1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn và tản văn nguyễn ngọc tư một cái nhìn đối sánh

119 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 899,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cái nhìn toàn vẹn hơn về sự đa dạng, phong phú cũng như sự khác biệt của hai thể loại văn học, người viết đi vào nghiên cứu đề tài Truyện ngắn và t ản văn Nguyễn Ngọc Tư - một cái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BẠCH VĂN HỢP

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Người viết luận văn

Mai Nguyễn Bích Thuận

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của cơ quan, thầy cô, đồng nghiệp Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Long đã tạo điều kiện cho tôi tham gia đầy đủ chương trình học Cao học

- Quý thầy, cô đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, TS Bạch Văn Hợp, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, đóng góp những ý kiến cho tôi hoàn thành luận văn này

- Bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Chúng tôi đã rất cố gắng nhưng luận văn vẫn còn hạn chế Kính mong quý thầy cô và Hội đồng chấm luận văn góp ý để luận văn được hoàn thiện

Trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 9 năm 2015

Người viết luận văn

Mai Nguyễn Bích Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Khái quát về truyện ngắn và tản văn 11

1.1.1 Truyện ngắn 11

1.1.2 Tản văn 15

1.2 Giá trị và vị trí của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư 22

1.2.1 Giá trị của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư 22

1.2.2 Vị trí truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư 25

Ti ểu kết Chương 1 29

Chương 2 TRUYỆN NGẮN VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG 30

2.1 Khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo 30

2.1.1 Khái niệm cảm hứng 30

2.1.2 Cảm hứng chủ đạo 31

2.2 Nội dung cảm hứng trong truyện ngắn, tản văn Nguyễn Ngọc Tư 32

2.2.1 Thương cảm là cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 32

2.2.2 Phê phán là cảm hứng chủ đạo trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 50

Tiểu kết Chương 2 62

Chương 3 TRUYỆN NGẮN VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

NHÌN T Ừ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ 63

3.1 Cốt truyện và kết cấu 63

3.1.1 Cốt truyện 63

Trang 6

3.1.2 Kết cấu 66

3.2 Nghệ thuật trần thuật 77

3.2.1 Lời văn trần thuật 78

3.2.2 Điểm nhìn trần thuật 84

3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 88

3.3.1 Ngôn ngữ 88

3.3.2 Giọng điệu 97

Ti ểu kết Chương 3 106

K ẾT LUẬN 107

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 109

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Nếu như các ngành khoa học tự nhiên đem đến sự giàu có về đời sống vật

chất thì các ngành khoa học xã hội vun đắp tâm hồn, tình cảm cho con người Cùng với hội họa, âm nhạc, văn học góp phần hoàn thiện tâm hồn phong phú nhưng cũng nhiều phức tạp của con người Đặc biệt, từ sau năm 1986, văn học

Việt Nam từng bước chuyển sang giai đoạn đổi mới Văn học vận động theo hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn Nó phát triển hơn về thủ pháp nghệ thuật, đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn Văn học có tính chất hướng nội, quan tâm nhiều đến số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp đời thường

Trong sự chuyển đổi chung của nền văn học đương đại, văn xuôi đã có

những sự bứt phá và đạt được những thành tựu về nội dung lẫn nghệ thuật Nổi

trội nhất là truyện ngắn và tản văn Với sự năng động và ưu thế riêng của thể

loại, nó đem lại cho văn xuôi nhiều nội dung phong phú, mới mẻ Cùng một dung lượng ngắn, nhưng mỗi thể loại lại mang đến cho người đọc một cảm nhận khác nhau Truyện ngắn khái quát những vấn đề sâu sắc đặt ra trong đời sống

Nhắc đến tản văn, người ta nói nó là thể loại tản mạn viết theo cảm xúc, có vẻ

nghệ thuật

Đề cập đến truyện ngắn và tản văn, chúng ta có thể nhắc đến Nguyễn Ngọc

Tư Đây là nhà văn có sở trường về hai thể loại này, viết chắc và viết khỏe Nhà văn quan tâm tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự Ở mỗi thể loại, nhà văn khai thác những khía cạnh tiềm ẩn trong cuộc sống đời thường Nguyễn Ngọc Tư là

một trong số ít nhà văn Nam Bộ đã thành công khi tạo được phong cách riêng,

để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả Bằng sự nhạy cảm, tâm huyết với nghề, Nguyễn Ngọc Tư phản ánh hiện thực cuộc sống và con người Nam Bộ

Trang 8

thật chân thực, gần gũi Tác phẩm là những trang văn đầy tình yêu thương và sự chia sẻ, cảm thông của nhà văn đối với số phận các nhân vật

Để có cái nhìn toàn vẹn hơn về sự đa dạng, phong phú cũng như sự khác

biệt của hai thể loại văn học, người viết đi vào nghiên cứu đề tài Truyện ngắn

và t ản văn Nguyễn Ngọc Tư - một cái nhìn đối sánh Đây là đề tài có ý nghĩa

thiết thực và ý nghĩa khoa học trong việc khẳng định giá trị của các sáng tác Nguyễn Ngọc Tư - người đã mang sắc màu riêng của con người, của vùng đất Nam Bộ đến mọi miền của tổ quốc Ngoài ra, là một người làm công tác giảng

dạy thuộc tỉnh nhỏ của vùng đất Nam Bộ, việc thực hiện đề tài còn có ý nghĩa tri

ân của người viết đối với một nhà văn tiêu biểu của quê hương

2 L ịch sử vấn đề

Những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là truyện ngắn, đến nay đã

có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu Mỗi bài viết thể hiện một cách nhìn, một quan điểm, một suy nghĩ và một cảm nhận riêng Trần Hữu Dũng là

một trong những người khẳng định giá trị tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư nhiều

nhất Hơn ai hết, ông đề cao phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư trong việc

sử dụng thành công ngôn ngữ Nam Bộ Vì lẽ đó, ông gọi Nguyễn Ngọc Tư là

đặc sản miền Nam” Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam, ông

viết: “Nguyễn Ngọc Tư, ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã tạo được một chỗ đứng khu

chân chất mộc mạc tươm ra từ mỗi truyện cô viết Đúng, và dưới đây sẽ nói thêm Song, trước hết, cái đầu tiên làm người đọc choáng váng (cách thích thú),

Giai đoạn đầu cầm bút, chị sớm thành công với tập truyện ngắn Ngọn đèn

không tắt Tập truyện đạt giải nhất trong cuộc thi sáng tác “Văn học tuổi 20” lần

thứ hai Trong bài Nguyễn Ngọc Tư như thế nào đăng trên báo văn nghệ, nhà văn Dạ Ngân hết lời khen ngợi: “Khi tập truyện Ngọn đèn không tắt vào giải

Trang 9

văn nghệ) chúng tôi mới thú vị nhận ra chính văn nghệ đã in cho tác giả ngôi

[34, tr.1] Không chỉ Dạ Ngân mà Nguyễn Quang Sáng cũng đánh giá cao tập truyện này, đặc biệt là truyện ngắn cùng tên: “Tập truyện ngắn Ngọn đèn không

giọng văn mộc mạc, bình dị, với ngôn ngữ đời thường đã tạo nên một không khí

sông nước, của biển cả đã dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa Qua ngòi

cả một tâm hồn vừa nhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế… Ngọn đèn

[49, tr.1]

Trong một lần phát biểu, nhà văn Chu Lai nói rằng: “Tôi là người đã bỏ

Nguyễn Ngọc Tư thì cũng có những nhận định trái chiều về truyện ngắn Nguyễn Trọng Bình, Phạm Xuân Nguyên, Huỳnh Công Tín,… là những nhà nghiên cứu ủng hộ cách viết và khả năng phản ánh hiện thực của nhà văn Họ coi tác phẩm như là một hiện tượng văn học đáng chú ý của năm 2005 Ngược

lại, Đỗ Hồng Ngọc cảm thấy nuối tiếc, hụt hẫng khi đọc Cánh đồng bất tận Ông

cho rằng nhà văn đã đánh mất đi sự hồn nhiên, trong trẻo trong những sáng tác

trước đó Tuy nhiên theo thời gian Cánh đồng bất tận vẫn tồn tại và ngày càng

được khẳng định trên văn đàn văn học đương đại

Trang 10

Nhà phê bình Văn Công Hùng cho rằng chính ngôn ngữ đã giúp nhà văn Nguyễn Ngọc Tư để lại dấu ấn trong lòng người đọc: “… cái làm nên Nguyễn

thăng hoa trong từng ngữ cảnh cụ thể” [25, tr.1]

Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Cánh đồng bất tận là một truyện hay, nó

chứng tỏ bút lực của Nguyễn Ngọc Tư trong việc đào sâu vào thể hiện cuộc sống

và khơi sâu vào thân phận con người Viết được một truyện như thế chứng tỏ Tư

có tài năng văn chương và có lòng thương người Đúng vậy, thương người bằng

Trong bài viết “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”,

Trần Phỏng Diều nhận xét về nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư:

đều có số phận long đong, vất vả nhưng trên hết họ đã sống với nhau bằng cái tình, bằng sự yêu thương và đùm bọc lẫn nhau… Nguyễn Ngọc Tư quả có cái

cũng như bản chất cố hữu của họ” [15]

Trong bài viết “Cánh đồng bất tận, bức tranh quê buồn tím ngắt” của Trần Văn Sĩ đăng trên Báo Văn nghệ số 15/2006 cho rằng: “Trong Cánh đồng bất

xen nhau, Nguyễn Ngọc Tư thật tài tình khi sử dụng ngôn ngữ văn học để có thể

giả bài viết đã nhìn thấu đáo truyện ngắn Cánh đồng bất tận từ nội dung đến

nghệ thuật

Trang 11

Đoàn Ánh Dương trong bài “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và

như một bức tranh ghép mảnh những mảng ký ức chấp nối, đứt đoạn nhân vật

Ở đó nhân vật tan chảy thành dòng xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh mà một sự phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc

khuynh hướng tự sự giàu tính hiện đại” [18, tr.2]

Tên tuổi và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư không những gây chú ý cho các nhà phê bình, nhà văn lớn mà còn có sức hấp dẫn đối với độc giả Họ đọc và yêu

mến chị Chị như người truyền lửa cho các thế hệ sau có niềm tin về một nền

văn học Nam Bộ Năm 2008, Nguyễn Thành Ngọc Bảo chọn Đặc điểm truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư làm tên đề tài cho luận văn tốt nghiệp Tác giả luận văn

đã trình bày hệ thống các đặc điểm của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật Năm 2009, Thái Thị Thanh Hoa khai thác nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Ngọc Tư qua đề tài Nghệ thuật tự sự trong

điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư làm luận văn tốt nghiệp của mình Luận văn

đã nhìn nhận chặng đầu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Tác giả luận văn có đề

cập đến tản văn nhưng rất ít Tác giả chủ yếu nghiên cứu về thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Luận văn đã khái quát tất cả những gì về

con người và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu, ý kiến, nhận định về truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện rất nhiều Song, rất ít bài viết về tản văn của

chị Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân Lâu nay, nhiều người xem

Trang 12

nó là một loại văn không có diện mạo rõ rệt Vì vậy, tản văn hầu như chưa được quan tâm thực sự Trong bài viết Tản văn Việt Nam hiện đại - một thể loại bị

thể loại” [52] Bài viết khẳng định, tản văn có sớm trên văn đàn văn học nhưng

không mấy ai thừa nhận nó như một thể loại độc lập Vì vậy, người ta tìm đến

những thể loại phổ biến như truyện ngắn, tiểu thuyết hay thơ phát triển sự nghiệp cầm bút Dần dần, nó bị quên lãng

Tuy nhiên, thời gian gần đây, người ta nhìn lại và chọn tản văn làm mảnh

đất gieo trồng hạt giống mới lạ Bài viết “Thời của tản văn, tạp bút” của Trần

Hoàng Nhân số ra ngày 13 tháng 8 năm 2006 trên báo Người Lao Động: “Năm

xuất bản ồ ạt Đây có thể nói là bước ngoặc đánh dấu sự trở lại của tản văn”

[40] Song, trong bài viết vẫn không có dấu hiệu nào để phân biệt tản văn và tạp bút Ngay cả tên bài viết cũng thế Điều này không chỉ xuất hiện ở bài viết này

mà một số bài viết khác cũng sử dụng chung chung như vậy Ở mục “Văn hoá

giải trí” của Đài tiếng nói Việt Nam, bài viết Tản văn có phải là…đồ ăn nhanh?

của Phương Thuý đã khẳng định giá trị và sức sống của tản văn trong đời sống

văn học đương đại hiện nay “Tản văn không phải món ăn "dễ nuốt"” của Mai

Anh, ngày 7/7/2015 trên báo An ninh Thủ đô và bài viết Tản văn có phải là đồ

ăn nhanh? ở mục văn hóa - giải trí của Vietnamnet ngày 03/07/2015 của Tình

Lê đều đề cập đến đặc trưng của tản văn và tác động của thời buổi thị trường ảnh hưởng đến sự phát triển của thể loại tản văn

Trang 13

Nhìn chung, so với truyện ngắn thì tản văn ít người nghiên cứu Có chăng

chỉ là một số bài viết gần đây Đối với tản văn Nguyễn Ngọc Tư, các bài nghiên

cứu cũng không nhiều như ở mảng truyện ngắn

Trong bài viết Đọc Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư: Nguyễn Ngọc Tư - Quen mà

lạ, Hạ Anh nhận xét tập Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư mang giọng điệu chính luận

Bùi Ngọc Anh cho rằng tạp văn Nguyễn Ngọc Tư mộc mạc, tự nhiên mà sâu

lắng trong bài Nghệ thuật viết tạp văn qua một số cây bút tiêu biểu

Lương Thị Thảo trong luận văn Đặc sắc tản văn Nguyễn Ngọc Tư đã làm

nổi bật những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của các tản văn Nguyễn Ngọc

Dương Vân trong bài Nguyễn Ngọc Tư “đong tấm lòng” qua con chữ rưng

rưng có nhận định “Từ lâu, nỗi buồn là "thương hiệu" đóng dấu qua từng tác

con người nhỏ bé trong cuộc sống, của những cuộc tình quê, hay cảm thức khắc

đậm chất Nam Bộ cùng lối viết hồn hậu chân chất Từ tập truyện đầu tay Ngọn

Trang 14

đèn không tắt đến tập truyện ngắn gần đây nhất là Đảo, hầu hết đều được người

đọc đón nhận tích cực Bên cạnh đó, những tập tản văn mang đậm nét tính cách người Nam Bộ Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ngọc Tư được mọi người

biết đến và khen ngợi Đó chính là thành công của nhà văn vùng đồng bằng sông

Trên cơ sở khảo sát Truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư - một cái

nhìn đối sánh, chúng tôi hi vọng được góp phần khẳng định những đặc điểm

truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư trên bình diện đối sánh Đồng thời,

khẳng định giá trị và vị trí của hai thể loại ấy trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là truyện ngắn và tản văn của Nguyễn

Ngọc Tư Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên các phương diện: nội dung cảm

hứng và phương thức tự sự Đối sánh truyện ngắn và tản văn để thấy được đặc trưng, sự vận động cũng như sự tác động của mỗi thể loại đến đời sống như thế nào

Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khảo sát các tập truyện ngắn như:

Trang 15

- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)

Và các tập tản văn:

- Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

những đặc điểm làm nên từng thể loại riêng biệt nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt của truyện ngắn và tản văn Qua đó, thấy được quy luật phát triển của hai thể loại trong đời sống văn học

Ngọc Tư theo một hệ thống Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm Từ

đó rút ra kết luận về nguyên tắc chi phối việc sáng tạo toàn bộ cấu trúc tác phẩm

nổi bật sự tương đồng và khác biệt của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư trên các phương diện nội dung cảm hứng và phương thức tự sự

5 Đóng góp của luận văn

Chỉ ra đặc điểm của từng thể loại, khẳng định giá trị cũng như vị trí của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 16

Góp phần vào việc nhìn nhận, đánh giá một phương diện của văn học qua

việc tìm hiểu truyện ngắn và tản văn của nhà văn trong đời sống văn học đương đại Đối sánh hai thể loại để bổ sung sự hiểu biết về nó

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Trong chương này, chúng tôi khái quát về khái niệm, đặc trưng của truyện

ngắn và tản văn Đồng thời, khẳng định giá trị và vị trí truyện ngắn, tản văn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2 Truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ nội dung cảm

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái quát v ề truyện ngắn và tản văn

1.1.1 Truy ện ngắn

1.1.1.1 Khái ni ệm

Trước khi đối sánh nội dung và nghệ thuật hai thể loại truyện ngắn và

tản văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi xác định lại khái niệm và đặc trưng từng thể

loại bởi nó có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu Truyện ngắn là một thể

loại phổ biến đối với nhiều người nhưng để đưa ra một khái niệm chính xác thì

vô cùng khó khăn Mỗi cách định nghĩa có thể xoáy sâu vào một khía cạnh vấn

đề nhưng tập trung lại vẫn khẳng định đây là hình thức tự sự loại nhỏ thường được viết bằng văn xuôi

Nhà lí luận văn học N A.Gulaiep quan niệm: “truyện ngắn là hình thức

thường bộc lộ một nét nào đó của nhân vật” [37, tr.146]

Theo Ruby V Redinger: “truy ện ngắn là một hình thức văn học, bản

tư cách là một câu chuyện, nó kể lại một chuỗi sự kiện hoặc một biến cố liên quan đến con người trong hoạt động thể chất hoặc tinh thần” [8, tr.19]

Lại Nguyên Ân cho rằng truyện ngắn là “một thể loại tự sự cỡ nhỏ,

thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm

không nghỉ” [5, tr.1846-1847]

nghiệm, kĩ thuật viết truyện của các nhà văn tài năng Trong đó, các nhà văn

cũng đưa ra những nhận định khác nhau về truyện ngắn Bùi Hiển: “truyện ngắn

Trang 18

v ật đặt trước một vấn đề phải băn khoăn, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định Có khi

một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một giây phút thoáng qua” [37, tr.30]

Nguyễn Thành Long khẳng định: “truyện ngắn không phải là một truyện dài

Từ nhiều khái niệm, cách hiểu, ta có thể khái quát lại truyện ngắn là

hình thức tự sự loại nhỏ thường được viết bằng văn xuôi, hư cấu Nó tập trung

mô tả một mảnh của cuộc sống; một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong

một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội

1.1.1.2 Đặc trưng

Truyện ngắn là thể loại văn xuôi tự sự cỡ nhỏ, hư cấu

Văn xuôi có khả năng khám phá, khắc hoạ mọi phương diện biểu hiện của cuộc sống, con người và thực sự chứng tỏ tính năng động, sức hấp dẫn của mình khi tìm đến phản ánh những phạm vi mới, những khu vực mới mà các thể loại khác, hoặc có thể phản ánh nhưng không thành công, ấn tượng như văn xuôi, hoặc khó tiếp cận hơn so với văn xuôi

Tự sự là phương thức tái hiện đời sống qua các sự kiện, biến cố và hành

vi con người trong toàn bộ tính khách quan của nó Trong tác phẩm văn xuôi tự

sự, cốt truyện có vai trò đặc biệt quan trọng Theo từ điển thuật ngữ văn học,

nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại tự sự và kịch” [21, tr.99] Nhờ cốt truyện,

nhà văn tái hiện các xung đột xã hội, chứng tỏ năng lực, cách thức chiếm lĩnh

Trang 19

thực tại khách quan của mình Dù đa dạng, mọi cốt truyện đều trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và kết thúc

Bên cạnh đó, tình huống có ý nghĩa quan trọng đối với việc thể hiện tính cách và số phận nhân vật, chủ đề tác phẩm Nhà văn Nguyễn Kiên, một cây bút

truyện ngắn khá tiêu biểu, từng viết: “Truyện ngắn cũng có tính cách và số phận

như truyện dài Nhưng vì khuôn khổ của truyện ngắn bị hạn chế nên không thể nói nhiều, nói đầy đủ như truyện dài Do đó, điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa chọn cho được cái tình thế tự nó bộc lộ ra nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trưng cho một hiện tượng xã hội Theo tôi hiểu thì mỗi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như thế nào đó đã xảy ra trong đời sống, nếu có hai tình thế trở lên, truyện ngắn sẽ bị phá vỡ” [37, tr.47]

Trong văn xuôi tự sự, xây dựng tình huống dường như thành nhiệm vụ tất yếu của nhà văn, trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn Mối quan hệ giữa tình huống với nhân vật thể hiện mối tương quan giữa hoàn cảnh và tính cách Hoàn cảnh càng có tính điển hình, càng có độ gay cấn thì càng dễ nổi bật tính cách điển hình của nhân vật Có thể xem tình huống là loại hoàn cảnh bất bình thường, hoàn cảnh “có vấn đề” đòi hỏi con người trong đó phải xử lí, phải vượt qua Khi được đặt trong tình huống, con người ta mới bộc lộ tính cách, bản chất của mình một cách đầy đủ, chân thực nhất

Về chi tiết: Trong một tác phẩm thường có nhiều chi tiết nhưng không

phải mọi chi tiết đều có giá trị ngang bằng nhau Có các chi tiết có thể lướt qua

hoặc bỏ đi cũng không sao Có các chi tiết thể hiện thần thái nhân vật, cô đọng

nội dung, giá trị của tác phẩm thì không thể bỏ qua Nhà văn Nguyên Ngọc

khẳng định: “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện ly kỳ, gai

cấn kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước lã” [41, tr.33]

Nhân vật: Trong tác phẩm tự sự, nhân vật chính là nơi mang chở nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con

Trang 20

người, về nhân sinh của nhà văn Một nhân vật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện một số phận, một quan niệm nhân sinh độc đáo và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm chí một thời đại nào đó Nó là kết quả của một quá trình khám phá, chiêm nghiệm Nó là sản phẩm từ sự tổng hợp, nhào nặn Cũng do thế, nhân vật mang dấu ấn của cá nhân sáng tạo ra nó Một nhân vật văn học thành công cũng như một con người sinh động ngoài đời Nó

có tính cách riêng, số phận riêng không thể lẫn

Ngoài ra, nói đến truyện ngắn là nói đến hư cấu Đây là phần quan trọng

thể hiện năng lực sáng tạo của nhà văn Nhà văn có toàn quyền hư cấu với bất

kỳ nhân vật hay câu chuyện nào mà họ viết ra Bất cứ sự kiện, hiện tượng nào liên quan đến con người cũng có thể là "hư cấu" Bản chất của hư cấu là sáng tạo

một thế giới hiện tượng "giống như" thế giới hiện thực của con người Mà nói như Nguyễn Công Hoan thì thế giới ấy là thế giới "bịa mà như thực"

Tất nhiên, việc hư cấu nhiều hay ít tùy theo mục đích sáng tác của nhà văn Đôi khi, giữa hư cấu và sự thật không có biên độ rõ ràng Dù như thế nào thì hư cấu vẫn chịu ảnh hưởng bởi thời đại mà nhà văn đang sống

Truyện ngắn có tính chất ngắn gọn, cô đúc

Dung lượng ngắn được xem là dấu hiệu bề mặt của thể loại truyện ngắn Căn cứ vào dung lượng tác phẩm và quy mô biểu hiện trong văn học hiện đại có: truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài Với truyện ngắn, dung lượng ngắn vừa là khối lượng câu chữ vừa là nội dung phản ánh đồng thời còn là quy tắc sáng tạo của nhà văn Tuy nhiên, ngắn cụ thể như thế nào thì còn là vấn đề để

mở Lê Huy Bắc cho rằng dung lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến

20000 chữ Dung lượng thông thường của một truyện ngắn trung bình từ 7 đến

10 trang hoặc dài là 25 đến 30 trang giấy

Ngắn gọn ở đây còn được hiểu là sự tỉ mỉ, cô đọng về từ ngữ, loại bỏ

những gì thiếu súc tích như Maugham nhận xét: “truyện ngắn cần phải viết sao

Trang 21

cho người ta không thể bổ sung vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì” [5, tr.82]

Bên cạnh đó, truyện ngắn còn thể hiện ở cách kể, lối viết Nhà văn cần

tránh lối viết dông dài Nhà văn Nguyễn Quang Thân cho rằng: “theo tôi, ngắn

hay dài, ngoài số chữ, số trang thường được hiểu như là một quy ước bình thường, cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất lại không ở chỗ đó mà là cách kể, cách dựng lại câu chuyện đó” [41, tr.113]

Truyện ngắn giới hạn ở phạm vi hiện thực được phản ánh, ở nội dung chủ đề

Mỗi truyện ngắn chỉ đề cập một vấn đề, một chủ đề tập trung Do dung lượng ngắn nên người viết truyện ngắn phải chọn lựa thật kĩ các phương diện

của nó như chi tiết, tình huống, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ

Nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét

bản chất nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Trong truyện ngắn, nếu nhà văn đặt quá nhiều vấn đề, câu chuyện sẽ dễ bị loãng Tập trung về sự kiện, tập trung về chủ đề, về ấn tượng là yêu cầu của truyện ngắn Người viết truyện ngắn luôn luôn chú ý vào một vấn đề cơ bản với sự tỉ mỉ, chi tiết, loại bỏ những gì thiếu súc tích

Theo Nguyễn Công Hoan: “Muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một

chủ đề ấy Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man Mỗi truyện cần có một ý,

1.1.2 Tản văn

1.1.2.1 Khái niệm

Tản văn là một trong những thể loại quan trọng của văn học Trung

Quốc Theo quan niệm của người Trung Quốc cận đại, tản văn là văn xuôi nghệ thuật nói chung, bao gồm nhiều thể: tạp văn, tuỳ bút, tiểu phẩm, tiểu luận Các

Trang 22

tiểu thể loại với những cách định danh khá ngẫu hứng, tự do như: nhàn đàm, phiếm đàm, thời đàm, phiếm luận, tạp trở, đoản văn cũng được xếp vào phạm trù tản văn

Trong hệ thống thể loại văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tản văn là

một trong những thể văn xuôi xuất hiện sớm, ra đời do nhu cầu và những biến động của thời đại Đây là một thể loại văn xuôi mới viết bằng chữ quốc ngữ, ban đầu chủ yếu đăng trên báo chí Những tác phẩm tản văn đầu tiên của Tản Đà và nhiều cây bút khác đều đăng trên Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí

Tản văn nhỏ gọn nên dễ đăng, dễ đến với công chúng bằng con đường báo chí Tính chất tự do, dễ thích ứng của thể loại tỏ ra phù hợp với những yêu cầu của độc giả báo

Tuy nhiên, khái niệm tản văn cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu Chỉ

có thể nói nó được dùng để chỉ một thể loại văn học xác định và nhiều nhà văn

đã dùng từ tản văn để định danh thể loại cho sáng tác của mình Ví dụ như: Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Ngọc Tư,… Trong sự dung hợp thể loại, tản văn cũng mang trong bản thân nó những thể loại khác Tản văn

và các tiểu loại tương đồng như tạp văn, tạp bút, nhàn đàm, tùy bút đôi lúc không còn ranh giới Giữa tản văn và tạp văn cũng vậy Tạp văn là một thể loại nhỏ hơn tản văn được phân hóa ra từ tản văn bởi có cùng đặc điểm nghệ thuật Song, xét về phạm vi đề tài thì tạp văn chuyên viết về những đề tài mang tính chính luận, tính luận bàn những vấn đề chung của xã hội Cả hai đều là những thể loại thuộc ký và không có ràng buộc nhiều trong qui tắc sáng tác Theo Từ điển văn học (bộ mới) và theo cách dùng của Giáo sư Trần Đình Sử trong bài

tập sách “Tuyển tập tản văn Việt Nam”, người viết chọn tản văn làm tên gọi

thống nhất Trần Đình Sử cho rằng “tản văn có đặc điểm dung lượng ngắn, cách

viết đa dạng, có thể tự sự, trữ tình, bình luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau, tản văn nói được bao nhiêu điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng

Trang 23

về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ, Tản văn có thể có nhiều phong cách: nghiêm túc, cười cợt, trữ tình, chính luận, triết lí Tản văn là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay bởi nó cũng cần có cấu

Theo T ừ điển thuật ngữ văn học:

văn mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp,

Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa

Là tiểu loại của kí, tản văn cũng mang trong bản thân thể loại những đặc trưng cơ bản như ghi chép, sự kiện Vì thế, đặc điểm phổ quát của tản văn là sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả, là sự ưu tiên của quan điểm, cách cảm, cách nhìn của thông tin lý lẽ trước thông tin sự kiện, là sự linh hoạt, phóng túng trong cách hành văn, trong tổ chức hình ảnh, liên hội các chi tiết Từ những điều trên, có thể thấy rằng, truyện ngắn là một hình thức tự sự cỡ nhỏ, thể hiện một bước ngoặc, một trường hợp hay một tâm trạng, tính cách của nhân vật được làm sáng rõ ở một thời điểm quan trọng Nó tập trung vào một bình diện cụ thể

Trang 24

Trong khi đó, tản văn nói lên suy nghĩ cái nhìn về cuộc sống con người suốt một quá trình, một giai đoạn nào đó trong đời sống xã hội Vì vậy mà nó mở ra một giao diện rộng Truyện ngắn mang tính khách quan, tản văn mang tính chủ quan Hai thể loại điều có những phát hiện ra hiện thực cuộc sống

1.1.2.2 Đặc trưng

T ản văn là thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm xúc, không hư cấu

Tản văn là tác phẩm tự sự nhưng có thể không cần cốt truyện, không cần tình tiết, không cần nhân vật nhưng dứt khoát phải có cảm xúc Bởi tản văn là

tiếng nói riêng của người viết, là những suy nghĩ được trình bày dưới dạng viết nên buộc phải có cảm xúc, phải khiến độc giả tin đây là văn bật ra từ chính nhu

cầu cần giãi bày của mình chứ không phải là việc liệt kê những sự kiện nào đó thành câu chuyện Vì vậy Trần Đình Sử nói: “tản văn là một thể loại dễ viết

nhưng khó hay” Dễ ở chỗ không qui định nội dung, không qui định hình thức,

tự do, tản mạn nhưng lại phải chứa một vấn đề nào đó mà xã hội đang quan tâm

và phải thể hiện nó theo cách riêng nhất của bản thân Nếu tản văn không làm

nổi bật được quan niệm riêng của tác giả thì xem như không đạt Khó ở chỗ nói chuyện riêng, chuyện phiếm theo cách nghĩ chủ quan của mình nhưng lại phải thuyết phục độc giả tin vào mình, phải dẫn dắt sao cho từ những vụn vặt của đời

sống tinh thần riêng tư bắt được nhịp với những vấn đề tồn tại mang tính thời sự

của xã hội Tản văn tản mạn tự do nhưng không tùy tiện, nói chuyện riêng nhưng thực chất là luận bàn những vấn đề bức thiết của xã hội

Tản văn biểu hiện rõ nét cái tôi tác giả

Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao,

có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung Cái tôi là tiền đề của sự cách tân, thước đo cho sự sáng tạo của nhà văn

Trang 25

Tản văn của những tác giả hiện đại với những sáng tác mang đậm dấu

ấn cá nhân Đó trước hết là nơi để các tác giả thể hiện cái tôi cá tính của mình

một cách trực diện và không giấu giếm Cái tôi dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không chịu là một cá thể mù mờ giữa cộng đồng, không chấp nhận bị hoà tan giữa muôn vàn những sự bằng phẳng, nhàn nhạt của đời sống mà luôn có nhu cầu bứt phá, khẳng định mình một cách quyết liệt, mạnh mẽ, thậm chí có khi đầy táo bạo, gai góc Ngày nay là thời đại của cái tôi cá nhân Nhu cầu giãi bày tâm tư tình cảm được thể hiện một cách công khai, minh bạch Vì thế, tản văn chính là sự lựa chọn của nhiều người Ở đó, người viết hoàn toàn viết theo

cảm xúc, không bị chi phối bởi các qui định chặt chẽ như các thể loại khác Song, tản văn lại dễ gây sự đồng cảm của người đọc và nó có giá trị không nhỏ trong nền văn học Việt Nam

Tản văn là thể văn tự do phóng túng nhất

Tính chất tự do, phóng túng của tản văn thể hiện rõ ở tính đa dạng về đề tài Là thể loại phi hư cấu, tản văn ghi lại chân thật những sự kiện đời sống, văn hóa, xã hội, con người, Nhiều tập tản văn đề cập những vấn đề xã hội nhức nhối, nhiều nhà văn đã sử dụng hình thức tản văn để bình luận, phê phán, lật xới phơi bày những góc khuất, mặt tối của hiện tại Ở mảng thế sự, tản văn có lợi thế Các nhà văn phản ánh lối sống hiện đại làm đảo lộn mọi chuẩn mực đạo đức Tính chất tự do trong cách thức biểu hiện một mặt đem lại cho người viết nhiều cơ hội phá cách cho ngòi bút, mặt khác tạo cho bản thân thể loại một sức

cuốn hút do có độ co giãn, dễ thích ứng và giàu khả năng tạo ra cái mới Một số

tản văn được viết với kĩ thuật tích hợp văn học với một số loại hình nghệ thuật khác Nhà văn đính kèm các bức hình minh họa phù hợp với nội dung tác phẩm

Đặc điểm nổi bật nhất của ngôn ngữ văn xuôi chính là tính đời thường

với hệ thống ngôn từ bình dân, dễ hiểu, các khẩu ngữ thông dụng, các tiếng lóng, theo sát sự phát triển ngôn ngữ của thời đại mới Tản văn chính là môi trường văn học cho nhiều người cùng góp tiếng nói, làm cho văn chương ngày

Trang 26

càng rút ngắn khoảng cách với người đọc Tồn tại dạng ngắn gọn, lời văn nhẹ nhàng nhưng sức lan tỏa lại lớn

Kết cấu của tản văn

Tản văn có kết cấu tự do Đặc điểm này khiến người đọc có cảm giác tản mạn, bởi vấn đề con người và xã hội được thể hiện thông qua tưởng tượng của

cá nhân Bắt đầu là một suy nghĩ bất chợt, từ những chi tiết vụn vặt của cuộc sống nhưng kết thúc là một quan niệm, một chủ đề đã được đặt ra trước đó Tuy nhiên, nó không phải là lộn xộn không có trật tự, không có tính văn chương, mà trong cái tản mạn có trật tự, trong cái tản mạn có văn chương Cấu trúc của tản văn không dựa trên sự tổ chức hệ thống nhân vật hay sự kiện mà chủ yếu thiết

lập mối liên hệ giữa các hình ảnh và sự luận giải hay giãi bày trực tiếp của tác

giả

Tản văn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn chương đương đại, tản văn là một trong những thể loại được nhiều tác giả sáng tác Nó được xem như một thể loại văn chương

được mùa vì đáp ứng được nhu cầu của độc giả Các cuốn tản văn xuất hiện

ngày càng nhiều ở các hiệu sách, thư viện, trang mạng Một số cây bút tên tuổi, thành công ở các thể loại khác nay cũng nhanh chóng bén duyên với tản văn như: Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Quang Thiều, Y Phương, Phan Thị Vàng Anh, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Ngọc

Tư, … Có thể nói, vị trí của tản văn trong đời sống văn học hiện nay ngày càng quan trọng hơn

Văn học là sự phản ánh đời sống xã hội Trong đời sống kinh tế thị trường đua chen, hằng ngày hàng giờ có biết bao sự việc đang diễn ra, có bao bức xúc cần bày tỏ và tất cả đều cần được phản ánh kịp thời Nếu đợi những bộ tiểu thuyết, những truyện dài hơi ra đời để tái hiện toàn bộ bức tranh xã hội đó thì quá lâu, khi đó vấn đề sẽ mất đi tính thời sự Hơn nữa, trong thời buổi hiện đại cái tôi càng ngày càng được coi trọng, trong bất kỳ sản phẩm nào cũng đòi

Trang 27

hỏi phải có dấu ấn, phải có sự khác biệt nên tản văn trở thành không gian lý tưởng nhất để người viết thể hiện cái tôi ở mức độ nổi bật nhất Ngoài ra, tản văn còn đáp ứng được nhu cầu giãi bày tâm tư của người viết Viết tản văn đơn thuần là nói lên nỗi lòng, nói lên suy nghĩ riêng, cảm xúc hoàn toàn không bị kiểm soát bởi văn áp lực của nguyên tắc sáng tác, cũng không bị chi phối bởi thi pháp hay qui định

Về phần độc giả, họ tìm thấy ở tản văn những vấn đề của đời sống và con người đương đại: từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, từ quá khứ đến hiện tại, từ

những khoảnh khắc bất chợt, thoáng chốc đến những vấn đề xa xưa muôn thuở,

từ những sự vật hiện hữu đến những ấn tượng vô hình trong thế giới tâm linh

Thời đại công nghệ thông tin, họ dễ dàng tìm thấy tản văn ở mọi nơi Chính vì

vậy, tản văn ngày càng chiếm được tình cảm độc giả

Từ những đặc trưng của mỗi thể loại, chúng ta có thể thấy truyện ngắn

và tản văn đều là văn xuôi tự sự Chúng đều đem lại cho nền văn học đương đại

Việt Nam ngày càng phong phú đa dạng về thể loại, mở rộng đề tài, nhiều phong cách sáng tác hình thành Tuy nhiên, truyện ngắn là lát cắt của cuộc đời còn tản văn chỉ là lát cắt hết sức nhỏ trong cuộc đời Để có được một truyện ngắn đặc

sắc, người viết phải suy nghĩ, lựa chọn kiểu nhân vật, cốt truyện, tình huống Qua tính cách và hành động, các nhân vật đại diện cho một cách suy nghĩ, xử sự,

một thái độ sống mà tác giả biểu dương hay phê phán Truyện ngắn phản ánh

cuộc sống mới của con người một cách khách quan và nặng về hình thức ghi chép Trong khi đó, tản văn là thể loại gắn chặt vào hiện thực và mang đậm tính

chủ quan trực tiếp của người viết Có những tản văn người viết suy nghĩ rất kỹ,

phải đến độ chín nhất định mới có thể viết ra nhưng cũng có những tản văn được

viết ra rất nhanh, nóng hổi cùng cảm xúc người viết Hơn nữa, tính trữ tình, cảm xúc lại làm nên gia vị, sự linh hoạt, đem lại sự thú vị, cuốn hút cho tản văn Từ

đó, nó có số lượng độc giả đông, một thể loại thân thuộc, dễ đọc, luôn được chào đón và có chỗ đứng trên sách báo

Trang 28

1.2 Giá trị và vị trí của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1 Giá tr ị của truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1.1 Giá tr ị hiện thực

Có rất nhiều nhà văn viết về vùng đất Nam Bộ, mỗi người với một cách

viết khác nhau Nguyễn Ngọc Tư vốn sinh ra và lớn lên ở vùng quê nông thôn tỉnh Cà Mau Nhà văn không xa lạ gì với những chuyện người dân quê hàng ngày phải lặn lội bươn chải kiếm sống trên những dòng sông, cánh đồng… Vì

thế, khi viết văn, nhà văn thường lấy những thực tế được chứng kiến và trải nghiệm làm đề tài cho những sáng tác của mình Từ ngày xưa, vùng đất Tây Nam Bộ là vùng đất hoang sơ, đầy đầm lầy và dã thú, đầy cạm bẫy đối với

người Việt đi khẩn hoang Các hiện tượng thiên tai và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người Hiện tượng

nắng nóng kéo dài và lượng mưa suy giảm khiến tình hình sử dụng nước thêm khó khăn Điều kiện thiếu nước và nhiệt độ cao xảy ra ở một số nơi ngày càng

trầm trọng Để có nước ngọt sử dụng, người dân đã phải xoay sở nhiều cách Mùa khô thường thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt Nước biển xâm nhập sâu, gây nhiễm mặn Mùa lũ gây ngập úng trên diện rộng gây khó khăn cho đời sống dân cư, cơ sở hạ tầng bị nước lũ phá hoại Chính điều kiện khắc nghiệt làm cho

cuộc sống của người dân trở nên khó khăn và vất vả hơn Từ đó, Nguyễn Ngọc

Tư thường hay tái hiện những tình cảnh nghèo khó, khốn cùng của người dân quê thông qua các truyện ngắn và tản văn của mình Tất cả đã phản ánh được

một cách khá chân thực và sinh động Nghèo khổ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra nhiều bi kịch cho con người vùng đồng bằng Nam Bộ Nó làm cho cho những đứa trẻ không được đến trường, người dân nghèo bị đẩy vào bước đường cùng Tệ nạn xã hội phát sinh ngày càng nhiều Để sinh tồn, họ phải lăn lộn, bươn chải quanh năm trên ruộng đồng, sông nước thậm chí những người

phụ nữ phải đánh đổi cả thân xác

Trang 29

Trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh quê hương được tác giả nhìn

với nhiều góc độ khác nhau Vẫn là một vùng quê nghèo, hoang sơ, vùng đất phương Nam xa xôi nhưng nó là nơi tác giả trải qua tuổi thơ cũng như những thăng trầm trong cuộc sống Tản văn thường hoài niệm về ngày tháng đã qua và

lo sợ những giá trị bản sắc văn hóa về một vùng quê bị đánh mất Thế hệ sau này không còn thấy được sự bình lặng của chốn quê cũng như tình quê mộc mạc, quê mùa mà đẫm chất thơ Tuổi thơ đã đi qua thì không bao giờ tìm lại được Con cháu quên nguồn cội bởi đối với chúng hình ảnh quê hương quá nhạt nhòa trong kí ức

Các sáng tác Nguyễn Ngọc Tư không chỉ phản ánh hiện thực nghèo khổ

của người dân mà thông qua đó thể hiện con người với những ước mơ và khát

vọng đời thường, nhỏ nhoi trong cuộc sống Người ta khi nghèo khổ hay bảo nhau: ai giàu ba họ, ai khó ba đời Đó không chỉ là lời để tự an ủi bản thân mà còn là động lực giúp họ vươn lên Họ đem hết hi vọng đặt vào con cái, mong sao chúng không còn cực khổ như họ Khát vọng được đổi đời luôn thôi thúc họ Cũng chính vì vậy, họ mạnh dạn đi tìm phương thức làm ăn Họ xem đó là con đường duy nhất để thoát nghèo Tuy nhiên, mọi cố gắng, nỗ lực của họ không

thể thay đổi được số phận Nghèo khổ vẫn là hiện thực, họ cứ loay hoay tìm kế sinh nhai mà cuộc sống mãi vẫn chưa mỉm cười với họ

Nguyễn Ngọc Tư nhìn hiện thực một cách khách quan Nhà văn miêu tả chân thực sinh động những cảnh đời đau thương Người nông dân xưa nay vốn

sống lặng lẽ, không đua chen nhưng vì tương lai con cháu, họ sẵn sàng đánh cược với số phận, với cuộc đời Nguyễn Ngọc Tư nhận ra điều đó và càng tôn

trọng nhân cách họ hơn

1.2.1.2 Giá tr ị nhân đạo

Giá trị của các sáng tác Nguyễn Ngọc Tư không chỉ nằm ở sự miêu tả

cuộc sống chân thực và sinh động mà còn ở tinh thần nhân đạo sâu sắc chất chứa sau mỗi trang viết Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân

Trang 30

chính Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông, chia sẻ của nhà văn đối với nỗi đau

của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người

và lòng tin vào khả năng vươn dậy của họ

Đến với từng trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, cái buồn man mác lan toả trong từng con chữ Sau khi đọc, chúng ta suy ngẫm và nhận ra nhiều bài học về

cuộc sống Nhà văn đã đi tận cùng trái tim để khám phá và nhận thức giá trị của con người Văn chương vì cuộc đời Cái gì có ở cuộc đời tất có ở văn học và cái

gì có ở văn học thì tất cũng có ngoài cuộc đời

Tư tưởng nhân đạo trong truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư trước

hết được toát lên từ niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh, không được may mắn trong cuộc đời Các nhân vật là những người vô gia cư, những

em bé mồ côi, hay những em bé không hoàn toàn bình thường như bao người hoặc là những cô gái giang hồ phiêu bạt tìm miếng ăn,… Họ cần lắm một tình thương con người, cần lắm một vòng tay che chở hay đơn giản chỉ là một cái nhìn trìu mến, cảm thông của mọi người

Bên cạnh sự cảm thông, chia sẻ đối với những con người bất hạnh, Nguyễn Ngọc Tư còn ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ Một mặt, nhà văn tiếp thu truyền thống của các thế hệ nhà văn trước, mặt khác vì lòng yêu

mến con người Họ có thể là người tốt hoàn toàn cũng có thể là những người bị tha hóa nhưng bằng cách này hay cách khác, nhà văn cũng giúp họ bộc lộ bản

chất lương thiện của họ Hơn thế, nhà văn còn đặt niềm tin, sự trân trọng, nâng niu đối với khát vọng tốt đẹp của những con người bị đày đoạ, đau khổ Nguyễn

Ngọc Tư hiểu họ, nhận thấy mất mát của họ là quá lớn Nhà văn thiết tha đón

nhận những việc làm, thái độ sống tích cực của họ

Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư còn thể

hiện ở chỗ thông qua tác phẩm, nhà văn kêu gọi các cấp, các ngành có những

giải pháp quan tâm đến số phận con người Đất nước được giải phóng, con người sống trong hòa bình, tự do, dân chủ nhưng từ những sáng tác của Nguyễn

Trang 31

Ngọc Tư, đặc biệt là tản văn, câu hỏi được đặt ra là người dân có thật sự được dân chủ hay chưa? Trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhà nước hô hào

lo cho dân, giúp dân để xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp nhưng tại sao lại

có những gia đình phải chạy gạo mỗi ngày Các cấp chính quyền địa phương cần

có sự quan tâm đến đời sống người dân Nhà văn muốn gửi lời đến cơ quan chính quyền cần xem lại chính sách an sinh trong xã hội Có như thế, người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, đất nước ngày một phát triển

1.2.2 V ị trí truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.2.1 V ị trí truyện ngắn và tản văn trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Cà Mau Vì hoàn cảnh gia đình,

việc học hành của Nguyễn Ngọc Tư bị bỏ dở giữa chừng Nhà văn đến với văn chương từ những năm 20 tuổi Bằng những cảm xúc tự nhiên và chân thành,

những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư được đăng trên tạp chí Văn nghệ bán đảo

Cà Mau Sau đó, nhà văn được nhận vào làm văn thư và được học để trở thành phóng viên tại báo văn nghệ bán đảo Cà Mau Đối với Nguyễn Ngọc Tư, cánh

cửa văn chương chính thức được mở ra từ đây Năm 2000, tập truyện ngắn Ngọn

đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư đạt giải trong cuộc thi sáng tác văn học tuổi

20 lần 2 của Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Liền sau đó, các tập truyện

ngắn Ông ngoại, Biển người mênh mông, Giao thừa,…cũng lần lượt ra đời Năm 2005, với tập truyện Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã gặt hái thành công hơn cả sự mong đợi Cánh đồng bất tận ra đời thực sự thu hút rất nhiều

độc giả Không dừng lại ở một thể loại, tác giả thử sức tiếp ở thể loại tản văn Thành công nối tiếp thành công, tản văn của tác giả được đón nhận nồng nhiệt Gia đình, quê hương dường như là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận của Nguyễn

Ngọc Tư Cái tên “Đặc sản miền Nam” đã nói lên tất cả tính cách con người và phong cách văn chương của Nguyễn Ngọc Tư Ở nhà văn hội đủ tất cả những gì giản dị nhất, mộc mạc nhất của người dân Nam Bộ Tuy đề tài trong văn của

Trang 32

Nguyễn Ngọc Tư không có gì mới nhưng tác giả có cách viết làm động lòng người, trong đó không thể không nói đến ngôn ngữ Nam Bộ Tác giả đã sử dụng

nó một cách nhuần nhụy và tự nhiên trong sáng tác của mình

Năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư ra mắt bạn đọc với tiểu thuyết Sông Sông

được đánh giá là tiểu thuyết độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng giàu chất thơ Nhân vật chính là Ân trên hành trình tìm kiếm chính mình Cách viết miêu tả hiện thực xen chút hư ảo giúp tác giả thể hiện những góc khuất trong tâm hồn con người Đây là tác phẩm đánh dấu một bước tiến trong sự nghiệp sáng tác

của Nguyễn Ngọc Tư Năm 2013, tác giả sáng tác tập thơ Chấm Đây là tập thơ

viết theo thể tự do hoà cùng nỗi buồn mênh mang Tác giả mang phong thái khá ung dung khi giãi bày những cảm xúc vừa lạc quan, nữ tính, vừa đầy lo lắng về chuyện làm người Tuy nhiên, đây chưa phải là tập thơ đem đến sự thành công như mong đợi của tác giả lẫn công chúng

Mặc dù Nguyễn Ngọc Tư sáng tác khá nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, thơ, tiểu thuyết,… nhưng truyện ngắn và tản văn mới thực sự là hai thể loại tác giả viết nhiều nhất và thành công nhất Hai thể loại này đã làm nên tên tuổi

của tác giả Nếu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện về những con người, số phận, cảnh đời luôn khiến ta khắc khoải, xót thương thì tản văn của nhà văn lại là những mảnh ghép nhỏ của cảm xúc, đôi khi chỉ thoáng qua, song nó để lại trong ta một sự xúc động rất sâu và dai dẵng Quan trọng

nhất là Nguyễn Ngọc Tư đã nói lên tiếng nói chung về cuộc sống người nông dân nghèo Vấn đề đô thị hoá, kinh tế đi lên nhưng đâu đó vẫn có những cảnh đời khốn khổ Tất cả được thể hiện trong tác phẩm của tác giả thật chân thật, sâu

sắc Với tấm lòng nhân hậu, Nguyễn Ngọc Tư nhìn nhận nét đẹp của những con người chân lấm tay bùn cũng như những nỗi đau của họ Và toát lên từ nhiều tác

phẩm vẫn là niềm tin của nhà văn về một cuộc sống tốt đẹp, con người sống biết yêu thương

Trang 33

1.2.2.2 Vị trí truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn

Viết về đề tài cuộc sống và con người Nam Bộ, bên cạnh các tác giả tên

tuổi như Sơn Nam, Hồ Biểu Chánh thì Nguyễn Ngọc Tư được xem là nhà văn

trẻ gặt hái được nhiều thành công Nhà văn đã đưa truyện ngắn Nam Bộ tiến xa thêm một bước để hội nhập với văn học cả nước Văn học Nam Bộ được nhiều người biết đến Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đạt được nhiều giải thưởng của

Hội nhà văn Việt Nam Hơn thế nữa, với những tác phẩm đặc sắc của mình, tác

giả đã rút ngắn khoảng cách giữa văn học Nam Bộ với văn học của hai miền:

Bắc – Trung Qua đó, độc giả có cái nhìn mới về văn học Nam Bộ

Trong những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, từ ngôn ngữ đến giọng điệu đều mang đậm tính cách người Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư là một trong

những nhà văn sử dụng rất thành công ngôn ngữ Nam Bộ, tạo nên phong cách tác giả không lẫn với ai khác so với cùng thời Với lời ăn tiếng nói hằng ngày

của người Nam Bộ, nhà văn đưa nó vào trong sáng tác thật tự nhiên chứa đựng

sự chân chất, thật thà của người dân địa phương Từ đó, người đọc hiểu về con người và văn hóa nơi đây Có rất nhiều từ ngữ chỉ địa danh, từ xưng hô mới thấy

rằng người Nam Bộ cũng đơn giản như lời ăn tiếng nói của họ Người đọc sẽ

thấy xuất hiện rất nhiều từ ngữ: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông, con đò, ghe

Trang 34

xuồng, chợ nổi… để miêu tả sinh hoạt và đời sống của con người vùng đồng

bằng sông nước Chính vì vậy mà các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư có sức hấp

dẫn, đưa con người đến với văn chương nhiều hơn Sách của tác giả liên tục được tái bản Số lượng tác phẩm tuy không lớn lắm nhưng đã gây được tiếng vang Tác phẩm ra đời được đông đảo độc giả đón nhận, nhà xuất bản, nhà đạo

diễn điện ảnh chú ý Tên tuổi và tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không còn xa lạ

với bạn đọc yêu văn chương

Đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, người ta thấy văn chương không còn cách biệt với hiện thực đời sống hằng ngày Những gì ngoài đời có thì trong văn chương cũng phản ánh và ngược lại, những gì văn chương nói đến thì người đọc đều thấy tồn tại ngoài đời Với cách kể chuyện tự nhiên, truyện về làng quê

với những lo toan lẫn vất vả trong cuộc sống đã để lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc Tuy nhiên, tác phẩm của nhà văn cũng có kẻ khen người chê nhưng

đa số nhận được là lời khen ngợi

Ngoài ra, tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã làm rung động và lay động lòng người Những đề tài nhà văn viết cũng không có gì mới lạ nhưng bằng một năng khiếu vốn có, một lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp, nhà văn đã sáng tạo ra nhưng trang văn đầy sức gợi trong lòng độc giả Từ những hoài niệm về tuổi thơ bình

lặng, quê hương yên bình, nhà văn đưa người đọc trở về sống kí ức xa xưa Mặt khác, trên mảnh đất Nam Bộ bình yên ấy vẫn còn lưu lại bao dấu tích chiến tranh Bên cạnh những con người bình thường, đôn hậu là những con người anh dũng đã ngã xuống để bảo vệ quê hương đất nước Chiến tranh đi qua nhưng nỗi đau người còn lại vẫn chưa nguôi Tiếng than thở xót xa vang vọng vào những trang văn của tác giả Trong hoàn cảnh nào thì thân phận con người cũng thật

nhỏ bé!

Với sức viết khoẻ, thái độ nghiêm túc trong nghề nghiệp và quan trọng

nhất là sự ủng hộ nhiệt tình của người đọc là động lực mạnh mẽ giúp Nguyễn

Ngọc Tư cho ra đời những đứa con tinh thần có giá trị nhất Có thể nói cùng với

Trang 35

những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Trang Thế Hy,… thì một lần

nữa các sáng tác của tác giả đã tạo nên dòng văn học đặc trưng Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư xứng đáng trở thành nhà văn đại diện cho văn chương Nam

Bộ, góp phần làm phong phú cho tiếng nói văn học nước nhà

Ti ểu kết Chương 1

Trong chương một, chúng tôi đã khảo sát khái niệm và một số đặc trưng

cơ bản của truyện ngắn và tản văn Hai thể loại đều thuộc loại hình văn xuôi tự

sự Tuy nhiên, chúng cũng có sự khác biệt Ở truyện ngắn, hiện thực cuộc sống được phản ánh thông qua số phận con người cụ thể Truyện ngắn là thể loại có

cốt truyện, có nhân vật Nó được tác giả viết bằng sự hư cấu Ngược lại, tản văn ghi chép về những con người, những sự việc cụ thể có thực Qua đó tác giả bộc

lộ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình Truyện ngắn và tản văn là hai thể loại đem đến sự thành công cho sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Nếu truyện ngắn là bước khởi đầu thì tản văn được xem như bước phát triển của

cuộc đời cầm bút của tác giả Với cái nhìn tinh tế về hiện thực và tấm lòng nhân đạo, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên nhưng tác phẩm có giá trị trong nền văn học Nam Bộ Tiếp theo, chúng tôi sẽ trình bày truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc

Tư nhìn từ nội dung cảm hứng và nhìn từ phương thức tự sự ở chương 2 và chương 3

Trang 36

Chương 2 TRUYỆN NGẮN VÀ TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1 Khái ni ệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo

2.1.1 Khái niệm cảm hứng

Cảm hứng là hứng thú sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng

Nó là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành tác phẩm, tạo ra

sức mạnh của tác phẩm, đạt đến hiệu ứng thẩm mĩ Mọi tư tưởng, tình cảm, quan

niệm nghệ thuật của nhà văn về một đối tượng nào đó đều dậy lên từ cảm hứng

Cảm hứng càng mãnh liệt, nồng cháy, tác phẩm càng đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật Tất nhiên, nó phải gắn với giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật Một sự nhìn nhận, đánh giá, lí giải sai sự thật hay phản sự thật thì càng không thể là cảm

hứng nghệ thuật Chỉ khi nhà văn phải thật sự xúc động, thật sự ấn tượng cái đối tượng được miêu tả để tạo thành một dòng chảy cảm xúc không thể giữ lại, thôi thúc nhà văn phải nói ra, viết ra Đó còn là nhu cầu chia sẻ và được chia sẻ của nhà văn Khi đó, cảm hứng mới thật sự chân thành, thật sự xúc động, và thật sự neo lại ở người đọc một giá trị đầy ý nghĩa như mong đợi Những trang sách viết

về lịch sử, văn hoá, tình yêu,… có giá trị nghệ thuật, đi vào lòng người đọc vì nó được viết lên từ cảm hứng chứa đầy cảm xúc chân thành, nồng nhiệt của nhà văn, nhà thơ

Cảm hứng được nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm Theo

Trần Đình Sử: “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một

thường” [31, tr.268] Trong khi đó, Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương

Trang 37

trong Lí lu ận văn học, vấn đề và suy nghĩ, nêu khái niệm cảm hứng: “Cảm hứng

tr.208-209]

Cảm hứng không cho phép nhà văn thể hiện cảm xúc một cách bằng

phẳng, nhạt nhẽo Nội dung cảm hứng tư tưởng bao giờ cũng là một tình cảm xã

hội đã được ý thức và chỉ những tư tưởng lành mạnh, tích cực, tiến bộ mới dấy lên được những cảm hứng nghệ thuật đích thực Trong Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên, có viết: “Nội dung tư tưởng tác phẩm văn học không bao

[31, tr.268]

Như vậy, cảm hứng là tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, say đắm, thể hiện tư tưởng, khát vọng chân thành, cháy bỏng của nhà văn về đối tượng hướng đến trong tác phẩm Cảm hứng gắn liền với những với lí tưởng cao đẹp của nhà văn

về con người, cuộc sống Nó khơi thông miền cảm xúc qua mỗi trái tim người đọc, đọng lại một tình cảm sâu xa, khơi thông nguồn trí tuệ, giúp nhận thức đối tượng trên nhiều phương diện, tiếp thêm sức mạnh tinh thần và đưa đến hành

động đúng đắn, đầy nhiệt huyết

2.1.2 Cảm hứng chủ đạo

Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng bao trùm, xuyên suốt một tác phẩm hay toàn bộ sáng tác của tác giả Nói về phương diện này, Hêghen cho rằng: “Cảm

[23, tr.208] Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm

của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả

Mỗi nhà văn đều viết tác phẩm với một hoặc nhiều cảm hứng khác nhau Nhưng vẫn có một cảm hứng chủ đạo xuyên suốt trong quá trình sáng tác Nó

Trang 38

chi phối toàn bộ tác phẩm, từ hình tượng, hoàn cảnh, tình huống đến cả giọng điệu, lời văn,… Điều này tùy thuộc vào nội dung tư tưởng, tình cảm của nhà văn, tùy thuộc vào cá tính sáng tạo nghệ thuật của mỗi người cầm bút Nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội, thực tại của đời sống mà nhà văn đang sống trong đó Cảm hứng chủ đạo thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của tác giả về

những đối tượng cụ thể được nói đến trong tác phẩm Và việc nghiên cứu cảm

hứng chủ đạo giúp ta hiểu được đặc điểm sáng tác của các nhà văn

2.2 N ội dung cảm hứng trong truyện ngắn, tản văn Nguyễn Ngọc Tư

Đối với Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn sáng tác truyện ngắn và tản văn bằng hai cảm hứng chính Đó là cảm hứng thương cảm và cảm hứng phê phán Từ hai nguồn cảm hứng ấy, nhà văn đã viết về tất cả các mặt tốt xấu của cuộc sống,

hiện thực phơi bày như những gì nó vốn có Tuy nhiên, truyện ngắn thiên về

cảm hứng thương cảm còn tản văn lại thiên về cảm hứng phê phán Nguyễn

Ngọc Tư viết về đời sống con người ở nông thôn, thành thị; người nghèo, người giàu,… Nhà văn còn quan tâm đến mối quan hệ giữa người dân và cán bộ Nhà nước Đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, các vấn đề xã hội lần lượt hiện ra

Dù vấn đề ấy lớn hay nhỏ cũng cho thấy những tâm tư, suy nghĩ, trăn trở của nhà văn về cuộc sống và tình người Đa số các truyện ngắn, cảm hứng thương

cảm là cảm hứng chủ đạo Tản văn lại được nhà văn viết bằng cảm hứng phê phán Tuy nhiên, giữa hai cảm hứng này vẫn giao thoa, kết hợp trong cùng một truyện ngắn hay một tản văn

2.2.1 Thương cảm là cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trong gần 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được,

Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém Bên cạnh những toà cao ốc, những ngôi biệt thự đẹp đẽ với đầy đủ tiện nghi thì những ngôi nhà ổ chuột, lụp xụp với

những tấm áo vá rách, những bữa cơm đạm bạc, với những đứa trẻ nghèo mới năm, bảy tuổi đã phải nghỉ học để đi làm kiếm miếng ăn trên đường phố, trên

Trang 39

những bãi biển còn khá nhiều Cuộc sống của không ít người dân đang còn đối

mặt với cái nghèo Họ đang cần đến những con tim biết yêu thương, biết đồng

cảm và sẻ chia Trong văn học đương đại, một trong số tác giả viết về người nông dân và người lao động nghèo hay nhất có thể kể đến Nguyễn Ngọc Tư

Xuất thân từ một vùng quê nghèo nên tác giả thấu hiểu cái nghèo của họ đến

mức độ nào và họ đã sống chung với cái nghèo như thế nào

Ớ một khía cạnh nào đó có thể hiểu thương cảm là biết rung cảm trước

những vui buồn của người khác, hiểu và cảm thông với những gì đang diễn ra xung quanh cuộc đời họ và luôn đặt mình trong hoàn cảnh của người khác để nhìn nhận vấn đề, từ đó thể hiện thái độ quan tâm của mình Lòng thương cảm

tạo nên sự sẻ chia niềm vui, nỗi buồn; sẵn sàng có mặt khi người khác cần mình, không tỏ thái độ vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác cũng như không ganh ghét, đố kị, nhạo báng vinh quang, niềm vui của họ

Một nhà văn Nga đã từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà

là nơi không có tình thương” Có những người luôn hiểu rằng trong cuộc sống

còn có nhiều thứ quý giá hơn tiền bạc – đó là tình yêu thương Nó là một nét đẹp

của nhân cách con người, hướng con người tới đỉnh cao của chân - thiện - mĩ

Nó chính là nguồn gốc tạo nên cảm hứng thương cảm trong truyện ngắn và tản văn Nguyễn Ngọc Tư Và cảm hứng thương cảm chính là cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của nhà văn

2.2.1.1 Hi ện thực nghèo khổ của người nông dân và người dân nghèo thành th ị

Trước Cách mạng tháng Tám, nói đến những tác phẩm văn học viết về người nghèo và người nông dân có thể kể đến các tác giả như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Nam Cao … Cái đói và cái

chết xuất hiện rất nhiều trong nhiều tác phẩm của họ Cái ăn và sự tồn tại là vấn

đề đầu tiên đặt ra khi viết về cái đói Trong thời kì chiến tranh, hiện thực xã hội

vô cùng đen tối Ở đó có bao nhiêu người là nạn nhân của cái đói, cái nghèo

Trang 40

Phần lớn họ đều ở trong tình trạng kiệt quệ Mỗi người một cảnh ngộ, song tất

cả đều rơi vào sự quẫn bách

Trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, cuộc sống tuy không còn đói ăn nhưng cái nghèo và cực khổ của người dân vẫn còn là vấn đề nan giải Không

chỉ người nông dân ở thôn quê mà thành phần lao động nghèo ở thành thị cũng

thế Điều đó được Nguyễn Ngọc Tư thể hiện trong truyện ngắn hay tản văn rất nhiều Thương cảm luôn là cảm hứng chủ đạo trong những sáng tác viết về đề tài này

Đầu tiên phải nói đến Cánh đồng bất tận bởi cái nghèo ở đây rất khắc

nghiệt và nó chính là nguyên nhân làm nên bi kịch cuộc đời các nhân vật Một gia đình tưởng như hạnh phúc trọn vẹn: ngôi nhà nhỏ của vợ chồng Út Vũ cùng hai đứa con Út Vũ là người hết lòng thương vợ, đi làm để lo cuộc sống cho vợ cho con Tuy nhiên, nó tan vỡ vì những vật chất tầm thường Người vợ ngao ngán và thở dài với cái nghèo: “Má tôi thở dài khi ghe cha ghé bến vì biết mai

bông bưởi Lúc ngồi vá những bộ quần áo cũ Mỗi lần ghe vải ghé trước bến,

má cũng thở dài, tay bối rối nắn vào hai túi áo mỏng kẹp lép Thở dài khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo má ơi” [68, tr.171] Chính đồng tiền làm chị

thay đổi, chị đánh đổi những xấp vải bằng cuộc ái ân với người thương lái Để

rồi khi con mình phát hiện, chị tủi nhục và bỏ nhà ra đi Út Vũ trở nên người hận đời, hận tình và vô cảm với tất cả mọi người, kể cả hai đứa con anh Rồi những tháng ngày rong ruổi trên những cánh đồng đầy nắng và gió Độc giả bắt gặp nhiều mảnh đời cơ cực, lầm than, tảo tần sớm hôm mà vẫn không thoát khỏi cái nghèo

Cái nghèo có ở mỗi gia đình, mỗi con người Sương là cô gái giang hồ trôi dạt từ thành thị về nông thôn Để có miếng ăn, cô cũng phải trả giá rất đắt Ngoài ra, người đọc cảm nhận được cái nghèo nơi đây vì những người tìm đến

cô cũng chẳng giàu sang gì “Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đêm

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w