Nguyễn Tuân được biết đến với nhiều tác phẩm ký xuất sắc như: Một chuyến đi (1938), Tóc chị Hoài (1943), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến (1955), Cô Tô (1986),… Đề tài « Nguyễn Tuân với hồi kí, bút kí » mong muốn đóng góp một phần nhỏ cho người nghiên cứu trong việc tìm hiểu về Nguyễn Tuân và những đóng góp của ông cho văn học nước nhà.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM KÍ NGUYỄN TUÂN
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NGUYỄN TUÂN VÀ THỂ LOẠI KÍ 2
1.1 Khái quát về thể loại kí 2
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân 5
1.2.1 Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Tuân 5
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân 6
1.2.3 Kí trong sáng tác của Nguyễn Tuân 7
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN 9
2.1 Đề tài trong kí của Nguyễn Tuân 9
2.1.1 Trước Cách mạng tháng Tám 9
2.1.2 Sau Cách mạng tháng Tám 14
2.2 Kết cấu trong kí của Nguyễn Tuân 16
2.2.1 Kết cấu cốt truyện 16
2.2.2 Kết cấu trần thuật 24
2.3 Xây dựng hình tượng trong kí của Nguyễn Tuân 30
2.3.1 Hình tượng con người: 30
2.3.2 Hình tượng không gian, thời gian 34
2.4 Ngôn từ nghệ thuật trong Ký của Nguyễn Tuân 40
PHẦN KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 3MỞ ĐẦU
Nguyễn Tuân (10/7/1910 - 28/7/1987) là một nhà văn Việt Nam, có sở trường
về tùy bút và kí Nguyễn Tuân là nhà văn nổi tiếng, được xem là bậc thầy trong sángtác và sử dụng tiếng Việt Phong cách sáng tác của ông độc đáo và phong phú trongngôn ngữ Trong quá trình sáng tác văn chương, Nguyễn Tuân còn sử dụng một số bútdanh như Nhất Lang, Thanh Thuỷ, Ngột Lôi Quật, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc,Thanh Hà, Ngột Lôi Nhật
Năm 1996, Nguyễn Tuân được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật Để tưởng nhớ với “bậc thầy bút ký” tại Hà Nội và nhiều tỉnh thành kháctrên cả nước đã lấy tên của ông để đặt tên cho các con đường, tuyến phố
Kí là thể loại có vai trò đặc biệt quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại.Tuy nhiên, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn sáng tác, với thể loại này, còn thiếunhững công trình chuyên sâu về nó Ký có phải là tên gọi cho một nhóm thể tài nằm ởphần giao nhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu)?
Có nên phân biệt ký văn học và ký báo chí? Đâu là những đặc trưng của ký? Bút ký,
ký sự, phóng sự, tùy bút, hồi ký, tản văn, tạp văn,… có phải là các thể của ký? Còn
có biết bao nhiêu vấn đề đáng bàn về thể loại này
Mọi tác phẩm văn học đều tồn tại trong các hình thức thể loại nhất định: mộtcuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ, một vở kịch, một ký sự…Không có tácphẩm văn học nào được xây dựng ngoài những hình thức quen thuộc đó Chính vì thế,
lý luận về thể loại phải được khảo sát, đúc kết, khái quát từ những tác phẩm cụ thể.Thực tiễn của sáng tác bằng thể loại ký với nhiều thể khác nhau (bút ký, ký sự, phóng
sự, tùy bút, hồi ký…) đang đặt ra nhiều vấn đề cho giới nghiên cứu, trong đó ký củaNguyễn Tuân
Nguyễn Tuân được biết đến với nhiều tác phẩm ký xuất sắc như: Một chuyến
đi (1938), Tóc chị Hoài (1943), Tình chiến dịch (1950), Tùy bút kháng chiến (1955),
Cô Tô (1986),…
Đề tài « Nguyễn Tuân với hồi kí, bút kí » mong muốn đóng góp một phần nhỏcho người nghiên cứu trong việc tìm hiểu về Nguyễn Tuân và những đóng góp củaông cho văn học nước nhà
Trang 4CHƯƠNG 1 NGUYỄN TUÂN VÀ THỂ LOẠI KÍ 1.1 Khái quát về thể loại kí
Thể loại văn học là một hiện tượng phân loại hình thức và nội dung văn học, đềcập đến một kiểu tổ chức tác phẩm, một cách tiếp xúc với đời sống hiện thực, mộtkiểu thể hiện chủ thể trong sáng tác, một kiểu giao tiếp nghệ thuật để tạo nên tácphẩm Thể loại có những đặc trưng riêng, có tính lịch sử, tính dân tộc, tính thời đại,tính biến đổi và được hình thành bởi yêu cầu xã hội về nghệ thuật và tài năng của nhàvăn Sự hình thành và phát triển của thể loại văn học cũng có nghĩa là sự hình thành
và phát triển của văn học qua các giai đoạn, bởi văn học không thể tồn tại mà không
có thể loại Vì vậy, thể loại bao giờ cũng chiếm vị trí trung tâm trong đời sống vănhọc Khi nói đến lịch sử văn học về mặt thể loại là nói đến chuỗi hình thức đa dạngcủa nó Do đó, để chiếm lĩnh các quy luật tổ chức thể loại văn học, từ xưa người tatiến hành cách phân loại khác nhau Cụ thể như:
Ở phương Tây có cách chia văn học ra làm ba loại: tự sự, trữ tình, kịch củaArixtốt (trong Nghệ thuật thi ca) Đây cũng là cách phân loại của Hôratxơ, Boalô,Biêlinxki
Ở Trung Quốc với những điều kiện xã hội - lịch sử - văn hóa khác lại có truyềnthống phân loại khác Cách phân chia thể loại sớm nhất ở đây là cách chia văn họcthành hai loại: Thơ và văn xuôi Trải qua các thời kỳ lịch sử, đến cuối đời Thanh, sách
vở báo chí Trung Quốc đều thống nhất chia văn học thành bốn loại: Thơ ca, văn xuôi,tiểu thuyết và kịch
Ở Việt Nam, các giáo trình lý luận văn học chủ yếu dựa trên cơ sở lối “chiaba”, nhưng chọn trình bày bốn thể loại tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch, tiểu thuyết, ký.Gần đây nhất, trong giáo trình Lý luận văn học (Nxb Giáo Dục, tái bản lần thứ 4,H.2004) lại chia văn học thành năm loại: tự sự, trữ tình, kịch, ký và văn chính luận.Cần phải thấy rằng, các cách phân loại nói trên có các ưu và nhược điểm riêng vàmang tính chất tương đối Bởi vì trên thực tế, thể loại văn học rất đa dạng, không mộtlối nào bao quát được trọn vẹn Trước hết là các thể loại trung gian, kết hợp loại nàyvới loại kia, không dễ quy hẳn về một loại nào Nhưng trong các cách phân loại trên
thì cách phân chia năm có nhiều ưu điểm hơn, “kết hợp được truyền thống phân loại
Trang 5phương Tây với đặc điểm của văn học cổ xưa và hiện đại, đồng thời, khắc phục được nhược điểm của cách chia ba, chia bốn Ngoài ra, cách chia này cũng đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu giảng dạy văn học ở các khoa văn cũng như yêu cầu giảng dạy bộ môn văn học ở các trường trung học”.
Qua sự lí giải trên, ta thấy rằng, ký được xem là một thể loại văn học, đồngđẳng, ngang hàng với các thể loại khác như tự sự, trữ tình, kịch và văn chính luận.Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định ký là một thể loại văn học có những đặctrưng thể loại riêng không trộn lẫn với các thể loại khác
Trong thực tế, thể loại ký văn học đã tạo nên những tài năng trong văn học Cóthể kể đến những nhà văn viết ký nổi tiếng trên thế giới như: Tư Mã Thiên, Giôn Rít,M.Gorki, Pautôpxki…Ở Việt Nam, không thể không nhắc đến những gương mặt kýnhư Nguyễn Tuân, Thép Mới, Tô Hoài, Vũ Bằng…Ký đã có tác động sâu rộng nhiềumặt đến người đọc bằng sức sống trực tiếp, mạnh mẽ và hấp dẫn của nhiều tác phẩm
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Từ sự nhầm lẫn vô tình hay cố ý, người ta lại muốn sắp
đặt chỗngồi cho ký: có thể đây là thể loại đàn em Trong sáng tạo không thể so sánh các thể loại theo lối định mức Bất cứ một sáng tạo văn học nào, khi đạt tới xuất sắc, đều chiếm lĩnh những đỉnh cao của thể loại ấy và của nền văn học chung”
Ký là một thể loại văn học bao gồm nhiều “tiểu loại” Hoàng Ngọc Hiến viết:
“Ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, ký chính luận, du ký, phóng sự, tuỳ bút, tạp văn, tiểu phẩm…” Và ngay trong phạm vi của các thể ký nêu trên, tình hình phân loại cũng
chưa phải là đã rõ ràng, dứt khoát
Nói chung, đây là một luận điểm chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong giới
nghiên cứu về ký Tô Hoài từng nói: “Có một chuyện thời sự được bàn cãi sôi nổi.
Câu chuyện có mấy loại ký…” Bởi thông thường, mỗi thể loại văn học thường gắn
với một phương thức biểu hiện, riêng ký lại gắn với nhiều phương thức thể hiện khácnhau Trong ký, có cả phương thức tự sự lẫn phương thức trữ tình… Do đó, khinghiên cứu về ký, chúng ta còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khi đi vào từng tiểu loại
cụ thể của nó
Từ trước đến nay, khi bàn về thể ký văn học, các nhà nghiên cứu dễ thống nhấtvới nhau về tầm quan trọng của các thể ký, nhưng xác định một định nghĩa về ký lại là
Trang 6vấn đề khá phức tạp, gây nhiều tranh cãi Chính vì thế, việc xác định đặc trưng của kýcũng không phải là vấn đề đơn giản Do đó, ở đây, khi trình bày về các đặc trưng của
ký nói chung và tiểu loại hồi ký nói riêng chúng ta cũng nên thống nhất về một quanniệm tương đối nhất về ký và tiểu loại hồi ký
Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Ký cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ,
hình thù nó đấy nhưng vóc dáng luôn luôn mới đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên, càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn Cũng không có thể làm việc ấy được”.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, ký được xem là “một loại hình văn học
tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả người thật, việc thật Hình tượng của ký
có địa chỉ chính xác của nó trong cuộc sống Do đó, tính chính xác tối đa là đặc trưng
cơ bản của ký …Ký phản ánh cuộc sống kịp thời và thuyết phục người đọc bằng người thật
việc thật”.
Theo Trần Đình Sử thì: “Ký thực sự là một lĩnh vực văn học đặc thù Đó là các
tác phẩm văn xuôi, tái hiện các hiện tượng đời sống và nhân vật như sự thật xã hội, không tô vẽ Đó là hình thức văn học để chiếm lĩnh các sự thực ngoài văn học của đời sống”.
Về cơ bản, những ý kiến trên có khá nhiều điểm tương đồng Tổng hợp lại,theo chúng tôi, ký là một thể văn học phản ánh hiện thực đời sống một cách nghệthuật mà chân thực, linh hoạt, bộc lộ những ý nghĩ, cảm xúc trực tiếp của cá nhânriêng lẻ và những sự việc, sự vật, con người, cuộc đời vừa có giá trị thẩm mĩ, có ấntượng lớn với cá nhân, vừa có tính thời sự được xã hội quan tâm
Dưới góc độ thi pháp thể loại (hay dưới góc độ đời sống con người) thì ký làthể văn xuôi phi hư cấu Nếu tiểu thuyết tiêu biểu cho dòng văn xuôi hư cấu thì ký tiêubiểu cho tính phi hư cấu Nói như vậy để thấy rằng, dù được hình thành hay chọn lọctừnguồn ghi chép, sáng tạo nào, thì ký văn học phải là nơi gặp gỡ của hai nhân tố quantrọng đó là sự thật của đời sống và giá trị sáng tạo nghệ thuật Dưới góc độ lí thuyếttiếp nhận, thì nhà văn trong tác phẩm luôn chứng minh được mình nói, phản ánh sựthật Còn chủ thể tiếp nhận hay bạn đọc luôn mang tâm thế tin vào những điều nhàvăn viết Đây là kênh giao tiếp đặc trưng của ký
Trang 7Trong bút ký, tính xác thực của đối tượng là một điều kiện cốt yếu Thêm hưcấu sẽ khiến cho mọi việc trở thành thực thực hư hư Điều này mặc định phá vỡ quy
tắc vềhiện thực đời sống trong tác phẩm và nhà văn không còn “là người thư ký trung
thành của thời đại” thì giá trị tác phẩm ký cũng không còn Hơn nữa, cũng vì có khả
năng bám sát đời sống nên ký mới có được tính cơ động của thể loại Các thể ký vănhọc trở thành nơi quy tụ và chọn lọc vào cửa ngõ nghệ thuật những ngọn nguồn hoạtđộng ý thức và ghi chép về đời sống Người viết ký có thể viết về một chiến dịch, mộtcuộc hành quân, một phong trào, một tập thể hay cá nhân và những đối tượng này lànhững đối tượng xác định, có địa chỉ cụ thể Trong hồi ký Sống như Anh kể về cuộcđời Nguyễn Văn Trỗi, Bất khuất là những trang hồi ký của Nguyễn Đức Thuận trongnhững ngày bị giam cầm trong nhà lao Mỹ - Diệm Ở đặc trưng phản ánh đời sốngmột cách chân thực này, ta lí giải được vì sao có những ý kiến như đã phân tích ở trêncho rằng: ký dễ giao thoa với tư liệu văn học hay với thể loại báo chí
Như vậy, từ thực tế trên có thể xác định đặc điểm bao quát cho thể ký: các thể
ký văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt và bộc lộ cảm xúc, suy nghĩcủa tác giả trong văn xuôi với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện, bình luận vềnhững sự kiện và con người thật trong cuộc sống, với nguyên tắc tôn trọng tính xácthực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả
Đặc điểm mấu chốt này góp phần xác định ranh giới giữa các thể ký văn học vàcác thể loại khác ở chỗ viết về cái có thật và tôn trọng tính xác thực của đối tượng mô
tả Cái có thật này lúc thuộc về khách thể, có lúc thuộc về chủ thể sáng tạo và ở hìnhthức nào thì tính xác thực của nó cũng phải được tôn trọng
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
1.2.1 Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội Quêông ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), huyện Hoàn Long, HàNội, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân Ông trưởng thành trong mộtgia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn
Sinh ra trong thời kỳ nước mất nhà tan nên trong ông đã ý thức hình thành rấtsớm lòng yêu quê hương, đất nước Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung Nam
Trang 8Định (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay, tiền thân của trường THPTChuyên Lê Hồng Phong, Nam Định ngày nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãikhóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929) Sau đó ít lâu ông lại bị
tù vì đi qua biên giới tới Thái Lan không có giấy phép Sau khi ra tù, ông bắt đầu sựnghiệp viết lách của mình
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm
1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng mộtthời, Một chuyến đi Năm 1941, ông lại bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúcvới những người hoạt động chính trị
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình thamgia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới
Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam
Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập tùy bút Sông Đà(1960) là kết quả chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, một số tập ký chống Mỹ (1965–1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước Ông chủ trương chủnghĩa xê dịch không thích cuộc sống trầm lặng, bình ổn nên ông đi suốt chiều dài đấtnước để tìm những điều mới mẻ,độc đáo
Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 7 năm 1987, thọ 77 tuổi
Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về vănhọc nghệ thuật (đợt I)
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành côngngay từ những tác phẩm đầu tay Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút ký, truyệnngắn Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thànhcông xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quêhương, Chiếc lư đồng mắt cua
Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân góitrọn trong chữ “ngông” với 3 chủ đề chính: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóngmột thời”, và “đời sống truỵ lạc”
Trang 9Nguyễn Tuân đã tìm đến lý thuyết “chủ nghĩa xê dịch” này trong tâm trạng bấtmãn và bất lực trước thời cuộc Nhưng viết về “chủ nghĩa xê dịch”, Nguyễn Tuân lại
có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đấtnước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến, yêu thương và tài hoa(Một chuyến đi)
Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quákhứ còn “vang bóng một thời” Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phongtục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã Tất cả được thể hiệnthông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài hoa bất đắc chí, tuy đã thuacuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân (như Huấn Cao Chữ người tửtù)
Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc Ở những tác phẩm này,người ta thường thấy có một nhân vật “tôi” hoang mang bế tắc Trong tình trạngkhủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàmtục niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lư đồng mắt cua)
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụcuộc chiến đấu của dân tộc, nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trêncương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độcđáo của mình Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầynghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu vàsản xuất
1.2.3 Kí trong sáng tác của Nguyễn Tuân
Điểm nổi bật ở nhiều bút kí của Nguyễn Tuân là thiên hướng “nhìn sang” tuỳbút Hiện tượng này để lại dấu ấn tương đối rõ nét ở chỗ: mạch bút kí Nguyễn Tuânhiếm khi trình bày theo trình tự tuyến tính của sự việc, mà thường là trôi chảy theodòng cảm nghĩ hết sức thoải mái của tác giả, chuyện nọ gọi chuyện kia, chồng chéolên nhau, không theo trình tự nào, và cũng không bị hạn chế bởi không gian, thời gian.Ranh giới giữa bút kí và tuỳ bút vì thế nhiều lúc trở nên lờ mờ khó phân
Nếu như tuỳ bút trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân thấm đẫm sựkiêu của cái “tôi” tác giả - con người tài hoa, khinh bạc, muốn “nổi loạn” chống lại xã
Trang 10hội phàm tục, thì sau Cách mạng tháng Tám, ông đã hoà mình vào cuộc sống nhândân, rũ bỏ cái “tôi”, vươn lên thành nghệ sĩ trên mặt trận văn nghệ “Tuỳ bút khángchiến” đã có cái nhìn ấm áp, tin yêu với cuộc đời mới, sự gắn bó cảm động giữa nhàvăn và quần chúng kháng chiến
Bút kí Nguyễn Tuân còn được tiếp thêm nhiều dưỡng chất từ người “anh em”
du kí Hầu hết các sáng tác của nhà văn ở thể này đều ra đời sau 1960 Nguyễn Tuânlúc này tuy tuổi tác đã ngoài ngũ tuần nhưng vẫn tiếp tục đi nhiều và viết nhiều Cácsáng tác của ông do vậy, từ tuỳ bút cho đến bút kí, đều mang đậm dấu ấn của du kí
Có thể nói bút kí của Nguyễn Tuân thấm đượm thứ văn hoá Đông Tây đã đượcông tiếp nhận – không chỉ hiểu triết lý mà còn thấm đượm cả đạo lý, dù hấp thụ sâusắc chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn thấy mình nặng nợ với đất nước, với làng xóm, phốphường, thấy mình có gốc rễ từ lịch sử
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM KÍ CỦA NGUYỄN TUÂN 2.1 Đề tài trong kí của Nguyễn Tuân
2.1.1 Trước Cách mạng tháng Tám.
Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 30 của thế kỉ XX Ông khôngphải là nhà văn thành công ngay ở những tác phẩm đầu tiên Phải đến đầu năm 1938,ông mới khẳng định được tài năng của mình Ở thời kì trước Cách mạng tháng Tám,
kí của Nguyễn Tuân thẫm đẫm sự kiêu bạc của cái “ Tôi” – tác giả - 1 con người tàihoa , muốn nổi loạn chống lại xã hội phàm tục Vì thế giai đoạn này, các sáng tác củaông xoay quay ba đề tài “ Chủ ngĩa xê dịch”, vẻ đẹp “ Vang bóng một thời” và đờisống trụy lạc
“Chủ nghĩa xê dịch” đã trở thành một đề tài quen thuộc trong các sáng táctrước Cách mạng của Nguyễn Tuân qua hàng loạt các tác phẩm như: “ Một chuyếnđi”, “ Thiếu quê hương”, “ Tùy bút I”, “ Tùy bút II”…Sở dĩ ông tìm đến đề tài nàytrong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc Đồng thời cũng là dịp để ông bày
tỏ tấm lòng gắn bó thiết tha của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông
đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và thiết tha “ Một chuyến đi” ( xuấtbản 1940 ) là tập hợp một loạt bài du kí đăng trên Tiểu thuyết thứ 7 dưới tiêu đề “Cánh đồng ma” đã ghi lại cảnh vật cùng với phong tục trong sinh hoạt con người trênđất Hương Cảng Một chuyến đi khi thì phảng phất chất thơ bay bổng của một tâmhồn nghệ sĩ được thỏa mãn cái thú xê dịch ở cảnh vật và con người cùng với nhữngthanh sắc mới lạ nơi đất khách, lúc thì lại đậm chất văn xuôi trần trụi, lạnh lùng khiphơi bày không che đậy cái sự thật đầy mỉa mai, chua chát “ những khách tài tình”chẳng qua cũng là những kẻ ích kỉ, nhỏ nhen, phàm tục khi hết tiền, hết rượu Có khi,
đó lại lần nhân vật Tôi trải qua Tết truyền thống ở xứ người, sự vui háo hức nơi xứngười không khiến ông vui lây mà trái lại có gì đó chua chát, nghẹn đắng Phải chăng,
ẩn trong một tâm hồn ngạo nghễ là một tâm hồn nhạy cảm , luôn biết yêu và trân trọngnhững giá trị văn háo truyền thống của dân tộc Cái tôi ấy đâu chỉ biết đi rong choquên đời mà còn biết hướng về quá khứ Đây là biểu hiện của cái tôi trữ tình bên cạnhcái tôi xê dịch của tác giả
Trang 12Chủ nghĩa xê dịch được Nguyễn Tuân chọn làm đề tài cho tiểu thuyết Thiếuquê hương (đăng nhiều kì trên bao Hà Nội tân văn từ ngày 2-1-1940, nhà xuất bảnAnh Hoa – Hà Nội in năm 1943 ) Đến tác phẩm này, chủ nghĩa xê dịch mới được
Nguyễn Tuân thể hiện tập trung và nhất quán Nguyễn Tuân đã lấy câu nói “Ta muốn
sau khi ta chết đi có người thuộc da ta làm chiếc và II của Paul Morand làm đề từ cho cuốn sách của mình” Tác phẩm viết về một nhân vật có tên là Bạch, một người mắc
bệnh xê dịch, luôn luôn thèm đi và chỉ có đi mới cảm thấy mình đang sống Với Bạch
“Đi, tức là tất cả Đi, tức là hạnh phúc Tất cả thèm thuồng, ham muốn, hăm hở của
Bạch đều quay về một mối, một ý đi Còn bao nhiêu cái khác, Bạch vui lòng để phần,
để dành cho người xung quanh Riêng đối với chúng, những dục vọng và danh phận, những bổn phận và tình đối với đất cát quê những phụng sự về nghệ thuật, những vui sống trong kiến thiết, nhất nhất chàng đều chỉnh màng cả” Bạch đi không cần mục
đích, chỉ cốt là được “lăn cái vỏ mình” mãi mãi trên trái đất, đi để “ thay thực đơn cho
giác quan” Chủ nghĩa xê dịch vốn là một thứ lí thuyết của phương Tây được Nitsơ,
Giđơ, PônMo răng… đề xướng, chủ trương đi không cần mục đích, không cần nơiđến, chỉ cốt luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát là mọi trách nhiệm đốivới gia đình và xã hội Xét đến cùng đó là sự thể hiện chủ nghĩa cá nhân bế tắc và cựcđoạn, phản ứng lại trật tự xã hội đương thời một cách vô trách nhiệm, muốn thoát rangoài mọi ràng buộc của những nguyên tắc đạo đức luân lý ở đời, từ chối, rũ bỏ mọi
trách nhiệm, bổn phận đối với gia đình, xã hội, quê hương, đất nước Đọc “ Thiếu quê
hương” , có thể thấy, Nguyễn Tuân không phải là một tín đồ tuyệt đối với chủ nghĩa
xê dịch Nhân vật Bạch chứa đựng nhiều mâu thuẫn Khi thì Bạch đầy hào hứng cho
rằng: “Sao lại đem cái việc xê dịch ra mà dùng làm một phương tận để mong tới một
kết quả nào” (…) Sao lại không lấy nguyên cái việc được đi là một cái thú ở đời rồi
nhưng đến khi đứng trước hình ảnh một đoàn hướng đạo sinh lên đường thì chàng lại
chua chát Có lúc, Bạch quả quyết “Phải gây nên những thứ đoạn tuyệt — đoạn tuyệt
với vợ con, với nhà, với quê hương bản quán”, nhưng lúc khác lại sống trong dằn vặt:
“Ngồi trên một con tàu mà cứ phải lo nghĩ băn khoăn về một người có quyền nhớ
mình, có quyền buồn bã vì mình và nếu người li phụ ấy lại ốm tương tư nữa thì bao nhiêu trách nhiệm sẽ đổ lên đầu tên lữ khách đã phạm vào cái tội lãng mạn thèm nhớ
Trang 13một con đường dài, mơ tưởng đến một vùng nước rộng” Bạch nhiều khi lên giọng phụ
họa theo triết lí siêu nhân của Nitsở, chàng dè bỉu những tình cảm gia đình, khinh bỉnhững kẻ mềm lòng, bịn rịn khi lên đường cùng với những cuộc tiễn đưa sụt sùi nướcmắt Nhưng trong thực tế, Bạch cũng chẳng tàn nhẫn được với ai Đối với cha, chàng
đành phải thú nhận “ Lòng thương cha ai mà không nặng” Còn đối với Dung – người
vợ hiền lành, giản dị, rất mực yêu chồng thương con — cứ mỗi lần Bạch định bới móc
một khuyết điểm nào đó của Dung để kiếm có li dị: “chỉ có li dị gỡ thoát đời Dung ra
khỏi cuộc sống của Bạch thì mới hết bận bịu”, thì Bạch mới trở lại bản ngã của Bạch
được “ thì từ trong sâu thẳm của đáy lòng chàng lại thấy “tội nào của vợ chàng cũng
đều có trường hợp giảm đẳng, đều đang tha thứ cả”, rồi lại tự xấu hổ với chính mình, thấy cái việc bởi lồng tìm vật của mình “thật không xứng đáng một tí nào với cái vẻ ngây thơ thành thực của vợ chàng” Té ra, Bạch thực chất cũng là Nguyễn Tuân đấy
thôi, “vẫn là một tấm lòng An Nam hoàn toàn” (Một chuyến đi), vẫn kính cha, thương
vợ vẫn gắn bỏ với quê hương mình Và chính vì có tấm lòng gắn bó với quê hươngnên mới thấy thấm thía hơn bao giờ hết sự tù túng của môi trường, hoàn cảnh sống trìtrệ, buồn tẻ, cái không khí ngột ngạt, bế tắc của xã hội thuộc địa, mới cảm thấy đau
khổ khi mình đang sống trên quê hương mà vẫn thấy “thiếu quê hương” trong hoàn cảnh mất nước Cái làm nên giá trị lâu bền của “Thiếu quê hương” cũng như nhiều bài
tùy bút khác viết về xê dịch của Nguyễn Tuân là những trang viết tài hoa, ghi lại mộtcách chân thực, tinh tế những cảnh sắc thiên nhiên, phong vị đất nước và những cảnhsinh hoạt với những nét độc đáo khác nhau ở nhiều vùng quê trên đất nước ta
Với đề tài “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân đã để lại dấu ấn qua các tác phẩm như :tập truyện Vang bóng một thời (1940) và tùy bút Tóc chị Hoài (1943) Nó
thể hiện sự không tin tưởng ở hiện tại và tương lai mà đi tìm vẻ đẹp quá khứ Ông mô
tả vẻ đẹp riêng của thời xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu giao hưởng taonhã Được thể hiện qua những con người thuộc lớp nhà Nho tài hao bất đắc chí tuy đã
thua cuộc nhưng không chịu làm lành với xã hội thực dân “Vang bóng một thời” gồm
11 truyện ngắn lần lượt đăng trên tạp chí Tao Đàn và Tiểu thuyết thứ Bảy từ năm
1939, nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội in lần đầu năm 1940 “Vang bóng một thời” , đúng như cái tên của tác phẩm, viết về “một thời” đã qua nay chỉ còn “vang bóng”.
Đó là cái thời thực dân Pháp vừa đặt xong ách đô hộ lên đất nước ta, phong trào Cần
Trang 14Vương đã thất bại, những anh khóa thì nốt khóa thi Hán học cuối cùng, những nho sĩ
cuối mùa trở thành lớp người lạc lõng Khác với Nhà nho, “Bút nghiên” của Chu Thiên, “Lều chõng” của Ngô Tất Tố viết về chế độ giáo dục và khoa cử phong kiến, những truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong “Vang bóng một thời” hầu như chỉ tập
trung miêu tả những thói quen, cung cách sinh hoạt, những kiểu ăn chơi cầu kì, phonglưu, đài các của những con người tài hoa ấy Đó là cái thú chơi lan, chơi cúc, uống
rượu “thạch lan hương”, đánh bạc bằng thơ và hát ả đào trên sông Hương của những
ông Nghè, ông Công, ông Tú khi thấy mình thành những người thất thế, những kẻ
“chọn nhầm thế kỉ với hai bàn tay không có lợi khí mới”, “giữa buổi Tây Tàu nhố
nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu mất bao nhiều giá trị tinh thần” (Hương
cuội) Đó là cái thú nhấm nháp chén trà sớm mai với những nghi lễ thiêng liêng, là cáithú vui ngày xuân mời khách đến thưởng hoa nhắm rượu với thứ kẹo ướp hương lan
Đó là thói quen “tháp nến bạch lạp để đọc Đường thi sách thạch bản”, là cái thú đánh bạc bằng thơ dưới trăng rằm trên mặt sông, tiếng ngâm thơ “âm hưởng trên mặt nước
lạnh… Như tiếng vang của một hội tạo đàn nào” Chỗ tiêu cực của tác phẩm là đề lên
như là mẫu mực sống lối ăn chơi cầu kì, đài các của lớp quý tộc cũ tuy đã thất thế, đầuhàng nhưng vẫn cố khẳng định bằng nghệ thuật hành lạc hơn đời dù không che giấuđược cái hắt hiu, héo úa của những kiếp sống đang tàn lụi Những cái đáng trân trọngcủa những con người tài hoa bất đắc chí này là ở chỗ, mặc dù họ buông xuôi bất lực,nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời, không chịu a dua theo thời, chạy
theo danh lợi mà vẫn cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” Họ dường
như cố ý lấy cái “tôi” tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục:phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của mình như một thái độ phản ứng trật tự xã hộiđương thời Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng ông Huấn
Cao trong “ Chữ người tử tù” , một con người tài hoa, một nhân cách trong sáng, cao
cả, mặc dù chí lớn không thành nhưng vẫn coi thường gian khổ, xem khinh cái chết,
tư thế vẫn đường hoàng, hiên ngang, bất khuất Ở con người này, cái tài hoà hợp vớicái thiên lương, cái đẹp của tài hoa hoà hợp với cái đẹp của khí phách
“Vang bóng một thời” thuộc xu hướng thoát lí, hoài cổ phát triển khá mạnh mẽ,nhất là từ 1939 đến 1945 trong bộ phận văn học công khai Chính sách văn hoá “phụccổ" của chính quyền thực dân đã hưởng những tâm trạng bế tắc của nhiều cây bút
Trang 15đang hoang mang trước thực tại tìm đường thoát li vào quá khứ Đây là tác phẩm kếttinh tài năng của Nguyễn Tuân thời kì sáng tác trước Cách mạng Nghệ thuật vềngười, dựng cảnh, tạo dựng những bức tranh có và đẹp hào úa, hát hu về một thế giớilui tàn đã đạt tới trình độ bậc thầy của một ngòi bút tinh tế, tài hoa Những trang văn
viết về vẻ đẹp “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân thắm đượm tinh thần dân tộc,
thể hiện khát vọng vươn lên trên môi trường ô trọc, bộc lộ niềm say mê cái tài, cái đẹp
và sự nâng niu trân trọng những giá trị văn hoá cổ truyền
Trong thời kỳ khủng hoảng tinh thần Nguyễn Tuân viết khá nhiều tác phẩm và
đề tài đời sống truy lạc Đó là một nhân vật “Tôi” hoang mang bế tắc Nhưng trongtình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, người ta thấy đôi khi vút lên từ cuộc đời nhem
nhuốc, phàm tục niềm khao khát một thế giới thanh cao Thực ra, ngay từ “Một
chuyến đi”, đã bắt đầu hé lộ một Nguyễn Tuân, một con người lăn lộn nhiều với đời
sống truỵ lạc ở những tiệm rượu, tiệm hút, nhà chứa, xóm hát Vào đầu những năm 30,khi vừa ra khỏi nhà lao Thanh Hoá, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng sâusắc về tinh thần và đã lao vào cuộc sống chơi bởi truy lạc Ông bộc bạch chân thành
“Ở tù về, tôi chỉ thèm chơi” Một năm trời bị giam cầm "đã tạc nền mặt tôi những nét
chắc chắn của hoài nghi” Hoàn cảnh đó đã đầy ông vào cuộc sống truy lạc như mộtcon người hư hỏng Vốn sống thực tế trong những ngày tháng ấy đã được nhà vănkhai thác dùng làm đề tài cho các tác phẩm Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tần đèn dầu lạc(1941) và Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
“Chiếc lư đồng mắt cua” là một tập tuỳ bút được Nhà xuất bản Hàn Thuyên in lần
thứ nhất năm 1941 Tác phẩm ghi lại những tâm trạng, cuộc sống của tác giả trongnhững tháng ngày la cà, lăn lóc ở những nhà hát cô đầu Tác giả giới thiệu về tập tuỳ
bút này: “Tập tuy bút này không phải là một tập phóng sự về nhà hát và cũng không
phải là một thiên nhật kí ghi lại đủ một thời kì khủng hoảng Có lẽ tập vở này cũng chỉ là những trang tuỳ bút chép lại một ít tâm trạng tôi cũng lại là những ngày tháng phóng túng hình hài” Cả tập tuỳ bút “Chiếc lư đồng mắt cua” là những câu chuyện
về nhà hát, về một quãng đời lăn lóc của chính tác giả nơi hàng viện, bên các đàonương, rượu và thuốc phiện cùng những canh hát, cuộc chơi Viết về đời sống truy
Trang 16lạc, Nguyễn Tuân có cách tiếp cận độc đáo của mình Ông không như các nhà vănhiện thực miêu tả trụy lạc như mặt trái, một tệ nạn của xã hội, không thi vị hóa trụylạc như trong những vần thơ say của một vài thi sĩ lãng mạn; càng không mượn cớ tả
thực để khêu gợi trí tò mò tục tĩu như những cây bút tự nhiên chủ nghĩa “Chiếc lư
đồng mắt cua” giống như một lời thú tội về một quãng đời chơi bời, lêu lổng, bê tha
cùng “rượu, trà, thuốc phiện, đàn bà và công nợ” Cũng có lúc nhân vật “tôi” bừng tỉnh nhận ra để tự thẹn với mình, tự thấy mình trở nên xấu xa ê chề “càng đi sâu vào
chốn hàng viện mình càng thấy cái đức làm người của mình mỏng thêm mãi, mình càng thấy thân hình suy kém dần”, nhưng không hẳn là có sự ăn năn hối hận gì sâu
sắc Nhân vật “tôi” nhiều lần muốn làm lại cuộc đời, nhưng không bao giờ thực hiệnđược Ấy là vì cái tôi hưởng lạc ích kỷ trong con người anh ta vẫn tồn tại một cáchngang bướng, chưa dứt khoát đoạn tuyệt hẳn với nó, cho nên, hễ gặp cơ hội, hễ có một
sự mời chào, một lời đưa đón là anh ta lại quay về với nếp sống cũ “Chiếc lư đồng
mắt cua” không ca ngợi trụy lạc, nhưng cũng không thể hiện thái độ phê phán lối sống
buông thả theo những ham muốn cá nhân ích kỷ, vô trách nhiệm đối với gia đình và
xã hội “Điều Chiếc lư đồng mắt của muốn nói không phải là bản thân sự trụy lạc mà
là tâm trạng khủng hoảng cực độ của một thanh niên trí thức bất mãn với xã hội, muốn thoát ra khỏi gọng kìm của nó nhưng tự biết không sao thoát ra được, do không
đủ ý chí và cũng không biết thoát đi đâu Anh ta lao vào truy lạc để tiêu sầu, lấy cái
ồn ào của truy hoan để khuấy động một cách giả tạo những ngày tháng cô quạnh và trống rỗng của mình”
2.1.2 Sau Cách mạng tháng Tám.
Nếu như dòng tùy bút trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Tuân thấmđẫm sự kiêu bạc của cái “Tôi” tác giả – một con người tài hoa, khinh bạc, muốn “nổiloạn” chống lại xã hội phàm tục, thì sau Cách mạng tháng Tám, ông đã hòa mình vàocuộc sống nhân dân, rũ bỏ cái “tôi”, vươn lên thành người chiến sĩ trên mặt trận vănhóa văn nghệ “Tùy bút kháng chiến” đã có cái nhìn ấm áp, tin yêu với cuộc đời mới,
sự gắn bó cảm động giữa nhà văn và quần chúng kháng chiến
Đặc biệt, tùy bút “Sông Đà” viết về cuộc sống đổi thay đi lên chủ nghĩa xã hội
ở vùng Tây Bắc và những tác phẩm tùy bút viết trong những năm chống Mỹ cứu nước
Trang 17viết về cuộc chiến đấu anh hùng của quân dân Thủ đô Hà Nội, được tập hợp trong tácphẩm “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” chính là những chiến công sáng chói của người chiến
sĩ văn nghệ Nguyễn Tuân Sông Đà trước hết là một bài ca về thiên nhiên Tây Bắcvừa hùng vĩ vừa thơ mộng, bài ca về Tổ quốc giàu đẹp của chúng ta Đó là cảnh núi
lớp lớp mênh mông “núi xa, núi gần như trùng dương thạch trận”, là những thung
lũng màu mỡ, lúa chín vàng choé lên, trên đó máy trắng điểm như thiêu nỗi Đó làtrăm ngàn thứ hoa toàn hương đưa sắc, hoa gạo đó, hoa mận trắng, hoa lau tia tia, hoa
trầu hoa đào Đẹp nhất là con sông Đà “như một áng tóc mây ngang ngàn vạn sài”,
“tuôn dài tuần dài như một ông tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khối núi Mèo đốt nương xuân” Nguyễn Tuân đầy hào hứng khi nói đến sự giàu có, tiềm năng kinh tế to
lớn của vùng đất Tây Bắc Chỉ riêng Than Uyên đã có nhiều gỗ quý và nhất là những
mỏ than lộ thiên “vẫn lên những đường sống than đen đen uốn khúc song song với
những sóng nâu của đất núi” Mỏ nhiều biết bao, nào là mỏ xi măng thiên tạo, mở
than mỡ, mô lân tỉnh, mở đồng, mỏ chì, nào là mô thạch anh làm thuỷ tính ngũ sắc và
đồ sử Trong sự hoang sơ và dữ dằn của sông núi, tiềm ẩn trong sự cần cỗi của đất và
đá, Tây Bắc đang giấu trong nó biết bao tiềm năng kinh tế phong phủ, hứa hẹn một
sức phát mạnh mẽ trong tương lai Trên cơ sở của “cái thế giới cao lồng lộng những
năng, những gió, những mây, những giới của vùng cao Tây Bắc” Nguyễn Tuân mơ
ước tới một tương lai “tiếng máy nổ của kế hoạch kinh tế sẽ trùm lên tiếng cối nước” giã gạo cầm canh và nghĩ đến “một sự chuyển văn mới, một vận hội mới đang nở ra
trong lòng mọi người” Nguyễn Tuân trong tập tuỳ bút Sông Đà không chỉ tìm kiếm
và đẹp của thiên nhiên mà còn phát hiện vẻ đẹp của lòng người, ông gọi đó là “chất
vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc Nhà văn tự thấy mình cũng có phần
giống như anh cán bộ khảo sát đi tìm quãng “Tôi cũng tự thấy mình một con người đi
tìm vàng ở quanh sông Đà, đi tìm thử vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc, nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sữa tươi vui và vững bền”
Từ sau “Sông Ðà”, Nguyễn Tuân tiếp tục đi và viết nhiều, chủ yếu vẫn ở thể
tùy bút, được tập trung in trong các tác phẩm tiêu biểu : “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”
Trang 18(1972), “Ký” (1976), “Hương vị và cảnh sắc đất nước” (1978) Nhìn chung, sáng tác
thời kỳ này có thể phân thành hai mảng chính : mảng thứ nhất viết về tình cảm Bắc –Nam và đấu tranh chống Mỹ – Ngụy chia cắt đất nước ; mảng thứ hai tiếp tục khaithác vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Namtrong thời đại mới Công cuộc chống Mỹ đã đưa dân tộc ta lên tầm cao của thời đạimới Tinh thần quyết thắng từ tầm cao lịch sử ấy là âm hưởng chung của văn học thời
kỳ này Tuy nhiên, Nguyễn Tuân đã thể hiện tinh thần ấy theo một cách riêng Dướingòi bút của ông, người Việt Nam vừa đánh Mỹ vừa sản xuất trong tư thế ung dung,sang trọng và đầy tài hoa ; tư thế của một dân tộc không chỉ giành được chính nghĩatrong chiến đấu giữ nước mà còn có bề dày truyền thống văn hóa lâu đời Nhiều bài kýkhiến người đọc phải ngỡ ngàng trước một sức bút kỳ lạ với vốn sống ngồn ngộn, tinh
tế ; vừa đầy ắp liên tưởng bất ngờ, thú vị vừa nóng hổi tính thời sự Giai đoạn này,bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai như lọt vào đúng tầm ngắm của Nguyễn Tuân Sựđối lập rõ rệt giữa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta với dã tâm của kẻ thùtạo nên nguồn cảm hứng lớn cho sáng tác Ông đã nã những phát cực kỳ lợi hại, bóctrần bản chất xảo quyệt của chúng, dù được chúng ngụy trang rất khéo léo ; góp phầnđộng viên và tăng cường nhận thức của quần chúng về chiến tranh chống Mỹ, cứunước
Có thể nói, sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã rũ bỏ cái “Tôi” vươn lênthành người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ Ở các tác phẩm của ông có sựphóng túng trong cách nhìn, cách cảm, lối kể tả, thể hiện cảm xúc say sưa, tươi mớichân thành và nồng nhiệt như đang hòa mình vào đời sống kháng chiến cùng quầnchúng nhân dân
2.2 Kết cấu trong kí của Nguyễn Tuân.
2.2.1 Kết cấu cốt truyện
Với một Nguyễn Tuân cổ điển, ông viết lối tuyến tính (linéaire), kể truyện theothứ tự thời gian ở các tập du ký Một chuyến đi, Tùy bút I và II, Chất tuyến tính phùhợp với phong cách hiện thực, với thể ký, kể chuyện “người thật việc thật”, và đápứng đòi hỏi của lối sáng tác xã hội chủ nghĩa sau này: dễ viết, dễ đọc, tầng lớp nàocũng hiểu; trong khi lối viết phá thể, xóa bỏ tuyến tính, pha trộn quá khứ và hiện tại,đảo lộn thiện ác, coi thường đạo đức, luân lý, trong “Vang bóng một thời”, không thể
Trang 19chấp nhận và phát triển được trên con đường một chiều của sáng tác Đôi khi mạchbút kí Nguyễn Tuân không được trình bày theo trình tự tuyến tính của sự việc, màthường là chảy trôi theo dòng cảm nghĩ hết sức thoải mái của tác giả, chuyện nọ gọichuyện kia, chồng chéo lên nhau, không theo một trình tự nào, và cũng không bị hạnchế bởi không gian, thời gian Ranh giới giữa bút kí và tùy bút vì thế, nhiều lúc trởnên “nhòe mờ”, khó phân Có thể nói, vẫn là nặng về “ghi chép” chân thực hiện thựccuộc sống nhưng trong bút kí Nguyễn Tuân, yếu tố cảm xúc chủ quan của nhà văn đã
đi trước một bước Ông thường để cảm xúc dẫn dắt đến những ngã khác nhau để từ đóphóng chiếu những suy nghĩ của mình Tác phẩm, do vậy, gần như không bị câu thúcbởi những sự việc được đề cập đến mà nổi bật nhất vẫn là dòng cảm xúc của tác giảluôn chảy tràn bên lượng thông tin đầy ắp Và nếu tinh ý, độc giả sẽ nhận ra, tính mờnhòe về đặc điểm thể loại còn trở thành “môi trường” thuận lợi để nhà văn tha hồ tunghoành trong biên độ rộng Tác giả bút kí cứ thế tạo ra những bước đột phá trong việcphản ánh hiện thực và bộc lộ những suy nghiệm của bản thân Vì thế, có khi nhà văn
như để câu văn chảy tuôn theo dòng xúc cảm: “Tôi cảm thấy giữa quãng không gian
ngã ba Tây Bắc này, mình đích thị là một người bộ hành hạnh phúc Cái hạnh phúc của người thấy được cả cái quá trình của một sự việc lớn – của một con đường cái quan Cái hạnh phúc của một người - khách qua đường đã may mắn có được cơ hội
để nhìn thấy con đường này từ lúc nó còn chưa tốt chưa đẹp như bây giờ ” (Một bài
thơ đường); lúc thì dừng lại khắc họa một vài nhân vật, hay kể lại chi tiết những sự
kiện ở hiện tại hoặc quá khứ: “Trời, tôi cứ nhớ mãi cái hình ảnh của anh Năm nói
cách đây ba bốn năm, ở một lớp chính trị, khi nhận định về đặc điểm tình hình hai miền Anh Năm nhấn mạnh vào chỗ cắt đôi của Tổ quốc, không cắt ngang mà lại cắt theo một chiều dọc Thực ra cắt ngang hay cắt dọc cũng đều là khổ cả, đã cắt thì bao giờ cũng đau, bao giờ cũng là máu chảy Cho đến nay, vết thương vẫn chưa cắt chỉ thay băng” (Cắm cột mốc giới tuyến); và nhiều lúc lại như mải mê với những cảm
tưởng về viễn ảnh tương lai: “Con suối nhớ thương một cách ồn ào, mà tôi thì đang
tương tư đến một viễn ảnh tương lai gần nào ở quanh bờ này Biết cách ồn ào, mà tôi thì đang tương tư đến một viễn ảnh tương lai gần nào ở quanh bờ này Biết đâu tại đây rồi lại chả mọc lên một cái gì có quy mô lớn của bàn tay xã hội chủ nghĩa chúng ta? Biết đâu nỗi nhớ dữ dội đêm nay của dòng suối, lại không là cái tiếng reo vui
Trang 20khỏe mạnh sắp tới của những ống tuyếc-bin chạy điện trắng của một nhà máy lọc quặng kim nào trên đất Hà Giang nhiều suối này?” (Suối quặng) Mạch văn nhìn
chung hết sức linh hoạt do biên độ thể loại được nới lỏng Những dòng liên tưởng bấtchợt, những phát biểu, suy cảm tùy hứng, một mặt, tuy có dẫn đến nhiều đoạn trongbút kí khá lan man, dài dòng nhưng mặt khác, cũng nhờ đó mà sáng tác của NguyễnTuân thêm nhiều màu – vẻ, vừa giàu sức thuyết phục với những chi tiết, thông tin cụthể, lại vừa nâng tình cảm, tư tưởng của người đọc lên với những trang viết mang đậmcảm hứng trữ tình
Khi chọn Lột xác, Nguyễn Tuân bắt buộc phải đi theo hướng tuyến tính, kểtruyện đường dài, giọng trực tiếp Trừ những trang tản mạn đó đây, về con người vàvăn hoá Mèo, Thái thực sự có xúc cảm, đáng tiếc là cả ngàn trang ký, viết sau 1945,lối trực bút, tả cảnh trực tiếp, ca tụng cũng trực tiếp, theo tuyến thẳng, nhiều khi chẳngngại nói ngoa cho phù hợp với đòi hỏi của tuyên truyền và những kiến thức về thảomộc đất đai, địa lý thường là những danh sách liệt kê hàng trang những địa danh, địachất, tên hoa, tên đất, tên mỏ như Chà Là - Cái Nước - Cái Rắn - Cái Sắn - Cái Bát -Cái Tàu - v.v , hay Hoàng anh, Giẻ gai, Sấu, Cà lồ, Nhội v.v , hoặc Mường đen,Mun sừng, Mun sọc, Gụ mật v.v , được ném tái vào các bài bút ký kháng chiến vàchiến tranh, mà Sông Đà là tập nổi tiếng cho thấy nhiều chỗ sượng, kiến thức chưa kịpđập dập, nghiền ngẫm và thăng hoa như trong các tác phẩm hay tiền chiến Đọc Sông
Đà, Tây Bắc cái gì cũng tuyệt vời, ngon như “bát phở nông căng tin, năm sáu năm tới
hẳn là ngậy lên cái mùi thịt chín tái của chính bò nông trường đây Tách cà phê nóng căng tin gợi trước lên cái hương vị cà phê tương lai của nông trường Tây Bắc”
(Nguyễn Tuân toàn tập , IV, trang 151), “Tây Bắc đầy của chìm của nổi, với những
phong cảnh bao la một niềm lãng mạn xã hội chủ nghĩa” (trang 152) với “Với tất cả cái nhộn nhịp tươi trẻ của tất cả con người làm ruộng xã hội chủ nghĩa, làm đường xã hội chủ nghĩa” (trang 190) Núi rừng Tây Bắc rực rỡ trăm hoa đua nở Than Quỳnh
Nhai giá trị như vàng Những trang văn đẹp, nếu có, thường bị ngập trong những trangrỗng Ví dụ bài Gió Than Uyên có nhiều đoạn viết về gió rất hay, nhưng giá trị toànbài bị giảm vì những đoạn bốc Than Uyên quá đáng, nào là rừng mỏ: mỏ chì, mỏđồng, mỏ xi măng, mỏ thạch anh, mỏ diêm sinh, mỏ lân tinh, nào là có nơi người tađãi vàng hàng lạng Tả miền đất cằn cỗi, “khỉ ho cò gáy” như miền Tây Bắc mà đâu
Trang 21đâu cũng thấy giầu, đẹp đẹp quá hóa không tin được, ấy là chưa kể, đối với những
kẻ thật tình yêu nước, mọi phỉnh nịnh tô vẽ quê hương đều phù phiếm, còn đối vớinhững người nhẹ dạ, ngây thơ, đây là thứ độc dược đổ thêm vào căn bệnh cả tin,hoang tưởng về những điều không có thật của một quê hương bịa đặt tô hồng
Bút kí Nguyễn Tuân còn được tiếp thêm nhiều dưỡng chất từ du kí Hầu hếtcác sáng tác của nhà văn ở thể này đều ra đời sau 1960 Nguyễn Tuân lúc này tuy tuổitác đã ngoài ngũ tuần nhưng vẫn tiếp tục đi nhiều và viết nhiều Ông có lúc đã lên tậnđỉnh Hoàng Liên Sơn, tới tận Lũng Cú tột Bắc; rồi lại xê dịch về phía Đông Bắc thămQuảng Ninh, tới huyện đảo Cẩm Phả, bãi cát Sa Vĩ, Trà Cổ, ra tận đảo Cô Tô Ôngcũng đi nhiều về phía Nam, men theo bờ sông Tuyến, từ Cửa Tùng đến cầu HiềnLương, cảm nghĩ nhiều về nỗi đau chia cắt đất nước Đặc biệt nhà văn còn nhiều lần
ra nước ngoài, đến Bun-ga-ri, Liên Xô, thăm Mạc Tư Khoa, Lê-nin- grat, Ô-đét-xa Các sáng tác của ông, do vậy, từ tùy bút cho đến bút kí, đều mang đậm dấu ấn của du
kí Chúng thường làm giàu thêm nhận thức, kinh nghiệm, tình cảm của người đọc bởilượng thông tin phong phú, cùng những cảm xúc đa dạng, tươi mới về những thắngcảnh, phong tục, dân tình ở nhiều vùng quê của Tổ quốc, và cả ở những xứ sở xa lạ,những nơi mà tác giả từng đặt chân đến Trong bút kí, nhà văn thường từ một điểmnhư ở giữa hình cầu mà phóng chiếu tầm mắt ra bốn phương, tám hướng Cái nhìn ấy,khi thì lướt nhanh, khi thì dừng lại xoáy sâu vào từng điểm; có khi là chiêm ngưỡng từmột điểm cố định, nhưng thường là không cố định một chỗ mà có xê dịch: khi thì xê
đi dịch lại, khi thì đi từng bước, khi thì xê dịch theo ô tô, máy bay, ghe thuyền Và vì
xê dịch thường xuyên như thế nên cái nhìn ấy vừa quay theo mình lại vừa đi tới, cáinhìn trong không gian cũng hòa lẫn với thời gian Không gian không chỉ được NguyễnTuân mô tả ở một phía, mà thời gian cũng không chỉ theo một dòng thẳng Sự vậttrong thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai vì vậy, cũng thường quay tròn theo tâmđiểm của trường nhìn chủ thể Mặt khác, không chỉ nhìn bên ngoài, nhà văn còn nhìnbên trong, tâm tình bên trong gắn liền với không gian, thời gian vận hành xê dịch, thờigian di chuyển, do đó, thường khi xuôi, khi ngược, khi nhanh, khi chậm, không theomột quy luật nhất định nào Một bài thơ đường, kết quả từ một chuyến lên Tây Bắccủa nhà văn, tiêu biểu cho cái nhìn ấy Ta dễ dàng nhận ra chủ đề chính của bút kí này
là ca ngợi việc bắc cầu, làm đường của chủ nghĩa xã hội lên miền núi Tây Bắc Đó
Trang 22cũng là trục chính của tác phẩm Xoay quanh cái trục ấy, nhà văn đã dồn ép trongthiên kí ngắn này hồi ức về các chuyến lên Tây Bắc, với nhiều kiểu đi: từ đi bộ, đi ô
tô, đến bay theo các quãng đường trời và nhiều kiểu đường, các kiểu đường ấy lạithay đổi qua nhiều thời kì: đường bộ với nhiều khúc quanh co hoặc bằng phẳng, vớisông suối, với lũ lụt rồi với cầu; đường trời với nhiều kiểu không khí Nhà văn còndồn ép kí ức về những khi dừng lại, những nơi đã đến, đã ở hai ba lần, kể chuyện banđêm, ban ngày, những chuyến lên ăn ở với công nhân làm cầu đường, được chứngkiến nhiều cảnh sinh hoạt của họ Ông lại “lùi về hai mươi năm trước đây, mười nămtrước đây” để kể lại những kỉ niệm về cảnh vật và con người, về ta về địch, với nhiềucâu chuyện: nào là bác tài xế vượt lũ, ông lái đò vượt thác, công nhân làm đườngchống lụt, chữa cháy, cả với những cảnh ốm đau, hoạn nạn, cảnh hạnh phúc, cướixin ; để rồi trở về thực tại, lại liên tưởng nhiều về sự tiến lên của đất nước Đó là cáinhìn toàn cảnh Kiểu nhìn lướt nhanh, dồn ép không gian – thời gian như thế còn xuấthiện ngay trong những đoạn ngắn, gợi nhiều ấn tượng ở người đọc Quan sát đoạn
trích dưới đây, ta có thể thấy rõ cái nhìn đặc thù ấy: “Cái xe cứ bon bon mà chạy, mà
qua hết cầu này cầu khác (1) Nhà cửa, lều, lán, kho, trại, sân, cống, vườn, bến, cột
cờ, chòi phát thanh, đâu hết cả rồi? (2) Chỉ còn rừng xanh một dải và đường trắng cũng một dải (3) Thấy tênh hênh mà tan quanh cả đi như người và lầu Liêu trai sau tiếng gà gáy sáng (4) Nói cho đúng hơn thì nó như là trở lại một cái phố trong rừng Việt Bắc những năm tản cư kháng chiến hàng quán tấp nập là thế, mà nay tìm hỏi thì trước sau chỉ còn thấy có giọt nắng gieo trên lá cũ (5) Cuộc sống thật là luôn luôn chuyển lên và đổi mới Họ rút đi khỏi nơi đây để hòa tan vào những cái mới hơn đang hình thành ở mọi nơi khác chung quanh vùng (6).” (Một bài thơ Đường) … (1) Kiểu
nhìn lướt nhanh, xê dịch bằng ô tô à (2) Thoảng hiện về trong trí nhớ cảnh vật chungquanh khi đoàn công nhân làm đường tập trung ở quãng đường ấy à (3) Cảnh vậttrước mắt lướt thẳng, tâm sự hơi ngậm ngùi à (4) So sánh sự đổi thay huyền ảo, nỗiniềm bâng khuâng, buồn, nhớ à (5) So sánh thực hơn, cảnh đổi thay gợi lên tâm trạngkiểu bài thơ của Thôi Hộ à (6) Từ bâng khuâng đến tỉnh táo, với cái nhìn lạc quan vềhiện tại và tương lai trong cuộc đổi mới đất nước, nhà văn lại nghĩ tiếp về hợp tác xã ởthôn quê và thành thị hiện nay Kiểu nhìn xê dịch, dồn nén không gian, thời gian, tâmtình, tỏa ra rồi dừng lại ở một điểm, rồi đi sâu vào chỗ chi li của điểm ấy, xoay quanh
Trang 23một chủ đề nhất định cũng là cấu trúc chung của nhiều bút kí Nguyễn Tuân Trên đây
là kiểu lướt nhanh nên đoạn văn thường ngắn Nhưng khi dừng lại ở một điểm thì bút
pháp của nhà văn thường chạm khắc mọi thứ hết sức tỉ mỉ: “Tôi nhìn cái cầu bê tông
vừa mới hoàn thành, trên mặt cầu còn phủ lá phủ đất và còn cả cái ngảng tre ở chỗ mối đường vào cầu Mố cầu cả phía Điện Biên, cả phía Tuần Giáo đều chưa có tí ngấn nước lũ mùa thu nào Mới quá.” (Một bài thơ Đường).
Có thể thấy ở đoạn trên, cái nhìn của nhà văn gần như đã thu hẳn về một đốitượng, từ đó, ông đi vào từng điểm, từng điểm cụ thể và khám phá từng bình diện của
sự vật Trong nhiều trường hợp, “ống kính quay chậm” của Nguyễn Tuân còn tỏ rakhá chi li:
“Nắng rừng rọi xuống, xuyên qua tấm kính mặt suối bằng sỏi, đá cuội, đá lăn, đá đầu
sư, đá hộc, đá gốc hiện lên bằng hết Bỗng thấy nơi đầu hòn này, nơi đầu hòn kia ẩn
ẩn hiện hiện, những vết sút rất mới Toàn thân viên đá mòn đều một chất rêu lưu cữu, chỉ riêng chỗ vết thương mới là không có rêu, và lộ ra những hai cấu trúc của đá Đàn ngựa thồ nào qua đây, chắc là tải hàng nặng lắm, mỗi con chở tới bốn thùng dầu hỏa là đúng 80 cân Thồ nặng, trượt chân trên trán đá, ngựa vấp mạnh móng sắt vào, làm sứt sẹo lũ đá lòng nước chứ gì! Tôi tìm kĩ những cái sẹo đã lóng lánh cát bạc cát vàng li ti nổi vân xanh đỏ Chỉ có đánh búa vào thì mới vỡ to vỡ gọn như thế Thôi, đúng là quanh vùng đây có một địa chất nào đang đi tìm hiểu thêm đất nước, và phát hiện thêm của chìm của nổi cho Tổ quốc đây!.”(Suối quặng) Nhà văn không chỉ nhìn
thấy các thứ đá, cả vết sứt của hòn đá nằm trong lòng suối, mà còn tìm hiểu cả nguyênnhân tạo ra vết sứt ấy Nghệ thuật đặc tả của Nguyễn Tuân ở đoạn văn trên có thể nói,
đã đạt đến kĩ thuật tài tình của người chạm ngọc Nói chính theo kiểu của ông thì, “kĩ
thuật rất chi là xuya”!
Các sáng tác của nhà văn ở thể này còn có biểu hiện dung nạp vào chúngcác yếu tố của nghệ thuật truyện Hiện tượng này ta cũng thấy ở tùy bút Song, khácvới tùy bút ở chỗ, trong bút kí, Nguyễn Tuân thường không có thiên hướng tạo dựngcốt truyện, xây dựng tính cách nhân vật mà chủ yếu hấp dẫn người đọc bằng nhữngmẩu chuyện, những “giai thoại” được đan lồng trong cấu trúc tác phẩm, cùng với nghệthuật hư cấu Có thể nói, làm nên sức hấp dẫn của bút kí Nguyễn Tuân, trước hết là ởnghệ thuật dẫn chuyện rất tài tình của nhà văn Tác giả thường lồng vào mỗi bút kí của
Trang 24mình một hoặc vài ba mẫu chuyện được kể một cách ngắn gọn, thông minh, với mộtgiọng “rất hóm” (từ dùng của Nguyễn Đăng Mạnh) Chẳng hạn, trong Cắm cột mốcgiới tuyến, có câu chuyện về đoàn Liên hợp quân sự đi cắm biển vạch đường giớituyến năm 1954; sức hấp dẫn của mẩu chuyện này gắn liền với hai tình tiết: quan ba
Bétxina “ngã nhiều lần và trượt chân thì không nhớ là bao nhiêu lần”, và những tấm
biển thì được đóng lên những cây bún, cây trổ (!) Trong Thi bơi là chuyện về bọnngụy tổ chức thi bơi sải, nhân ngày “Quốc khánh cộng hòa Diệm”, với hình ảnh “bàgià quận trưởng cầm dùi trống gõ ba hồi”, và “kết quả cuộc đua là có hai thuyềnchìm” (!) Trong Chỗ đầu cầu đó, chỗ bờ sông đó, chỗ biển cát đó còn có giai thoạihết sức thú vị giữa bộ đội miền Bắc đấu lí với bọn lính ngụy ở bờ Nam cùng gác cầu Đấy là nói về phía địch Về bên ta, nhà văn cũng có những mẫu chuyện khá di dỏm.Trong Suối quặng là chuyện về một anh cán bộ địa chất, do nghề nghiệp nên có thóiquen đi nhanh và đi bộ dẻo dai, khi về Hà Nội tìm hiểu “đối tượng”, lại kém về “khoa
tâm lí”: “Hai anh chị ấy cùng đi bách bộ trong vườn Thống Nhất Chị đi thong thả,
còn anh thì quen chân, cử tranh thủ mà đi, tưởng đầu như con đường sỏi cuội hoa viên vẫn còn là tuyến lộ trình trên ấy Chị đối tượng có vẻ mỏi liền gợi ý: “Anh đã đi lâu rồi, nên ngồi xuống một lúc ở ghế đá trước mặt kia nhé!” Tính anh bạn tôi cũng đơn giản, không chú trọng đến những ý tứ mình chưa quen, liền trả lời một cách thẳng thắn: “Đi bộ thế này thấm gì Tôi thường đi cả ngày, từ sớm đến xẩm tối không nghỉ gì cả ” Câu chuyện tìm hiểu ấy hình như chưa tiến lên được mấy ” Trong bút
kí “Bên ụ súng Hà Nội”, một đám cưới phòng không lại có một giai thoại vui khác vềhai anh chị công nhân, vốn là tự vệ bắn cao xạ lấy nhau; trong đám cưới, chú rễ hội ý
chớp nhoáng với cô dâu xong, liền nói: “Sang năm 1973, chúng tôi bảo đảm X giây
một phát” Thực ra, ngầm ý anh ta muốn nói là thi đua “bắn nhanh” máy bay địch!.
Ngoài ra còn nhiều mẫu chuyện thú vị khác nữa, như chuyện ông Đại, người sơntràng, có võ nghệ cao cường, say rượu đánh chết hổ; chuyện ông Hùng 71 tuổi, giết cásấu trên sông Bỏ Đuốc trong Vẫn cái tiếng dội Cà Mau ấy; câu chuyện về “suối cáhộp” trong Một bài thơ đường Cứ thế, hầu như ở bút kí nào của Nguyễn Tuân cũngthấy có điểm xuyết một hay dăm ba câu chuyện ngồ ngộ, vui vui, hoặc có ý vị tràophúng, hoặc cảm động Những mẫu giai thoại ấy, đến lượt chúng, không chỉ làm tăngthêm sinh khí cho tác phẩm mà còn góp phần làm thay đổi giọng điệu kể chuyện; cách
Trang 25trần thuật của nhà văn nhờ đó trở nên linh hoạt, sinh động hơn, thay vì chỉ thuần túyghi nhận và phát biểu cảm xúc
Nghệ thuật hư cấu cũng là một nét riêng, làm tăng sức hấp dẫn và phẩmgiá của bút kí Nguyễn Tuân Phải chăng trong quá trình kiến tạo các tác phẩm ở thể tàinày, “kí ức thể loại” đã tìm về với Nguyễn? Rất có thể là vậy Song chúng tôi chorằng, cội nguồn sâu xa của hiện tượng này có lẽ còn xuất phát từ chính ý thức nghệthuật của nhà văn – Nguyễn Tuân là người hết sức đề cao vai trò của hư cấu trong
sáng tạo nghệ thuật, và ông cũng ý thức rõ: “Hư cấu không khi nào tách rời thực tế sự
sống” Trong tùy bút, ta thấy đặc tính này đã được nhà văn khai thác triệt để để dựng
cảnh và khắc họa nội tâm nhân vật Đến bút kí, chúng lại được sử dụng để dựngchuyện Đọc đoạn văn tác giả viết về tên ngụy gác cầu Hiền Lương đấu khẩu với quân
ta bị thua: “Đêm đó về đồn cảnh sát đầu cầu Nam, thuật lại mẩu chuyện bắn ô tô qua
cầu đó, anh lính miền Nam kia liền bị cả tốp đồng ngũ nó nhiếc là hèn kém cho nên mới bị ăn cái “đòn hòa bình” vừa rồi nơi đầu cầu Và trong bọn có thằng cha ra vẻ
du côn hung hăng tuyên bố: “Được, ba đứa bây để đó cho tau Bữa mô tau qua cầu đấu lí với bọn hòa bình hẳn cho tụi bây coi.” (Chỗ đầu cầu đó, chỗ bờ sông đó, chỗ
biển cát đó ) Hay đoạn nhà văn miêu tả quan ba Bétxina trên thuyền đọc cuốn Điện
Biên Phủ của Lucién Bornert trong Cắm cột mốc giới tuyến: “Quan ba Pháp Bétxina
đang đọc cuốn Điện Biên Phủ ở Pháp vừa gửi qua cho ông Cuốn Điện Biên Phủ của Lucién Bornert đó vừa in xong ngày 25-5-1954 (tức là 18 ngày sau khi mất điện Biên Phủ, quan ba Bétxina nghĩ thế) ( ) Và ngừng lại ở cái đoạn tàu bay bắn phá trên các đường trục Tây Bắc, ném bom tạ, bom bướm xuống những trọng điểm giao thông Nhưng mà tàu bay đó cũng bất lực không thể ngăn lại được “hai vạn cu li gánh hàng trong lòng rừng có những lối đi hóc hiểm” Và rừng dày Tây Bắc đã phá được tàu bay Mĩ, bảo vệ cho những người “cu li nguy hiểm" đó Đến cái câu “Điện Biên Phủ tức là cái chiến thắng của đám cu li” thì, không còn nghi ngờ gì nữa, viên quan ba này biết ngay tác giả sách đang đọc là một thằng cha tác giả bố láo viết bậy”(!)
Người đọc đều hiểu rõ rằng tác giả đang kể, đang tả những việc mà ôngkhông tận mắt trông thấy, hoặc chín phần mười là không nghe ai nói, nhưng lại khôngcảm thấy hoài nghi về tính xác thực của những sự việc được nhà văn đề cập đến Vậy
là, chuyện do nhà văn “bịa” ra đấy nhưng cũng là rất “thực”! Có thể nói như vậy, bởi
Trang 26ai trong chúng ta cũng đều nhận ra rằng, chính logic cuộc sống đã cho phép nhà vănsuy luận như thế Qua đó có thể thấy, thế mạnh vốn thuộc về lối tư duy của truyện đãđược nhà văn kế thừa hết sức sáng tạo Sự tham gia của yếu tố hư cấu không nhữngkhông phá vỡ đi tính chất “tôn trọng sự thực” – đặc tính hàng đầu của bút kí, màngược lại, còn làm tăng thêm sức thuyết phục nghệ thuật cho các yếu tố được thực tả;tác phẩm vì thế, càng thêm phần sinh động Đặc biệt, sự hòa hợp giữa hai yếu tố này(hư cấu và phi hư cấu) đồng thời còn mở ra ở người đọc một tầm nhìn vừa bao quát,toàn diện, vừa khái quát, khi tiếp cận hiện thực được phản ánh trong tác phẩm Ký củaNguyễn Tuân nhìn chung, thường đem đến cho người đọc nhiều khám phá thú vị, bấtngờ Chính cái nhìn đầy biến hóa ấy đã khiến cho nhiều tác phẩm của ông tuy có dunglượng nhỏ mà ngồn ngộn cảm xúc, trùng trùng biểu tượng Trong đó, tất cả niềm vui,nỗi buồn; quá khứ, hiện tại, tương lai; thiên nhiên, con người; dữ dội, tươi đẹp; ngọtngào, cay đắng; nồng nàn, sâu lắng thường hòa quyện vào nhau, dệt nên những khêugợi lấp lánh, huyền ảo
2.2.2 Kết cấu trần thuật
Ở cấp độ trần thuật, vai trò của kết cấu thể hiện rõ ở bố cục và thành phần trầnthuật, cũng như cách tổ chức điểm nhìn trần thuật của truyện kể Ứng với mỗi câuchuyện kể, bên cạnh việc lựa chọn dạng thức chủ thể trần thuật thích hợp, mỗi nhà văn
có cách sắp xếp, tổ chức và hệ thống các thành phần trần thuật để tạo thành bố cụctương ứng Mạch bút kí Nguyễn Tuân hiếm khi được trình bày theo trình tự tuyến tínhcủa sự việc, mà thường là chảy trôi theo dòng cảm nghĩ hết thoải mái của tác giả,chuyện nọ gọi chuyện kia, chồng chéo lên nhau, không theo một trình tự nào, và cũngkhông bị hạn chế bởi không gian, thời gian Ranh giới giữa bút kí và tùy bút vì thế,nhiều lúc trở nên “nhòe mờ”, khó phân
Cũng giống như nhiều nhà văn khác cùng thời kỳ, hành trình tìm kiếm lý tưởngthẩm mỹ của nguyễn tuân đều xoay quanh một “trục bản lề” lịch sử – Cách mạngtháng Tám 1945 Ông quan niệm cái mốc lịch sử ấy đã tạo ra sự Lột xác kỳ diệu củabản thân Trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước 1945, “kì thú” có ý nghĩa quan trọngnhư một phạm trù thi pháp học Nó là “điểm nhãn” trong kết cấu truyện kể của ông.Gọi nó là “điểm nhãn” trước hết vì nó là điểm tựa, là “đầu mối” nối kết các nhân vật
Trang 27trong sáng tác của ông Trong mỗi truyện kể của Nguyễn Tuân, các nhân vật thườngđược kết nối với nhau bằng một cái “thú” nào đó Trong “Chữ người tử tù”, các nhânvật nối kết với nhau bằng thú chơi chữ Thú “hàng viện” là đầu mối nối kết các nhânvật trong Chiếc lư đồng mắt cua Với Chiếc lư đồng mắt cua, trước hết, không phải
như Nguyễn Tuân giới thiệu “Có lẽ tập vở này cũng lại chỉ là những trang tùy bút
chép lại một ít tâm trạng tôi trong những ngày phóng túng hình hài” Tất nhiên trong
vài trang đầu, ông có viết theo lối phóng bút, khi luận, khi kể, khi bình Nhưng chỉdăm trang sau là ông dừng lại ở thể tự thuật Một lối tự thuật đặc biệt, không chỉ ghiphần tâm sự lãng mạn ngoài da của tác giả trong cuộc sống ăn chơi phóng túng nhưphần lớn những bài tự thuật trong Tùy bút hay tự truyện Nguyễn, mà nó phân tâmNguyễn Tuân về chính mình, về sự phát xuất ngòi bút Nguyễn Tuân Một thiên tài, có
lẽ đã dấy lên từ việc bị đuổi học, bị tù, dẫn đến phẫn chí, lang thang bụi đời hết nhàhát này đến nhà hát khác, ăn nhờ, ở đậu, hút thuốc phiện và hát cô đầu chùa, trong cả
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Trong Chiếc lư đồng mắt cua, Nguyễn Tuân kể rằng, “mươi
năm về trước, tôi là một người đi tù về” Vì đi tù, bị đẩy sang thế giới bên lề, “không được biết đến cái thú đèn sách nhà trường, cái thú đi thi nữa, tôi bèn tìm đến cái thú giang hồ” Hãy xem thế giới “ban đêm” khơi dậy cảm hứng và “thú giang hồ” đã
truyền cho nghệ sĩ sức mạnh sinh thành như thế nào: “Lâu nay, tôi không chịu sống
ban ngày, hình như chỉ ở được đêm tối thôi Tôi thích đêm tối lắm […] Ban ngày, tôi thường lừ đừ, tối thì tôi lại trở nên nhanh nhẹn Đến như câu chuyện trao đổi, bất cứ
là ai cũng vậy Ban ngày, tôi nói chuyện uể oải, nhát gừng dở dở ương ương […] Tôi nghiệm ra tôi chỉ say đắm những lời tôi nói vào lúc đã lên đèn rồi Câu chuyện của tôi trình gửi với chung quanh chỉ có duyên, có lễ độ, có thuỷ chung, có mạch lạc, dưới một cái ánh đèn thôi […] Hình như trong người tôi có hai cái tôi Một cái bản ngã khác thuộc về phần đêm Nếu ban ngày tôi đã thờ ơ lửng khửng, e lệ, chán mỏi thì từ buổi tối trở đi, tôi lại nhanh nhẹn, thiết tha ham sống và cười đùa luôn luôn Chừng như chỉ có đêm hôm và bóng tối mới là cái hoàn cảnh vững chắc cho tâm thần bất định của tôi […] Trời ơi, cuộc sống tình cảm của tôi về phần đêm sao giàu có đến thế được nhỉ” Là sức mạnh sinh thành, kì thú cao hơn sự sống Cho nên, mới có kẻ không
màng tới sự sống, từ bỏ “người bạn đạo đức khô khan” để đến với đam mê và lạc thú
Ở phương diện này, kì thú là sức mạnh huỷ diệt Nó buộc người ta phải “phóng túng