1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ nghĩa và cấu tạo các từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương nam bộ đối chiếu với các từ địa phương bắc bộ

147 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngữ nghĩa và cấu tạo các từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương Nam Bộ đối chiếu với các từ địa phương Bắc Bộ
Trường học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ vựng của phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ trên cơ sở so sánh đối chiếu vềtừ vựng ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của chúng trong trường

Trang 1

CHƯƠNG I DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt cũng như mọi thứ tiếng khác - là một ngôn ngữ thống nhất, thống nhất trong sự đa dạng “Nó vừa tồn tại dưới dạng là ngôn ngữ văn học rất trau chuốt và tinh tế, vừa được thể hiện dưới dạng các tiếng địa phương đặm sắc màu quê hương của từng vùng” [61,11-12-13 ].Thật khó để mà xác định được cái gì đã làm nên những nét đặc trưng, đặc sắc của các phương ngữ trên lãnh thổ có cùng chung một ngôn ngữ thống nhất Giọng nói quê hương dường như đã vĩnh viễn ăn sâu vào tâm trí, gắn vào máu thịt con người , không dễ gì gột bỏ được Tiếng nói quê hương là cái hồn của quê hương xứ sở Đất nước Việt Nam có rất nhiều phương ngữ hình thành và tồn tại cùng nằm trong một cái nôi chung là tiếng Việt Thật dễ dàng để nhận biết được người nào ở miền nào qua giọng nói, cách nói của họ, bởi ở đo ùđã mang đầy đủ những sắc thái riêng của phương ngữ của họ Nếu mà tinh ý hơn nữa, ta còn có thể phân bịêt được những vùng phương ngữ nhỏ hơn ba vùng phương ngữ lớn là Bắc bộ, Nam bộ và Trung bộ

Được sinh ra và lớn lên trên quê hương Bắc bộ Song, tôi đã chọn Nam bộ là vùng đất quê hương thứ hai của mình bởi tôi đã gắn bó với nó gần nửa cuộc đời Càng ở lâu, tôi càng nhận ra nhiều cái hay, cái lạ, cái mới đẹp của tiếng Nam bộ, tiếng nói “mang nhiều sắc thái riêng của miền đất mới, nhiều màu vẻ phức tạp về địa hình, lại vừa có cái gì mới mẻ lạ lẫm, nhưng cũng vừa có cái gì hết sức thân thuộc như là gốc rễ xa xưa của tổ tiên còn được lưu giữ bảo tồn” [61,11-12-13] Có biết bao nhiêu là từ ngữ của phương ngữ Nam bộ đã đi vào hệ thống chung của ngôn ngữ toàn dân Song, nó vẫn không mất đi cái nét riêng của nó, cái độc đáo của nó, đó là những từ chỉ đồ dùng rất đỗi quen thuộc trong gia

đình như: (áo) bà ba, (quần) xà lỏn… hay các vật dụng làm phương tiện đi lại như :ghe ngo, ghe lườn, tam bản hoặc là những từ gọi tên các sản vật

ở miền Nam như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt… “Nó sẽ giữ mãi cái

Trang 2

ấn tượng riêng, cái phong vị riêng, và cả màu sắc riêng của chúng y như buổi ban đầu chúng ta được biết đến’’ [61,11-12-13 ]

Từ những ấn tượng đó, đã làm nảy sinh trong tôi ý tưởng nghiên cứu về đề tài phương ngữ Nam bộ Và thế là tôi đã chọn đề tài “So sánh phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương” để làm luận văn tốt nghiệp cao học Đó cũng là mảng đề tài còn đang bị bỏ trống cần phải được đào sâu nghiên cứu Nó rất cần thiết để giúp cho chúng ta hiểu biết thêm về ngôn ngữ, phương ngữ để thuận lợi cho việc giao tiếp giữa các miền, đồng thời tìm hiểu được các cấu tạo ý nghĩa của lớp từ này trong văn hoá-ngôn ngữ Việt Nam

Bài viết này cũng là một chút gì đó mà tôi muốn đóng góp cho quê hương thứ hai của mình, vùng đất được mệnh danh là thành đồng của tổ quốc

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu lớp từ vựng của phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ trên cơ sở so sánh đối chiếu vềtừ vựng ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của chúng trong trường từ vựng chỉ đồ dùng gia đình và trường từ vựng chỉ sản vật địa phương Nó có ích cho những ai muốn tìm hiểu về tính cách, con người và lời ăn tiếng nói của người dân Nam bộ Luận văn cũng là căn cứ để nhận diện và hiểu được sự khác biệt cũng như tương đồng về nghĩa, cách sử dụng, phạm vi sử dụng ngôn ngữ của từng vùng Ngoài ra, nó còn có ích cho những ai muốn

đi sâu vào nghiên cứu phương ngữ học tiếng Việt nói chung và phương ngữ Nam bộ nói riêng

Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện các vùng phương ngữ của Việt Nam, góp phần vào biên soạn các từ điển từ địa phương, về các hiện tượng ngôn từ khá đa dạng trong giao tiếp của người Việt Nam Luận văn còn phục vụ cho công tác nghiên cứu chuẩn hóa tiếng Việt, giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông cũng như giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn tiến hành nhận diện hai lớp từ trên, phân loại chúng theo công dụng, đặc điểm, đối chiếu nghĩa với các từ tương đương của phương

Trang 3

ngữ Nam bộ (nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm) và đặc điểm ngữ dụng của từ đó Luận văn cũng tìm hiểu cơ sở đặt tên gọi cũng như các phạm trù ngữ nghĩa như : đa nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa và đặc điểm cấu tạo của lớp từ trên trong phương ngữ Nam bộ

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ

Đối tượng nghiên cứu là các danh từ Đề tài chỉ giới hạn ở việc thống kê, miêu tả, so sánh về đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp từ kể trên, lấy xuất phát điểm là phương ngữ Nam bộ để so sánh đối chiếu

Chắc chắn rằng công trình không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này

5 Lịch sử vấn đề

Từ lâu, phương ngữ học là một đối tượng nghiên cứu quan trọng của Việt ngữ học, được nhiều nhà ngữ học Việt Nam và thế giới quan tâm Riêng phương ngữ Nam bộ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tất cả các bình diện khác nhau như: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, từ vựng… như “Từ điển phương ngữ Nam bộ” của tập thể tác giả do Nguyễn Văn Aùi chủ biên (1994) “Những từ gốc Khơ-me trong phương ngữ Nam bộ” của Thái Văn Chải (1986) “Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ Nam bộ” của Cao Xuân Hạo (1998) “Phương ngữ Nam bộ” của Trần Thị Ngọc Lang (1995) “Tự vị tiếng Việt miền Nam” của Vương Hồng Sển (1993) “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc và Nguyễn Như Ý(1958)… Ngoài ra, còn có các công trình tham luận có tính chất so sánh giữa các phương ngữ như của Hoàng Thị Châu với “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, Thompson (1965)… Những công trình nghiên cứu trên hầu như chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề miêu tả một cách cụ thể so sánh đối chiếu phương ngữ Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ về lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương, hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chỉ là lướt qua Vì vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các lớp từ này để chỉ ra được những khác biệt, tương đồng trong phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ

Trang 4

6 Khái niệm về phương ngữ, từ địa phương và phân vùng phương ngữ

6.1 Phương ngữ.

“Biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội hay về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng địa phương Phương ngữ đựơc chia ra phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định Nó luôn luôn là một bộ phận của một chỉnh thể - một ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong

cơ cấu âm thanh, trong ngữ pháp, trong cấu tạo từ, trong hệ thống từ vựng Những khác biệt này có thể không lớn lắm để cho những người nói các phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn hiểu được nhau Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Những ngôn ngữ của các nhóm xã hội như thế khác với ngôn ngữ toàn dân chỉ ở vốn từ ngữ” [15, 24]

Theo Hoàng Thị Châu trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước” thì:“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” Ngoài ra, còn có cách định nghĩa khác như :“Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đượcsử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một thống ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đựoc coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phưong ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng [48, 275] Từ những định nghĩa trên, ta thấy rằng có nhiều cách thức định nghĩa về phương ngữ khác nhau nhưng không hề có sự mâu thuẫn lẫn nhau Bởi chỉ có cách định nghĩa này khái quát hơn cách định nghĩa kia hay dịnh nghĩa kia cụ thể, chi tiết hơn cách định nghĩa này mà thôi Do đó, chúng ta sử dụng bất cứ định nghĩa nào trong những định nghĩa trên đều có thể được

6.2 Từ địa phương

Trang 5

Có rất nhiều định nghĩa về từ địa phương như của Nguyễn Văn Tu, Phạm Văn Hảo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện giáp, Mai Ngọc Chừ,Vũ Đức Nghiệu-Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Như Ýù, Nguyễn Quang Hồng, Trần Thị Ngọc Lang, Trương Văn Sinh… Song, luận văn chỉ chọn ra một vài định nghĩa mà người viết cho là phù hợp nhất

1 Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương [75, 129 ]

2 Từ địa phương làvốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa [84, 29]

3 Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ : diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật v.v… [27, 292-293 ]

Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu từ địa phương là từ của một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó, nó chỉ phổ biến trong phạm vi vùng lãnh thổ của địa phương đó mà thôi

6.3 Phân vùng phương ngữ

Hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự nhất trí với nhau về việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt Một vài ý kiến chia tiếng Việt ra làm hai vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung như học giả H.Maspero Còn M.Gordina và I.S.Bustrôv cũng chia tiếng Việt ra hai vùng phương ngữ, nhưng có thêm một vùng thứ ba có tính cách như một vùng đệm Còn Giáo sư Hoàng Phê thì cũng chỉ công nhận tiếng Việt có hai vùng phương ngữ chủ yếu là phương ngữ Bắc bộ và phương ngữ Nam bộ còn Trung bộ chỉ là chuỗi phương ngữ có tính chuyển tiếp… còn Giáo

sư Nguyễn Kim Thản chia tiếng Việt ra thành bốn vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam, phương ngữ Nam Ngoài ra, còn có ý kiến chia tiếng Việt ra làm năm phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung trên, phương ngữ Trung giữa, phương ngữ Trung dưới và phương ngữ Nam của Nguyễn Bạt Tuỵ Lại có

ý kiến cho rằng không thể phân chia tiếng Việt ra thành vùng phương ngữ

Trang 6

vì nó chỉ có trạng thái chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia, mà phương ngữ của các thành phố lớn như Hà Nội, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể xem là tiêu biểu

Luận văn chọn cách phân vùng theo ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu là phân chia tiếng Việt ra làm ba vùng phương ngữ: Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam bởi nó không chỉ phù hợp với quan miệm trong dân gian mà nó còn dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghiã Ý kiến này được chấp nhận bởi các học giả như: Hoàng Thị Châu, Trần Thị Ngọc Lang và một số học giả khác

7 Phương pháp nghiên cứu.

Đây là một công trình nghiên cứu về từ địa phương nên luận văn chủ yếu áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu So sánh đối chiếu chủ yếu giữa từ địa phương Nam bộ với phương ngữ Bắc bộ dựa trên sự thu thập, thống kê những từ địa phương chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương trong các từ điển: Từ điển tiếng Việt, từ điển so sánh đối chiếu từ địa phương, từ điển phương ngữ Nam bộ

Phương pháp điền dã cũng là một phương pháp được áp dụng khi cần thiết trong lúc làm đề tài thông qua sự khảo sát một số đối tượng có độ tuổi từ 50 trơ ûlên Cách làm chủ yếu là lắng nghe, ghi chép, ghi âm, thăm dò, hỏi han

Ngoài ra, tư liệu còn được thu thập từ một số sách báo, truyện ngắn… đểso sánh đối chiếu , phân tích

Luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa: Phân tích các thành tố nghĩa của từ dựa trên cơ sở chính là các thành tố nghĩa được ghi trong các từ điển tường giải Đôi khi , cũng dựa vào sự hiểu biết của cá nhân khi từ vựng ấy lâm thời mang nghĩa khác để làm cơ sở so sánh đối chiếu giữa các từ với nhau Dựa vào nghĩa của các thành tố cấu tạo mà tìm hiểu cơ sở đặt tên gọi của hai lớp từ trên (Có so sánh với

cơ sở đặt tên gọi của phương ngữ Bắc bộ).Trên cơ sở các khái niệm đại cương về từ đa nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa tiến hành nghiên cứu các hiện tượng ngữ nghĩa Đặt các từ vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp để xác định đặc điểm của hai lớp từ trên

Trang 7

8 Bố cục luận văn

CHƯƠNG 1: DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

4.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

5 Lịch sử vấn đề

6 Khái niệm về phương ngữ, từ địa phương, phân vùng phương ngữ 6.1 Phương ngữ

6.2 Từ địa phương

6.3 Phân vùng phương ngữ

7 Phương pháp ngiên cứu

8 Bố cục luận văn

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG PNNB (SO VỚI PNBB)

1 Đơn vị cấu tạo từ

1.2 Từ trong tiếng Việt

1.2 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt

2 Phân loại từ trong tiếng Việt

3.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình

3.2 Từ chỉ sản vật địa phương

4 Đặc điểm cấu tạo của từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam Bộ(có so sánh đối chiếu với phương ngữ Nam bộ)

Trang 8

4.1 Cấu trúc Danh-Danh

4.2 Cấu trúc Danh-Động

4.3 Cấu trúc Danh-Tính

4.4 Cấu trúc Danh- Số

CHƯƠNG 3: PHÂN LOẠI VÀ ĐỐI CHIẾU LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG THEO PHẠM VI BIỂU VẬT

1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

1.1 Khái niệm về lớp từ chỉ đồ dùng gia dình

1.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ đồ dùng gia dình

2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương

2.1 Khái niệm về lớp từ chỉ sản vật địa phương

2.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ sản vật địa phương

CHƯƠNG 4: PHÂN BIỆT NGHĨA (BIỂU VẬT, BIỂU NIỆM) CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG GIỮA PNNB VÀ PNBB

1 Các khái niệm

1.1 Nghĩa của từ

1.2 Nghĩa biểu vật

1.3 Nghĩa biểu niệm

2 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB và PNBB trùng nhau

2.1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

2.2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương

3 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB rộng hơn nghĩa biểu vật của từ trong PNBB

3.1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

3.2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương

4 Nghĩa biểu vật của từ trong PNNB hẹp hơn nghĩa biểu vật của từ trong PNBB

Trang 9

CHƯƠNG 5: CƠ SỞ ĐẶT TÊN GỌI, CÁC PHẠM TRÙ NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG (CÓ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ)

1 Cơ sở đặt tên gọi

1.1 Cơ sở đặt tên gọi của lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

1.2 Cơ sở đặt tên gọi của lớp từ chỉ sản vật địa phương

2 Các phạm trù ngữ nghĩa

2.1 Đa nghĩa

2.1.1 Khái niệm từ đa nghĩa

2.1.2 Từ đa nghĩa trong PNNB

2.1.3 Các từ đa nghĩa trong PNNB

2.2 Đồng âm

2.2.1 Khái niệm từ đồng âm

2.2.2 Đồng âm trong nội bộ PNNB

2.2.3 Đồng âm giữa PNNB với PNBB

2.3 Đồng nghĩa

2.3.1 Khái niệm từ đồng nghĩa

2.3.2 Đồng nghĩa trong nội bộ PNNB

2.3.3 Đồng nghĩa giữa PNNB với PNBB

2.4 Trái nghĩa

2.4.1 Khái niệm từ trái nghĩa

2.4.2 Trái nghĩa trong PNNB

2 Đặc điểm sử dụng

Trang 10

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN

Trang 11

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG PNNB (CÓ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI PNBB)

1 Đơn vị cấu tạo từ

1.1 Từ trong tiếng Việt.

Dường như đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Song, vấn đề nhận diện và định nghĩa từ lại là rất khó Theo F De Saussure thì “Từ là đơn vị luôn luôn phản ánh tư tưởng chúng

ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ Ngay cả trong tiếng Việt, vấn đề xác định bản chất của từ vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Theo Đỗ Hữu Châu “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [12, 21] Còn theo Mai Ngọc Chừ -Vũ Đức Nghiệu- Hoàng Trọng Phiến thì “Từ là đơn

vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để cấu tạo câu” [18, 170 ] Hay theo Nguyễn Tài Cẩn “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu, nhưng không phải bất kỳ một từ nào cũng là một đơn vị tế bào của cú pháp” [7, 326]

1.2 Đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt

Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm chung về cấu tạo của từ tiếng Việt là :

– Cơ sở vật chất để cấu tạo từ tiếng Việt là các hình vị, chủ yếu là hình vị thực, mọi hình vị trong tiếng Việt đều không biến hình

Trang 12

– Hình vị tiếng Việt có tính đơn tiết mỗi tiếng trong tiếng Việt, đứng về mặt ngữ âm, chính là một âm tiết, về mặt ngữ pháp, chính là một hìhh vị Tiếâng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ phân tiết tính

Phương thức ghép là phương thức tạo từ chủ yếu của tiếng Việt hiện đại, xuất hiện hiện tượng chuyển dần giữa từ ghép với cụm từ tự do Nói cách khác là từ hình thức của cụm từ chuyển thành hình thức của từ ghép hoặc từ hình thức của từ ghép là sự rút gọn của hình thức cụm từ

Khả năng chuyển loại từ trong tiếng Việt bao gồm sự chuyển loại bên trong và chuyển loại bên ngoài, diễn ra khá mạnh mẽ

2 Phân loại từ trong tiếng Việt

Dựa theo những đặc điểm cấu tạo từ trong tiếng Việt, có thể phân từ tiếng Việt ra làm hai loại: Từ đơn và từ ghép

2.2.1 Từ ghép đẳng lập:

“Là từ ghép, trong đó các thành tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ bình đẳng về ý nghĩa, còn gọi là từ ghép láy nghĩa, từ ghép hợp nghĩa, từ ghép liên hợp, t ừ ghép kết hợp, từ ghép song song Các thành tố trong từ ghép đẳng lập bao giờ cũng phải đồng loại với nhau, nghĩa là

Trang 13

thuộc cùng một phạm trù ngữ nghĩa và phải đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với nhau Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp và trừu tượng” [75, 52] Ví dụ như: quần áo, nhà cửa…

2.2.2 Từ ghép chính phụ

“Từ ghép gồm hai thành tố trực tiếp kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ, trong đó có một thành tố làm nòng cốt, là thành tố chính và một thành tố khác ghép thêm vào làm thành tố phụ; còn gọi là từ ghép phụ thuộc, từ ghép phụ nghĩa, từ ghép phân nghĩa, từ ghép bổ nghĩa, từ ghép bổ sung Các thành tố trong từ ghép chính phụ thường không cùng loại, có tính chất khác nhau, được sắp xếp theo trật tự cố định, trong đó các thành tố chính đặt trước , thành tố phụ đặt sau hoặc ngược lại Thành tố chính phải là thành tố có ý nghĩa từ vựng, có thể mất ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa từ vựng của từ ghép chính phụ do thành tố chính quyết định, thành tố phụ có vai trò bổ sung, phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính.Ví dụ: Sân bay, cỏ ga,ø đường sắt…”[75, 48] “Từ ghép chính phụ là từ ghép mà quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận cấu tạo của nó về thực chất là quan hệ chính phụ” [46, 300]

Từ những khái niệm cơ bản trên, ta có thể phân loại một cách dễ dàng lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương trong phương ngữ Nam bộ cũng như đặc điểm cấu tạo của nó

2 Đặc điểm cấu tạo của từ đơn trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ (có so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ)

Đây là những từ chỉ có một yếu tố chính duy nhất mà không đi kèm yếu tố phụ Vậy cho nên, yếu tố này hiển nhiên thuộc từ loại danh từ

1.2 Từ chỉ đồ dùng gia đình

Trang 14

Bội bu/ lồng

Trang 15

Khóm/ thơm/ tho dứa

Từ một số ví dụ được liệt kê trên, ta nhận thấy rằng có những đối tượng trong phương ngữ Nam bộ chỉ dùng một từ để định danh nhưng trong phương ngữ Bắc bộ lại sử dụng nhiều từ để định danh Tương tự như vậy, đôi khi trong phương ngữ Bắc bộ chỉ có môït từ để định danh nhưng trong phương ngữ Nam bộ lại có khá nhiều từ để định danh nó Như vậy không có sự tương ứng một đối một giữa phương ngữ Nam bộ và phương ngữ Bắc bộ

4 Đặc điểm cấu tạo của từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ (so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ )

Từ khái niêm từ ghép, từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập ở mục 2.2; 2.2.1; 2.2.2 đã nêu, có thể khẳng định là từ ghép trong lớp từ chỉ đồ dùng gia đình và sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ không có tiểu loại từ ghép đẳng lập mà chỉ có tiểu loại từ ghép chính phụ mà thôi Ở tiểu loại này, chỉ có trật tự là yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau và được phân ra thành những mẫu cấu tạo sau:

4.1 Cấu trúc :Danh-Danh (sự vật – sự vật)

Vớøi cấu trúc này, yếu tố chính chỉ tổng loại, yếu tố phụ phân biệt loại và là yếu tố chỉ sự vật

4.1.2 Từ chỉ đồ dùng gia đình

Chổi cây chổi dừa/ chổi tre/ chổi cau

Chổi chà chỗi sể/ chỗi rễ

Chổi lông gà chổi phất trần

Trang 16

Dây lưng dải rút/ dây rút

4.1.2 Từ chỉ sản vật địa phương

Bánh ổ

Bánh quai chèo/ bánh neo quẩy ngọt

Bầu ngựa/ bầu ve/ bầu cổ chai bầu dài

Khoai mì/ khoai báng củ sắn

Trang 17

(gói): yếu tố phụ phân biệt bằng cách chỉ loại sự vật Song ,(bao) tay thì

yếu tố phụ lại phân biệt loại bằng cách chỉ vị trí sử dụng của vật dụng

(dùng để bao ở trên tay) Hay như yếu tố phụ phân biệt loại trong (dây)

lưng chỉ vị trí sử dụng của vật dụng, còn yếu tố phụ trong(dây) chì lại chỉ

loại sự vật bởi chất liệu làm nên vật dụng Một số vật dụng khác nhau

như (lược) ngà;(lược) cây ;(lược) mủ hay (đũa) cây ;(đũa) ngà thì yếu tố

phụ phân biệt loại đều dựa trên chất liệu làm nên vật dụng

Đối với những từ chỉ sản vật địa phương như các loại bánh, có một số loại bánh được đặt trên theo hình dáng của một số sự vật khác như

bánh sùng (bánh tằm): bánh có hình dáng của con sùng Bánh quai chèo (quẩy ngọt) có hình dáng giống như cái quai chèo thuyền; bánh vòng là

loại bánh được nắn hình vòng tròn Bên cạnh đó, có loại bánh lại được

đặt tên theo nguyên liệu làm ra nó như bánh chuối làm bằng chuối chín+ bột; bánh dừa được làm bằng nguyên liệu dừa và cả chất liệu để gói

bánh cũng bằng lá dừa non

4.2 Cấu trúc Danh-Động (sự vật- hành động )

Trong cấu trúc này yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại của sự vật,

yếu tố phụ phân biệt loại sự vật là một động từ

4.2.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình

Trang 18

Giấy chặm giấy thấm

4.2.2 Từ chỉ sản vật địa phương

Bánh lọt

Bánh nhúng

Bánh phồng

Bánh tráng nhúng bánh đa nem

Từ mẫu cấu tạo này ta thấy đối với tên các loại dao thì yếu tố phụ

là động từ phân loại vật dụng bằng công dụng của sự vật:(dao) chặt;(dao)

thái ;(dao) cạo ;(dao) xắt;(dao) chẻ… Song,(dao) xếp lại được đặt tên theo

trạng thái sử dụng, cách thức sử dụng của đồ dùng (lưỡi có thể xếp vào, gập vào chuôi dao được) Hay như yếu tố phụ dùng để phân biệt loại

trong (ống) nhòm là phân loại dựa theo công dụng, thế nhưng yếu tố phụ trong (ống ) ngoáy lại được phân loại với các tổng loại khác bằng hoạt

động của người sử dụng trong lúc sử dụng đồ dùng đó Hoặc là yếu tố

phụ phân loại trong (dây) thắng; (dây) nịt là phân biệt loại theo công

Trang 19

dụng , nhưng (dây) thun lại phân biệt loại theo đặc tính co giãn của vật

dụng

Về từ chỉ tên các sản vật địa phương như tên một số loại bánh, yếu

tố phụ phân loại bánh cũng dựa vào những đặc điểm khác nhau: (bánh)

xèo; (bánh) khọt được đặt tên dựa vào tiếng động (tiếng kêu) khi đổ bánh

vào khuôn; nhưng (bánh) phồng thì lại gọi tên theo đặc tính phồng lên sau khi nướng bánh; còn (bánh) tráng thì được phân biệt loại bởi hoạt động của người làm bánh; hay (bánh) kẹp được gọi tên vừa dựa vào hoạt động

của người làm bánh, vừa dựa vào vật dụng để đổ bánh (khuôn kẹp)

4.3 Cấu trúc Danh-Tính (sự vật- tính chất).

Ở cấu trúc này, yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại sự vật, yếu tố phụ phân loại sự vật là tính từ chỉ tính chất, đặc điểm, màu sắc của sự vật

4.3.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình

Máy lạnh máy điều hoà (nhiệt độ)

Quần cụt/ (quần) xà lỏn quần đùi

4.3.2 Từ chỉ sản vật địa phương

Trang 20

Bưởi hồng bưởi đào

Từ những ví dụ trên, ta thấy đặc điểm của mẫu cấu tạo này hết sức

đa dạng, rất nhiều loại rau quả mà yếu tố phụ phân biệt loại dựa vào màu sắc như vàng, hường, đỏ xanh, đen, trắng… Còn đối với vật dụng thì yếu tố phụ chỉ màu sắc là khá ít Ởû cả từ chỉ sản vật và từ chỉ vật dụng đều có

những yếu tố phụ chỉ hình thể như (giấy) nhám;(đá) nhám, (đục) vũm;

(cam) nhẵn ;(cam) sần Riêng ở từ chỉ sản vật địa phương có hàng loạt

yếu tố phụ phân loại sự vật bằng thuộc tính hương vị như: (xoài) thơm;

(gạo) thơm Hay yếu tố phụ phân biệt loại được đặt tên theo thuộc tính về

vị: (cải) ngọt; (cải) chua;(rau) đắng; (bột) ngọt)… Thêm nữa, người Nam

bộ có cách gọi khá thú vị là khi đã thành món ăn rồi nhưng vẫn gọi theo

cách như chưa thành món ăn: cải chua (dưa muối)

Tóm lại, có khá nhiều cách phân loại sự vật theo mẫu cấu tạo Danh- Tính bằng sự tri nhận rất khác của người Nam bộ

4.4 Cấu trúc Danh-Số (sự vật-số từ)

Trang 21

Với cấu trúc này, yếu tố chính là danh từ chỉ tổng loại sự vật, yếu tố phụ phân loại sự vật là số từ

4.4.1 Từ chỉ đồ dùng gia đình

Với cách đặt tên như trên, thật dễ dàng nhận diện ra được có sự so

sánh giữa hai sự vật trong lúc gọi tên Yếu tố phụ trong (giường) một;

(giưiờng) hai; (gối) một; (gối) hai; (chiếu) một; (chiếu) hai có hàm ý phân

biệt giữa vật lớn hơn và vật nhỏ hơn theo độ lớn của số đếm Song, ở

(nồi) hai; (nồi) ba thì lại khác, lúc này sự so sánh đã đảo ngược lại, nó

được sắp xếp theo thứ tự số đứng trước lớn hơn số đứng sau giống như

cách xếp hạng Còn be chín là loại xuồng được làm bằng chín miếng ván ghép lại, be tám được làm bằng tám miếng ván ghép lại với nhau Trong

quá trình thu thập tư liệu tôi nhận thấy rằng trong phương ngữ Nam bộ không có cấu trúc danh-số từ chỉ sản vật địa phương Và so với các cấu trúc khác, cấu trúc này cũng có số lượng khá khiêm tốn

Trang 22

CHƯƠNG 3

PHÂN LOẠI VÀ ĐỐI CHIẾU LỚP TỪ CHỈ ĐỒ DÙNG GIA ĐÌNH VÀ SẢN VẬT ĐỊA PHƯƠNG THEO PHẠM VI BIỂU VẬT

1 Lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

1.1 Khái niệm về lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

Theo “Từ điển tiếng Việt” [51, 333] thì: “Đồ dùng là vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày” Như vậy lớp từ chỉ đồ dùng gia đình PNNB là tập hợp những từ chỉ vật do con người tạo ra để dùng trong sinh hoạt, trong hoạt động hằng ngày trong gia đình trong phương ngữ Nam bộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu lớp từ này với phương ngữ Bắc bộ

1.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ đồ dùng gia đình

1.2.1 Lớp từ chỉ đồ dùng để đội trên đầu, che nắng, che mưa

PNNB PNBB

Nón bánh tiêu mũ nồi/ bê- rê

Nón thể thao nón thể dục

1.2.2 Lớp từ chỉ đồ dùng mặt trên người

1.2.2.1 Các từ chỉ các loại áo

PNNB PNBB

Trang 23

Aùo nhỏ/ nịt vú/ vú chẻng/ nệtvú/ áo ngực xu chiêng

Aùo bà ba

Aùo lá/ áo thun lá/ áo cánh áo lót nữ

Aùo vá quàng

Aùo lai ngang/ áo trôn ngang áo vạt ngang

Aùo lai bầu/ áo trôn bầu áo vạt bầu

Aùo ngắn tay áo cộc tay/ áo cụt tay

Aùo ôm/ áo thun ôm áo bó/ áo thun bó

1.2.2.2 Các từ chỉ các loại quần

PNNB PNBB

Quần mỏ đuối/ quần lá men

Quần thể thao quần thể dục

Quần sịp nữ/ quần nhỏ/ quần lót quần xi líp

Xà lỏn/ quần tiều quần đùi/ quần cụt/ quần ống ngắn

1.2.3 Lớp từ chỉ đồ dùng mang ở chân, tay

PNNB PNBB

Trang 24

Dép mủ dép nhựa

Guốc vông/ guốc tre guốc

Guốc gộc/ guốc cây guốc gỗ

Bao tay tất tay/ găng tay/ bít tất tay

1.2.4 Lớp từ chỉ đồ dùng quấn cổ, chít đầu, cài trên đầu

PNNB PNBB

Khăn đóng/ khăn đống khăn xếp

Khăn chít xéo nhọn khăn mỏ quạ

1.2.5 Lớp từ chỉ đồ dùng đeo ở mắt

PNNB PNBB

Kiếng (đeo mắt) kính (đeo mắt)

Kiếng trắng/ kiếng mát kính trắng

Kiếng thuốc Kính cận/ kính viễn/ kính loạn

1.2.6 Lớp từ chỉ đồ trang sức

PNNB PNBB

Neo

Trang 25

Kiềng vòng đeo cổ

1.2.7 Lớp từ chỉ đồ dùng chải tóc

PNNB PNBB

1.2.8 Lớp từ chỉ đồ dùng che miệng, chắn bụi

PNNB PNBB

Khăn bịt miệng/ khăn che miệng khẩu trang

1.2.9 Lớp từ chỉ đồ dùng vệ sinh răng

Kem chải răng thuốc đánh răng/ kem đánh răng

1.2.10 Lớp từ chỉ đồ dùng lau mặt, rửa mặt, tắm rửa

PNNB PNBB

Khăn bàn lông khăn lông/ khăn mặt/ khăn tắm

1.2.11 Lớp từ chỉ đồ dùng cắt móng tay/ chân, da tay/ chân

PNNB PNBB

1.2.12 Lớp từ chỉ đồ dùng thắt giữ lưng quần

PNNB PNBB

Dây nịt dây da/ thắt lưng/ dây lưng

Trang 26

Dây thun dây chun

1.2.13 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng chất lỏng, nấu nước, uống nước

PNNB PNBB

Chung/ ngao chén nhỏ/ chén hạt mít

Aám nhỏ (có quai) chuyên

Nhạo

Chai bố/ chai lớn chai lít

Trang 27

1.2.14 Lớp từ chỉ các loại nồi

PNNB PNBB

Nồi hai/ nồi ba nồi lớn

Nồi hông/ nồi hấp chõ

Nồi hơi/ nồi hầm nồi áp suất

1.2.15 Các từ chỉ các loại chảo

PNNB PNBB

Quáng/ sạng chảo/ sảo lật thức ăn

Quánh

1.2.16 Các từ chỉ đồ dùng gắp, múc, đựng bảo vệ thức ăn

PNNB PNBB

Đũa bếp/ đũa nấu đũa cả

Đũa cây đũa gỗ/ đũa tre/ đũa dừa

Tiềm

Trang 28

Dĩa đĩa

Gào mên/ gào mèn/ gà men cạp lồng

Cà ràng kiềng/ bếp lò bằng đất nung Sóng (chén) chạn (để bát)

1.2.17 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng lương thực

Bao bố/ bao tời/ bố tời bao tải

Bao bàng/ bao lác/ cà ròn bao cói

Bao sác rắn túi sợi ni -lông

Trang 29

Dao trành/ trành bằm dao cùn

Phảng giò nai

Phảng cổ mộ lôi

Phảng cổ mộ vấp

Phảng cổ cò

1.2.19 Lớp từ chỉ các loại dây dùng buộc treo đồ dùng

PNNB PNBB

Trang 30

Dây sên dây xích

Dây luột/ dây choại dây thừng

Dây nhợ/ nhợ dây nhỏ và dài

Dây tời/ dây dịu dây dọi

Óng

Kim gút / kim cúc kim găm

Nút bấp/ nút bóp cúc bấp/ cúc bóp

1.2.21 Lớp từ chỉ đồ dùng đựng đồ cá nhân (tiền, giấy tờ, quần áo)

Trang 31

Giỏ đeo (vải) túi dết

Giỏ sách lớn túi du lịch

1.2.22 Lớp từ chỉ đồ dùng thắp sáng

PNNB PNBB

Hộp quẹt/ quẹt máy/ ống quẹt cái bật lửa

Đèn trứng vịt đèn con/ đèn hoa kỳ

Chóa đèn chụp đèn/ bóng đèn/ chao đèn

1.2.23 Lớp từ chỉ đồ dùng để vỡ đất, trồng cây

PNNB PNBB

Trang 32

Cuốc bè cuốc bướm

Bồ cào cái cào cỏ/ cái cào đất

1.2.24 Lớp từ chỉ đồ dùng để cúng bái, thờ tự

PNNB PNBB

Bát nhang/ lư nhang bát hương

Dĩa bàn thang đĩa đựng đồ cúng

Cà tăng/ tấm tăng tấm cót

Rèm cửa/ riềm cửa màn cửa/ màn gió

Vách bổ kho/ bổ kho

1.2.26 Lớp từ chỉ đồ dùng để hút thuốc, ăn trầu

PNNB PNBB

Vố/ ống vố/ ống cối tẩu thuốc

Trang 33

Ống đót ống píp

Chuồng đan (lưới,gỗ) rọ

1.2.28 Lớp từ chỉ đồ dùng nằm nghỉ, ngủ

PNNB PNBB

Giường tre/ bộ vạc chõng tre

Bộ ngựa / ván ngựa/ bộ ván bộ phản/ sập

Trang 34

Gối ôm gối cuộn

1.2.30 Lớp từ chỉ đồ dùng ngồi chơi, ngồi làm việc, ngồi ăn

PNNB PNBB

Ghế đôn/ ghế đơn

Bàn viết bàn giấy/ bàn làm việc

1.2.31 Lớp từ chỉ đồ dùng để viết, vẽ, xóa, gạch

PNNB PNBB

Giấy kiếng giấy bóng/ giấy kính

Giấy nhựt trình giấy báo

Viết mực/ viết sắt bút mực/ bút sắt

Trang 35

Gôm hòn tẩy

1.2.32 Lớp từ chỉ đồ dùng giải trí

1.2.33 Lớp từ chỉ đồ dùng để sửa chữa vật dụng trong gia đình

Trang 36

Cưa liếu

Cưa lá liễu

1.2.34 Lớp từ chỉ đồ dùng để vệ sinh nhà cửa

PNNB PNBB

Chổi lông gà chổi phất trần

Chổi cây chổi dừa/ chổi tre/ chổi cau

1.2.35 Lớp từ chỉ đồ dùng múc nước

PNNB PNBB

Gàu xà nách

1.2.36 Lớp từ chỉ đồ dùng bắt, đựng (tôm, cá, cua, ếch …)

PNNB PNBB

Sáo

Trang 37

Xế điếc/ xế câm xe đạp

1.2.38 Lớp từ chỉ đồ dùng liên quan đến xe cộ

PNNB PNBB

Ốc chuồn chuồn tai hồng xe đạp

Đạn/ bạc đạn bi/ vòng bi

Trang 38

1.2.39 Lớp từ chỉ đồ dùng làm phương tiện đi dưới nước

PNNB PNBB

Ghe

Ghe mỏ vạch

Ghe bản lồng/ bản lồng

Ghe chài / ghe tải

Ghe chài lớn

Vải bô/ vải sồ vải thô/ vải xấu

Vải san đầm

Trang 39

Vải xá xị vải trắng và láng

1.2.41 Lớp từ chỉ tên các chất nhờn dùng để thắp đèn, chạy máy…

PNNB PNBB

1.2.42 Các từ chỉ tên các loại tiền (thời Pháp thuộc)

Giấy xăng tờ giấy bạc một trăm đồng

2 Lớp từ chỉ sản vật địa phương

2.1 Khái niệm về lớp từ chỉ sản vật địa phương

Theo “từ diển tiếng Việt” [ 51,845] thì: “Sản vật là vật được làm ra hoặc được khai thác, thu nhặt từ trong thiên nhiên” Như vậy, lớp từ chỉ sản vật địa phương phương ngữ Nam bộ là tập hợp những tư øchỉ vật được làm ra hoặc khai thác, thu nhặt từ trong thiên nhiên trong phương ngữ Nam bộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu với phương ngữ Bắc bộ

2.2 Phân loại và đối chiếu lớp từ chỉ sản vật địa phương

Trang 40

Nếp ngỗng nếp vàng / nếp hương

Bắp nếp / bắp bún ngô nếp

Bắp đá / bắp ngựa ngô tẻ

Bắp mọi

2.2.2 Lớp từ chỉ các loại đậu / đỗ

PNNB PNBB

Đậu phụng/ đậu phộng lạc

Đậu Hà Lan

2.2.3 Lớp từ chỉ các loại khoai, củ

PNNB PNBB

Củ nầng/ củ nừng

Củ nén/ nén

Khoai môn vàng khoai sáp

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ái (chủ biên) – Lê Văn Đức – Nguyễn Công Khai, Từ điển phương ngữ Nam bộ, Nxb Tp HCM, 1994 Khác
2. Nguyễn Văn Aùi, Từ những thực tế phương ngữ, nhìn chung về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt về mặt từ ngữ, T.2, Nxb KHXH, HN,1981 Khác
3. Nguyễn Văn Aùi, Tiếng Việt vùng đồng bằng sông Cửu Long, Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long, HN, 1982 4. Nguyễn Nhã Bản, Hướng tiếp cận phương ngữ, Thông báo khoahọc trường ĐHSP Vinh số 6, 1992 Khác
5. Nguyễn Nhã Bản, Từ điển phương ngữ – một dạng thức đối chiếu đặc biệt, Tạp chí ngôn ngữ số 5/2000 Khác
6. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), Nxb GD,1997 Khác
7. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐH & THCN, HN, 1975 Khác
8. Nguyễn Tài Cẩn, Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, HN, 1975 Khác
9. Thái Văn Chải, Những từ gốc Khơme trong phương ngữ Nam bộ, Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, HN,1986 Khác
10. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ tiếng Việt, Nxb GD, 1981 Khác
11. Đỗ Hữu Châu, Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, Tạp chí ngôn ngữ số 4/1973 Khác
12. Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ trong tiếng Việt, Nxb KHXH, HN, 1986 Khác
13. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Ngữ dụng học,T.2, Nxb GD, 2001 Khác
14. Hoàng Thị Châu, Vài nhận xét về quá trình tiêu chuẩn hoá tiếng Việt thể hiện qua cách dùng từ địa phương trong sách vở báo chí trước và sau cách mạng tháng Tám,Tạp chí ngôn ngữ số 4/1970 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w