Tản văn ở Việt Nam ngày càng giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại, trở thành mảnh đất màu mỡ đểnhiều tác giả thử nghiệm và làm nên tên tuổi của mình
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XX là thế kỷ của khoa học công nghệ Sự phát triển khoa học kỹthuật đã cuốn con người vào vòng đua công nghệ Chính điều này là nguyênnhân làm suy giảm văn hóa đọc Đi cùng với cuộc sống hiện đại là sự thay đổiquan niệm sống, thị hiếu thẩm mỹ, làm cho văn học không còn giữ vị trí độctôn trong việc tìm tòi, khám phá tri thức và là phương tiện giải trí nghệ thuậtnhư trước Hoàn cảnh đó đặt ra một thách thức lớn buộc văn học phải thay đổi
để phù hợp với yêu cầu của bạn đọc Minh chứng cụ thể cho thấy sự thay đổi
là những cách tân trong hệ thống thể loại để phù hợp với nhu cầu nhận thức
và nhu cầu thẩm mỹ của thời đại Một trong những thể loại được các nhà văn
sử dụng nhiều hiện nay là tản văn
Với đặc trưng thể loại là ngắn gọn, tản văn đã kịp thời “chụp” lại những
khoảnh khắc cảm xúc, suy nghĩ mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả Nhờvậy, nó đã dễ dàng đến với hàng triệu con tim trên cả phương diện cảm xúc vànhu cầu thông tin Tản văn ở Việt Nam ngày càng giữ một vị trí đặc biệt trong
hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại, trở thành mảnh đất màu mỡ đểnhiều tác giả thử nghiệm và làm nên tên tuổi của mình như Nguyễn Tuân,Nguyễn Khải, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đỗ Chu, Y Phương, Băng Sơn, PhanThị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư…
Đọc tản văn của Nguyễn Ngọc Tư ta cảm nhận được sự mộc mạc, giản dị
và nỗi buồn man mác, với cái nhìn tinh tế nhạy cảm của một người phụ nữ trướcnhững vấn đề của cuộc sống Chị có cách phản ánh vấn đề, đưa vào tác phẩm củamình những ý tưởng ý nhị mà sâu sắc, uyên thâm nhưng lại gần gũi với nhiềutầng lớp bạn đọc và cùng với nó là nét đẹp văn hóa Nam Bộ trong mỗi tản văn.Nguyễn Ngọc Tư – một người con của mảnh đất Nam Bộ đã làm nên sự chânthành, phóng khoáng trong từng trang văn Các tác phẩm của chị đã len lỏi
Trang 2vào mọi ngóc nghách tâm hồn, để lại dư âm sau những trang viết.
Việc nghiên cứu các sáng tác nói chung, tản văn của Nguyễn Ngọc Tưnói riêng không chỉ góp phần định hình diện mạo văn học, phong cáchNguyễn Ngọc Tư mà qua đó thấy được quá trình vận động, phát triển của tảnvăn trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam hiện đại
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Ngọc Tư nhưng chủ yếu mới tập trung ở thể loại truyện ngắn Còn ở tản văn - một thể loại mà tác giả đang thử sức bằng một thái độ nghiêm túc - thì cho đến nay, dường như vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đặc điểm tản văn của tác giả này Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn
lựa chọn nghiên cứu đề tài Đặc điểm tản văn Nguyễn Ngọc Tư với hi vọng sau khi
hoàn thành, công trình sẽ là một đóng góp nhất định trong tiến trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Ngọc Tư nói riêng và văn học đương đại Việt Nam nói chung.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây có rất nhiều bài viết in trên các báo và internet
về tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Để hình dung cụ thể trong phần lịch sửnghiên cứu vấn đề chúng tôi chia ra các nhóm ý kiến dưới đây:
2.1 Hướng tiếp cận nội dung
Văn chương đến với Nguyễn Ngọc Tư là cái duyên và cũng là cáinghiệp Chị viết về vấn đề của cuộc sống, những gì chị đã mắt thấy tai nghetrên vùng đất đã đi qua Nhưng chị luôn dành tình cảm lớn nhất cho chínhmảnh đất Cà Mau và Nam Bộ Quê hương Nam Bộ là cái nôi và bầu sữa ngọtngào làm nên sức sống, cái tình cho văn Ngòi bút của chị hướng vào vùng đấtNam Bộ với cảnh sắc dung dị và con người
“chịu chơi” mang danh công tử miệt vườn Đó là lòng tự hào về cảnh sắc quê
hương và tình người Nam Bộ cùng những suy nghĩ đổi thay của
quê hương và nỗi khắc khoải về tình người trước thời đại mới Tất cả như ám ảnh chị khiến chị dồn nén lại để tuôn ra trên đầu ngọn bút với
Trang 3cảm xúc bình dị nhất của người con đất Mũi.
Độc giả Nguyễn Ngọc Tường Vân, ngày 21/07/2011, có bài viết mộc
mạc và rất trữ tình đăng trên wed: http://tiki.vn yeunguoingongnuitanvan Tác
giả đã chia sẻ cảm nhận của mình khi đọc tản văn Yêu người ngóng núi:
Trong cuộc sống bận rộn này, mỗi chúng ta nên dành một chút
thời gian mỗi ngày để đọc Yêu người ngóng núi và chiêm nghiệm,
chỉ cần mỗi ngày một bài tản văn, hẳn là chúng ta sẽ suy nghĩ đẹp hơn và sống tốt hơn Đây là tác phẩm dầu tiên của Nguyễn Ngọc
Tư mà tôi đọc, thật thì so với Cánh đồng bất tận tôi lại thích quyển
này hơn bởi nó thể hiện được cái tình giản dị mà thấm đẫm giữa đời thường Ngay từ tản văn đầu tiên, Nguyễn Ngọc Tư bàn về Sài Gòn – nơi tôi sinh sống bằng một lối văn nhẹ như dòng nước:
“Bằng cách đó, thành phố yêu anh…còn anh thì mãi ở núi này trông núi nọ, nhưng thành phố vẫn còn đó, chờ đợi trong yêu thương, hằng ngày vẫn thở” [53].
Với những khía cạnh nhỏ của cuộc sống nhưng dưới con mắt của nhàvăn, Nguyễn Ngọc Tư đã rất khéo léo trong cách thể hiện để vấn đề dần đivào lòng người đọc một cách tự nhiên nhất, vì đó là những gì thường ngàycủa cuộc sống Câu chuyện đơn sơ mà hấp dẫn người đọc bằng cái nhìn nhânhậu, nghĩa tình của cây bút trẻ đầy bản lĩnh
Tác giả Dương Vân với bài viết Nguyễn Ngọc Tư - “Đong tấm lòng” qua con chữ rưng rưng đăng ngày 3/3/ 2015 trên trang giaitri.vnexpress.net nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm vui buồn, âu lo không chỉ về thân phận người
nông dân miền Tây, mà còn về bản sắc văn hóa lịch sử, cội nguồn một vùng đất” [50] Mỗi nhà văn có cách nhìn và cách khai thác đề tài khác nhau, Nguyễn Ngọc
Tư đã chọn cho mình một lối đi riêng là bắt nguồn từ cảm hứng về quê hươngNam Bộ nhưng chị đã có những buớc chuyển biến mới về cách nhìn nhận
Trang 4Nguyễn Ngọc Tư luôn là một cây bút chắc tay khi viết về con người, đời sống sinh hoạt miệt vườn Chị tận dụng triệt để tâm hồn nhạy cảm vốn có cùng cơ hội được đắm chìm trong không gian miền quê để lấy ra những câu truyện kể Cảnh sinh hoạt ấy trong trang viết Nguyễn Ngọc Tư hiện lên vừa yên tĩnh, thanh bình mà cũng vừa dậy sóng, đầy ắp những đổi thay [50].
Chị yêu quê hương nơi chị sinh ra, khi nó mang vẻ đẹp thanh bình vàngay cả khi làn sóng thị thành hiện đại bao trùm làm cho cảnh quê, tình quê bịđổi thay Khi ấy, chị lại day dứt, lòng dậy sóng để nói lên tiếng nói đầy trăntrở nhưng giàu tình yêu quê
Bài viết của tác giả Việt Quỳnh trong Nhà văn NguyễnNgọc Tư: Mạng xã hội làm nhạt tình người được đăng trên trang thethaovanhoa.vn ngày 22/3/2015
có nhận xét như sau: “Tản văn Đong tấm lòng (NXB Trẻ) của nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư vừa được phát hành như một tiếng gọi nhẹ từ tình yêu thương, giúp con người đang chìm đắm trong vô thức rời khỏi cơn mê sâu để biết cách yêu lấy cuộc đời” [27] Văn chị hay không chỉ ở cái mộc mạc giản dị mà còn ở cái tình.
Chị lấy cảm xúc viết từ cuộc đời và lại đem tình yêu trả lại cho cuộc đời Tìnhyêu ấy sẽ đánh thức những con người lạc lối, suy nghĩ lạc lối
2.2 Hướng tiếp cận nghệ thuật
Giáo sư Trần Hữu Dũng trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam đặc biệt đề cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của tác giả Ông
đánh giá đó là một cái riêng đặc sắc không thể trộn lẫn với bất kì nhà văn nào
khác để trở thành “đặc sản miền Nam” của văn chương Việt.
Ngôn ngữ là phương tiện và cũng là đối tượng của văn học Với các sángtác của mình Nguyễn Ngọc Tư dần khẳng định thương hiệu nhà văn Nam Bộ
Tiếp tục nhận định về ngôn ngữ, tác giả Tiền Văn Triệu trong bài viết Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ Nam Bộ qua trường hợp văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư đã
Trang 5nhận định như sau: “Phong cách ngôn ngữ Nam Bộ trong truyện và tản văn của tác giả này còn thể hiện ở việc sử dụng nhiều yếu tố từ ngữ: “giàu hình ảnh, giàu yếu tố cụ thể, giàu tính bình dân…có nhiều yếu tố từ ngữ giản dị và mộc mạc” [37] Thật vậy, ngôn ngữ tản văn Nguyễn Ngọc Tư không kiểu
cách, kiêu kì mà rất gần gũi bình dị đầy biểu cảm Chính ngôn ngữ ấy đãkhẳng định tài năng của nhà văn
Về kết cấu nghệ thuật, Nguyễn Thị Ngọc Bội trong luận văn Kết cấu và lời văn nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định:
Mỗi bước chân của nhà văn đã trở thành một cuộc ngao du khám phá cuộc sống rất đỗi dung dị, nhưng chứa đựng những ý tưởng, những sáng tạo bất ngờ Dù nhà văn dẫn dắt câu chuyện theo lối song tuyến, hay đưa con người lãng du trong miền xúc cảm của hồi tưởng và liên tưởng, mỗi tác phẩm đều giúp người đọc khám phá những nẻo khuất của cuộc đời [8, tr.62].
Văn Nguyễn Ngọc Tư lúc nào cũng cuốn người đọc vào một thế giớichan chứa tình của một người yêu nghề, một nghệ sĩ lang thang trên từng conchữ để cống hiến cái tâm trên con đường sáng tạo văn chương Vấn đề đặt ratrong tản văn Nguyễn Ngọc Tư tưởng như rất nhỏ nhặt nhưng đầy suy ngẫm.Tất cả đều bắt nguồn từ những nếm trải, chiêm nghiệm của chị
Tuy nhiên những bài viết trên mới chỉ là nhận xét khái quát, chủ yếu dừng lại
ở cảm nhận về các cuốn tản văn Yêu người ngóng núi; Gáy người thì lạnh; Đong tấm lòng hay chỉ là bài nghiên cứu một khía cạnh của tản văn Nguyễn
Ngọc Tư Theo chúng tôi biết thì chưa có một công trình nào nghiên cứu vàosâu ba tác phẩm này để thấy được đặc điểm tản văn Nguyễn Ngọc Tư
Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các công trình đi trước, chúng tôi mạnh dạnbắt tay vào nghiên cứu đặc điểm của tản văn Nguyễn Ngọc Tư với mong muốnđem lại cái nhìn toàn diện về tác phẩm Từ đó làm rõ đặc điểm tản văn của
Trang 6Chương 1 TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ1.1 Tản văn – những vấn đề về lý thuyết thể loại
1.1.1 Khái niệm tản văn
Ở Việt Nam hiện nay, người sáng tác và người đọc không còn xa lạ gìvới thể loại tản văn Có thể dễ dàng tìm đọc tản văn trên bất kì một tờ báo nào củacác tác giả và có cả nhiều tuyển tập mang tên tản văn đã được xuất bản
Nhưng cách gọi tản văn vẫn còn chưa được thống nhất về mặt nội hàm củakhái niệm Còn tồn tại những ý kiến khác nhau khi định danh thể loại văn họcnày Ở Trung Quốc thường được dùng với ba cấp độ: tản văn theo nghĩa làvăn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ và kịch; tảnvăn theo nghĩa là một thể loại văn học
Đầu thế kỉ XX, trong quan niệm của nhiều người tản văn vẫn được hiểu
theo nghĩa văn xuôi, “là lối văn không đối nhau và không có vần” [20] Hầu
như tất cả các thể loại văn xuôi đều có chung cách gọi là tản văn để phân biệt
với văn vần Theo cách hiểu này trong tản văn bao gồm cả Tựa, Truyện, Ký,
Bi, Luận (theo cách chia của Bùi Kỷ); Luận thuyết, Văn sách, Sử ký, Tiểu thuyết, Biện thuyết, Kịch bản, Giáo khoa, Thơ từ (theo cách chia của Nguyễn
Ứng) Hiện nay cách hiểu này không còn thông dụng nữa
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tản văn là: “1/ Văn xuôi 2/ Loại văn gồm
các thể ký và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [26, tr.857].
Trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) có viết:
Tản văn nghĩa đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi Nếu văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với
Trang 7kịch, thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn không bao giờ gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn Nó là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiểu thuyết Nhưng mặt khác tản văn lại có nội hàm rộng hơn khái niệm
ký, vì nội dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể văn xuôi khác như thư, hịch, cáo…[11, tr.246-247].
Xét thực tiễn các sáng tác của văn xuôi Việt Nam hiện đại được gọi tên
là tản văn của những cây bút gạo cội như Nguyễn Tuân, Tản Đà, Hoàng PhủNgọc Tường, Thảo Hảo…chúng ta thấy cách hiểu tản văn như là văn xuôichưa được toàn vẹn, mà tản văn là những sáng tác văn xuôi ngắn, bộc bạchtrực tiếp cảm xúc, tình cảm tư tưởng của người viết, trực tiếp bày tỏ chínhkiến, bàn luận về các vấn đề xã hội, có cốt truyện rõ ràng hoặc cốt truyệnmờ…, nhưng xoay quanh tên gọi tản văn vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhauchưa hoàn toàn thống nhất Trên các cơ sở tìm hiểu tản văn, chúng tôi đã cốgắng đưa ra cách hiểu của mình về thể loại này như sau: Tản văn là tác phẩmvăn xuôi ngắn gọn, hàm súc có hoặc không có cốt truyện, thể hiện rõ nét “cáitôi” tác giả bởi sau mỗi tản văn là những nét vẽ tái hiện chân dung tự họa vềngười nghệ sĩ Kết cấu tự do được xây dựng theo dòng cảm xúc, suy nghĩ trênnhững liên tưởng của các vấn đề nhân sinh mang tính chủ quan người viết Cóthể nói, tản văn là một thể loại văn học nằm giữa hai thể loại truyện ngắn và
ký văn học Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn khái niệm về tản văn
trong Từ điển văn học (bộ mới) khái niệm nói lên đầy đủ đặc điểm cơ bản
nhất của thể loại tản văn:
Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự
sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi
Trang 8hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của những hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả [14, tr.293].
Tản văn cũng được sinh ra từ những quan điểm nhất thời, thời sự nhưngđây không phải là tất cả để làm nên tản văn Nhiều nhà phê bình đã tiến đếnnghiên cứu, khảo cứu chăm chút cho lối viết khi tiếp cận với thể loại này.Như vậy, có thể hiểu tản văn như là một thể loại văn học độc lập, xuấthiện với nhiều bài viết về vấn đề và đề tài khác nhau Tác giả sử dụng lối viết
tự do không ràng buộc với bất kì một thủ pháp nghệ thuật nào Từ đó nêu lêncác vấn đề bức xúc, sự thật ngổn ngang đang tồn tại, những tiếng nói, quanđiểm cá nhân thể hiện một cách chân thực, sắc sảo
1.1.2 Đặc trưng của tản văn
Để có thể tồn tại song hành và dần khẳng định vị thế của mình trongtương quan với các thể loại văn học khác, bản thân tản văn phải có những đặctrưng làm nên ưu thế mà các thể loại văn học khác không thể đáp ứng hoặcđáp ứng không toàn vẹn, sâu sắc như tản văn Từ đó đặt ra một yêu cầu cầntìm hiểu đặc trưng của tản văn để thấy được sức sống nội tại mạnh mẽ khó cóthể thay thế của thể loại này trong nền văn học dân tộc
Đặc trưng cơ bản của tản văn được xác định cơ bản trong mối quan hệtương quan so sánh với các thể loại văn học khác nhưng có mối quan hệ gầngũi như truyện ngắn, tiểu thuyết, ký…Trên cơ sở đó, ta xác định đặc trưng củatản văn như sau:
Về nội dung: Đặc trưng thứ nhất của tản văn là tính đa dạng về dạng thức
và đề tài Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, bất cứ vấn đề gì của đời sốngcon người đều có thể được đề cập đến trong tản văn như: lịch sử, hiện tại,
Trang 9tương lai, văn hóa, nghệ thuật… Tác giả có thể viết bất cứ điều gì mà họ trăn trở,muốn giãi bày dù đó là vấn đề mang tính vĩ mô hay chỉ là một tâm sự cá nhânnhỏ bé Tuy nhiên dù viết về bất cứ điều gì thì tản văn vẫn phải đảm bảo việc thểhiện quan niệm riêng của tác giả đối với vấn đề mà họ đề cập đến Mỗi trang vănđều thể hiện cái nhìn phản ánh một phương diện nào đó về xã hội có thể thời sựhoặc không thời sự Nhưng mỗi tản văn đều thấp thoáng đâu đó tâm trạng của
người đương thời Khi đọc Trên tay có đá của Nguyễn Ngọc Tư hay Thầy cũ bán quán của Nguyễn Việt Hà đều thấy cách nhìn và cuộc sống con người được
thể hiện thông qua lăng kính riêng của mỗi nhà văn
Đặc trưng thứ hai cần được nói đến đó là “cái tôi” của tác giả Nếu như trong truyện ngắn hoặc tiểu thuyết “cái tôi” luôn phải giấu mình để câu chuyện tự nói lên, trong thơ “cái tôi” là cái tôi của thế giới tâm trạng, thì tản văn mang trong mình một điều khác biệt khi để “cái tôi” được nói một cách tỉ
mỉ, rõ nét, tường tận đến từng chi tiết trên tất cả các phương diện tâm hồn, tưtưởng, đến các chi tiết xác thực về đời sống riêng tư của tác giả Nguyên tắc
tự biểu hiện đã khiến tác giả tản văn lấy ngay cuộc sống của chính mình, lấyngay những điều mắt thấy tai nghe làm chất liệu để thai nghén nên tác phẩm
Như tản văn Tờ hoa của Nguyễn Tuân, chúng ta bắt gặp ngay chân dung tự
họa của nhà văn trên cả hai phương diện của đời sống tâm hồn và đời sống
sinh hoạt hàng ngày của ông Nguyễn Ngọc Tư sẽ không thể viết về Những mùa tôm chưa hẹn nếu như “cái tôi” ấy vô tình đi qua và không hiểu vì sao
người nông dân chịu dầm dãi nắng mưa Rồi tôm chết hàng loạt, chị khôngthể tính toán chính xác sự thiệt hại vì chị không phải là một người làm kinh tế,cũng không phải là một nhà báo kinh tế đưa ra những con số cụ thể để thấyđược sự mất mùa của người dân Nhưng bằng trái tim và ngòi bút chị cho mọingười thấy được nỗi cơ cực của con người bằng niềm cảm thông sâu sắc
Về hình thức: Thứ nhất, tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có
Trang 10hoặc không có cốt truyện Là tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn màphổ biến là bài văn ngắn gọn thậm chí chỉ là những mẩu truyện kể vài nét chândung của ai đó, hoặc khơi gợi kỷ niệm để con người được sống và quay về vớithời gian hoài niệm Sự ngắn gọn có được do tản văn thường xây dựng kết cấu
xoay quanh một tín hiệu thẩm mĩ trung tâm Trong Chim Huyền Hạc Hoàng Phủ
Ngọc Tường đã dùng hình ảnh con chim Huyền Hạc làm tín hiệu thẩm mĩ trungtâm đồng thời đó cũng là biểu tượng cho nhân cách tuyệt đẹp và khát vọng khôngthành của người chí sĩ Như vậy, cấu trúc chọn hạt nhân là tín hiệu thẩm mĩ trungtâm – biểu tượng, xoay quanh tâm tư, cảm xúc Chính điều này khiến cho tản vănhàm súc, ngắn gọn Tính ngắn gọn hàm súc vẫn là ưu thế không thể thay đổi củatản văn đã khiến thể loại văn học này dần khẳng định vị trí của chính mình trongdòng chảy văn học hiện đại Những ưu thế trên đã đáp ứng được nhu cầu đọcnhanh, cung cấp nhiều thông tin cho người đọc hiện nay Tản văn có thể có hoặckhông có cốt truyện Cốt truyện trong tản văn không có vai trò ý nghĩa như cốttruyện trong truyện ngắn hay tiểu thuyết Nó chỉ là cái cớ để người viết trực tiếpbộc bạch tâm trạng, suy nghĩ của mình về bất cứ vấn đề gì của cuộc sống được
đề cập đến Trong tản văn, hình ảnh và chi tiết nghệ thuật mới là yếu tố quan
trọng nhất, cơ bản nhất và được coi là “nhãn tự” của tác phẩm.
Thứ hai, tản văn viết về người thật việc thật và sử dụng hư cấu có giới
hạn trong một mức độ và phạm vi nhất định Tản văn thường viết về kỷ niệmmáu thịt, các ấn tượng sâu đậm và những dòng hổi tưởng về quá khứ, quêhương, người thân và những nét đẹp văn hóa…Những tản văn miêu tả thế giớicon người qua đôi mắt, trí tuệ và con tim mang đậm tính chủ quan của ngườiviết Tác giả trở thành nhân vật người trần thuật chiếm vị trí trung tâm trongtác phẩm, tham gia trực tiếp vào câu chuyện Đặc trưng này khiến tản văn gần
gũi với tác phẩm kí văn học về nguyên tắc viết “người thật, việc thật” Trong tản văn nguyên tắc tôn trọng “người thật, việc thật” được đề cao và làm điểm
Trang 11tựa chắc chắn cho thể loại Nhưng không phải vì thế mà tác giả bê nguyên sicuộc sống vào tác phẩm mà là cái cớ để từ đó người viết mở rộng trường liêntưởng của mình về quá khứ, đào sâu nhằm phát hiện ý nghĩa văn hóa, lịch sử,
kinh tế, chính trị từ những “người thật, việc thật” Trong khi tiểu thuyết, truyện
ngắn có sử dụng hư cấu tự do thì tản văn cho dù vẫn tôn trọng nguyên tắc táihiện sự việc, con người chân thực nhưng vẫn sử dụng hư cấu có giới hạn trongphạm vi và mức độ nhất định ở một số phương diện nhất định sau đây:
Trong cuộc sống không phải điều gì cũng đẹp, không phải điều gì cũngthô lì xấu xí Điều quan trọng là ta thấy được gì sau điều tươi đẹp và những gìsau tảng đá thô lì Người nghệ sĩ biến điều tưởng như thô lì ấy thành điềutuyệt đẹp hơn đúng như bản chất mà nó vốn có sau những kì công đục đẽo,cưa gọt Công việc đó chính là hư cấu nghệ thuật Hư cấu có giới hạn trongtản văn còn được sử dụng để tái hiện bức tranh thiên nhiên và bức tranh xãhội đã một đi không trở lại cùng thời gian Điều đã qua không trở lại ở hiệnthực này chỉ có thể sống lại trong kí ức của tác giả bằng hư cấu Chẳng hạn,
Về ngày tết của Phan Thị Vàng Anh, đã hiện lại trong hồi ức là nét văn hóa
truyền thống của dân tộc Á Đông Tết không chỉ là “cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, “thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ” mà đó còn là kỉ niệm ngày
về quê của tác giả Tất cả chỉ có thể sống dậy trong kí ức mà thôi.
Hư cấu có giới hạn trong tản văn được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả
nhất so với kí văn học Ở đây, “người thật, việc thật” được chọn làm tâm điểm để từ đó mở ra bao vòng sóng “đồng tâm” Những vòng sóng ấy cứ vậy
trào dâng mang theo cả liên tưởng, tưởng tượng để hòa lẫn với cảm xúc vàsuy tư, để từ hiện tại trở về với quá khứ nghìn năm trước và tương lai trămnăm sau Trong tản văn, hư cấu có giới hạn sử dụng khi đặt sự vật, sự việc,
con người vào trường liên tưởng có tính “lạ hóa”, nhằm tạo ra vẻ đẹp mới, giá
trị mới
Trang 12Để sự vật, sự việc quen thuộc vẫn là nó mà không chỉ là nó, độc đáo hấp dẫn
và mới mẻ lạ thường
Thứ ba, đặc trưng của tản văn về phương diện nghệ thuật còn được biểu hiện ở kết cấu rất tự do Kết cấu của tản văn không chú trọng vào “khai, thừa, chuyển, hợp” như thơ ca, không phân cảnh phân hồi như kịch, mà có lúc gần
lúc xa, lúc trước lúc sau, hiện thực và lịch sử, tự nhiên và xã hội Tất cả có sựgiao thoa, triết lý sâu sắc được biểu hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày,tình cảm nồng nàn thông qua tưởng tượng cá nhân Đặc điểm tự do trong kếtcấu giúp thể loại dễ dàng truyền tải mọi cung bậc cảm xúc cũng như nhữngđiều phức tạp của cuộc sống muôn màu được đưa vào văn học trong sự thốngnhất chủ đề, tình cảm, tư tưởng
1.1.3 Tản văn trong văn học Việt Nam đương đại
Đã từng có quan niệm cho rằng tản văn xuất hiện từ phong trào cáchmạng Ngũ Tứ bên Trung Quốc do Lỗ Tấn sáng tạo ra và có sức sống mạnh
mẽ từ trong lịch sử văn học Trung Quốc Nền văn học nước này có nhiều sángtác thuộc thể loại tản văn với các tên tuổi gạo cội như Lỗ Tấn, Mạc Ngônv.v…Ở Việt Nam, trước năm 1986, tản văn tuy đã xuất hiện nhưng chưa đượcphổ biến rộng rãi
Từ năm 1986 trở đi, tản văn xuất hiện phổ biến hơn và dần dần chiếm ưuthế trong đời sống văn học đương đại Tuy chưa có vị trí cao như truyện ngắn,tiểu thuyết, thơ nhưng tản văn là thể loại có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ và
dễ dàng “bén rễ” vươn mình trong vườn hoa văn học dân tộc Tản văn đã thu
hút khá đông đảo đội ngũ sáng tác và công chúng yêu văn học Trong quátrình sáng tác cũng như nghiên cứu về tản văn cũng xuất hiện những thuật ngữ
định danh như: tạp văn, tạp bút… Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê
viết: “Tạp văn là loại văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao
Trang 13gồm những bài bình luận ngắn, tiểu thuyết, tùy bút…” [26, tr.982] Trong bài
Lỗi tại … tạp văn Nguyễn Vĩnh Nguyên khẳng định: “Đây là kiểu văn viết tự
do, linh hoạt, kể cả sự phân biệt hay đồng nhất giữa các tên gọi: tản văn, tản mạn, tạp bút, tạp văn,… cũng chưa được làm rõ Trên thực tế báo chí và xuất bản hiện nay, các tên gọi có xu thế đồng nhất và lý thuyết thể loại là thứ không được quan tâm tìm hiểu hay soi rọi kỹ” [22] Như vậy, theo ý kiên trên
tác giả đã đồng nhất tản văn, tạp văn và tạp bút vào một nhóm và không có sựkhác biệt nhiều
Năm 2005, khi cuốn Tản mạn trước đèn của nhà văn Đỗ Chu nhận giải
thưởng văn học của Hội Nhà văn, văn học Việt Nam bắt đầu thời kỳ tươi mới
nở rộ của thể loại tản văn với các tác phẩm: Nghiêng tai dưới gió của nữ sĩ Lê Giang, tạp bút Mạc Can dày hơn 300 trang, Mùi của ngày xưa (tạp bút nhiều tác giả), Thảo Hảo với Nhân trường hợp chị thỏ bông, Tạ Duy Anh với Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối, Nguyễn Ngọc Tư với Ngày mai của
những ngày mai, Dạ Ngân với Phố của làng, Gánh đàn bà…Ngoài ra còn
có tản văn của các tác giả Dương Ngọc Dũng, Hồ Anh Thái, Nguyễn ViệtHà…Với số lượng tác phẩm tản văn không hề nhỏ các tác giả đã cung cấp chongười đọc cái nhìn đa chiều về cuộc sống Tản văn không chỉ là thể loại thuhút khá đông đảo các cây bút đại thụ trong nền văn chương Việt Nam mà sứchấp dẫn của nó còn lan tỏa thu hút các cây bút như nhà nghiên cứu Huỳnh
Như Phương với Ngôi nhà và con người, nhà thơ Đỗ Trung Quân – người chuyên viết tản văn trên các báo với tác phẩm t.a.p.b.u.t.đỗ Có thể thấy so
với các thể loại văn học khác, tản văn là thể loại khá “dễ tính” luôn sẵn sàng
“bén rễ” những hạt giống ưu tư của bất kì nhà văn nào để lại một đội ngũ sáng
tác tương đối phong phú và đa dạng
Đọc Nghiêng tai dưới gió của Lê Giang, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã
có nhận xét như sau: “Tôi đọc, lại nghĩ mình đang đọc tự truyện”, đọc
Trang 14tản văn như đang đọc tự truyện, hồi kí về những sinh hoạt của cuộc sốngthường ngày Cuộc sống với câu chuyện tự nhiên diễn ra trong cuộc sốngthường ngày của Lê Giang đã được tái hiện lại bằng chính ngòi bút của nhàvăn này.
Tạp văn Nguyễn Khải lại đề cập nhiều đến các vấn đề đạo đức, lối sống.Câu chuyện liên quan nhiều đến cuộc sống hiện thực nhưng trọng tâm nhất làxoay quanh suy nghĩ về cuộc đời con người với nghề văn Điều ông khai thácchủ yếu là vấn đề nhỏ của cuộc sống nhưng lại mang tầm khái quát rộng lớn
đã làm nên đặc điểm sáng tác tản văn
Còn với Nguyên Ngọc – nhà văn của núi rừng Tây Nguyên đã dành tìnhyêu cho mảnh đất đầy nắng, gió và mang tình cảm đó vào những sáng tác.Qua các tản văn, Nguyên Ngọc đã cho người đọc thấy được bức tranh chânthực về mảnh đất Tây Nguyên: Vẫn là những khía cạnh của cuộc sống, nhưngđều mang không khí của núi rừng Ngoài ra, tản văn Nguyên Ngọc còn thểhiện toàn cảnh nền giáo dục và văn học Việt Nam Tác giả đã mạnh dạn thẳngthắn chỉ ra mặt được, chỗ còn thiếu sót cũng như những bất cập của nền giáodục Việt Nam và phương hướng khắc phục hạn chế đó
Nguyễn Ngọc Tư đã gặt hái những thành công nhất định ở thể loại truyệnngắn, nhưng đối với một nhà văn trẻ như chị thì tản văn là một thể loại mới,đáng để chị thử sức và trải nghiệm Bằng một thái độ nghiêm túc trong laođộng văn chương chị đã có những thành công nhất định và dần khẳng định tên
tuổi của mình Các tập tản văn Ngày mai của những ngày
mai, Yêu người ngóng núi, Gáy người thì lạnh và gần đây nhất là Đong tấm lòng đã thu hút rất nhiều người quan tâm và tìm đọc Tản văn của chị mang
nét rất riêng của một người con Nam Bộ: thủng thẳng, nhỏ nhẹ như một ngườicon gái quê vừa lao động vừa kể chuyện, những câu chuyện da diết yêuthương nhưng cũng có khi mang ý vui tươi, hóm hỉnh chạm nhiều
Trang 15đến cuộc sống của người dân lao động.
Phan Thị Vàng Anh đến với tản văn cũng là một ngã rẽ trong sự nghiệpcầm bút của mình Nhưng sự rẽ ngang này đã được chuẩn bị cả về vốn sống,lẫn cảm xúc viết, một sự đầu tư cho nghề không ngừng nghỉ Chị có tâm trongtừng con chữ và có trách nhiệm với những gì chị viết Sau gần ba năm liên tục
xuất hiện trên mục “Tôi xem nghe đọc thấy” của Báo Thể thao và Văn hóa,
Phan Thị Vàng Anh đã tập hợp những bài viết và cho ra tập sách Nhân trường hợp chị thỏ bông, mới đây nhất là Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa gồm 19 tản văn viết về điều vu vơ cóp nhặt từ bản thân và người xung
quanh Câu chuyện tuy nhỏ nhưng để lại bài học giàu ý nghĩa Bạn đọc khôngkhỏi ngạc nhiên về một Vàng Anh đa màu sắc với một tinh thần công dânthẳng thắn và dân chủ Một người phụ nữ nhẹ nhàng duyên dáng, hóm hỉnhnhưng cũng mạnh mẽ, sắc bén và quyết liệt
Nếu tản văn của hai nhà văn nữ hút bạn đọc vì chất dịu dàng, kín đáo
nhưng mạnh mẽ quyết liệt trong cách nhìn hiện thực, thì tản văn Lời chúc đầu năm, Nhà ngang của Tạ Duy Anh lại thu hút độc giả ở cách viết ngọt
ngào về tuổi thơ, hay những suy ngẫm, trầm tư trước thế sự, nỗi lo trằn trọctrong tâm hồn nhà văn hết sức nhẹ nhàng đầy sâu lắng
Nguyễn Nhật Ánh viết tạp văn Người Quảng ăn mì Quảng, Sương khói quê nhà, với ông đó là những trang văn bình dị nhất, gặp gì nói đó, thấy gì
nói vậy, nhớ gì thì kể lại, nhưng duyên ở ngay điều tưởng như giản dị để lại
ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc
Cái duyên đưa nhiều người đến với tản văn Nhưng không phải ai cũng gặthái được thành công ở thể loại tưởng như dễ viết này Bởi tản văn bắt đầu từ
những chuyện tưởng như nhỏ nhặt, vặt vãnh lúc “trà dư tửu hậu” của cuộc sống
lại kết thúc bằng dư âm nằm sâu trong lòng bạn đọc Câu chuyện nhỏ lại mang ýnghĩa, bài học không hề nhỏ và chạm đến được trái tim con người Vậy nên mới
Trang 16nói tản văn là thể loại dễ viết nhưng khó hay.
Đời sống văn học là đời sống hiện thực xã hội của một đất nước, một dântộc bằng sự phản ánh qua lăng kính của nhà văn Nhu cầu xã hội và nhu cầuthưởng thức văn học đã khiến cho một thể loại văn học mới ra đời và ngàycàng hoàn thiện hơn cùng với sự phát triển của xã hội Vấn đề thời sự nóngbỏng cho đến cái tôi con người trong cuộc sống hiện đại cần được xem trọng.Không gian của tản văn là nơi tốt nhất, lý tưởng nhất cho những đặc điểmsáng tác này neo đậu Ngoài ra, thể loại này còn đáp ứng được như cầu giãibày tâm tư, tình cảm người viết Viết tản văn là viết lên nỗi lòng, suy nghĩriêng, mọi thứ không bị ràng buộc, kiểm soát bởi thi pháp hay nguyên tắcsáng tác Vì vậy, nó là thể loại phục vụ đắc lực khơi dậy cảm xúc viết, cảmhứng tuôn trào ngay khi người viết chưa chuẩn bị
Như vậy có thể thấy, trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đươngđại, tản văn đã dần khẳng định vị trí của mình trong mối tương quan với các thểloại văn học khác Dù lực lượng sáng tác và tiếp nhận đa số là người trẻ nhưngđây không phải là lý do khiến thể loại này làm trẻ nền văn học nước nhà Cái trẻ
là do đặc trưng của thể loại mang lại, giúp người viết có thể phóng khoáng hơntrong tư duy, lập luận để thể hiện mình Nó mở rộng môi trường cho tiếng nóivăn học đồng điệu cùng lên tiếng, hay tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi để xây dựngnên tác phẩm văn học xuất chúng Tản văn giúp người ta nói đạo lý, bàn chính trịbằng một cách viết nhẹ nhàng nhưng thấm sâu vào lòng người mang lại sức lantỏa rộng rãi Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa tương ứng so với nhu cầu đónđợi của độc giả Để tản văn phát triển đúng với một vị trí xứng tầm cần có sự nỗlực hơn nữa của đội ngũ sáng tác
Trong dàn hợp ca của thể loại tản văn, có rất nhiều nhà văn đã để lại têntuổi cũng như tiếng nói của mình góp phần làm nên tác phẩm đồng đều hay về
cả nội dung lẫn chất lượng như Nguyễn Quang Thiều, Đỗ
Trang 17Trung Quân, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Nhật Ánh v.v… trong đókhông thể không nói đến tản văn Nguyễn Ngọc Tư với những giai điệu Nam
Bộ nồng ấm tình quê tình người
1.2 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư có duyên nợ với văn chương Chị phô diễn niềm đam
mê của mình bằng những sáng tác mang hơi thở của “một vùng quê sông nước” Cùng với thái độ nghiêm túc và sức viết thần tốc, chị đã cho ra rất
nhiều tác phẩm đặc sắc Nguyễn Ngọc Tư làm nên một luồng gió mới cho vănhọc Nam Bộ nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dới, tỉnh
Cà Mau Hiện tại chị đang sinh sống và làm việc tại thành phố Cà Mau.Nguyễn Ngọc Tư là hội viên trẻ tuổi nhất của Hội Nhà Văn ở thời điểm mớikết nạp Vốn là một học sinh giỏi văn, nhưng chính bản thân chị cũng chưabao giờ nghĩ tới chị sẽ theo đuổi nghiệp văn chương Những năm tháng sống
cùng ông ngoại với công việc mưu sinh làm văn thư cho tạp chí Bán đảo Cà
Mau chính là “nguyên cớ” để chị bước chân vào con đường viết lách Đổi thay - truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư được đăng trên tạp chí Văn
nghệ Cà Mau Cái nghiệp văn chương theo người từ chính cái tên tác phẩm
chị viết Đổi thay và cuộc sống của chị cũng thật sự thay đổi từ đây Nhưng
tên tuổi của chị được đông đảo độc giả biết đến khi đến với cuộc thi “Văn học tuổi 20 lần thứ 2” của Hội Nhà văn TP.HCM, khi chị đạt giải nhất cuộc thi
với tập truyện Ngọn đèn không tắt (2000) và giải thưởng văn học của Hội
Nhà văn Việt Nam Năm 2001 cũng với tập truyện này, Nguyễn Ngọc Tư đạtgiải ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003
– 2004 của báo Văn nghệ với truyện ngắn Đau gì như thể Đặc biệt Cánh đồng bất tận (2005) được coi là truyện ngắn thành công nhất trong sự
Trang 18nghiệp sáng tác của chị, giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 vàgiải thưởng Văn học ASEAN năm 2008.
Qua chặng đường mười bảy năm cầm bút, tung hoành trên cả ba thể loạitruyện ngắn, tản văn và thơ, Nguyễn Ngọc Tư khẳng định tên tuổi và chỗ
đứng của mình trong “sân chơi” văn học trong nước với một quan niệm nghệ
thuật riêng
Đến với văn chương là cái duyên nhưng để thành công và cùng chungsống như là nghề thì không phải ai cũng làm được Ý thức được bản thân cũngnhư trách nhiệm với nghề Nguyễn Ngọc Tư viết với sự nhẹ nhàng nhưng rấtcẩn trọng Trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ ngày 4/12/2005 chị tâm sự: “…
Còn sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình đã trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc…tự tử mất thì Tư viết thôi” Nguyễn Ngọc Tư viết văn bằng suy nghĩ, cảm xúc thật Trái tim
của chị luôn thổn thức về những điều mắt thấy tai nghe và viết văn là một nhucầu của cuộc sống, như đói thì phải ăn, khát phải uống, nhưng trên hết viết làhơi thở nếu không viết thì làm sao sống được Tất cả ưu tư cuộc đời cùng cảmxúc của cuộc sống được chị sáng tạo bằng một thái độ nghiêm túc Nhà vănkhông thể phó mặc cảm xúc và dễ dãi với cái nghiệp gắn bó với cả cuộc đời
Cho đến giai đoạn sau này, Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu có những phátngôn về nghề cũng như có cách viết đầy chuyên nghiệp hơn cộng với cảm xúc
chân thành làm rung động trái tim người đọc Chị khẳng định: “văn chương cũng có lửa, làm tan chảy những bức tường thép mà mỗi người tự dựng lên; văn chương cũng là băng, gắn kết những ốc - đảo - người thành một khối, văn chương cũng là nước, dịu dàng mà mãnh liệt vượt qua những rào cản của lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ…” [38] Nguyễn Ngọc Tư không cường điệu
nhiệm vụ của văn chương cũng không xem nhẹ văn chương Thái độ đúngmực này đã cho chị lối viết giản dị, mộc mạc được gửi gắm
Trang 19vào từng trang sách.
Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư ta không bắt gặp tuyên ngôn to tát, lời lẽ “đao to
búa lớn” mà chỉ có thể tìm thấy cách nói khiêm nhường Chị thổ lộ về quan niệm
của mình trong khi chọn đề tài: “Tư chọn viết những gì mà người đi trước không
viết thôi Với những gì người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh xa một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn Nhưng vượt trội thì
khó quá…” Nói đến đây, người đọc sẽ nghĩ ngay đến trường hợp của Cánh đồng
bất tận, chị viết về tâm tư của người nông dân Nam Bộ, những người chịu thiệt hại
từ “vụ dịch cúm gia cầm”, khúc mắc đằng sau chuyện đàn vịt bị thiêu hủy là những
giọt nước mắt, khổ đau, tủi nhục, hi sinh… Sau trang viết chị cũng không muốn truyền tải một thông điệp sẵn có nào Nguyễn Ngọc Tư muốn độc giả tự đọc, suy ngẫm và tự rút ra bài học, chân lý cho mình Do đó, các sáng tác của chị mang tính
gợi mở, chia sẻ, tâm sự hơn là kêu gọi Cũng chính như lời tâm sự: “Tư không làm
khó mình mà chọn cái mình làm được” Và thật sự chị đã làm được qua những sáng
tác của mình được minh chứng bằng tình yêu thương mà độc giả dành tặng
Với những thành tựu mà Nguyễn Ngọc Tư đạt được, chị hiển nhiên trở
thành “một hiện tượng văn học” được sự quan tâm của bạn đọc trong và ngoài
nước Nguyễn Ngọc Tư có hẳn một trang web mang tên Đặc sản miền Nam
do Giáo sư Trần Hữu Dũng lập ra Cái tên đã nói lên tính cách và phong cách
văn chương của chị Ở chị hội tụ tất cả những gì giản dị, mộc mạc, Nam Bộnhất
Quan niệm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư được định hình nhất quán từtruyện ngắn đến tản văn và cả thơ, tất cả đều lấy cái chân, mộc làm điều cốtlõi cho sáng tác Chính Giáo sư Trần Hữu Dũng cũng có những nhận xét như
vậy về chị: “Nguyễn Ngọc Tư, ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã tạo nên một chỗ đứng khu biệt cho mình Nhiều người cho rằng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc
Tư là sự chân chất mộc mạc tươm ra từ mỗi truyện cô viết” [10] Điểm
Trang 20khu biệt của chị so với các nhà văn khác ở chỗ chị không cố tạo khác lạ trongsáng tác mà tự bản thân nó lại có sức thu hút bạn đọc Cái chất mộc trong conngười và văn chương có nguyên nhân chính là vì nồng độ phương ngữ Nam
Bộ đậm nét trong chị đã thấm dần vào những sáng tác Người đọc không khỏibất ngờ vì chất liệu hết sức bình dị, đôi khi chỉ là lời ăn tiếng nói hàng ngàylại có thể đi vào văn chương một cách tự nhiên và đáng yêu đến như thế.Bằng tình yêu trong trẻo cùng với tâm hồn nghệ sĩ, chị đã thổi vào cuộc sốnghiện đại một chút hương đồng gió nội, làm thành phố hiền hòa hơn và con
người bỗng yêu hơn nơi “chôn nhau cắt rốn”.
Trong khi viết, Nguyễn Ngọc Tư đã bày tỏ ý kiến của mình: “Tôi không quan tâm văn mình yếu hay mạnh, chỉ nghĩ, những trang viết này có làm xấu
hổ không, có đi vào lòng người không, có khiến người ta nhớ không?” [61] Ý kiến này đã đánh tan suy nghĩ lo ngại khi có nhiều người cho rằng giọng văn
của chị quá nhẹ nhàng đến mức yếu ớt trong vấn đề phản ánh các hiện trạngcủa xã hội Đồng thời cũng qua ý kiến trên ta bắt gặp một Nguyễn Ngọc Tưrất hồn hậu sống thật để dòng cảm xúc thấm dần, lan tỏa qua các trang viết
Đó là cầu nối chị với người đọc một cách tuyệt vời nhất, và độc giả là ngườithẩm định tác phẩm công bằng và chính xác
Nguyễn Ngọc Tư không đi trên con đường được vẽ sẵn, cũng không cốchạy theo thị hiếu thẩm mĩ của người đọc, chị tin rằng mình không thể hiểu
được hết người đọc muốn gì nên “đường ai nấy đi, nếu gặp nhau thì tốt” Tất
cả mọi sự gượng ép sẽ khiến mọi thứ trở nên gượng gạo Như vậy, vănchương không còn vẻ đẹp vốn có Văn của chị chinh phục người đọc bằng contim, tâm hồn đồng điệu hơn là hoa mĩ bề ngoài Chính vì vậy, tác phẩm là sựtrải lòng của tác giả và người đọc mở lòng cảm nhận
Tóm lại, quan niệm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư rất rõ ràng Đó lànhững quan niệm khá hồn nhiên, nhẹ nhàng nhưng rất chuyên nghiệp
Trang 21đã làm cho các sáng tác truyện ngắn, tản văn và cả thơ của chị đều thấ m đẫm
sự chất phác, giản dị đầy ý nhị Nhưng không vì thế mà văn chị không có cáithẳng thắn, sót xa trước những bức xúc của cuộc sống con người Đằng sautrang văn là dòng cảm xúc dồn nén ân tình, đầy trách nhiệm với mảnh đất vàcon người
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư: Cây bút đa dạng về thể loại
Bằng năng khiếu văn chương, sự thông minh vốn có cùng việc tự trang bịkiến thức từ việc đọc, trải nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra đượctiếng nói riêng cho tác phẩm của mình Lời văn của chị như lời thủ thỉ tâm sự,giãi bày chân tình Chính vì vậy, văn của chị đến với bạn đọc một cách tựnhiên, gần gũi làm nên sức sống mạnh mẽ, bền bỉ
Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu tìm tòi, trải nghiệm sáng tác bằng truyện ngắn với
tập truyện Đổi thay (1996) Kế tiếp là trình làng tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt – Giải nhất “Văn học tuổi 20” năm 2000 Nguyễn Ngọc Tư đã giới thiệu các tập truyện: Biển người mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận (2005) Ngoài ra, truyện ngắn của chị còn được in trên báo chí cả nước và được đăng tải thường xuyên trên trang web Viet-studies của Trần Hữu Dũng.
Truyện ngắn chính là bức tranh đời sống và tâm hồn con người Nam Bộ, nơi chịchứng tỏ được khả năng bao quát và phát hiện những góc khuất, điều tưởng nhưđơn giản nhỏ nhặt nhưng lại có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con ngườinơi đây Đặc biệt điều đáng quý nhất làm nên nét đặc sắc trong truyện ngắnchính là việc chị đã thể hiện được cá tính và bản lĩnh Nam Bộ trong sáng tác.Nguyễn Ngọc Tư - một số ít nhà văn trẻ giữ gìn và tiếp nối được hồn văn Nam
Bộ của các nhà văn của thế kỉ XX Đó là một điều đáng quý đáng được trântrọng Tuy nhiên chính điều này làm nên hạn chế trong việc cách tân truyệnngắn Ở Nguyễn Ngọc Tư viết là một sự chuộng
Trang 22ý truyện hơn cốt truyện Quan niểm này giống với quan niệm viết của Bình
Nguyên Lộc: “Những yếu tố tôi thai nghén rồi viết thành tác phẩm không phải là cốt truyện mà là ý truyện Cho nên tôi ít chú ý đến những câu truyện ly kỳ
gay cấn mà chỉ nắm lấy những ý tưởng ngộ nghĩnh trong những sự kiện” [47].
Tiếp theo, Nguyễn Ngọc Tư đã đánh dấu hành trình sáng tạo bằng
những tập tản văn, tạp bút Với cuốn tạp văn đầu tiên mang tên Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư được trình làng cuối tháng 12 năm 2005 là một sự khởi đầu
cho một thể loại mới mà chị muốn thử sức Hơn ba mươi tạp văn được tác giảgiới thiệu mang lại những tình cảm thấm đẫm của con người và mảnh đất CàMau Được sự ủng hộ chân thành của độc giả, chị lại tiếp tục cho ra những tập
tản văn mới như Ngày mai của những ngày mai, Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn – 2007), tạp bút Biển của mỗi người (2008), Yêu người ngóng núi (2010), Gáy người thì lạnh (2014) và gần đây nhất là tập tản văn Đong tấm lòng (2015) Ban đầu, tản văn xuất phát ở tình yêu quê
hương Nam Bộ và kết thúc mỗi tản văn vẫn là câu chuyện tình còn dang dởcủa chị với mảnh đất quê hương Nhưng đến những tản văn sau này, chị mởrộng phạm vi đề tài sáng tác với cái nhìn sắc nét đầy chiêm nghiệm hơn vềcuộc đời
Tiếp nối hành trình sáng tác đầy nhọc nhằn nhưng cái ngọt văn chương
đã ngấm vào chị và ươm mầm cho thể loại mới đó là thơ Ở trường hợpNguyễn Ngọc Tư, cây bút đã làm nên tên tuổi ở địa hạt truyện ngắn thì cũng
là một điều đáng được nói khi chị cho ra đời những sáng tác thơ Chấm là tập
thơ đầu tay được giới phê bình đánh giá cao Nguyễn Ngọc Tư viết không hề
đề cao hay đặt nặng vấn đề nghệ thuật trong thơ, chị viết theo vô thức và đãthành công khi chạm vào được vô thức của độc giả Một Nguyễn Ngọc Tư runrẩy, tình cảm trào dâng mạnh mẽ trong thơ với nhiều hình ảnh giàu liên tưởngđược lồng ghép vào những suy nghĩ, trăn trở sâu sắc và độc đáo:
Trang 23Lục bình vừa trôi vừa tàn
Lá đa vừa rã vừa rơi
Vừa đến họ vừa rời cõi tạm.
Chấm là những tháng ngày rong ruổi trên mảnh đất lạ, đã cho nhà văn
cảm xúc mới hoang thai, nỗi niềm tuôn trào lên ngòi bút để con chữ rưng rưngmang cảm xúc chính bản thân mình Thơ - địa hạt mới được chị chinh phụcmột cách ngoạn mục
Xuất hiện trên văn đàn một cách đầy ấn tượng với lối viết giản dị, chânchất cùng hương vị mặn mòi của vùng sông nước chị đã đạt những thành tựunhất định Dù ở bất cứ thể loại văn học nào, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã đặtđược nền móng vững trãi đầy màu sắc mang tên mình
1.2.3 Tản văn Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu sự nghiệp bằng thể loại truyện ngắn, và độc giả
biết đến chị nhiều qua hiện tượng Cánh đồng bất tận nhưng càng về sau chị
viết tản văn nhiều hơn Ở lĩnh vực tản văn chị cũng đạt được nhiều thành côngkhông kém cạnh Tản văn của Nguyễn Ngọc Tư là những mảnh ghép về sốphận con người trong cuộc đời nhưng đôi khi chỉ là dòng cảm xúc thoáng qua
để lại biết bao suy tư, trăn trở
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư - cuốn tản văn đầu tiên như một sự khỏi đầu
để giới thiệu “món ăn lạ” và đây cũng là ranh giới nhà văn xác định địa hạt
đối với thể loại mới muốn sáng tác Ba mươi lăm tản văn thấm
Trang 24đấm tình cảm của quê hương và con người Cà Mau, với những kỷ niệm củathời thơ bé Đằng sau bài viết tình cảm, nhẹ nhàng đầy sâu lắng là những bàiphóng sự với bao chiêm nghiệm về cuộc đời mà một người trẻ như chị đã nắmbắt được.
Đến với tạp văn Ngày mai của những ngày mai, vẫn là giọng văn dung
dị ấy, vẫn cái chất Nam Bộ thấm sâu vào từng thớ thịt và trang văn nhưng lầnnày trang viết của chị đã trưởng thành lên rất nhiều bởi chất triết lý chiêm
nghiệm (Chân không, Nhớ bèo mây, Của người của mình…) Thế nhưng,
người đọc vẫn bắt gặp lại một hình ảnh thân quen, một tuổi thơ ngọt ngào vớidáng hình quê hương yêu dấu và những người thân thương sau bóng quê nhà
(Mẹ, Ngồi buồn nhớ ngoại ta xưa…) Với cuốn tản văn này, Nguyễn Ngọc
Tư đã băn khoăn quá nhiều với những câu hỏi Đến đây, có thể nói rằng vị xót
xa, nét trầm buồn đã ngấm ngầm san sẻ với chất hồn nhiên trong trẻo vốn cócủa Nguyễn Ngọc Tư Nhưng có điều chị vẫn là chị với giọng văn nhẹ nhàngđầy nữ tính, yêu thương và trách nhiệm
Hai mươi mốt tản văn trong Biển của mỗi người là một sự quan sát tỉ
mỉ, tinh tế là lời tâm sự về cuộc đời về nghiệp viết văn Câu chuyện mà chị kểgợi lên một nỗi buồn se sắt khi trong cuộc sống đầy bon chen, xô bồ này conngười ta dần mất nhau không bởi vì khoảng cách địa lý mà mất nhau vì nghingờ Đó chính là khoảng cách giữa hai tâm hồn Những bài viết của NguyễnNgọc Tư buồn, nhưng không phải là nỗi buồn ủy mị khiến người đọc ủ dộtchán chường, nỗi buồn trong văn chị là một nỗi buồn mang tính nhân văn đểđánh thức tâm hồn biết yêu thương gần gũi những con người bất hạnh
Tập tản văn Gáy người thì lạnh, không có sự thay đổi nhiều về giọng
điệu, vẫn là cái chất giản dị, lời thủ thỉ kể chuyện mà nghe buồn não lòng, câuchuyện về nông thôn, thành phố và con người Nhưng sao những câu chuyệnnhư đào sâu vào từng suy nghĩ Người đọc thấy chính mình, cảm xúc với gia
Trang 25đình, người thân với những con người bên ta và có tình cảm đặc biệt hơn vớithành phố nơi neo đậu của cuộc đời Mỗi tản văn là những khoảnh khắc cảmxúc bất chợt đến rồi đi qua để lại bao suy nghĩ cho độc giả Rồi bất chợt thốt
lên “gáy người lạnh thật” nhưng liệu ta có đủ yêu thương để sưởi ấm không?
Yêu người ngóng núi là tập tản văn có nhiều ý khiến khen chê khác
nhau Nhưng nhìn chung tập tản văn này vẫn được bạn đọc yêu thích và tiếpnhận một cách nồng nhiệt Ba mươi lăm tản văn với nhiều chủ đề khác nhau.Mỗi tản văn là một câu chuyện về nhân tình thế thái được Nguyễn Ngọc Tưchắt lọc đưa vào bằng cái nhìn tinh tế đầy nghệ thuật Qua câu chuyện ta thấyđược tính triết lý, tình cảm mà chị gửi gắm
Ở tập tản văn mới nhất mang tựa đề Đong tấm lòng, Nguyễn Ngọc Tư
đã đầu tư nhiều hơn cho nỗi buồn Tập tản văn này gồm 30 tản văn đầy ắp hìnhảnh, mùi vị vừa gợi lại những hoài niệm của quá khứ vừa hướng con
người đến với cánh cửa của tương lai Vẫn là mạch văn được khơi nguồn cảmhứng từ bức tranh quê hương miền Tây thanh bình, vừa là cảm xúc từ nhữngthay đổi chuyển động dữ dội của nền kinh tế hiện đại đến những vấn đề mangtính xã hội Nhà văn để tâm hồn được tự do đắm chìm vào không gian miềnquê để kể chuyện, thế nên cảnh và người trong câu chuyện của chị hiện lênđầy tĩnh lặng, thanh bình nhưng cũng đầy dậy sóng với những đổi thay
Vẫn là sự tương đồng về mặt bút pháp giữa truyện ngắn và tản văn,giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư nhẹ nhàng trầm tĩnh đôi khi như bông đùanhưng chưa bao giờ người đọc thấy sự thờ ơ, lạnh lùng vô trách nhiệm Vănchị hồn hậu, thân thương bởi người viết là một người có tâm hồn nhạy cảm.Chính điều này đã tạo thành một con người biết đồng điệu những giai điệu gaigóc cho cuộc sống nhẹ tênh, một Nguyễn Ngọc Tư hướng ngoại để nhìn cuộcđời nhưng cũng hướng nội để thấy rõ bản thân mình Sự xuất hiện đầy ấn
Trang 26tượng của Nguyễn Ngọc Tư ban đầu khiến người đọc cảm giác chỉ là sự ngạcnhiên trước vẻ đẹp giản dị của những mùa truyện ngắn, nhưng càng về saungười đọc lại càng bất ngờ hơn về chị với những tập tản văn đầy sức sống,sức sáng tạo mạnh mẽ, một nội lực dồn nén như hòn than hồng đợi ngày rựccháy, một nội lực bung tỏa một cách chừng mực hợp lý.
cái “tôi” của tác giả Về hình thức tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn không có cốt truyện trên nguyên tắc đề cao “người thật, việc thật”, sử dụng hư
cấu có giới hạn và được biểu hiện ở kết cấu tự do Tác giả Nguyễn Ngọc Tưtrong hành trình sáng tạo với một quan niệm nghệ thuật riêng định hình nênphong cách văn chương, một cây bút sẵn sàng thể nghiệm, thử sức với tất cảnhững thể loại văn học và đã đạt được một số giải thưởng, trong đó tản văncũng là một thành tựu nổi bật
Trang 27Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ – NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG2.1 Cảm hứng nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư
Sáng tác văn học là hoạt động mang đậm dấu ấn cá nhân Mỗi tác phẩm
là đứa con tinh thần được người nghệ sĩ thai nghén từ nguồn cảm xúc củachính bản thân và được kiểm soát bằng lý trí Đó là những trăn trở, suy tư, dằnvặt và rung cảm của người nghệ sĩ trước cuộc sống Những trạng thái, xúccảm đó được gọi là cảm hứng nghệ thuật góp phần làm nên vị thế của tác
phẩm Theo Từ điển tiếng Việt, cảm hứng là “trạng thái tâm lý đặc biệt khi
sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện
để óc tưởng tượng sáng tạo hoạt động có hiệu quả” [26, tr.119].
Cảm hứng trong sáng tác văn chương là khơi nguồn của sự sáng tạothuộc về cảm tính trước sự quản lý của tư duy Do đó các sáng tạo nghệ thuậtđều được xây dựng trên những hình tượng nghệ thuật và được biểu hiện trênlớp ngôn từ văn học Trong cuộc sống hiện tại với xu hướng dân chủ hóa, vănhọc vừa thực hiện chức năng như tiếng nói chung của cộng đồng nhưng đồngthời cũng là tiếng nói cá nhân thể hiện mình trước cuộc sống Vì vậy, văn họcngày nay lại càng đi sâu vào những điều bình dị của cuộc sống hàng ngày Có
lẽ, đối với Nguyễn Ngọc Tư, tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương cùng vớinhững trăn trở, hoài niệm về những điều đã qua chi phối đến xu hướng sángtác của chị
Trên cơ sở khảo sát 102 tác phẩm trong ba tập tản văn của Nguyễn Ngọc
Tư đã giúp bản thân hiểu rõ cảm hứng trong sáng tác của chị Ba nguồn cảmhứng chủ đạo xuyên suốt chiều dài sáng tác tản văn của chị là: cảm hứng về cácvấn đề của hiện thực thực cuộc sống, cảm hứng hướng về quê hương nguồn cội
Trang 28và cảm hứng hoài niệm.
2.1.1 Cảm hứng về các vấn đề của hiện thực đời sống
Đối tượng phản ánh của văn chương chính là hiện thực cuộc sống Tácphẩm không thể hình thành nếu thiếu đi hiện thực – nguồn vật liệu cấu thànhnên nó Nguyễn Ngọc Tư đi sâu khai thác hiện thực về một đất nước còn lắmnhững cảnh đời khó khăn, đau khổ cùng cực kết quả của một cuộc sốngnghèo Mà đại diện là vùng quê sông nước, ở nơi ấy con người với bao nhiêubuồn vui, bao nỗi nhọc nhằn lo cơm áo gạo tiền Hiện thực này không mấy xa
lạ vì nó là hiện thực chung của người dân nơi đây Cái đói nghèo quẩn quanh
dù họ có lao động cật lực trên cánh đồng
Cái nghèo được Nguyễn Ngọc Tư viết lại như một lẽ tự nhiên, thân thuộc
từ bản thân mình Bởi cuộc sống của những người nông dân nghèo đã ăn sâuvào máu thịt Bất kì nhà văn nào đặt bút viết về con người, đặc biệt là ngườinông dân thì sẽ nói ngay đến vấn đề cái đói, cái nghèo Đói nghèo là vấn đề
đè nặng lên người dân vạn đò và đè nặng lên ngòi bút nhà văn, để chị viết mộtcách chân thực nhất nhưng lại không mang nặng sự kể lể
Mùa những bồ lúa trống trơn Mùa mua chịu Tiệm chú Mười
Ba dường như chỉ có trẻ con lai vãng Trẻ con không biết mắc cỡ khi đi mua chút dầu hôi nước mắm bằng tay không, bằng một lời hẹn mù khơi, nội con nhắn chú ráng chờ tới gặt…Trẻ con không bị tổn thương nhiều bởi túng quấn, không quá mặc cảm bởi cái nghèo (thường kèm theo chữ hèn), tụi nó không cảm thấy ngượng ngập khi nhìn thấy tên nhà mình được ghi trên cách cửa tiệm trong mùa – bán – chịu [40, tr 137].
Nợ nần hẹn đến mùa gặt được thanh toán ở cuối năm nhưng những mùamua chịu vẫn kéo dài cho đến khi chủ tiệm không còn là Mười Ba Khi chủ
tiệm là Tư Giàu (con trai của Mười Ba) “kế nghiệp” thì vẫn tiếp tục cuộc
Trang 29hành trình của những mùa mua chịu tiếp theo dù dấu vết ghi nợ đã được đổi
hình thức từ ghi trên cánh cửa bằng phấn trắng giờ đã được ghi trong: “cuốn
sổ học sinh trăm trang quăn queo góc” Hành động đó nhìn sơ qua được xem
là hành động đầy tính nhân văn của chủ quán Nhưng sự thật trái ngược hoàn
toàn: “nó cười khì, nói khỉ họ, tại bây giờ dân xóm mình đông, đâu có cánh cửa nào ghi cho nổi…” [40, tr.141] để những vết mực đỏ như là vết xước đầy
sót xa cho cả người đọc lẫn người viết
Cái nghèo cái đói như ám ảnh đeo bám con người, không để cho họ bất kỳlối thoát nào Chuyện lo miếng ăn hàng ngày đã là một vấn đề đáng lo ngại, làm
sao cho con no cơm ngày ba bữa đã làm cho bà mẹ trong Chỉ là ghi lại một trưa
vô tình không giống những người mẹ bình thường khác khi nói về đứa con bốn
tháng tuổi của chị bị lão hàng xóm sáu mươi chín tuổi xâm hại tình dục Đúngnghĩa đó theo hình dung thì phải là người mẹ gầy yếu, dịu dàng và đau khổ vớinhững giọt nước mắt lăn dài trên má xót thương, những lời kể bi lụy về đứa trẻvới nỗi ám ảnh tuổi thơ hay chuyện trinh tiết Nhưng nỗi lo của chị là nỗi lo
trước mắt về tương lai gần hơn Ngày mai sẽ ra sao: “thằng em trai suy dinh dưỡng” và “đứa con cần bú, và nó thì quá gầy gò sau một biến cố không ngờ” hay “đứa con gái lớn tới tuổi vào lớp một, thằng em trai kế với dị tật trên mắt không biết chữa được không” [39, tr.22-23] Chuyện về cuộc sống ngày mai sẽ
ra sao khi những con người chị yêu thương kia không thể đi học, không đượcchữa bệnh và đứa em trai suy dinh dưỡng không được ăn no Quả thật chuyệnmiếng cơm manh áo ghì sát đất thì làm gì chị có thể lo xa hơn những vấn đề tổnthương của người dư giả Nói như vậy không có nghĩa là chị không yêu thươngcon mà để thấy được tình yêu của chị - một người mẹ nghèo Nói như Nguyễn
Ngọc Tư ở cuối tản văn: “Những điều cần cho tâm hồn, lúc bụng no mới nghĩ tới được…” [39, tr.23] Đó là lời tâm sự của người mẹ nghèo khổ với đứa con tội
nghiệp và cũng là tâm tư chung của người nghèo
Trang 30Bên cạnh việc quan tâm đến cuộc sống nghèo khổ ở nông thôn, NguyễnNgọc Tư còn hết sức quan tâm đến cuộc sống thời kinh tế thị trường với vấn
đề đô thị hóa nông thôn Cuộc sống của người nông dân khi được sự “quan tâm không triệt để” của nhà nước trong thời đổi mới cũng không sung sướng
gì cho cam Trước thực trạng đó Nguyễn Ngọc Tư đã nói lên tất cả dưới cái
nhìn của người dân Không đanh thép, dữ dội nhưng cách nói của chị “thấm”bởi sự ngọt ngào, sắc lẻm vào nỗi đau của người nông dân trong quá trình đô
thị hóa Đó là công cuộc: “người ta dẹp chợ Nhà Lầu cùng với công viên đằng trước nó lấy chỗ cho cao ốc sáu tầng mọc lên vắt bóng qua tận bên kia sông” [40, tr.84] Rồi giọt nước mắt rơi xuống cho linh hồn thành phố và số
phận những người neo đậu vào chợ Nơi để họ bươn trải kiếm sống nhưng rồigiờ không còn gì ngoài đống gạch đổ nát Anh thợ sửa đồng hồ, người sửakhóa và cả bà già bán chuối ngào đường biết tìm bóng mát nào cho cuộc mưusinh
Đằng sau khu đất quy hoạch dành cho khu công nghiệp là những dự án
định cư minh chứng cho cuộc sống mới văn minh và hiện đại Người đi ngang cửa là câu chuyện của khu dân cư mới trong công cuộc đô thị hóa Câu
chuyện mang đậm tính thời sự nhưng chưa bao giờ được giải quyết triệt để mà
vẫn là dấu chấm lửng bỏ ngỏ về những lời hứa hẹn: “khu tái định cư phường
X, như một lời hứa hẹn sẽ rất hiện đại và sang trọng, trung tâm hành chính, những trường cấp một, hai, ba” [39, tr.162] Nhưng mãi: “Khu quy hoạch vẫn còn dang dở, mở đường tới đâu người ta xây cất nhà theo tới đó, hết đường thì sậy mọc che giấu những thân phận bí ẩn khác” [39, tr.163], những
người dân nơi đây chưa sẵn sàng cho cuộc sống này, họ mãi vẫn chỉ là vịkhách lạ lạc lõng buồn bã ngay trên chính quê hương mình Rồi đây cuộcsống của họ sẽ ra sao khi con đường nhựa sẽ chiếm lấn những hàng lau sậy.Khi đó một là họ phải chuyển đi, hai là phải xây nhà lầu cho đúng với yêu cầu
Trang 32tiền bán cá? Người dân chỉ biết nhìn hàng lau sậy mịt mùng như chính tiền đồtương lai của họ Mọi người chưa được chuẩn bị để có thể thích ứng với cuộcsống của khu đô thị mới, bởi người nông dân quen chân lấm tay bùn, quencuộc sống bình dị nơi vùng quê nghèo với mớ rau, mớ tép cũng qua ngày.Hiện thực cuộc sống mà nữ nhà văn này đề cập đến không chỉ là cáinghèo của người dân Nam Bộ, những khó khăn trong những khu tái định cư
mà người dân phải ép mình cho vừa nhưng không thể vừa nổi mà chị cònmang đến sự thú vị khi bàn tới những vấn đề mang tính xã hội, những cảmthức vượt ra khỏi con mương – lau sậy Chị viết về vấn đề cái ác, sự gia tăngbạo hành trong cuộc sống hiện đại với vấn đề thời sự nổi cộm thường ngày
mà báo chí vẫn không thôi nhắc đến Tản văn Nguyễn Ngọc Tư như lời thủ thỉtâm tình nhưng lại chứa đựng một cái nhìn rất tinh tế Đó là góc khuất mà con
người vô tình để chìm khuất đi như trong Gọi tên nỗi sợ Ngày thơ bé nỗi sợ
mang tên “ông Chà Và” với câu chuyện truyền thuyết mơ hồ nhưng nỗi sợ
hoang đường đủ để những đứa trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình và dần hìnhthành nhân cách Nỗi sợ càng lớn lũ trẻ con lại càng uốn nắn hành vi của
mình Nhưng khi lớn lên chúng không còn sợ “ông Chà Và” nữa mà sợ những
con người hiện hữu có thật trên đời:
Giờ thì con chị bán cá ngoài chợ trời sợ công an, vì ông hay đuổi má nó chạy dài vào những ngày lễ lớn Con chị bán bánh sợ
bà cho vay nặng lãi ở xóm vẫn hay chửi xói vào nhà Con anh thợ
hồ sợ chính ba nó những ngày say rượu về gây gổ đuổi đánh vợ con Bọn nhỏ còn sợ cô giáo hay vơ lấy tất cả những thứ cô lấy được trong tay để làm roi [41, tr.34].
Nỗi sợ ngày càng chuyển đổi đối tượng và giải thiêng theo thời gian, chúcông an kia đại diện cho chính nghĩa nhưng sao chỉ giỏi rượt đuổi mẹ nó Cònnếu tên trộm còn biết sợ công an thì sẽ không có trộm cắp, cướp giật Nó nghĩ
Trang 33vậy Nhưng làm sao được khi nỗi sợ đã mất, mọi suy nghĩ con người trở nên tiêu cực:
Cả thần thánh cũng giải thiêng rồi, cũng gây cho người ta cái cảm giác “có thể mua được”,“bình thường thôi, không đáng tin”, giống như pháp luật đã yếu mà còn mua được, lệ làng đã cũ mà còn mua được Chúng ta còn gì để tự điều chỉnh hành vi của mình những lúc bản năng tà ác ngoi lên, biết lấy nỗi sợ nào để chế ngự nó? [41, tr.36].
Khi không còn nghĩ đến nhau, bị che mắt bởi phù hoa con người sẵnsàng chà đạp lên nhau mà chạy đến lợi ích vật chất, đó là những gì NguyễnNgọc Tư muốn nói đến Chị nhận ra khi người ta không còn biết hoảng sợđiều gì thì đồng nghĩa luân lý, đạo đức xã hội đi đến ranh giới của sự tha hóa.Đồng tiền của xã hội hiện đại làm đảo ngược các giá trị đạo đức – đó là mộtlời cảnh báo từ phía chị
Cũng vẫn là vấn đề đạo đức con người được chị thổ lộ trong Mương rộng hào sâu cuộc sống của con người khi: “Con mương được đào chỉ là lúc
lập vườn, người ta cần đất để lên liếp… Mùa gặt, lần xuồng theo đường nước
ấy chở lúa từ ngoài ruộng sau về sân phơi cũng tiện” [41, tr.98] hay “Những thứ cây mọc hai bên bờ mương không quan tâm đó là biên giới” [41, tr.98].
Lúc đó, con mương gần như là nơi tập trung vui đùa nơi tụ tập của những đứatrẻ cùng chia nhau từng quả ổi sẻ xanh chát, cùng nướng con cá lóc bênmương chia nhau ăn xong còn dính bụi tro, hay đơn giản chỉ là nơi chúng thinhảy qua nhảy lại giữa hai nhà Còn đối với người lớn, mương là nơi mọc củaquả bầu, quả bí để chia nhau mà không ai quan tâm con mương đó thuộc phầnđất của ai Cái cảm giác của cuộc sống ấy mới vui vẻ thoải mái biết chừngnào
Nhưng cuộc sống không đơn giản như vậy, ranh giới dần dần hình
Trang 34thành – cái ranh giới từ trong lòng con người, cho đến một ngày những đứa
trẻ từng chia nhau quả ổi, chén chè lại: “ai có gậy cầm gậy ai có dao cầm dao, máu vằn tia trên mắt, đứng hai bên bờ lăm le xông vào nhau chỉ vì cái ranh đất đổ bằng bê tông không thẳng Xê dịch một tấc, nghĩa là được/ mất một tấc vàng” [41, tr.100] Chung quy lại, con người thay đổi cũng là vì đồng
tiền cho cuộc sống mưu sinh, những khuôn mặt đã già đi, quắt queo lại vìnhọc nhằn toan tính Thay vì đào mương để cùng nhau san sẻ yêu thương, họ
“đào” vào lòng nhau những vết đau, những toan tính vụ lợi, con mương xưakia giờ cạn khô nước, cạn khô tình người Để dòng nước mát tắm táp chongày hè oi ả xưa kia giờ chỉ là dòng nước tắm hận thù, ganh tị
Một xã hội hiện đại cũng tồn tại mặt trái của nó, nạn chăn dắt trẻ em, lợidụng trẻ em như một công cụ kiếm tiền là một biểu hiện được Nguyễn Ngọc Tư
đề cập trong Có còn người không? Bằng thái độ quyết liệt mạnh mẽ, chị chỉ ra:
“hình ảnh của thằng bé ăn xin Nó nhỏ đến mức chỉ biết khóc Ở truồng và khóc Uớt và khóc Bị đánh đau và khóc.” Và “Có đứa thậm chí còn không biết khóc.
Nó ngủ mềm oặt, xanh rớt trên tay người đàn ông ngồi ở một góc đường” [40, tr.134] Chúng gào xin đám đông cho chúng chút tiền đem về cho bọn chủ chăn
dắt để có miếng cơm bỏ bụng, có chỗ ngủ và để thoát đòn roi Đáp lại tiếng kêukhóc, lời van xin bằng sự im lặng vô tình Không một Lục Vân Tiên nào ra taycứu giúp hay thế giới này không còn Lục Vân Tiên? Lũ trẻ chỉ biết gào khóctrong vô vọng dưới sự thờ ơ lạnh nhạt của đám đông Thậm chí chị còn chỉ thẳngvào sự vô tâm của những tổ chức đại diện cho nhân quyền Chị nói trong dòngnước mắt, trong nỗi đau và sự bức xúc về một xã hội mệnh danh bảo vệ trẻ em:
“Thử coi người ta bất lực, rụt rè, ngại khó bao nhiêu” hay “Thử coi nhà chức trách đã làm gì để bảo vệ pháp luật , quyền con người, quyền được sống được vui chơi? Trẻ con họ không che chở được, thì họ hô hào khẩu hiệu, tính làm chuyện lớn lao chi hả trời?” [40, tr.136].
Trang 35Đối với các hiện tượng xã hội, mỗi nhà văn lại có cách nhìn nhận khácnhau, Nguyễn Ngọc Tư - một nhà văn trẻ có cách nhìn bao dung hơn nhưngkhông phải vì vậy mà chị phớt lờ, thờ ơ với thói hư tật xấu của xã hội hiện đại
và hệ quả được đề cập trong Giữa người với người Chị nhận ra hai mặt của
mạng xã hội “face book” – một sản phẩm của xã hội hiện đại Chị không phủ nhận những lợi ích tích cực mà mạng xã hội mang lại: “Nó giúp em tìm lại rất nhiều bạn học cũ, tham gia những chuyến từ thiện quen và yêu anh y sĩ đẹp trai” [41, tr.7] Nhưng chị cũng không tha thứ khi vạch mặt những tiêu cực:
“Chỉ với chiếc điện thoại thông minh buộc vào mạng xã hội là thành một cần câu, anh y sĩ ung dung biến ca trực của mình thành buổi câu tin nóng hổi”
[41, tr.6], góp phần đường ai nấy đi cho cuộc tình đẹp trước sự tiếc nuối của
người mẹ vì: “thấy nó hiền queo, có gì để chê đâu” Nhưng cái hiền hiền ấy được nhìn nhận ra sao nếu con người bận nghĩ gì khác ngoài cứu người: “một người thấy cô gái trèo thành cầu để nhảy sông tự vẫn, anh ấy đắn đo không biết nên giữ cô gái lại, hay cứ để cổ nhảy và ta chụp ảnh đem lên mạng hái hàng trăm cái tặc lưỡi xuýt xoa” [41, tr.7] Từ bao giờ giữa người với người
lại có những rằn ranh rào cản ngăn cách nhau bằng thứ gọi là tình người mangtên của cái xã hội hiện đại, thứ dùng để chia sẻ vô tình lại trở thành thứ chia
rẽ Chính giây phút đắn đo ấy cũng đủ cho ta thấy được sự đáng sợ của lòngngười, giá trị đạo đức đã tha hóa, tình thương giữa người với người cũng thậtđáng nguy Xã hội ngày càng hiện đại thì tình thương con người với nhaucàng bị coi rẻ, đến đồ dùng – đồ chơi mà cũng điều khiển được hành vi conngười thì đó quả là một xã hội đáng báo động mà Nguyễn Ngọc Tư muốnphản ánh
Vấn đề hiện thực đời sống luôn được các nhà văn khai thác để làm đề tàisáng tác Song mỗi nhà văn đều có cách nhìn nhận, đánh giá và cũng có nhữngđiểm nhìn khác nhau để làm nên cái riêng trong từng sáng tác và phong cách
Trang 36viết khác nhau Ý thức được điều đó, các sáng tác của mỗi nhà văn đều cóđiểm riêng biệt Nếu tác giả Dạ Ngân thường đau đáu, ngẫm ngợi về một thờiđạn bom mà cả dân tộc đã đoàn kết đấu tranh và hi sinh trong cuộc chiếntranh chống Pháp, Mỹ và Pôn Pốt đau khổ của thế kỷ trước được thể hiện rõ
trong hai tập tản văn Phố của làng và Gánh đàn bà thì Nguyễn Ngọc Tư lại
thường suy ngẫm, phản ánh những vấn đề chính trị hiện thời đó là tư tưởng,lối sống của một bộ phận con người hiện đại cùng với nó là thái độ phản đối
sự thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiệm với quyền lợi của người dân,
Cuộc sống bề bộn và ngổn ngang những câu chuyện thế sự đời tư, haychuyện về một xã hội còn nhiều mâu thuẫn, những vấn đề xã hội cấp bách cầnđược quan tâm Nguyễn Ngọc Tư bằng ngòi bút của mình đã phần nào táihiện lại hiện thực xã hội cần nói đến một cách giản dị nhưng đầy day dứt.Những tâm sự đời tư khiến người đọc thấm thía nỗi niềm tình quê, tình người
và đôi khi là tiếng thở dài trước thay đổi của các thang giá trị trong cuộc sống
2.1.2 Cảm hứng hướng về quê hương nguồn cội
Quê hương là một trong những đề tài trung tâm của văn học Đề tài quêhương bắt nguồn từ tình cảm tự nhiên nhất, sâu sắc nhất của cư dân ngàn đời gắn
bó với mảnh đất cha ông Yêu cái nơi họ sinh ra, yêu cái nơi chôn nhau cắt rốn,yêu mảnh đất dạy ta những bước đi chập chững đầu đời và yêu mảnh đất ta nằmxuống khi nhắm mắt xuôi tay Cảnh quê và tình quê cũng là cảm hứng chủ đạoquan trọng cho sáng tác văn học Cảm hứng về quê hương xứ sở được gợi lênvới biết bao tình cảm rất sâu sắc chế ngự tâm hồn con người Nhà thơ Đồng ĐứcBốn luôn nghĩ về một miền quê vẹn nguyên các giá trị cổ truyền Quê hương củanhà thơ đượm chất đồng quê cùng âm thanh của làng quê giản dị thân thuộc làm
nên hình bóng quê nhà qua đôi ba dòng lục bát: “Bao nhiêu là thứ bùa mê/ Cũng
không bằng được nhà quê của mình” (Gửi Tân Cương).
Mỗi nhà văn đều được nuôi dưỡng từ mảnh đất quê hương và chính
Trang 37quê hương cũng là cái nôi truyền cho họ cảm hứng cho sáng tác nghệ thuật.Xuất hiện trên văn đàn một cách đầy ấn tượng với hương vị mặn mòi củaruộng đồng miền Nam, nữ tác giả Nguyễn Ngọc Tư ngay lập tức đã làm chongười đọc phải ngỡ ngàng và cuốn hút họ vào vùng văn học – văn hóa Nam
Bộ Nguyễn Ngọc Tư được người đọc biết đến với những tác phẩm truyệnngắn bằng một giọng văn phóng khoáng, trữ tình, đậm chất Nam Bộ Tuynhiên, trên mảnh đất tản văn, chúng ta vẫn bắt gặp một Nguyễn Ngọc Tư hồnhậu, đằm thắm với những câu chuyện chất chứa ưu tư của một người con tựavào hồn quê mà sống, để làm nguồn cảm hứng sáng tác
Mảnh đất Cà Mau đã sinh ra và nuôi dưỡng chị - vùng đất kết thúc củahành trình Nam tiến với một thời đấu tranh oanh liệt, cùng quá trình khaihoang mở cõi đã hình thành nét văn hóa cộng cư đặc sắc của bốn dân tộc:Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Tất cả khiến chị vô cùng tự hào và thêm yêu quêhương Chính điều đó đã gắn chị với cái tên làm nên thương hiệu riêng “Đặcsản miền Nam” mà cụ thể hơn là quê hương Cà Mau Nỗi nhớ được gợi lênnhư hòn than chưa từng một lần ngơi thôi cháy, cho đến khi chị gặp ngọn lửa
khác thổi bùng lên ngọn lửa nhung nhớ quê nhà Của nhớ và xa: “Tôi nhớ Cà
Mau quá trời đất, chị có gì khiến tôi đỡ nhớ không, một bài viết, hay tấm hình con đường nào ở đó cũng được…” [40, tr.113] Niềm nhớ chưa bao giờ nguôi
ấy được dồn nén từ những ngày đầu, nhớ: “Cà Mau của những năm tám mươi, đường xá nội ô lổn nhổn ổ gà, mù bụi? Cầu Quay đã ngừng quay, cầu sắt Phán Tề đông người là run lẩy bẩy, qua sông Gành Hào thấy bóng mình dưới đó cũng run Sân vận động cũ mèm, nhiều chỗ sơn phết tèm lem…” và
“Trong hội chợ, mùi chiến tranh còn nồng, bởi những gian trưng bày súng ống, những bài ca chiến đấu phát ra từ mấy cái loa phóng thanh khàn…” [40, tr.114] Hay: “Cũng có thể bạn nhớ một Cà Mau cũ hơn, một Cà Mau bom đạn, và bạn bỏ lại nó khi chiến tranh vừa tàn” [40, tr.115] và có cả một Cà
Trang 38Ma với sự thay đổi bởi thời gian của những năm về sau: “những kinh rạch đã từng chảy thong dong, mát trong đã từng chảy giữa lòng đô thị bây giờ nằm dưới dãy phố nào Cái gọi là dấu vết của chúng không hơn cái cống nước thải, nưới tối om chảy hòa vào những con sông cắt dọc ngang thành phố mênh mang rác” [40, tr.116] Viết về Cà Mau của một thời với những đổi
thay, nhưng không phải vì thế mà tình yêu của chị dành cho mảnh đất nàykhông còn vẹn nguyên Chị cũng biết một Cà Mau hiền hòa với những điềubình dị mang nét riêng sau quãng thời gian náo nhiệt thực hiện cuộc chạy đuacủa thành thị Nhà văn bình yên cảm nhận điều đang diễn ra với món ăn quenthuộc về quê hương:
Cà Mau có món bún nước lèo ngon lạ…Vị mắm U Minh mặn
mà, trong tô bún chỉ tịnh mấy miếng cá lóc trắng bong, hay chục con tôm đất lột vỏ đỏ au cạnh mớ ớt băm cay xé…Mùi mắm sẽ phảng phất theo bạn hoài, ám ảnh bạn cho đến khi bạn…rửa sạch
bộ râu, mùi mắm bò hóc của người Khmer Cà Mau còn một món tôm khô làm quà nịnh…dùng để nhậu lai rai là hết sảy, nổi tiếng ngọt thịt, vừa miệng [40, tr.118] hay mùi thuốc bắc lưu cửu quen thuộc phảng phất từ mấy tiệm thuốc của người Hoa [41, tr.120].
Nỗi niềm nhớ quê được chị nói lên không phụ thuộc vào thời gian xa quê
dài hay ngắn, “nhan sắc” của quê hương hay sự đổi thay của nó, mà đơn giản
nhớ là nhớ, yêu là yêu Đôi khi ở trên chính quê hương mà giữ trọn vẹn hìnhảnh quê hương của ngày xưa, của cả hiện tại và truyền tình quê cho nhữngngười xa xứ Nói như vậy thì mọi thành phố, mọi quê hương đều được người
ta yêu theo cách ấy, bình dị đến lạ
Vẫn là đề tài về cội nguồn xứ sở, Nguyễn Ngọc Tư đã thổ lộ trong bài
viết Mùa mặn, chị yêu quê nên muốn gìn giữ tất cả mọi thứ thuộc về quê
hương Nhà văn trăn trở về chuyện giữ đất, giữ tài nguyên thiên nhiên, môi
Trang 39trường sống cho mai sau Cà Mau – vùng đất cuối của hành trình Nam Tiếnvới mùa gió chướng và những con nước mặn xâm lấn vào đất liền Cơn xâm
lấn ấy ồ ạt kéo vào một cách nhanh chóng, hung tợn: “Biển như đứa trẻ đói, sau cái hồi liếm láp rìa bánh đất liền như dè sẻn, nâng niu, giờ thực sự ngoặm sâu, cắn miếng nào đáng miếng đó” [41, tr.139] Nhưng vẫn chưa đủ
mạnh để cảnh báo dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại này Con ngườihiện đại của thời kì hội nhập dần quên đi mối nguy nan cấp thiết của biển lấn,
mà chỉ lo cho cuộc sống hiện tại, vun đắp cho bản thân, tích lũy vàng, tích trữtiền để dễ bề di chuyển khi có họa xảy ra Cuộc đua kim tiền vụ lợi làm họquên đi lịch sử mảnh đất họ đang sinh sống được hình thành bằng mồ hôi,công sức, máu, nước mắt và cả thân xác cha ông đã ngã xuống trộn vào bùnđất nuôi sống con cháu, hình hài đất mang tên cha ông Vô tình họ quên luôn
cả dòng dõi, tổ tông mình Lập đất, giữ đất, làm nhà, ổn định cuộc sống vốn dĩ
là điều mọi người hướng tới giờ đây lại quá xa vời trong xã hội ngày nay Đểlại sau lưng tất cả sự nuối tiếc, tình yêu cho con cháu Quê mình giờ đây
“thèm” sự giản dị như những điều cha ông lúc trẻ từng trải qua: “Những mường tượng cái cảnh con cháu sống đời nổi nênh trên ghe, thèm bóng mát một cái cây, thèm nhìn thấy một vạt sân đầy hoa mồng gà và hoa nhài ngày tết, thèm trồng tưới luống rau, thèm mảnh đất để trẻ nít chạy cho đỡ tù chân” [41, tr.141] Câu chuyện kết thúc trong tiếc nuối và ngẹn ngào, phải chi ngày ấy: “tụi mình đừng có phẩy tay tặc lưỡi cho qua” Thì giờ đây, quê hương còn
đó, đất chở nặng phù xa, nước vẫn mặn mà in sâu vào lòng người
Cảm xúc hướng về quê hương nguồn cội còn là câu chuyện về giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc của người Khmer được chị nhắc nhở một cách kín
đáo ý nhị trong tản văn Mấy cụm khói rời Một nền văn hóa đã đi đâu trong
sự đưa đẩy tưởng như đã ăn mòn văn hóa cha ông Trong trí nhớ: “Ở miền kí
Trang 40ức, không khí lễ hội chưa cạn đến đáy lại đầy, mỗi năm có đến vài ba cái tết Nhưng biết đâu họ không nghĩ gì hết, quá khứ thì xa xôi, tương lai thì chẳng
có gì để nghĩ về” [41, tr.10] Còn lại gì sau chuyến đi dài mang hơi thở của cả
làng quê văn hóa cho cuôc sống mưu sinh chẳng mang gì về ngoài sự nuốitiếc về những điều đã qua Văn hóa một thời để nhớ để tự hào kia giờ tàn phainhư nhan sắc của cô gái Khmer già cỗi mong chờ tình yêu không còn nữa.Chính sự vô vọng, nỗi buồn đã làm tàn phai tuổi thanh xuân và làm mất đi
truyền thống văn hóa phật giáo: “tết Chol Chnam Thmay kỳ rồi sân chùa không càn ai múa Lâm Thôn Trên vách phòng lục treo cái ảnh một tăng đoàn bưng y bát đi trên cách đồng xanh rì” [41, tr.11] hay “Những cư dân mới tới không phải tín đồ Phật giáo tiểu thừa nên thờ ơ ngồi giũa móng tay khi y bát đi qua” [41, tr.11] Xóm người Khmer cũng đã chuyển đi hết chỉ còn
lại một cụm nhỏ sống xung quanh chùa Người ra đi không an vui gì, vì quencái nếp sống cộng đồng với bà con mình, người ở lại thờ ơ chờ đợi ngày qua
ngày Cuộc sống hiện đại “biến” họ thành chủ sở hữu những mảnh đất mới.
Đó là chính sách đổi mới để dồn dân vào những khu tái định cư với nhà xây,đèn điện Nhưng cuộc sống ấy họ không quen, mà hơn thế trở nên lạ lẫm vôcùng, chỉ còn những vệt khói nhỏ bay lên le lói trong những ánh sáng bếp gas.Kết thúc tản văn chị chỉ để lại một câu nói khiến bao người phải suy ngẫm
khá lâu và dường như tạo ra hình ảnh đầy sức gợi: “Rốt cuộc thì làm gì còn bầu trời nào khác cho con chim đã bị lấy đi bầu trời” [41, tr.12].
Đi hết vùng đất Cà Mau thân yêu, chị cũng dành tình cảm cho những ngườicon xa quê sau cuộc di cư vì miếng cơm manh áo, dời chuyển vì cuộc sống Đó
là tâm sự của chị trong Nước cũ mưa nguồn Dù cho cuộc sống mưu sinh vẫn là
gánh nặng trên vai, nhưng chưa bao giờ cảm xúc thương nhớ một vùng quênguôi ngoai trong họ Nỗi nhớ quê, niềm tự hào về quê hương cùng những kỉniệm thân yêu nuôi sống tâm hồn con người, cho họ niềm tin và động