thành phố làm nghề giúp việc Bao nhiêu nếp quê, bao nhiêu lốisống, cách cư xử, bao nhiêu sản vật, kỉ niệm của quê đã ăn sâu vào người đàn bà này.Đễn nỗi trong thời gian đầu, hễ chung đụng với những chuyện khác quê, người đàn
bà này lại thốt ra câu “Phải ở dưới quê” Có lẽ đây là một cách khéo léo để tác giả lật ra
từng khung hình của đời sống thành phố “Xứ gì ngộ quá, đâu cũng có nhà mà không có chỗ đụt mưa”, “Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can”, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo”,
“phải ở dưới quê, mùa này gió chướng thả cửa, ở trong nhà hả họng đón gió sông, mặc sức mà run, mở máy lạnh làm chi, ngộp quá chừng”, “phải ở dưới quê, chặt cây chuối
ra ao tập lội, khỏi mắc công đi hồ bơi”… Bao nhiêu cái “ở dưới quê” mà người đàn bà chân quê khẳng định đã làm xiêu lạc cả nhà chủ ở thành phố “Họ bắt đầu cảm thấy cái nơi mà họ chưa từng đặt chân đến mới là thiên đường” Vậy mà sau sáu tháng, người
đàn bà chân quê ấy về quê dự đám giỗ, khi trở lại thành phố đã mặc định một điều
ngược lại “phải ở thành phố” Bởi “rầu quá, dưới quê bước ra là gặp sình lầy, dơ muốn chết, phải ở thành phố”, “đám giỗ làm bánh lủ khủ, phải ở thành phố chạy ra chợ mua cho gọn” Đúng là một thiên tản văn hài hước và kịch tính Vậy đâu là giá trị?
Ở phố hay quê? Vì sao người đàn bà chân quê ấy, người đã coi “dưới quê” là thiênđường mà chỉ sau sáu tháng đã nói và nghĩ ngược lại? Nguyễn Ngọc Tư cho rằng
“cô đã được tiện nghi thành thị nuông chiều, nhận ra một chuẩn mực mới Một trò chơi nhỏ của thời gian, nhưng mà chơi ác” Đời sống thị thành với những tiện nghi của nó dễ
Trang 35làm người ta “xiêu lạc” hay cái nỗi thường tình của con người “sống đâu quen đó” đãlàm thay đổi con người ta? Phải chăng ở đâu cũng là thiên đường nếu ta gắn bó và yêumến?
Đời sống phố thị trong văn Nguyễn Ngọc Tư đôi khi chỉ là một cái bóng Chị đã nhìnngắm nó từ những góc khuất rất đời thường, từ những bậc cấp thấp nhất Đó là mộtphố chợ tuy còn tuềnh toàng không khác quê là mấy nhưng cũng là một niềm háo hức
của dân quê – những người hay nghĩ “về chợ nghĩa là ăn sung mặc sướng, đèn đóm sáng trưng, thiếu thứ chi chỉ cần bước ngay ra cửa là có, mãn năm móng chân không dính miếng sình” Nhưng ai có biết rằng, cái phố chợ trong mơ đó, những ngày “cuối năm, những bữa tiệc nước không mong đợi cứ theo gió chướng mà về” Ở đó, cô dâu trẻ
ở quê “thấy chợ cũng như cái xóm quê mình, mưa đầu mùa cũng gặp những con cá rô
ốm ròm vác cái bụng lặc lè trứng lóc qua sân nhà trọ Chạng vạng ễnh ương, nhắc nheng kêu sầu trời đất Có bữa dậy thấy rắn nước nằm khoanh tìm hơi ấm trong giày Đường sá quãng cuối năm thành sông, lút nửa vành bánh xe đạp…” Không chỉ hiện lên
với những hình ảnh quen thuộc hàng ngày với vẻ nhếch nhác, phố chợ còn nghèo cả đời
sống tinh thần “Vài ba lần trong năm, thành phố có chút rộn ràng với những chiếc xe quảng cáo nhạc hội (…) Không rạp chiếu phim đúng nghĩa, không nhà hát” Với người
dân quê, phố vẫn có hơn quê, vẫn là niềm ước mong cho con cái được đến đó học hành
để “thụ hưởng thứ ánh sáng thị thành” Còn với cô dâu trẻ từ quê đến với phố này “chưa bao giờ che giấu ước mơ kiếm thật nhiều tiền để chuyển đến thành phố lớn hơn, khi cô
có con” Thành phố trong mơ của cô có nhiều ánh sáng hơn “Những cuối tuần cô sẽ đưa chúng đi công viên vẽ tranh, đi bảo tàng, hoặc xem kịch, coi phim, may hơn có thể tham dự một vài buổi hòa nhạc ngoài trời” Giấc mơ về một thành phố với đời sống
đủ đầy luôn nằm trong tâm khảm của nhiều người Song “Bóng của thành phố” vẫn
mãi chập chờn trong cơn mơ của những người dân quê trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư Thị thành trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư còn hiện lên với những mảnh đời khổ
đau như người phụ nữ trong bài Chị gái Sài Gòn giờ tóc đã qua vai? Đó là người phụ
nữ gốc Sài Gòn làm nghề xe ôm, gặp người chồng bạc tình theo gái Gã chồng đã lén
Trang 36bán cả ngôi nhà mà họ bao năm chung sống để cuốn tiền theo tình nhân Đến nỗi “giận thằng chồng mê vợ bé, chị xuống tóc thề đoạn tuyệt” Đó chưa phải là tất cả nỗi oái ăm
của người đàn bà khốn khổ này Một năm sau, gã chồng bị tai nạn đụng xe, vậy màngười phụ nữ lái xe ôm vẫn dang vòng tay đón chồng trở về Thậm chí cô còn xuống tóclần nữa để trả lễ cầu cho chồng được sống Men theo câu chuyện éo le, trườn sát vònglăn bánh xe ôm của người phụ nữ bất hạnh, tác giả vẽ ra những cung đường ngược xuôi
của thành phố: “Có những con hẻm sâu hun hút, ngoằn ngoèo chi chít Người xa lạ thấy mình bị kẹt trong đám bùng nhùng, và không biết mình đang ở trong mạch máu nào của những con đường có tên trong bản đồ thành phố” Ở đó, có “những quán ăn kê ghế sát bên đường, khói từ các chảo chiên xào bốc lên ngùn ngụt Vài đứa con gái mặc quần lưng trễ, mông dán mấy con bướm đen, ngồi xì xụp với tô bún nóng Mấy gã bụng phệ chồm hổm vuốt ve những con gà nòi Có người ngoẹo đầu ngủ say trên cái võng
kê trước hiên” Bức tranh thành phố sầm uất Việt Nam không chỉ được biết đến với
những ngôi nhà, dãy nhà cao tầng, đường phố sáng rộng, nhiều khu vui chơi hiệnđại Sài Gòn còn nhiều cung đường, nhiều ngõ hẻm quanh co như thế Nơi có biết baophận người lênh đênh phiêu bạc như người đàn bà khốn khổ kia Nhưng chính nhữngcon hẻm quanh co tưởng như vô tận, những mảnh đời bất hạnh kia lại chính là một phầnkhông thể thiếu của thành phố từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”
Đời sống phố thị trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư đã đem đến cho người đọc nhữngbức tranh muôn màu của đời sống thành thị, ở đó có những con người, cảnh sống caosang, xa lạ, những vẻ đẹp mà ta chưa từng được thấy, cũng có những góc phố thân quennhư cuộc sống hằng ngày Nguyễn Ngọc Tư đã để lại góc nhìn riêng, vẽ lại bức tranhphố thị đa dạng tạo được cảm xúc trong lòng người đọc
2.2.3 Tình yêu, hôn nhân, gia đình:
Tản văn Nguyễn Ngọc Tư cũng có nhiều câu chuyện về tình yêu, hôn nhân gia đình
Đó là những cuộc tình dở dang, những vòng xoáy áo cơm, những sự vô tâm không đáng
có làm tình cảm gia đình, tình người phai lạt Đôi khi vì chạy theo đồng tiền, chạy theonhững cơn mơ hão huyền mà con người đành chấp nhận cảnh sa chân lỡ bước
Trang 37Những cô gái trẻ miền Tây, những người mẹ quê lam lũ vì muốn “có thằng rễ ngoại kiều y như bà Tư đầu xóm, như ai đó ở xóm Lung, ai đó đằng xóm Chẹt” mà đành chấp
nhận một cuộc hôn nhân ly hương vội vàng Nhưng có phải những cuộc hôn nhân chớpnhoáng đó khi nào cũng may mắn, suôn sẻ? Phần nhiều những câu chuyện hôn nhântheo kiểu bán mua này đều để lại những nỗi đau xót, uất hận cho cả người trong –
ngoài cuộc “Bà mẹ kể trên báo lúc bà qua Hàn Quốc giữ cháu cho con gái đi làm, thấy
nó thường xuyên bị chồng và gia đình chồng đánh đập, chửi mắng”- Một chỗ nương tựa Lời mở đầu cho một câu chuyện buồn ấy làm ta xót xa trăn trở mãi Nguyễn Ngọc
Tư đã không ngần ngại đi vào những góc tối đầy chạnh lòng kia Ta nghe như tác giả
cũng đau xót với người trong cuộc: “Thật lòng tôi ước ao bà mẹ đã ít nhất một lần ngăn con đi lấy chồng xa xứ, đã từng cố kéo nó khi thấy rơi vào vũng lầy của cuộc hôn nhân” Nhưng đó chưa phải là thảm kịch về những cuộc hôn nhân “không phân biệt được lấy chồng kiếm tiền và lấy chồng vì yêu Như không phân biệt được một người để nương tựa và kẻ sát nhân Cũng lầm lẫn nhiều giữa bản thân và một món hàng” Vì
những lầm lẫn vô tình hay cố ý kiểu như vậy mà nhiều cô dâu trẻ không chỉ bị đánh, bịchửi nơi xứ người Đôi khi họ phải bỏ mạng nơi đất khách vì những người cùng chăngối mà họ tin là sẽ dựa dẫm được cho đời mình, cho gia đình mình Như chuyện
của Mai trong bài Cũng đành bứt sợi dây câu nghe buồn day dứt, khô khốc cả tiếng thở
dài
Cuộc sống gia đình với bao góc khuất Đọc tản văn Nguyễn Ngọc Tư đôi khi ta
giật mình, xót xa cho những mảnh đời, những câu chuyện gia đình oái ăm Ta vô tình đi lướt qua nhau là một tản văn nói đến những oái ăm trong đời sống vợ chồng Đó là câu
chuyện về cuộc sống của người đàn bà quê, bán buôn vài ngọn rau nơi xó chợ “bươn chải lặn lội lo cho năm miệng ăn trong nhà, chồng ở không nằm chéo nguẩy, nhậu say
và lấy việc đánh vợ làm vui”.
Viết về tình cảm gia đình, tản văn Nguyễn Ngọc Tư không thiếu những chuyện cảmđộng bởi sự yêu thương và sẻ chia của những người thân trong cuộc sống Như chuyện
Con trai Và má… Câu chuyện với những sẻ chia, yêu mến trước tình cảm ruột thịt giữa
Trang 38con trai và má Người con trai ấy vốn là một đứa trẻ sinh non trong một gia đìnhđông anh em Đã bốn mươi ba tuổi vẫn chưa lập gia đình, trong mắt má, người con trailớn ấy vẫn là một đứa trẻ Còn trong từng câu chuyện với bạn bè, không lúc nào người
con trai không nhắc đến má: “Bà già tao tầm bốn giờ sáng là xách chổi đi quét lá ngoài sân”, “bà già tao ưa bánh phồng nếp nướng”, “bà già tao nằm đau ở Sài Gòn”… Cái
điệp khúc “Bà già tao” dù quá quen tai với người cùng trò chuyện, song câu nói lặp lạikhông đủ số đếm đó lại xuất phát từ tình yêu thương về mẹ - một tình cảm thiêng liêngnên người nghe cũng không quá bận lòng, khó chịu
Bên cạnh đó, tình cha con cũng được Nguyễn Ngọc Tư dành những trang văn giàu cảm
xúc Cha và con là một câu chuyện đẹp về tình cha với con trai Mới đọc qua, ta cảm
nhận họ như hai người bạn nhậu, hai người tri kỉ “Ngày xưa, cứ năm ba bữa hắn lại chở cha đi nhậu Đó là những bữa hắn bỏ rơi đám bạn bè mà không đứa nào dám giận,
có đứa còn ngồi tấm tắc, ước gì tao còn ông già, đứa khác nghe lòng thẹn thùa, lâu rồi mình không về thăm, ăn một bữa cơm với ba” Có người hỏi nhậu với ông già vui không? “Hắn nói vui lắm, ít ai kiếm được một ông bạn nhậu quý như vậy Khi đi hắn chở cha, lúc về, cha sợ hắn say, nên cha giành chở” Những dòng văn như một câu
chuyện tâm tình, đến hồi kết người cha ấy từ giã cõi đời để lại nỗi trống vắng không gì
bù đắp được đối với người con Những buổi nhậu một mình trong quán cũ với một cái
ly, một cái ghế trống trước mặt nghe có gì đó nhói đau Nhưng câu chuyện không kết
chìm ở đó “Người tri kỷ xưa vừa đi, người tri kỷ khác lại đến” Câu văn như nâng
bổng nỗi đau vút bay về trời Cô gái phục vụ xinh đẹp hôm nào chia sẻ nỗi đau cùnganh nay đã là người bạn đời gắn bó Như lời động viên của cô với anh hôm nào:
“Chừng nào em lấy chồng, em sẽ chọn một người y hệt như anh, một người có thể chở cha mình đi nhậu Bây giờ ít người làm vậy lắm” Điều gì khiến họ đến với nhau nếu
không phải vì một chữ Tình? Một cái kết đẹp cho chữ Tình thăng hoa
Dù ở mảng đề tài nào, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư cũng mang một màu sắc đậmdấu ấn cá nhân Đó là niềm tự hào về con người và đất nước Việt Nam mộc mạc, giản dị
mà chân thành Đó là bức tranh muôn màu, dù là nơi phố thị hoa lệ hay những ngõ ngách
Trang 39ám màu cơ cực Đó cũng có thể là những tiếng thở dài thương cảm cho những số phậncon người trong biển tình vô tận: hôn nhân, tình yêu, gia đình… Và ở những trang tảnvăn, thật nhẹ nhàng Nguyễn Ngọc Tư để lại nơi bạn đọc những trăn trở, nghĩ suy và sựđồng cảm.
2.3 Thế giới nhân vật trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư:
Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu sự nghiệp bằng thể loại truyện ngắn, và độc giả biết đến chị
nhiều qua hiện tượng Cánh đồng bất tận nhưng càng về sau chị viết tản văn nhiều hơn Ở
lĩnh vực tản văn chị cũng đạt được nhiều thành công không kém cạnh Tản văn củaNguyễn Ngọc Tư là những mảnh ghép về số phận con người trong cuộc đời Trong tảnvăn, nhân vật mà nhà văn xây dựng chỉ như một lát cắt, thoáng qua, nhưng không phải vìthế mà mờ nhạt
2.3.1 Hình tượng người lao động nghèo:
Những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư rất “đời” và nhân vật trong các tác phẩm củachị thì rất “người” Nguyễn Ngọc Tư nhắc nhiều đến người nông dân quanh năm haisương một nắng ở miền sông nước Nam Bộ vì họ là lực lượng chính làm nên sự thịnhvượng trù phú cho vựa lúa lớn nhất cả nước Nhà văn cho người đọc nhìn thấy rõ rệt tiếngthở dài của người nông dân:
- Hình ảnh người lao động bình dị thân thuộc Hình ảnh anh bán kem trong tản văn Mùa bông cháy “Áo anh ướt rượt mồ hôi, vẳng ra một mùi vừa mặn vừa chua khẳm” và “Bộ
dạng anh bán kem lom khọm như một ông Chà Và ” phải vất vả ngược xuôi nhưng
không có khách vì trẻ con thích thú với món ăn hàng của thời công nghệ hơn là ăn câykem đá Thế là cuộc sống khó khăn nay lại càng vất vả hơn Không có khách mua kem,anh lại càng khổ sở, đau đáu lo nghĩ cho đứa con đang học đại học Nhưng anh vẫn
không bỏ nghề Trong tản văn Mảnh vá cũ, Nguyễn Ngọc Tư thể hiện rất chân thật hình
ảnh anh vá dép: “Bằng một cách rất tầm thường: lấy que sắt vùi vào cái lon sữa bò chứa một cục than cháy thiu thiu le lói, anh cắt miếng mủ đắp lên chỗ dép đứt rồi dùng sức nóng của que làm miếng mủ tan chảy ra thành một vết thương ”, rồi ông Ba làm nghề
vá nồi, xoong chảo, vá lu, ông Mười Một làm nghề vá chài Dường như ở mảnh đất
Trang 40nghèo này bất cứ thứ gì hư hỏng cũng được vá đã làm nên nghề Nghề hàn gắn vếtthương nghèo của một vùng ký ức Không biết còn tiếng rao nào gọi lại điều đã qua chocon người lao động của thời thương khó.
- Những nhân vật sống kiếp thương hồ “Thương hồ” là một nghề mang đặc trưng của
vùng sông nước Nam Bộ Họ sống trên ghe và làm nghề buôn bán vì không đủ khả năng
mua đất cất nhà trên bờ Hình ảnh chiếc ghe nổi bật trong tác phẩm Chợ trôi Chị Tám Lê
và chiếc ghe là niềm mong đợi của người dân Chiếc ghe nhỏ nhưng bán không thiếu một
thứ gì Không chỉ thế, đôi khi chị còn bán chịu, bán thiếu hay dúi thêm tí đồ: “Con nít trong xóm trông ghe chị Tám Lê vì bánh kẹo, đồ chơi Người lớn trông chị bởi thịt tươi rau giòn” Lênh đênh gần như một đời người thì được trời thương ban cho người bạn đời.
Nhưng người đàn bà ấy đã mãi mãi rời xa nơi này để được sống với tình yêu Trời thươngTám cho người cùng đồng hành thì cùng nghĩa với việc người dân nơi đây đã mãi mất đimột người bạn Ai ai cũng ngóng Tám như trông sự trở về của một người thân, còn riêngSáu Lò Rèn lại càng ngóng trông Tám hơn vì những thứ Tám mang lại cho mảnh đất này
và Sáu chờ đợi đứa con trai theo Tám Nguyễn Ngọc Tư thật sự đã khiến người đọc xótthương cho số phận lênh đênh, chìm nổi, một người đàn bà cô đơn thật thà, tốt bụng
- Những người nông dân hiền lành chịu nhiều thiệt thòi Trong tản văn Ơi hỡi diêu bông
trước thực trạng xã hội đáng báo động về sự dửng dưng vô trách nhiệm của nhà nướctrong công cuộc đô thị hóa, đi theo nó là những hệ lụy vây quanh, người nông dân mấtđất, mất ruộng vườn Nhà nước lấy đi đất đai, nhà cửa và cả mồ mả ông bà cho nhữngkhu công nghiệp với lời ước hẹn về một tương lai mới thoát kiếp sình lầy Nhưng có gìsáng sủa hơn khi lấy đi mảnh đất làm kế mưu sinh của họ rồi đền bù bằng mảnh đất khácvừa tầm xây ngôi nhà cùng lời hứa về việc làm cho những đứa con Nhưng kết quả lại
khác xa hoàn toàn so với mong đợi khi “Những cánh cổng rốt cuộc chỉ chào đón người đến từ quê xứ khác” Trong cái nhìn của chị, hình ảnh người nông dân được nhìn nhận
gắn liền với vấn đề thời sự xã hội
Các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đa phần là người lao động nghèokhổ, bởi chị sinh ra nơi mảnh đất còn lắm những cảnh đời nghèo khó, chị cùng chứng