Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ vựng của phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ trên cơ sở so sánh đối chiếu vềtừ vựng ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của chúng trong trường
Trang 1CHƯƠNG I DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt cũng như mọi thứ tiếng khác - là một ngôn ngữ thống nhất, thống nhất trong sự đa dạng “Nó vừa tồn tại dưới dạng là ngôn ngữ văn học rất trau chuốt và tinh tế, vừa được thể hiện dưới dạng các tiếng địa phương đặm sắc màu quê hương của từng vùng” [61,11-12-13 ].Thật khó để mà xác định được cái gì đã làm nên những nét đặc trưng, đặc sắc của các phương ngữ trên lãnh thổ có cùng chung một ngôn ngữ thống nhất Giọng nói quê hương dường như đã vĩnh viễn ăn sâu vào tâm trí, gắn vào máu thịt con người , không dễ gì gột bỏ được Tiếng nói quê hương là cái hồn của quê hương xứ sở Đất nước Việt Nam có rất nhiều phương ngữ hình thành và tồn tại cùng nằm trong một cái nôi chung là tiếng Việt Thật dễ dàng để nhận biết được người nào ở miền nào qua giọng nói, cách nói của họ, bởi ở đo ùđã mang đầy đủ những sắc thái riêng của phương ngữ của họ Nếu mà tinh ý hơn nữa, ta còn có thể phân bịêt được những vùng phương ngữ nhỏ hơn ba vùng phương ngữ lớn là Bắc bộ, Nam bộ và Trung bộ
Được sinh ra và lớn lên trên quê hương Bắc bộ Song, tôi đã chọn Nam bộ là vùng đất quê hương thứ hai của mình bởi tôi đã gắn bó với nó gần nửa cuộc đời Càng ở lâu, tôi càng nhận ra nhiều cái hay, cái lạ, cái mới đẹp của tiếng Nam bộ, tiếng nói “mang nhiều sắc thái riêng của miền đất mới, nhiều màu vẻ phức tạp về địa hình, lại vừa có cái gì mới mẻ lạ lẫm, nhưng cũng vừa có cái gì hết sức thân thuộc như là gốc rễ xa xưa của tổ tiên còn được lưu giữ bảo tồn” [61,11-12-13] Có biết bao nhiêu là từ ngữ của phương ngữ Nam bộ đã đi vào hệ thống chung của ngôn ngữ toàn dân Song, nó vẫn không mất đi cái nét riêng của nó, cái độc đáo của nó, đó là những từ chỉ đồ dùng rất đỗi quen thuộc trong gia
đình như: (áo) bà ba, (quần) xà lỏn… hay các vật dụng làm phương tiện đi lại như :ghe ngo, ghe lườn, tam bản hoặc là những từ gọi tên các sản vật
ở miền Nam như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… “Nó sẽ giữ mãi cái
Trang 2ấn tượng riêng, cái phong vị riêng, và cả màu sắc riêng của chúng y như buổi ban đầu chúng ta được biết đến’’ [61,11-12-13 ]
Từ những ấn tượng đó, đã làm nảy sinh trong tôi ý tưởng nghiên cứu về đề tài phương ngữ Nam bộ Và thế là tôi đã chọn đề tài “So sánh phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương” để làm luận văn tốt nghiệp cao học Đó cũng là mảng đề tài còn đang bị bỏ trống cần phải được đào sâu nghiên cứu Nó rất cần thiết để giúp cho chúng ta hiểu biết thêm về ngôn ngữ, phương ngữ để thuận lợi cho việc giao tiếp giữa các miền, đồng thời tìm hiểu được các cấu tạo ý nghĩa của lớp từ này trong văn hoá-ngôn ngữ Việt Nam
Bài viết này cũng là một chút gì đó mà tôi muốn đóng góp cho quê hương thứ hai của mình, vùng đất được mệnh danh là thành đồng của tổ quốc
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ vựng của phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ trên cơ sở so sánh đối chiếu vềtừ vựng ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của chúng trong trường từ vựng chỉ đồ dùng gia đình và trường từ vựng chỉ sản vật địa phương Nó có ích cho những ai muốn tìm hiểu về tính cách, con người và lời ăn tiếng nói của người dân Nam bộ Luận văn cũng là căn cứ để nhận diện và hiểu được sự khác biệt cũng như tương đồng về nghĩa, cách sử dụng, phạm vi sử dụng ngôn ngữ của từng vùng Ngoài ra, nó còn có ích cho những ai muốn
đi sâu vào nghiên cứu phương ngữ học tiếng Việt nói chung và phương ngữ Nam bộ nói riêng
Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện các vùng phương ngữ của Việt Nam, góp phần vào biên soạn các từ điển từ địa phương, về các hiện tượng ngôn từ khá đa dạng trong giao tiếp của người Việt Nam Luận văn còn phục vụ cho công tác nghiên cứu chuẩn hóa tiếng Việt, giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn tiến hành nhận diện hai lớp từ trên, phân loại chúng theo công dụng, đặc điểm, đối chiếu nghĩa với các từ tương đương của phương
Trang 3ngữ Nam bộ (nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm) và đặc điểm ngữ dụng của từ đó Luận văn cũng tìm hiểu cơ sở đặt tên gọi cũng như các phạm trù ngữ nghĩa như : đa nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa và đặc điểm cấu tạo của lớp từ trên trong phương ngữ Nam bộ
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ
Đối tượng nghiên cứu là các danh từ Đề tài chỉ giới hạn ở việc thống kê, miêu tả, so sánh về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp từ kể trên, lấy xuất phát điểm là phương ngữ Nam bộ để so sánh đối chiếu
Chắc chắn rằng công trình không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này
5 Lịch sử vấn đề
Từ lâu, phương ngữ học là một đối tượng nghiên cứu quan trọng của Việt ngữ học, được nhiều nhà ngữ học Việt Nam và thế giới quan tâm Riêng phương ngữ Nam bộ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tất cả các bình diện khác nhau như: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, từ vựng… như “Từ điển phương ngữ Nam bộ” của tập thể tác giả do Nguyễn Văn Aùi chủ biên (1994) “Những từ gốc Khơ-me trong phương ngữ Nam bộ” của Thái Văn Chải (1986) “Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ Nam bộ” của Cao Xuân Hạo (1998) “Phương ngữ Nam bộ” của Trần Thị Ngọc Lang (1995) “Tự vị tiếng Việt miền Nam” của Vương Hồng Sển (1993) “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc và Nguyễn Như Ý(1958)… Ngoài ra, còn có các công trình tham luận có tính chất so sánh giữa các phương ngữ như của Hoàng Thị Châu với “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, Thompson (1965)… Những công trình nghiên cứu trên hầu như chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề miêu tả một cách cụ thể so sánh đối chiếu phương ngữ Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ về lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương, hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chỉ là lướt qua Vì vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các lớp từ này để chỉ ra được những khác biệt, tương đồng trong phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ
Trang 46 Khái niệm về phương ngữ, từ địa phương và phân vùng phương ngữ
6.1 Phương ngữ.
“Biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội hay về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng địa phương Phương ngữ đựơc chia ra phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định Nó luôn luôn là một bộ phận của một chỉnh thể - một ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong
cơ cấu âm thanh, trong ngữ pháp, trong cấu tạo từ, trong hệ thống từ vựng Những khác biệt này có thể không lớn lắm để cho những người nói các phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn hiểu được nhau Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Những ngôn ngữ của các nhóm xã hội như thế khác với ngôn ngữ toàn dân chỉ ở vốn từ ngữ” [15, 24]
Theo Hoàng Thị Châu trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước” thì:“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” Ngoài ra, còn có cách định nghĩa khác như :“Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đượcsử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một thống ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đựoc coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phưong ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng [48, 275] Từ những định nghĩa trên, ta thấy rằng có nhiều cách thức định nghĩa về phương ngữ khác nhau nhưng không hề có sự mâu thuẫn lẫn nhau Bởi chỉ có cách định nghĩa này khái quát hơn cách định nghĩa kia hay dịnh nghĩa kia cụ thể, chi tiết hơn cách định nghĩa này mà thôi Do đó, chúng ta sử dụng bất cứ định nghĩa nào trong những định nghĩa trên đều có thể được
6.2 Từ địa phương
Trang 5Có rất nhiều định nghĩa về từ địa phương như của Nguyễn Văn Tu, Phạm Văn Hảo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện giáp, Mai Ngọc Chừ,Vũ Đức Nghiệu-Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Như Ýù, Nguyễn Quang Hồng, Trần Thị Ngọc Lang, Trương Văn Sinh… Song, luận văn chỉ chọn ra một vài định nghĩa mà người viết cho là phù hợp nhất
1 Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương [75, 129 ]
2 Từ địa phương làvốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa [84, 29]
3 Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ : diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật v.v… [27, 292-293 ]
Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu từ địa phương là từ của một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó, nó chỉ phổ biến trong phạm vi vùng lãnh thổ của địa phương đó mà thôi
6.3 Phân vùng phương ngữ
Hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự nhất trí với nhau về việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt Một vài ý kiến chia tiếng Việt ra làm hai vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung như học giả H.Maspero Còn M.Gordina và I.S.Bustrôv cũng chia tiếng Việt ra hai vùng phương ngữ, nhưng có thêm một vùng thứ ba có tính cách như một vùng đệm Còn Giáo sư Hoàng Phê thì cũng chỉ công nhận tiếng Việt có hai vùng phương ngữ chủ yếu là phương ngữ Bắc bộ và phương ngữ Nam bộ còn Trung bộ chỉ là chuỗi phương ngữ có tính chuyển tiếp… còn Giáo
sư Nguyễn Kim Thản chia tiếng Việt ra thành bốn vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam, phương ngữ Nam Ngoài ra, còn có ý kiến chia tiếng Việt ra làm năm phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung trên, phương ngữ Trung giữa, phương ngữ Trung dưới và phương ngữ Nam của Nguyễn Bạt Tuỵ Lại có
ý kiến cho rằng không thể phân chia tiếng Việt ra thành vùng phương ngữ
Trang 6vì nó chỉ có trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia, mà phương ngữ của các thành phố lớn như Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể xem là tiêu biểu
Luận văn chọn cách phân vùng theo ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu là phân chia tiếng Việt ra làm ba vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam bởi nó không chỉ phù hợp với quan miệm trong dân gian mà nó còn dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghiã Ý kiến này được chấp nhận bởi các học giả như: Hoàng Thị Châu, Trần Thị Ngọc Lang và một số học giả khác
7 Phương pháp nghiên cứu.
Đây là một công trình nghiên cứu về từ địa phương nên luận văn chủ yếu áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu So sánh đối chiếu chủ yếu giữa từ địa phương Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ dựa trên sự thu thập, thống kê những từ địa phương chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương trong các từ điển: Từ điển tiếng Việt, từ điển so sánh đối chiếu từ địa phương, từ điển phương ngữ Nam bộ
Phương pháp điền dã cũng là một phương pháp được áp dụng khi cần thiết trong lúc làm đề tài thông qua sự khảo sát một số đối tượng có độ tuổi từ 50 trơ ûlên Cách làm chủ yếu là lắng nghe, ghi chép, ghi âm, thăm dò, hỏi han
Ngoài ra, tư liệu còn được thu thập từ một số sách báo, truyện ngắn… đểso sánh đối chiếu , phân tích
Luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa: Phân tích các thành tố nghĩa của từ dựa trên cơ sở chính là các thành tố nghĩa được ghi trong các từ điển tường giải Đôi khi , cũng dựa vào sự hiểu biết của cá nhân khi từ vựng ấy lâm thời mang nghĩa khác để làm cơ sở so sánh đối chiếu giữa các từ với nhau Dựa vào nghĩa của các thành tố cấu tạo mà tìm hiểu cơ sở đặt tên gọi của hai lớp từ trên (Có so sánh với
cơ sở đặt tên gọi của phương ngữ Bắc bộ).Trên cơ sở các khái niệm đại cương về từ đa nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa tiến hành nghiên cứu các hiện tượng ngữ nghĩa Đặt các từ vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp để xác định đặc điểm của hai lớp từ trên
Trang 78 Bố cục luận văn
CHƯƠNG 1: DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
5 Lịch sử vấn đề
6 Khái niệm về phương ngữ, từ địa phương, phân vùng phương ngữ 6.1 Phương ngữ
6.2 Từ địa phương
6.3 Phân vùng phương ngữ
7 Phương pháp ngiên cứu
8 Bố cục luận văn
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG PNNB (SO VỚI PNBB)
1 Đơn vị cấu tạo từ
1.2 Từ trong tiếng Việt
1.2 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt
2 Phân loại từ trong tiếng Việt
3.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình
3.2 Từ chỉ sản vật địa phương
4 Đặc điểm cấu tạo của từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam Bộ(có so sánh đối chiếu với phương ngữ Nam bộ)
Trang 84.1 Cấu trúc Danh-Danh
4.2 Cấu trúc Danh-Động
4.3 Cấu trúc Danh-Tính
4.4 Cấu trúc Danh- Số
CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI VÀ ĐỐI CHIẾU LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG THEO PHẠM VI BIỂU VẬT
1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
1.1 Khái niệm về lớp từ chỉ đồ dùng gia dình
1.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ đồ dùng gia dình
2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương
2.1 Khái niệm về lớp từ chỉ sản vật địa phương
2.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ sản vật địa phương
CHƯƠNG 4: PHÂN BIỆT NGHĨA (BIỂU VẬT, BIỂU NIỆM) CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG GIỮA PNNB VÀ PNBB
1 Các khái niệm
1.1 Nghĩa của từ
1.2 Nghĩa biểu vật
1.3 Nghĩa biểu niệm
2 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB và PNBB trùng nhau
2.1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
2.2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương
3 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB rộng hơn nghĩa biểu vật của từ trong PNBB
3.1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
3.2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương
4 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB hẹp hơn nghĩa biểu vật của từ trong PNBB
Trang 9CHƯƠNG 5: CƠ SỞ ĐẶT TÊN GỌI, CÁC PHẠM TRÙ NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG (CÓ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ)
1 Cơ sở đặt tên gọi
1.1 Cơ sở đặt tên gọi của lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
1.2 Cơ sở đặt tên gọi của lớp từ chỉ sản vật địa phương
2 Các phạm trù ngữ nghĩa
2.1 Đa nghĩa
2.1.1 Khái niệm từ đa nghĩa
2.1.2 Từ đa nghĩa trong PNNB
2.1.3 Các từ đa nghĩa trong PNNB
2.2 Đồng âm
2.2.1 Khái niệm từ đồng âm
2.2.2 Đồng âm trong nội bộ PNNB
2.2.3 Đồng âm giữa PNNB với PNBB
2.3 Đồng nghĩa
2.3.1 Khái niệm từ đồng nghĩa
2.3.2 Đồng nghĩa trong nội bộ PNNB
2.3.3 Đồng nghĩa giữa PNNB với PNBB
2.4 Trái nghĩa
2.4.1 Khái niệm từ trái nghĩa
2.4.2 Trái nghĩa trong PNNB
2 Đặc điểm sử dụng
Trang 10CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN
Trang 11CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG PNNB (CÓ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI PNBB)
1 Đơn vị cấu tạo từ
1.1 Từ trong tiếng Việt.
Dường như đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Song, vấn đề nhận diện và định nghĩa từ lại là rất khó Theo F De Saussure thì “Từ là đơn vị luôn luôn phản ánh tư tưởng chúng
ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ Ngay cả trong tiếng Việt, vấn đề xác định bản chất của từ vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [12, 21] Còn theo Mai Ngọc Chừ -Vũ Đức Nghiệu- Hoàng Trọng Phiến thì “Từ là đơn
vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để cấu tạo câu” [18, 170 ] Hay theo Nguyễn Tài Cẩn “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu, nhưng không phải bất kỳ một từ nào cũng là một đơn vị tế bào của cú pháp” [7, 326]
1.2 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt
Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm chung về cấu tạo của từ tiếng Việt là :
– Cơ sở vật chất để cấu tạo từ tiếng Việt là các hình vị, chủ yếu là hình vị thực, mọi hình vị trong tiếng Việt đều không biến hình
Trang 12– Hình vị tiếng Việt có tính đơn tiết mỗi tiếng trong tiếng Việt, đứng về mặt ngữ âm, chính là một âm tiết, về mặt ngữ pháp, chính là một hìhh vị Tiếâng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ phân tiết tính
Phương thức ghép là phương thức tạo từ chủ yếu của tiếng Việt hiện đại, xuất hiện hiện tượng chuyển dần giữa từ ghép với cụm từ tự do Nói cách khác là từ hình thức của cụm từ chuyển thành hình thức của từ ghép hoặc từ hình thức của từ ghép là sự rút gọn của hình thức cụm từ
Khả năng chuyển loại từ trong tiếng Việt bao gồm sự chuyển loại bên trong và chuyển loại bên ngoài, diễn ra khá mạnh mẽ
2 Phân loại từ trong tiếng Việt
Dựa theo những đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt, có thể phân từ tiếng Việt ra làm hai loại: Từ đơn và từ ghép
2.2.1 Từ ghép đẳng lập:
“Là từ ghép, trong đó các thành tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ bình đẳng về ý nghĩa, còn gọi là từ ghép láy nghĩa, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép liên hợp, t ừ ghép kết hợp, từ ghép song song Các thành tố trong từ ghép đẳng lập bao giờ cũng phải đồng loại với nhau, nghĩa là
Trang 13thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa và phải đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với nhau Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp và trừu tượng” [75, 52] Ví dụ như: quần áo, nhà cửa…
2.2.2 Từ ghép chính phụ
“Từ ghép gồm hai thành tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, trong đó có một thành tố làm nòng cốt, là thành tố chính và một thành tố khác ghép thêm vào làm thành tố phụ; còn gọi là từ ghép phụ thuộc, từ ghép phụ nghĩa, từ ghép phân nghĩa, từ ghép bổ nghĩa, từ ghép bổ sung Các thành tố trong từ ghép chính phụ thường không cùng loại, có tính chất khác nhau, được sắp xếp theo trật tự cố định, trong đó các thành tố chính đặt trước , thành tố phụ đặt sau hoặc ngược lại Thành tố chính phải là thành tố có ý nghĩa từ vựng, có thể mất ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa từ vựng của từ ghép chính phụ do thành tố chính quyết định, thành tố phụ có vai trò bổ sung, phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính.Ví dụ: Sân bay, cỏ ga,ø đường sắt…”[75, 48] “Từ ghép chính phụ là từ ghép mà quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận cấu tạo của nó về thực chất là quan hệ chính phụ” [46, 300]
Từ những khái niệm cơ bản trên, ta có thể phân loại một cách dễ dàng lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương trong phương ngữ Nam bộ cũng như đặc điểm cấu tạo của nó
2 Đặc điểm cấu tạo của từ đơn trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ (có so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ)
Đây là những từ chỉ có một yếu tố chính duy nhất mà không đi kèm yếu tố phụ Vậy cho nên, yếu tố này hiển nhiên thuộc từ loại danh từ
1.2 Từ chỉ đồ dùng gia đình
Trang 14Bội bu/ lồng
Trang 15Khóm/ thơm/ tho dứa
Từ một số ví dụ được liệt kê trên, ta nhận thấy rằng có những đối tượng trong phương ngữ Nam bộ chỉ dùng một từ để định danh nhưng trong phương ngữ Bắc bộ lại sử dụng nhiều từ để định danh Tương tự như vậy, đôi khi trong phương ngữ Bắc bộ chỉ có môït từ để định danh nhưng trong phương ngữ Nam bộ lại có khá nhiều từ để định danh nó Như vậy không có sự tương ứng một đối một giữa phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ
4 Đặc điểm cấu tạo của từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ (so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ )
Từ khái niêm từ ghép, từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập ở mục 2.2; 2.2.1; 2.2.2 đã nêu, có thể khẳng định là từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ không có tiểu loại từ ghép đẳng lập mà chỉ có tiểu loại từ ghép chính phụ mà thôi Ở tiểu loại này, chỉ có trật tự là yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau và được phân ra thành những mẫu cấu tạo sau:
4.1 Cấu trúc :Danh-Danh (sự vật – sự vật)
Vớøi cấu trúc này, yếu tố chính chỉ tổng loại, yếu tố phụ phân biệt loại và là yếu tố chỉ sự vật
4.1.2 Từ chỉ đồ dùng gia đình
Chổi cây chổi dừa/ chổi tre/ chổi cau
Chổi chà chỗi sể/ chỗi rễ
Chổi lông gà chổi phất trần
Trang 16Dây lưng dải rút/ dây rút
4.1.2 Từ chỉ sản vật địa phương
Bánh ổ
Bánh quai chèo/ bánh neo quẩy ngọt
Bầu ngựa/ bầu ve/ bầu cổ chai bầu dài
Khoai mì/ khoai báng củ sắn
Trang 17(gói): yếu tố phụ phân biệt bằng cách chỉ loại sự vật Song ,(bao) tay thì
yếu tố phụ lại phân biệt loại bằng cách chỉ vị trí sử dụng của vật dụng
(dùng để bao ở trên tay) Hay như yếu tố phụ phân biệt loại trong (dây)
lưng chỉ vị trí sử dụng của vật dụng, còn yếu tố phụ trong(dây) chì lại chỉ
loại sự vật bởi chất liệu làm nên vật dụng Một số vật dụng khác nhau
như (lược) ngà;(lược) cây ;(lược) mủ hay (đũa) cây ;(đũa) ngà thì yếu tố
phụ phân biệt loại đều dựa trên chất liệu làm nên vật dụng
Đối với những từ chỉ sản vật địa phương như các loại bánh, có một số loại bánh được đặt trên theo hình dáng của một số sự vật khác như
bánh sùng (bánh tằm): bánh có hình dáng của con sùng Bánh quai chèo (quẩy ngọt) có hình dáng giống như cái quai chèo thuyền; bánh vòng là
loại bánh được nắn hình vòng tròn Bên cạnh đó, có loại bánh lại được
đặt tên theo nguyên liệu làm ra nó như bánh chuối làm bằng chuối chín+ bột; bánh dừa được làm bằng nguyên liệu dừa và cả chất liệu để gói
bánh cũng bằng lá dừa non
4.2 Cấu trúc Danh-Động (sự vật- hành động )
Trong cấu trúc này yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại của sự vật,
yếu tố phụ phân biệt loại sự vật là một động từ
4.2.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình
Trang 18Giấy chặm giấy thấm
4.2.2 Từ chỉ sản vật địa phương
Bánh lọt
Bánh nhúng
Bánh phồng
Bánh tráng nhúng bánh đa nem
Từ mẫu cấu tạo này ta thấy đối với tên các loại dao thì yếu tố phụ
là động từ phân loại vật dụng bằng công dụng của sự vật:(dao) chặt;(dao)
thái ;(dao) cạo ;(dao) xắt;(dao) chẻ… Song,(dao) xếp lại được đặt tên theo
trạng thái sử dụng, cách thức sử dụng của đồ dùng (lưỡi có thể xếp vào, gập vào chuôi dao được) Hay như yếu tố phụ dùng để phân biệt loại
trong (ống) nhòm là phân loại dựa theo công dụng, thế nhưng yếu tố phụ trong (ống ) ngoáy lại được phân loại với các tổng loại khác bằng hoạt
động của người sử dụng trong lúc sử dụng đồ dùng đó Hoặc là yếu tố
phụ phân loại trong (dây) thắng; (dây) nịt là phân biệt loại theo công
Trang 19dụng , nhưng (dây) thun lại phân biệt loại theo đặc tính co giãn của vật
dụng
Về từ chỉ tên các sản vật địa phương như tên một số loại bánh, yếu
tố phụ phân loại bánh cũng dựa vào những đặc điểm khác nhau: (bánh)
xèo; (bánh) khọt được đặt tên dựa vào tiếng động (tiếng kêu) khi đổ bánh
vào khuôn; nhưng (bánh) phồng thì lại gọi tên theo đặc tính phồng lên sau khi nướng bánh; còn (bánh) tráng thì được phân biệt loại bởi hoạt động của người làm bánh; hay (bánh) kẹp được gọi tên vừa dựa vào hoạt động
của người làm bánh, vừa dựa vào vật dụng để đổ bánh (khuôn kẹp)
4.3 Cấu trúc Danh-Tính (sự vật- tính chất).
Ở cấu trúc này, yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại sự vật, yếu tố phụ phân loại sự vật là tính từ chỉ tính chất, đặc điểm, màu sắc của sự vật
4.3.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình
Máy lạnh máy điều hoà (nhiệt độ)
Quần cụt/ (quần) xà lỏn quần đùi
4.3.2 Từ chỉ sản vật địa phương
Trang 20Bưởi hồng bưởi đào
Từ những ví dụ trên, ta thấy đặc điểm của mẫu cấu tạo này hết sức
đa dạng, rất nhiều loại rau quả mà yếu tố phụ phân biệt loại dựa vào màu sắc như vàng, hường, đỏ xanh, đen, trắng… Còn đối với vật dụng thì yếu tố phụ chỉ màu sắc là khá ít Ởû cả từ chỉ sản vật và từ chỉ vật dụng đều có
những yếu tố phụ chỉ hình thể như (giấy) nhám;(đá) nhám, (đục) vũm;
(cam) nhẵn ;(cam) sần Riêng ở từ chỉ sản vật địa phương có hàng loạt
yếu tố phụ phân loại sự vật bằng thuộc tính hương vị như: (xoài) thơm;
(gạo) thơm Hay yếu tố phụ phân biệt loại được đặt tên theo thuộc tính về
vị: (cải) ngọt; (cải) chua;(rau) đắng; (bột) ngọt)… Thêm nữa, người Nam
bộ có cách gọi khá thú vị là khi đã thành món ăn rồi nhưng vẫn gọi theo
cách như chưa thành món ăn: cải chua (dưa muối)
Tóm lại, có khá nhiều cách phân loại sự vật theo mẫu cấu tạo Danh- Tính bằng sự tri nhận rất khác của người Nam bộ
4.4 Cấu trúc Danh-Số (sự vật-số từ)
Trang 21Với cấu trúc này, yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại sự vật, yếu tố phụ phân loại sự vật là số từ
4.4.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình
Với cách đặt tên như trên, thật dễ dàng nhận diện ra được có sự so
sánh giữa hai sự vật trong lúc gọi tên Yếu tố phụ trong (giường) một;
(giưiờng) hai; (gối) một; (gối) hai; (chiếu) một; (chiếu) hai có hàm ý phân
biệt giữa vật lớn hơn và vật nhỏ hơn theo độ lớn của số đếm Song, ở
(nồi) hai; (nồi) ba thì lại khác, lúc này sự so sánh đã đảo ngược lại, nó
được sắp xếp theo thứ tự số đứng trước lớn hơn số đứng sau giống như
cách xếp hạng Còn be chín là loại xuồng được làm bằng chín miếng ván ghép lại, be tám được làm bằng tám miếng ván ghép lại với nhau Trong
quá trình thu thập tư liệu tôi nhận thấy rằng trong phương ngữ Nam bộ không có cấu trúc danh-số từ chỉ sản vật địa phương Và so với các cấu trúc khác, cấu trúc này cũng có số lượng khá khiêm tốn
Trang 22CHƯƠNG 3
PHÂN LOẠI VÀ ĐỐI CHIẾU LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG THEO PHẠM VI BIỂU VẬT
1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
1.1 Khái niệm về lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
Theo “Từ điển tiếng Việt” [51, 333] thì: “Đồ dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày” Như vậy lớp từ chỉ đồ dùng gia đình PNNB là tập hợp những từ chỉ vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày trong gia đình trong phương ngữ Nam bộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu lớp từ này với phương ngữ Bắc bộ
1.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ đồ dùng gia đình
1.2.1 Lớp từ chỉ đồ dùng để đội trên đầu, che nắng, che mưa
PNNB PNBB
Nón bánh tiêu mũ nồi/ bê- rê
Nón thể thao nón thể dục
1.2.2 Lớp từ chỉ đồ dùng mặt trên người
1.2.2.1 Các từ chỉ các loại áo
PNNB PNBB
Trang 23Aùo nhỏ/ nịt vú/ vú chẻng/ nệtvú/ áo ngực xu chiêng
Aùo bà ba
Aùo lá/ áo thun lá/ áo cánh áo lót nữ
Aùo vá quàng
Aùo lai ngang/ áo trôn ngang áo vạt ngang
Aùo lai bầu/ áo trôn bầu áo vạt bầu
Aùo ngắn tay áo cộc tay/ áo cụt tay
Aùo ôm/ áo thun ôm áo bó/ áo thun bó
1.2.2.2 Các từ chỉ các loại quần
PNNB PNBB
Quần mỏ đuối/ quần lá men
Quần thể thao quần thể dục
Quần sịp nữ/ quần nhỏ/ quần lót quần xi líp
Xà lỏn/ quần tiều quần đùi/ quần cụt/ quần ống ngắn
1.2.3 Lớp từ chỉ đồ dùng mang ở chân, tay
PNNB PNBB
Trang 24Dép mủ dép nhựa
Guốc vông/ guốc tre guốc
Guốc gộc/ guốc cây guốc gỗ
Bao tay tất tay/ găng tay/ bít tất tay
1.2.4 Lớp từ chỉ đồ dùng quấn cổ, chít đầu, cài trên đầu
PNNB PNBB
Khăn đóng/ khăn đống khăn xếp
Khăn chít xéo nhọn khăn mỏ quạ
1.2.5 Lớp từ chỉ đồ dùng đeo ở mắt
PNNB PNBB
Kiếng (đeo mắt) kính (đeo mắt)
Kiếng trắng/ kiếng mát kính trắng
Kiếng thuốc Kính cận/ kính viễn/ kính loạn
1.2.6 Lớp từ chỉ đồ trang sức
PNNB PNBB
Neo
Trang 25Kiềng vòng đeo cổ
1.2.7 Lớp từ chỉ đồ dùng chải tóc
PNNB PNBB
1.2.8 Lớp từ chỉ đồ dùng che miệng, chắn bụi
PNNB PNBB
Khăn bịt miệng/ khăn che miệng khẩu trang
1.2.9 Lớp từ chỉ đồ dùng vệ sinh răng
Kem chải răng thuốc đánh răng/ kem đánh răng
1.2.10 Lớp từ chỉ đồ dùng lau mặt, rửa mặt, tắm rửa
PNNB PNBB
Khăn bàn lông khăn lông/ khăn mặt/ khăn tắm
1.2.11 Lớp từ chỉ đồ dùng cắt móng tay/ chân, da tay/ chân
PNNB PNBB
1.2.12 Lớp từ chỉ đồ dùng thắt giữ lưng quần
PNNB PNBB
Dây nịt dây da/ thắt lưng/ dây lưng
Trang 26Dây thun dây chun
1.2.13 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng chất lỏng, nấu nước, uống nước
PNNB PNBB
Chung/ ngao chén nhỏ/ chén hạt mít
Aám nhỏ (có quai) chuyên
Nhạo
Chai bố/ chai lớn chai lít
Trang 271.2.14 Lớp từ chỉ các loại nồi
PNNB PNBB
Nồi hai/ nồi ba nồi lớn
Nồi hông/ nồi hấp chõ
Nồi hơi/ nồi hầm nồi áp suất
1.2.15 Các từ chỉ các loại chảo
PNNB PNBB
Quáng/ sạng chảo/ sảo lật thức ăn
Quánh
1.2.16 Các từ chỉ đồ dùng gắp, múc, đựng bảo vệ thức ăn
PNNB PNBB
Đũa bếp/ đũa nấu đũa cả
Đũa cây đũa gỗ/ đũa tre/ đũa dừa
Tiềm
Trang 28Dĩa đĩa
Gào mên/ gào mèn/ gà men cạp lồng
Cà ràng kiềng/ bếp lò bằng đất nung Sóng (chén) chạn (để bát)
1.2.17 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng lương thực
Bao bố/ bao tời/ bố tời bao tải
Bao bàng/ bao lác/ cà ròn bao cói
Bao sác rắn túi sợi ni -lông
Trang 29Dao trành/ trành bằm dao cùn
Phảng giò nai
Phảng cổ mộ lôi
Phảng cổ mộ vấp
Phảng cổ cò
1.2.19 Lớp từ chỉ các loại dây dùng buộc treo đồ dùng
PNNB PNBB
Trang 30Dây sên dây xích
Dây luột/ dây choại dây thừng
Dây nhợ/ nhợ dây nhỏ và dài
Dây tời/ dây dịu dây dọi
Óng
Kim gút / kim cúc kim găm
Nút bấp/ nút bóp cúc bấp/ cúc bóp
1.2.21 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng đồ cá nhân (tiền, giấy tờ, quần áo)
Trang 31Giỏ đeo (vải) túi dết
Giỏ sách lớn túi du lịch
1.2.22 Lớp từ chỉ đồ dùng thắp sáng
PNNB PNBB
Hộp quẹt/ quẹt máy/ ống quẹt cái bật lửa
Đèn trứng vịt đèn con/ đèn hoa kỳ
Chóa đèn chụp đèn/ bóng đèn/ chao đèn
1.2.23 Lớp từ chỉ đồ dùng để vỡ đất, trồng cây
PNNB PNBB
Trang 32Cuốc bè cuốc bướm
Bồ cào cái cào cỏ/ cái cào đất
1.2.24 Lớp từ chỉ đồ dùng để cúng bái, thờ tự
PNNB PNBB
Bát nhang/ lư nhang bát hương
Dĩa bàn thang đĩa đựng đồ cúng
Cà tăng/ tấm tăng tấm cót
Rèm cửa/ riềm cửa màn cửa/ màn gió
Vách bổ kho/ bổ kho
1.2.26 Lớp từ chỉ đồ dùng để hút thuốc, ăn trầu
PNNB PNBB
Vố/ ống vố/ ống cối tẩu thuốc
Trang 33Ống đót ống píp
Chuồng đan (lưới,gỗ) rọ
1.2.28 Lớp từ chỉ đồ dùng nằm nghỉ, ngủ
PNNB PNBB
Giường tre/ bộ vạc chõng tre
Bộ ngựa / ván ngựa/ bộ ván bộ phản/ sập
Trang 34Gối ôm gối cuộn
1.2.30 Lớp từ chỉ đồ dùng ngồi chơi, ngồi làm việc, ngồi ăn
PNNB PNBB
Ghế đôn/ ghế đơn
Bàn viết bàn giấy/ bàn làm việc
1.2.31 Lớp từ chỉ đồ dùng để viết, vẽ, xóa, gạch
PNNB PNBB
Giấy kiếng giấy bóng/ giấy kính
Giấy nhựt trình giấy báo
Viết mực/ viết sắt bút mực/ bút sắt
Trang 35Gôm hòn tẩy
1.2.32 Lớp từ chỉ đồ dùng giải trí
1.2.33 Lớp từ chỉ đồ dùng để sửa chữa vật dụng trong gia đình
Trang 36Cưa liếu
Cưa lá liễu
1.2.34 Lớp từ chỉ đồ dùng để vệ sinh nhà cửa
PNNB PNBB
Chổi lông gà chổi phất trần
Chổi cây chổi dừa/ chổi tre/ chổi cau
1.2.35 Lớp từ chỉ đồ dùng múc nước
PNNB PNBB
Gàu xà nách
1.2.36 Lớp từ chỉ đồ dùng bắt, đựng (tôm, cá, cua, ếch …)
PNNB PNBB
Sáo
Trang 37Xế điếc/ xế câm xe đạp
1.2.38 Lớp từ chỉ đồ dùng liên quan đến xe cộ
PNNB PNBB
Ốc chuồn chuồn tai hồng xe đạp
Đạn/ bạc đạn bi/ vòng bi
Trang 381.2.39 Lớp từ chỉ đồ dùng làm phương tiện đi dưới nước
PNNB PNBB
Ghe
Ghe mỏ vạch
Ghe bản lồng/ bản lồng
Ghe chài / ghe tải
Ghe chài lớn
Vải bô/ vải sồ vải thô/ vải xấu
Vải san đầm
Trang 39Vải xá xị vải trắng và láng
1.2.41 Lớp từ chỉ tên các chất nhờn dùng để thắp đèn, chạy máy…
PNNB PNBB
1.2.42 Các từ chỉ tên các loại tiền (thời Pháp thuộc)
Giấy xăng tờ giấy bạc một trăm đồng
2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương
2.1 Khái niệm về lớp từ chỉ sản vật địa phương
Theo “từ diển tiếng Việt” [ 51,845] thì: “Sản vật là vật được làm ra hoặc được khai thác, thu nhặt từ trong thiên nhiên” Như vậy, lớp từ chỉ sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ là tập hợp những tư øchỉ vật được làm ra hoặc khai thác, thu nhặt từ trong thiên nhiên trong phương ngữ Nam bộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ
2.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ sản vật địa phương
Trang 40Nếp ngỗng nếp vàng / nếp hương
Bắp nếp / bắp bún ngô nếp
Bắp đá / bắp ngựa ngô tẻ
Bắp mọi
2.2.2 Lớp từ chỉ các loại đậu / đỗ
PNNB PNBB
Đậu phụng/ đậu phộng lạc
Đậu Hà Lan
2.2.3 Lớp từ chỉ các loại khoai, củ
PNNB PNBB
Củ nầng/ củ nừng
Củ nén/ nén
Khoai môn vàng khoai sáp