Sau đó, trong cuốn “Ngữ pháp và giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán”1957 của Trương Chí Công đã định danh rõ lượng từ như sau: “Từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác được gọi là
Trang 1- -
LƯƠNG DIỆU VINH
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP
CỦA LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(SO SÁNH VỚI LỚP TỪ TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2007
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LƯƠNG DIỆU VINH
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP
CỦA LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
(SO SÁNH VỚI LỚP TỪ TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
MÃ SỐ: 5.04.27
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ KHẮC CƯỜNG
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này Đặc biệt
xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Lê Khắc Cường, người thầy đã tận tình
hướng dẫn luận văn cho tôi
Xin gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ văn – Báo chí của trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin tri ân sự hậu thuẫn quí báu của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, đã cho tôi những lời động viên tinh thần và giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt chương trình cao học và thực hiện luận văn
Lương Diệu Vinh
Trang 4ĐỀ MỤC TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Phạm vi nghiên cứu 2
2.2 Nội dung nghiên cứu 3
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 8
6 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1: PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 10
1.1 Khái quát về lượng từ trong tiếng Hán hiện đại 10
1.1.1 Những quan điểm về lượng từ 10
1.1.2 Xác định lượng từ trong tiếng Hán 15
1.1.2.1 Sự kết hợp của lượng từ với số từ, danh từ, động từ 16
1.1.2.2 Ngữ nghĩa của danh lượng từ và động lượng từ 18
1.2 Phân loại lượng từ tiếng Hán 19
1.2.1 Những quan điểm về phân loại lượng từ 19
Trang 51.2.2.2 Động lượng từ .39
1.2.2.3 Lượng từ kiêm chức 45
1.2.2.4 Lượng từ phức hợp (lượng từ kép) 47
1.3 Đặc điểm ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán 51
1.3.1 Đặc trưng của lượng từ về mặt kết cấu 51
1.3.2 Đặc trưng của lượng từ về mặt hình thái 51
1.3.3 Chức năng của lượng từ trong nhóm từ 52
1.3.4 Tính linh hoạt và thích ứng của lượng từ 53
CHƯƠNG 2: LƯỢNG TỪ “ ”(gè) TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 56
2.1 Lịch sử phát triển của lượng từ “ ” 56
2.2 Vấn đề (gè) hoá và sự hạn chế về mặt biểu thị lượng của lượng từ (gè) 58
2.2.1 Vấn đề (gè) hoá 58
2.2.2 Sự hạn chế về mặt biểu thị lượng của lượng từ (gè) 60
2.3 Sự kết hợp của lượng từ (gè) với danh từ và số từ .64
2.3.1 Sự kết hợp giữa (gè) với danh từ và danh ngữ 65
2.3.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của (gè) về sự kết hợp với danh từ và cụm danh từ 66
2.3.3 Sự kết hợp của lượng từ (gè) với số từ 67
2.4 Chức năng ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp của lượng từ (gè) 70
Trang 63.1 Khái quát về sắc thái nghĩa của lượng từ .76
3.2 Sắc thái hình tượng của lượng từ .76
3.3 Sắc thái biểu cảm của lượng từ .82
3.4 Sắc thái phong cách của lượng từ .88
3.4.1 Các loại lượng từ mang sắc thái phong cách 88
3.4.2 Phương thức diễn đạt của lượng từ mang sắc thái phong cách 90
3.4.3 Ngữ nghĩa của lượng từ mang sắc thái phong cách 91
CHƯƠNG 4: NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI VÀ LỚP TỪ TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT 96
4.1 Nhận xét chung 96
4.1.1 Về vấn đề phân loại 100
4.1.2 Về đặc điểm ngữ pháp 103
4.2 Những nét tương đồng 104
4.3 Những nét dị biệt 108
KẾT LUẬN 112
Phụ Lục 115
Tài liệu tham khảo 134
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Do nguyên nhân địa lý và lịch sử, giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã có sự tiếp xúc, và ảnh hưởng lẫn nhau Ngay từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II TCN, tiếng Hán cổ đại đã du nhập vào Việt Nam và được người Việt tiếp thu, sử dụng Đến đời Đường thì sự tiếp thu đó càng tích cực hơn và một khối lượng từ Hán–Việt đồ sộ đã du nhập vào vốn từ tiếng Việt, góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng tiếng Việt Những năm gần đây, theo sự phát triển của xã hội cũng như những thay đổi tích cực trong quan hệ kinh tế, văn hoá giữa hai nước, tiếng Hán và tiếng Việt cũng có nhiều sự phát triển và thay đổi
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, tiếng Hán đã dần dần được nhiều người, nhất là các nhà nghiên cứu, giáo viên giảng dạy Trung văn quan tâm nghiên cứu
Wilhelm Von Humboldt đã từng nhận định: “ngôn ngữ là linh hồn (spirit) của dân tộc, ngôn ngữ phản ánh cách tư duy của mỗi dân tộc dùng nó”, chính vì vậy qua ngôn ngữ, ta thấy được những nét đặc thù của văn
hoá cũng như cách tư duy của dân tộc sử dụng nó
Trang 8Do tiếng Hán có chữ viết rất sớm nên các nhà Hán ngữ học có điều kiện xác định được thời kỳ xuất hiện của lượng từ tiếng Hán cũng như diễn biến của chúng trong quá trình phát triển lịch sử Theo Vương Lực, lượng từ tiếng Hán đã manh nha từ thời Thương Chu (1400 năm TCN), như “ ” (gè: cây) là lượng từ đi với danh từ chỉ loài tre, trúc; “ ” (piê: con) là lượng từ đi với danh từ chỉ loài ngựa v.v
Lượng từ là đặc điểm của tiếng Hán, bởi vì lượng từ trong tiếng Hán không những rất phổ biến, phong phú mà còn có sức biểu hiện rất mạnh mẽ Vì thế, việc nghiên cứu các đặc trưng và qui tắc chung của lượng từ tiếng Hán so sánh với loại từ tiếng Việt là rất cần thiết, bởi lẽ tiếng Hán và tiếng Việt là hai ngôn ngữ cùng thuộc loại hình đơn lập – âm tiết tính
Là một người giảng dạy tiếng Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy khi dạy và học tiếng Trung Quốc hiện đại, giáo viên và học viên thường gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt và lựa chọn lượng từ thích hợp, chúng
tôi đã chọn đề tài: “Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của lượng từ trong tiếng hán hiện đại (so sánh với lớp từ tương ứng trong tiếng việt)” để làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
2 PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt hiện đại là một hiện tượng rất phức tạp và rộng Đặc biệt lý luận về lượng từ tiếng Hán hiện nay, vẫn còn chưa có ý kiến thống nhất Vì vậy, để giải quyết vấn đề, chúng tôi đã hệ thống hoá các quan niệm về lượng từ, tìm hiểu kỹ về nhiều vấn đề liên quan đến các đặc điểm, sắc thái nghĩa cũng như cách sử dụng các lượng từ tiếng Hán hiện đại
Trang 92.2 Nội dung nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của luận văn là phân loại, hệ thống, miêu tả tất cả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp và cách sử dụng của các lượng từ trong tiếng Hán, sau đó so sánh với loại từ trong tiếng Việt; chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa lượng từ trong tiếng Hán và loại từ trong tiếng Việt
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Lượng từ là một trong những từ loại đặc trưng của các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, trong đó có tiếng Hán Nó là một từ loại được phân loại và đặt tên sau cùng trong số 11 từ loại cơ bản trong tiếng Hán Sự tranh luận về việc phân loại và cách gọi tên của nó đã kéo dài hơn nửa thế kỷ, bắt đầu từ năm 1898 và kết thúc vào năm 1956 Ngay tên gọi của lớp từ này, các nhà ngữ pháp học Trung Quốc cũng không thống nhất với nhau Dựa vào ý nghĩa từ vựng của lớp từ này, họ đã đưa ra 12 tên gọi
khác nhau, như: tên gọi khác của tính lượng, danh từ biểu thị lượng, danh từ đơn vị, lượng từ đơn vị, đơn vị từ , phó danh từ, số vị từ , trợ danh từ, lượng từ đơn vị hình thể, phụ danh từ, số lượng từ, lượng từ Còn các nhà ngôn ngữ học phương Tây gọi lớp từ này là: loại từ ( : classifications), biệt từ
( : specificity), hộ từ ( : accompony)
Đa số các nhà ngữ pháp học Trung Quốc đều xếp lượng từ vào nhóm tiểu loại của danh từ So với các từ loại khác trong tiếng Hán thì sự khó khăn về cách đặt tên lượng từ đã trở thành một đặc điểm nổi bật trong việc nghiên cứu lượng từ Dù đã có nhiều thư tịch cổ của Trung Quốc khảo sát về lượng từ, nhưng do ảnh hưởng của lý luận ngữ pháp truyền thống
Trang 10phương Tây chỉ chú trọng đến tính chất chung của ngôn ngữ mà đã bỏ qua tính cá thể và đặc trưng của tiếng Hán nên thành tựu chưa nhiều Song phải đến thập niên 30–40, khi các nhà ngôn ngữ học trên thế giới tập trung khảo sát đặc trưng ngữ pháp của tiếng Hán, thì lượng từ mới được nghiên cứu một cách toàn diện Có thể hình dung lịch sử vấn đề nghiên cứu lượng từ trong tiếng Hán như sau:
- Bắt đầu từ năm 1898, trong cuốn ngữ pháp đầu tiên của Trung
Quốc “Mã thị văn thông” của Mã Kiến Trung có nói rằng: “Phàm tên gọi chung của sự vật đều có tên gọi khác để tính lượng” Ông là người đầu tiên
đề cập đến các ví dụ từ của lượng từ, nhưng ông ấy chỉ xem lượng từ như danh từ thông thường, và đã nói rằng: “2500 người là nhất sư, 500 người là nhất lữ, 5 nhà là nhất lân, 25 nhà là nhất lí, 2500 nhà là nhất hương, 500
nhà là nhất đảng Trong đó ‘sư, lữ, lân, lí, hương, đảng’ đều là tên gọi đám
đông”[34] Do ảnh hưởng về quan niệm ngữ pháp phương Tây, nên ông đã
chia thành 8 từ loại như tiếng Anh, sau đó ông lại tự sáng tạo thêm “ngữ khí từ (trợ từ)” thành 9 loại: danh từ, đại từ, động từ, hình dung từ, phó từ, giới từ, liên từ, thán từ và trợ từ Nghĩa là trong phân loại của Mã Kiến
Trung không có số từ, cũng không có lượng từ, có lẽ do tính phi độc lập của lượng từ Nhưng cuốn “Mã thị văn thông” chủ yếu lấy cổ Hán ngữ làm
đối tượng nghiên cứu Theo Vương Lực trong cuốn “Hán ngữ sử thảo”(1958) giới thiệu: Lượng từ trước thời nhà Tần chỉ là manh nha, sự
phát triển thật sự của nó vẫn là sau thời nhà Hán Mã Kiến Trung gọi
lượng từ là “tên gọi khác của tính lượng” cũng hợp lý
Trang 11- Năm 1924, trong cuốn “Tân trứ quốc ngữ văn phạm”, Lê Cẩm Hy
đã đưa ra trước tên gọi của lượng từ, đồng thời chỉ ra tính quan trọng trong
việc nghiên cứu lượng từ: “Chủng loại của lượng từ = đặc điểm của quốc ngữ” Nhưng ông ấy không tách lượng từ ra một loại riêng Ông nói rằng:
“Lượng từ chính là danh từ biểu thị lượng, được đặt sau số từ, là đơn vị dùng để tính lượng của sự vật”[34]
- Năm 1943, trong cuốn “Ngữ pháp Trung Quốc hiện đại”, Vương Lực đã nhận định rằng: “Phàm là danh từ, đơn vị phi chỉ số lượng nhân vật hoặc số lần của hành vi đều gọi là danh từ đơn vị”[214] Ông đã chia thực từ thành bốn loại: danh từ, số từ, hình dung từ, động từ (bao gồm cả trợ động từ) Trong các từ loại đã nêu không có lượng từ, bởi vì ông xem lượng từ như là danh từ Về sau, trong cuốn “Từ loại” của ông, ông một lần nữa khẳng định quan điểm này: “Tôi cho rằng lượng từ là một loại danh từ, nên tôi gọi nó là lượng từ đơn vị Lượng từ có nên tách riêng thành một từ loại độc lập không? Bởi vì lượng từ không có trong ngôn ngữ phương Tây, nó rất đặc biệt Theo ý kiến cá nhân tôi thì tốt nhất không nên tách ra” [108]
- Đầu thập niên 40, Lữ Thúc Tương cho xuất bản cuốn “Trung Quốc văn phạm yếu lược” đã gọi lượng từ là “đơn vị từ” Ông ấy nói rằng:
“Trong bạch thoại trước danh từ không thể trực tiếp thêm số từ, mà nhất định phải thêm vào giữa một đơn vị từ”[18] Về sau, trong cuốn “Học tập ngữ pháp”, ông đã xem lượng từ như một loại phụ của danh từ, và gọi tên là “phó danh từ” Ông nói rằng: “Phó danh từ biểu thị đơn vị của sự vật hoặc hành vi, còn gọi là ‘đơn vị từ’hoặc ‘lượng từ’ Nó là danh từ, nhưng có chút khác với danh từ Danh từ thông thường không thể trực tiếp kết hợp với
Trang 12số từ, bắt buộc phải thêm phó danh từ vào giữa Phó danh từ luôn kết dính với số từ, hơn nữa đa số bản thân các phó danh từ đều không có ý nghĩa cụ thể như danh từ”[6] Lữ Thúc Tương đã chỉ ra được sự khác biệt giữa lượng
từ và danh từ, đồng thời cũng chỉ ra đặc trưng ngữ pháp của lượng từ kết hợp với số từ Nhưng chỉ đáng tiếc là vào lúc đó lượng từ chưa được tách riêng và đặt tên
- Trong cuốn “Lý luận ngữ pháp tiếng Hán”, Cao Danh Khải(1948) đã gọi lượng từ là “số vị từ” Ông nói rằng: “Trong tiếng Hán có từ mang chức năng danh từ, nếu thêm vào một số từ, thì ở giữa từ này và số từ cần thêm một hư từ để nói rõ tính chất đại diện của từ này, như một cuốn sách v.v Chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là gọi các hư từ này là số vị từ, bởi vì chức năng của chúng dùng để nói rõ thêm đơn vị của sự vật, đặc điểm của sự vật”
- Mãi đến cuối thập niên 50, lượng từ mới được tách riêng thành một từ loại và đặt tên chính thức trong từ loại tiếng Hán Vào năm 1957, trong
cuốn “Hán ngữ ngữ pháp thường thức” của Trương Chí Công có nói: “Tên gọi của số lượng, phân lượng(đơn vị) Nói chung, đều là từ nối liền giữa một từ biểu thị lượng và một từ biểu thị phân lượng(đơn vị), nên ghép chúng lại gọi là số lượng từ”[20] Sau đó, trong cuốn “Ngữ pháp và giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán”(1957) của Trương Chí Công đã định danh rõ lượng từ như sau: “Từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác được gọi là lượng từ Lượng từ có hai loại: loại để tính sự vật là vật lượng từ, loại để tính động tác là động lượng từ”[20]
- Năm 1961, khi ông Chu Đức Hy đến giảng dạy môn ngữ pháp tiếng
Trang 13Hán hiện đại tại trường Đại học Bắc Kinh, ông không những chính thức đưa lượng từ vào trong từ loại tiếng Hán, mà còn xác định rõ định nghĩa
của lượng từ: “Lượng từ là một từ kết dính có thể đặt sau số từ”[48] Nhưng
vấn đề vẫn chưa kết thúc, tên gọi lượng từ này được mọi người tiếp nhận phổ biến lại phải tiếp tục trải qua một thời gian tranh luận và thảo luận, kéo dài suốt đến thập niên 70
- Đến năm 1979, trong cuốn “Hán ngữ ngữ pháp tu từ tân thám”, ông
Quách Thiệu Ngu đã trình bày tên gọi của lượng từ một cách chi tiết như
sau: “Chúng tôi không hoàn toàn phủ nhận tên gọi đơn vị, nhưng so với tên gọi lượng từ thì vẫn có phần không thể bao quát được Đó là sự khác biệt giữa lượng chuẩn và phi lượng chuẩn Tôi trước đây gọi nó là số vị từ, cũng có ý thiên về đơn vị, bây giờ thì không dùng nữa, bởi vì ‘lượng từ’có thể khái quát được ‘đơn vị từ’ nhưng ngược lại đơn vị từ thì không thể khái quát lượng từ, đây là sự thật rất rõ ràng.”[276] Từ đó, tên gọi lượng từ đã hoàn
toàn được thống nhất
Việc phân loại và đặt tên chính thức cho lượng từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, nó khẳng định một đơn vị từ loại quan trọng của tiếng Hán
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng chủ yếu các phương pháp
sau: phương pháp miêu tả, phân tích; phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp thống kê
Trước hết, để tìm ra các đặc điểm chức năng và sắc thái nghĩa của
Trang 14lượng từ tiếng Hán, luận văn đã đi theo hướng miêu tả, phân tích Phương pháp nghiên cứu này được xem là phương pháp chủ yếu xuyên suốt toàn bộ quá trình thực hiện luận văn
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu giữa lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt trên phương diện cấu trúc, chức năng và ngữ nghĩa, để tìm ra những điểm đồng dị giữa hai thứ tiếng cùng loại hình, có quan hệ tiếp xúc ngôn ngữ trong một thời gian dài nhằm làm rõ hơn đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán hiện đại
Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được sử dụng nhằm thống kê các lượng từ tiếng Hán
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Về mặt ý nghĩa khoa học, đây là một đề tài rất cần thiết đối với việc
nghiên cứu tiếng Hán hiện đại Vì như đã nói, lượng từ là một hiện tượng hết sức đặc biệt của các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, mà tiêu biểu nhất là tiếng Hán Việc phân loại, miêu tả và hệ thống hoá tất cả các lượng từ trong tiếng Hán cung cấp một cái nhìn khái quát về tiếng Hán Việc so sánh những nét giống nhau và khác nhau cơ bản nhất của lượng từ tiếng Hán hiện đại và loại từ tiếng Việt hiện đại cũng cung cấp những vấn đề lý thuyết quan trọng về sự hình thành và phát triển của từ loại này trong các ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính
Về mặt thực tiễn, luận văn đóng góp vào kho tư liệu ngữ pháp nhằm
biên soạn sách ngữ pháp cũng như từ điển tiếng Hán, giúp cho người dạy và người học tiếng Hán có cái nhìn khái quát hơn và khoa học hơn về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại, giúp cho việc phiên dịch Hán-Việt và Việt-Hán
Trang 15được dễ dàng và chính xác hơn
6 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có bốn chương chính như sau:
Chương 1: Phân loại và đặc điểm ngữ pháp của lượng từ trong tiếng
Hán hiện đại
Trước tiên, luận văn muốn giới thiệu một cách khái quát về lịch sử và cách phân loại lượng từ, qua đó để có một khái niệm cơ bản và cái nhìn tổng
quát về lượng từ
Chương 2: Lượng từ “ ”(gè) trong tiếng Hán hiện đại
Do (gè) là một lượng từ rất đặc biệt và quan trọng trong tiếng Hán hiện đại, được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp khẩu ngữ, nên chúng tôi muốn đi sâu phân tích ý nghĩa và chức năng ngữ pháp của lượng từ này trong một chương riêng, qua đó thấy được tính phổ biến và đa năng của lượng từ (gè)
Chương 3: Sắc thái nghĩa của lượng từ tiếng Hán hiện đại
Trong chương này, luận văn cho thấy nét đặc trưng của tiếng Hán
qua những sắc thái về hình tượng, biểu cảm và phong cách của chúng
Chương 4: Những nét tương đồng và dị biệt giữa lượng từ trong tiếng
Hán hiện đại và lớp từ tương ứng trong tiếng Việt
Khoá luận so sánh lượng từ trong tiếng Hán hiện đại và lớp từ tương ứng trong tiếng Việt hiện đại nhằm chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau, giúp cho việc dạy và học tiếng Trung Quốc cũng như cung cấp cơ sở
Trang 16khoa học cho việc biên soạn tài liệu ngữ pháp tiếng Hán
Trang 17CHƯƠNG 1
PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
1.1.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ LƯỢNG TỪ
Như ông Cao Danh Khải trong cuốn “Lý luận ngữ pháp tiếng Hán” (1986) đã từng nói: “Lượng từ là đặc trưng của ngữ hệ Hán Tạng, cũng là đặc điểm của tiếng Hán hiện đại, là nhằm chỉ tính phổ biến trong việc sử dụng lượng từ, hầu hết tất cả các loại danh từ đều có thể kết hợp với lượng từ, cũng như ngữ số lượng từ và cách dùng đặc biệt của danh lượng từ Bởi
vì lớp từ này trong ngôn ngữ phương Tây có hạn chế, chỉ dùng trong đơn vị
đo lường, hoặc một bộ phận trong cụm từ (partitive)” [160]
Vào thời kỳ đầu, việc nghiên cứu ngữ pháp học tiếng Hán chịu ảnh hưởng rất lớn bởi ngữ pháp học phương Tây, nên lượng từ chưa được chú ý đến Lượng từ không giống với bất kì từ loại nào trong tiếng Hán, nó có sự phân loại riêng biệt, lịch sử định danh của nó đã trải qua một quá trình lâu dài và khó khăn Việc đặt tên đối với lượng từ trên thủ thuật nội hàm hoặc ngoại diện để xác định rõ ràng ý nghĩa khái niệm của nó
Do có những nét đặc thù về ý nghĩa, lớp từ này đã gây nên một làn sóng tranh luận trong giới những nhà ngôn ngữ học Lớp từ này có ý nghĩa
Trang 18từ vựng hay không có ý nghĩa từ vựng? Tiêu chí nào dùng để xác định chúng? Sự tranh luận đó cho thấy nhận thức của họ đối với thuộc tính và phân loại của lượng từ là không giống nhau Ngay tên gọi của lớp từ này, các nhà ngữ pháp học Trung Quốc cũng không thống nhất với nhau
(1) Tên gọi khác của tính lượng (Mã Kiến Trung)
(2) Danh từ biểu thị lượng (Lê Cẩm Hy)
(3) Danh từ đơn vị (Vương Lực)
(4) Lượng từ đơn vị (Vương Lực)
(5) Đơn vị từ (Lữ Thúc Tương)
(6) Phó danh từ (Lữ Thúc Tương)
(8) Trợ danh từ (Lục Chí Vi)
(9) Lượng từ đơn vị hình thể (Trần Vọng Đạo)
(10) Phụ danh từ (Đàm Chánh Bích)
(11) Số lượng từ (Trương Chí Công)
(12) Lượng từ (Trương Chí Công)
Các nhà ngôn ngữ học phương Tây gọi lượng từ là loại từ ( : classifications), biệt từ ( : specificity), hộ từ ( : accompony)
Qua khảo sát tên gọi của lớp từ này, chúng tôi chọn thuật ngữ
“lượng từ” của Trương Chí Công, cũng như cách giải thích hợp lý của Quách Thiệu Ngu về lượng từ: “Chúng tôi không hoàn toàn phủ nhận tên gọi đơn vị, nhưng so với tên gọi lượng từ thì vẫn có phần không thể bao quát được Đó là sự khác biệt giữa lượng chuẩn và phi lượng chuẩn Tôi trước đây gọi nó là số vị từ, cũng có ý thiên về đơn vị, bây giờ thì không dùng nữa,
Trang 19bởi vì ‘lượng từ’có thể khái quát được ‘đơn vị từ’ nhưng ngược lại đơn vị từ thì không thể khái quát lượng từ, đây là sự thật rất rõ ràng.” Lịch sử định
danh của lượng từ đã trải qua hơn nữa thế kỷ cho thấy tên gọi lượng từ có
ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó khẳng định một đơn vị từ loại quan trọng của tiếng Hán
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu miêu tả ngữ nghĩa và ngữ pháp của một đơn vị từ ngữ tiếng Hán, nên dùng hệ thống thuật ngữ của tiếng Hán, tên gọi “lượng từ”( liàng cí) được dịch từ âm Hán-Việt, là một từ loại rất đặc biệt trong tiếng Hán, nó không thuộc nhóm tiểu loại của danh từ Do nó có tính đặc thù về ý nghĩa, rất phổ biến, phong phú và có có sức biểu hiện mạnh mẽ, nên được tách riêng thành một từ loại riêng biệt Tuy ý nghĩa và chức năng của nó như một đơn vị từ, nhưng phạm vi sử dụng của nó rất rộng, có thể kết hợp với hầu hết tất cả các loại danh từ trong tiếng Hán Nóù có thể khái quát đơn vị từ để biểu thị đơn vị số lượng của sự vật và hành vi, còn đơn vị từ thì không thể khái quát được lượng từ
Vì vậy, việc gọi tên “lượng từ” nhằm khẳng định đây thực sự là một từ loại riêng biệt và quan trọng trong tiếng Hán
Lớp từ có một số điểm tương đồng về ngữ nghĩa và cú pháp trong tiếng Việt cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau:
- Tiền danh từ (Phan Khôi)
- Loại tự (Lê Văn Lý)
- Loại từ (Trần Trọng Kim, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Lưu Vân
Lăng, Lý Toàn Thắng, Trần Đại Nghĩa, Hồ Lê và nhiều tác giả khác)
- Danh từ chỉ định (Bùi Đức Tịnh)
Trang 20- Danh từ chỉ loại (Lê Cận - Phan Thiều, Diệp Quang Ban - Hoàng
Văn Thung, Nguyễn Hữu Quỳnh)
- Phó danh từ, danh từ phụ thuộc (Nguyễn Kim Thản)
- Danh từ chỉ đơn vị đối tượng (Hồ Lê)
- Danh từ đơn vị (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo)
Chúng tôi chọn thuật ngữ “loại từ” của Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn
“Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại”(1975) Theo ông: “Đây là một nhóm không có ý nghĩa rõ ràng và chuyên dùng để phục vụ việc đếm thành từng cá thể, thành đơn vị tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ việc phân chia sự vật vào các loại”[2, 123] Và ông cũng nhấn mạnh đặc điểm ngữ pháp của nhóm từ này: “Loại từ là một từ có đủ tư cách để làm công cụ dạng thức hoá danh từ, giúp danh từ diễn đạt một phạm trù ngữ pháp nào đó”
Về ý nghĩa của lượng từ trong tiếng Hán, như Trương Chí Công
(1957) đã nhận định: “Từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác được gọi là lượng từ Lượng từ có hai loại: loại dùng để tính sự vật là vật lượng từ, loại dùng để tính động tác là động lượng từ”[20] Còn Châu Đức
Hi (1961) thì cho rằng: “Lượng từ là một loại từ kết dính có thể đặt sau số từ”[48]
Tập hợp từ những quan điểm về lượng từ của các nhà nghiên cứu,
trong luận văn này chúng tôi định nghĩa lượng từ như sau: “Lượng từ là từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật và động tác, đồng thời cũng là một loại từ kết dính có thể đặt sau số từ tạo thành ngữ số lượng từ Trong đó, lượng
từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật được gọi là vật lượng từ ‘ ’(danh
Trang 21lượng từ ‘ ’); lượng từ biểu thị đơn vị số lần của động tác, hành vi được
gọi là động lượng từ ‘ ’”
Như định nghĩa, lượng từ bao gồm vật lượng từ và động lượng từ Vật
lượng từ thường đi trước danh từ, nên còn gọi là “danh lượng từ” (theo cách gọi của Hà Kiệt trong cuốn “Nghiên cứu lượng từ tiếng Hán hiện đại” năm 2001), còn động lượng từ thường đi sau động từ Có thể hình dung vị trí của
chúng như sau:
số từ + “danh lượng từ” + danh từ
Ví dụ: (một ly nước) Ỉ ( ly: danh lượng từ)
động từ + số từ + “động lượng từ”
Ví dụ: (đã đến hai lần) Ỉ ( lần: động lượng từ)
Ngoài ra còn có một số lượng từ mang hai chức năng: vừa là danh lượng từ biểu thị đơn vị của sự vật, lại vừa là động lượng từ biểu thị đơn vị của động tác, theo cách phân loại của Hà Kiệt thì gọi lớp từ này là lượng từ kiêm chức
Ví dụ: : một bữa cơm ( bữa: danh lượng từ chỉ đơn vị của sự vật)
: đánh một trận ( trận: động lượng từ chỉ số lần của động tác) Vậy, lượng từ “ ” (bữa, trận) là lượng từ kiêm chức
Nhìn chung, lượng từ là từ chuyển loại Từ được chuyển loại thường là
danh từ Khi đã được chuyển loại trong thời gian dài, các danh từ, động từ đó dần dần mang đặc điểm của lượng từ, và chuyển hoá thành lượng từ
Những từ chuyển loại này được gọi là lượng từ chuyển loại; chúng chuyển
loại trong những trường hợp sau:
- Danh từ chỉ dung khí chuyển hoá thành lượng từ
Trang 22Ví dụ: cái ly (danh từ) Ỉ : một ly nước
- Danh từ chỉ sự vật chuyển hoá thành lượng từ
Ví dụ: rễ cây (danh từ) Ỉ : một khúc cây
đầu bò (danh từ) Ỉ : một con bò
- Danh từ chỉ thời gian chuyển hoá thành lượng từ
Ví dụ: năm (danh từ) Ỉ : đi được một năm
- Động từ chuyển hoá thành lượng từ
Ví dụ: gánh (động từ) Ỉ : một gánh gạo
- Tính từ chuyển hoá thành lượng từ
Ví dụ: đơn độc, lẻ loi (tính từ) Ỉ : một con mắt
1.1.2 XÁC ĐỊNH LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG HÁN
Những năm gần đây, theo sự nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực lượng từ tiếng Hán hiện đại, thì việc nghiên cứu lượng từ tiếng Hán hiện đại không dừng lại ở chỗ biểu thị số lượng, mà người ta bắt đầu chú ý về mặt cấu trúc, chức năng tu từ cho đến sự phát triển của lượng từ
Song, lượng từ là một từ loại độc lập, thuộc về phạm trù ngữ pháp riêng biệt Nhưng mối quan hệ giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa của lượng từ lại rất chặt chẽ, mối quan hệ này là mối quan hệ chuyển tải và được chuyển tải, ngữ pháp chuyển tải nội dung của ngữ nghĩa, ngữ nghĩa lựa chọn cách thức chuyển tải của ngữ pháp để tiến hành chuyển tải Mối quan hệ vừa có tính thống nhất lại vừa có tính mâu thuẫn Vì vậy, khi nghiên cứu lượng từ chúng ta không chỉ phân tích ngữ pháp là đủ mà còn phải tiến
hành khảo sát ngữ nghĩa Về mặt ngữ pháp, chúng ta cần phải tìm hiểu
Trang 23cách kết hợp giữa lượng từ với số từ, danh lượng từ với danh từ, động lượng
từ với động từ Còn về mặt ngữ nghĩa thì nên tiến hành phân tích ngữ nghĩa
của danh lượng từ và động lượng từ
1.1.2.1 Sự kết hợp của lượng từ với số từ, danh từ, động từ
Để xác định lượng từ, cần tìm hiểu sự kết hợp giữa lượng từ và số từ,
bởi mối quan hệ giữa chúng rất chặt chẽ và đa dạng Chúng có thể đặt
trước danh từ (làm định ngư)õ, đặt trước động từ (làm trạng ngữ), hoặc đặt sau động từ (làm bổ ngữ)
Ví dụ: : một vị giáo sư ( đi trước danh từ làm định ngữ)
: một lần ăn không hết ( đi trước động từ làm trạng ngữ) : nói hai lần ( đi sau động từ làm bổ ngữ)
Đôi khi, kết cấu số lượng từ cũng mang đặc trưng của một tính từ, nó chịu sự tu sức của phó từ và đại từ chỉ thị
Ví dụ: : lại một lần nữa ( phó từ)
: lần này ( đại từ chỉ thị)
Số lượng từ có thể trùng điệp theo bốn dạng như sau:
- Trùng điệp cả số lượng từ
Ví dụ: : từng đội người
- Chỉ trùng điệp lượng từ
Ví dụ: : nói từng câu một
- Chỉ trùng điệp lượng từ và bỏ số từ đứng trước
Ví dụ: : người người đều chảy nước mắt
- Chỉ trùng điệp số từ và bỏ lượng từ đứng sau
Ví dụ: : Những lời của anh ấy nói tôi đều nhớ hết
Trang 24Ngữ số lượng từ cũng có thể làm chủ ngữ hoặc tân ngữ trong câu
Ví dụ: : một thước có mười tấc ( chủ ngữ, tân ngữ)
Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa danh lượng từ với danh từ cũng rất đa
dạng, bởi vì mỗi lượng từ không chỉ có thể kết hợp với một danh từ mà còn có thể kết hợp với nhiều danh từ khác nhau và ngược lại Cách kết hợp này được thể hiện như sau:
- Danh từ chỉ chọn một lượng từ
Ví dụ: (xe) Ỉ “ ”(chiếc), (áo) Ỉ “ ”(chiếc)
- Danh từ có thể chọn nhiều lượng từ
Ví dụ: (nhà) Ỉ (căn), (ngôi, tòa), (cái)…
- Lượng từ có thể bổ nghĩa cho một danh từ
Ví dụ: (bức) Ỉ (thư)
- Danh lượng từ có thể bổ nghĩa cho nhiều danh từ
Ví dụ: (tấm, bức, chiếc) Ỉ (giấy), (tranh), (bàn), (giường)
Giữa động lượng từ với động từ luôn có mối quan hệ chọn lựa lẫn nhau Các yếu tố quy định sự lựa chọn của động lượng từ được dựa trên ba điểm sau:
- Dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa của bản thân động từ
Ví dụ: : đã đi một chuyến ( chỉ phương hướng của hành vi )
- Dựa vào đặc trưng ngữ nghĩa của bản thân động lượng từ
Ví dụ: : đã xem một lần ( biểu thị xảy ra một lần)
- Dựa vào đối tượng có liên quan với động từ, có thể là tân ngữ cũng có thể là chủ ngữ
Ví dụ: : đã mất một phen giải thích ( làm tân ngữ)
Trang 25: giải thích một hồi ( làm chủ ngữ)
1.1.2.2 Ngữ nghĩa của danh lượng từ và động lượng từ
Về mặt ngữ nghĩa của danh lượng từ, nếu phân tích theo ngữ pháp
truyền thống thì chúng ta sẽ thấy nó có tính độc lập và tĩnh Nhưng nếu phân tích theo ngữ nghĩa của danh lượng từ và tìm hiểu cách kết kợp ngữ nghĩa của danh lượng từ với danh từ thì chúng ta sẽ thấy có mối liên hệ và động Bởi vì lượng từ tiếng Hán là một hệ thống mở, các danh từ và động từ có ý nghĩa thực đều có thể dùng làm lượng từ chuyển loại tạm thời
Trần Ngọc Đông đã dựa vào ý nghĩa từ vựng của lượng từ để chia từ
loại này thành 4 loại: “lượng từ dựa theo hình dáng, lượng từ dựa theo động thái, lượng từ chuyển loại, lượng từ đặc định” La Nhật Tân lại dựa trên mối quan hệ giữa danh từ và lượng từ để chia thành 3 loại: “lượng từ dựa theo hình sợi của sự vật, lượng từ dựa theo hình tấm (miếng) của sự vật, lượng từ dựa theo hình tròn của sự vật” Còn Thiệu Kính Mẫn thì dựa trên việc quan sát góc độ sự vật đã chia thành 2 loại: “lượng từ đặc trưng loại hình, lượng từ phi đặc trưng loại hình”
Về mặt ngữ nghĩa, thì động lượng từ là một phạm trù ngữ pháp rất
quan trọng Nó là một biểu hiện cụ thể về tính hành vi của động từ Động tác càng cụ thể thì tính hành vi càng cao, động lượng từ do chúng tạo ra càng nhiều và ngược lại Đồng thời cũng biểu thị sự khác nhau của từng lượng từ Sự kết hợp của nó với động từ được qui định bởi mối quan hệ lựa chọn giữa động từ và động lượng từ Ngoài ra cũng phải dựa theo đặc trưng ngữ nghĩa của bản thân từng lượng từ và đối tượng có liên quan đến động từ
Trang 26được đề cập đến
Tóm lại, để xác định lượng từ trong tiếng Hán hiện đại, chúng ta cần
phải dựa trên hai cơ sở ngữ nghĩa và ngữ pháp của lượng từ để phân tích Về mặt ngữ nghĩa, các lớp từ này phân biệt với các lớp từ chỉ sự vật khác bằng
những nét đặc trưng riêng về ý nghĩa như chỉ chủng loại khái quát của sự
vật với một số đặc điểm về hình thể, cấu tạo tính chất của sự vật Còn về mặt ngữ pháp, thì lượng từ có đầy đủ đặc điểm chức năng ngữ pháp của một
danh từ
1.2 PHÂN LOẠI LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN
1.2.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ PHÂN LOẠI LƯỢNG TỪ
Về việc phân loại lượng từ tiếng Hán, từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà ngữ pháp học Trung Quốc tiến hành nghiên cứu từ nhiều phương diện, hướng khác nhau và đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau
1.2.1.1 Hướng dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, chia lượng từ thành nhiều loại nhỏ
Về khuynh hướng này, trước tiên phải kể đến Chu Đức Hy Trong
cuốn “Ngữ pháp giảng nghĩa”(1979), ông chia lượng từ thành 7 loại: Lượng từ chuẩn, Lượng từ cá thể, Động lượng từ, Lượng từ tập hợp, Lượng từ đo lường, Lượng từ định lượng không xác định, Lượng từ lâm thời Nhưng trong động lượng từ lại được chia nhỏ thành 3 loại: Động lượng từ chuyên dùng, Chuyển loại danh từ, Động từ lặp lại
Còn Lã Thúc Tương trong “800 từ tiếng Hán hiện đại”(1981) đã chia lượng từ thành 9 loại: “lượng từ cá thể, lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận,
Trang 27lượng từ dung lượng, lượng từ tạm thời, lượng từ đo lường, lượng từ tự chủ, động lượng từ, lượng từ phức hợp” Trong số 9 loại lượng từ ông đã chỉ rõ
lượng từ tự chủ như “ (quốc gia), (tỉnh), (khu), (huyện), (khoa), (hệ), (năm), (tháng), (tuần lễ)” cũng có thể được coi là một loại danh từ đặc biệt không cần có lượng từ
Triệu Nguyên Nhậm trong cuốn “Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Hán”(1979) cũng chia lượng từ thành 9 loại: “lượng từ cá thể chuyên dùng, lượng từ cá thể thông dụng (gè), lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận, lượng từ dung lượng, lượng từ tạm thời, lượng từ chuẩn, lượng từ chuẩn, động lượng từ”
Cái gọi là lượng từ chuẩn của Triệu Nguyên Nhậm chính là lượng từ
đo lường Còn lượng từ dung lượng mà ông chỉ là “ (hộp), (hộp/tráp), (hòm)……” Kiểu phân loại này của Triệu Nguyên Nhậm là dựa theo cách tính lượng Ngoài ra ông còn rất quan tâm và đề cập đến lượng từ đặc biệt (gè), bởi vì ngữ nghĩa của lượng từ này rất phức tạp
Tóm lại, chúng ta thấy rằng các nhà nghiên cứu kể trên đều cùng
đưa ra lượng từ chuẩn Nội dung “lượng từ tự chủ” của Lã Thúc Tương và
“lượng từ chuẩn” của Chu Đức Hy là giống nhau, chẳng qua chỉ khác tên
gọi mà thôi Vấn đề ở chỗ là lượng từ chuẩn này có nên tách ra thành một loại riêng biệt hay không là điều cần phải nghiên cứu và thảo luận
1.2.1.2 Hướng dựa vào lượng từ đo lường và lượng từ phi đo lường, chia thành hai loại lớn: lượng từ đơn vị đo lường và lượng từ đơn
vị hình thể
Trần Vọng Đạo trong cuốn “Lý luận đơn vị và đơn vị từ trong tiếng
Trang 28Hán hiện đại”(1980) đã chia lượng từ thành hai loại lớn: lượng từ đơn vị đo lường và lượng từ đơn vị hình thể
Còn Cao Danh Khải trong cuốn “Lý luận ngữ pháp tiếng Hán”(1986) gọi lượng từ là từ số vị, đồng thời cũng dựa theo lượng từ đo lường và lượng từ phi đo lường để phân chia thành 3 loại nhỏ: lượng từ đo lường, lượng từ bộ phận và phạm từ (từ mô phạm) Trong đó, phạm từ được phân
loại dựa trên đặc trưng hình thái biểu thị sự vật của lượng từ Nếu chỉ dựa trên đặc trưng hình thể của đại lượng vật lý để phân loại thì sẽ rất khó xếp loại cho một số lượng từ
1.2.1.3 Hướng dựa vào hình thức ngữ âm biểu lượng, chia thành hai loại: lượng từ đơn thuần và lượng từ phức hợp
Trong cuốn “Hán ngữ ngữ pháp học”(1997), Hình Phúc Nghĩa đã dựa trên hình thức ngữ âm để chia lượng từ thành 3 loại: lượng từ đơn âm, lượng từ đa âm, lượng từ phức hợp Ông còn đưa thêm loại thứ 4, đó là “lượng từ chuẩn” Đối với lượng từ chuẩn, ông cho rằng: “chủ yếu có hai loại: (1) loại mang tính thời gian, (2) loại mang tính khu vực”
Ông nêu rõ rằng lượng từ phức hợp được tạo thành bởi hai ngữ tố đo
lường, và đồng thời chia thành loại gia hợp và loại lựa chọn
Trong cuốn “Lượng từ và tái phân loại”(1991), Trình Dung đã dựa trên đại lượng vật lý để chia lượng từ thành hai loại lớn: lượng từ đơn thuần và lượng từ phức hợp Đối với lượng từ đơn thuần, Trình Dung đã chia nhỏ
thành các loại như sau:
(1) Lượng từ cá thể: c Danh lượng từ cá thể
d Động lượng từ cá thể
Trang 29(2) Lượng từ tập thể: c Lượng từ tập thể định lượng
d Lượng từ tập thể định lượng không xác định (3) Lượng từ bộ phận
(4) Lượng từ đo lường: c Lượng từ đo lường chuẩn mực
d Lượng từ đo lường thông thường (5) Lượng từ chủng loại
Ông viết: “Lượng từ tạm thời là một hiện tượng sử dụng từ loại linh hoạt, nếu chia thành một loại nhỏ thì không thích hợp” Và ông ấy còn nói rằng: “Từ một ý nghĩa nào đó mà xem, lượng từ ‘ (lần), (trận)’ trong ‘ (hai lần du lịch)’ và ‘ (đã đi hai lần)’, ‘ (một trận mưa)’ và ‘ (mưa xuống một trận)’ đều là lượng từ cá thể, cho nên lượng từ cá thể có thể chia thành hai loại nhỏ: danh lượng từ cá thể và động lượng từ cá thể, như vậy thì có thể bỏ đi động lượng từ”[239] Nếu xếp “động lượng từ” vào
một loại nhỏ của lượng từ cá thể thì có phần không được hợp lý lắm Chẳng hạn, “ ”(mưa xuống một trận) biểu thị thời gian kéo dài của động tác (xuống); còn “ ”(đã đi hai lần) biểu thị số lần của động tác (đi) Trong trường hợp này thì (lần), (trận) không phải là động lượng từ cá thể, bởi vì động lượng từ cá thể không thể nào khái quát được sự phản ánh hiện tượng ngôn ngữ phức tạp của động lượng từ
1.2.1.4 Hướng chia lượng từ thành hai loại: vật lượng từ và động lượng từ
Trong cuốn “Hán ngữ hiện đại”(1958) do Sử Tích Nghiêu chủ biên đã chia lượng từ thành hai loại lớn: vật lượng từ và động lượng từ
Trong cuốn “Ngữ pháp và giảng dạy ngữ pháp”(1957) của Trương
Trang 30Chí Công cũng chỉ rõ rằng: “Lượng từ có hai loại: loại dùng để tính vật thực gọi là vật lượng từ, loại dùng để tính hành vi động tác gọi là động lượng từ
“[20]
Song, Lưu Nguyệt Hoa trong cuốn “Thực dụng ngữ pháp Hán ngữ hiện đại” cũng chia lượng từ thành hai loại lớn: danh lượng từ và động lượng từ Danh lượng từ được chia thành hai loại nhỏ: lượng từ chuyên dùng và lượng từ chuyển loại Trong đó lượng từ chuyên dùng bao gồm: (1) Lượng từ cá thể, (2) Lượng từ tập hợp, (3) Lượng từ đo lường, (4) Lượng từ định lượng không xác định, (5) Lượng từ chuẩn, (6) Lượng từ phức hợp Còn đối với động lượng từ thì chia thành hai loại: động lượng từ chuyên dùng và động lượng từ chuyển loại
1.2.1.5 Hướng dựa vào đặc trưng phân bố, chia lượng từ thành 3 loại lớn: danh lượng từ, động lượng từ, hình lượng từ
Trong “Giáo trình ngữ pháp tiếng Hán”(1959), Lê Cẩm Hy và Lưu
Thế Nhu đã cho rằng lượng từ là một loại danh từ phụ, cũng chia thành 3
loại: danh lượng từ, động lượng từ, hình lượng từ
Còn trong cuốn “Hán ngữ hiện đại”(1979), Hồ Túc Thụ đã chia lượng
Trang 31thì thường phải kết hợp và đặt trước động từ ( : xem một lần), nên gọi
là động lượng từ Nhưng ông Hồ Túc Thụ lại rất chú ý đến hiện tượng kết
hợp giữa lượng từ và tính từ
Trong “Hán ngữ ngữ pháp tu từ tân thám”, Quách Thiệu Ngu cũng
chia lượng từ thành 3 loại lớn dựa trên sự kết hợp giữa lượng từ và các từ
khác: danh lượng từ, động lượng từ, hình lượng từ Đối với danh lượng từ, ông ấy lại chia nhỏ thành 2 loại: lượng từ đơn vị và lượng từ cá thể, chức
năng của 2 loại trong đó được chia thành 4 dạng như sau:
- Lượng từ đơn vị: đơn vị tuyệt đối, đơn vị tương đối, đơn vị tạm thời, đơn vị tập thể
- Lượng từ cá thể: loại thông thường, loại mang tính đặc biệt, loại mang tính tập hợp, loại mang tính tạm thời hoặc tu từ
Qua trên chúng ta thấy được cách phân loại của 4 tác giả là không giống nhau, bởi họ đã nhìn nhận lượng từ theo góc độ khác nhau và dựa theo tiêu chí khác nhau để phân loại
1.2.1.6 Hướng chia lượng từ thành 3 loại lớn: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ phức hợp
Trong cuốn “Thí luận lượng từ phức hợp Hán ngữ hiện đại”(1992), Trương Vạn Khởi viết: “lượng từ phức hợp nên tách ra thành một loại riêng biệt để chia thành 3 loại chính: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ phức hợp” [153]
“Sổ tay lượng từ Hán ngữ hiện đại”(1981) của Học viện Dân tộc Trung ương cũng chia lượng từ thành 3 loại: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ phức hợp
Trang 32“Hán ngữ hiện đại”(1982) do Trương Chí Công chủ biên cũng chia lượng từ thành 3 loại: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ phức hợp Đối với danh lượng từ ông ấy lại chia nhỏ thành 6 loại: lượng từ cá thể, lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận, lượng từ đo lường, lượng từ dung lượng, lượng từ tạm thời Còn động lượng từ thì chia thành 3 tiểu loại: loại thường dùng,
loại chuyển loại từ chỉ bộ phận con người và vật thể, loại chuyển loại từ chỉ thời gian
Song, Trương Chí Công cũng dựa vào sự diễn biến và phát triển của từ nguyên và từ để chia ra lượng từ chuyển loại và lượng từ tạm thời, nhưng ông xếp các lượng từ chỉ bộ phận con người và vật thể “ , , , , , , , ” vào lượng từ tạm thời là điều đáng để bàn bạc
Cuốn “Hán ngữ hiện đại”(1997) do Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông chủ biên đã chia lượng từ thành hai loại lớn: “danh lượng từ, động lượng từ”, nhưng họ còn nêu rõ rằng: “mấy mươi năm gần đây, đã xuất hiện thêm một số lượng từ phức hợp” Trong việc phân loại họ cũng xếp “ (một số), (một chút)” vào loại đơn vị bất định là phù hợp với thực tế ngôn ngữ
Cuốn “Ngữ pháp Hán ngữ thực dụng”(1992) Phòng Ngọc Thanh đã chia lượng từ thành 8 loại: (1) lượng từ cá thể, (2) lượng từ tập hợp, (3) lượng từ bất định, (4) lượng từ đo lường, (5) lượng từ chuẩn, (6) lượng từ tạm thời, (7) động lượng từ: chia thành 2 loại: động lượng từ chuyên dùng và động lượng từ chuyển loại danh từ, (8) lượng từ phức hợp Nhưng riêng từ loại (1) đến loại (6) ông đều gọi chung là vật lượng từ, điều đó cho thấy trên thực tế ông ấy cũng chia lượng từ thành 3 loại lớn: vật lượng từ, động lượng từ,
Trang 33lượng từ phức hợp
Tóm lại, tuy việc phân loại của các nhà nghiên cứu đều có tính hợp lý của riêng mình, nhưng đương nhiên cũng có những điểm vẫn chưa được
hoàn thiện lắm
1.2.2 PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ LƯỢNG TỪ
Qua những quan điểm nêu trên, ta thấy khi phân loại có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng các nhà ngữ pháp học chưa thống nhất với nhau, có người chỉ chọn một tiêu chí, có người chọn nhiều tiêu chí như sau:
- Chức năng ngữ pháp
- Đặc trưng ngữ pháp và hình thái
- Hình thức ngữ âm
- Ý nghĩa từ vựng
- Độ chính xác đại lượng vật lí
- Đặc trưng hình thức đại lượng vật lí
Thật ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc phân loại lượng từ, điều căn bản nhất là do việc phân loại, định vị lượng từ từ góc độ khác nhau của mỗi người, và sự khác biệt về phương pháp khảo sát, tiêu chí căn cứ đã tạo nên sự khác biệt về nhiều mặt trong việc phân loại lượng từ Hơn nữa, vấn đề từ loại là một vấn đề vô cùng phức tạp Trong việc nghiên cứu từ loại còn tồn tại rất nhiều nhân tố ảnh hưởng việc phân loại
Hiện nay đa số các tài liệu ngữ pháp tiếng Hán hiện đại đều phân
loại lượng từ thành ba loại lớn: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ phức hợp Tuy nhiên cách phân loại này chưa được chi tiết và cụ thể Trong luận
văn này, chúng tôi đã chọn cách phân loại cụ thể của Hà Kiệt (2001) trong
Trang 34cuốn “Nghiên cứu lượng từ tiếng Hán hiện đại” Dựa vào tiêu chí đặc điểm
ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp, có thể chia lượng từ tiếng Hán thành
bốn loại chính: danh lượng từ (vật lượng từ), động lượng từ, lượng từ kiêm chức, lượng từ phức hợp (lượng từ kép).
1.2.2.1 DANH LƯỢNG TỪ (VẬT LƯỢNG TỪ)
Danh lượng từ thông thường được đặt sau số từ, dùng để biểu thị số
lượng của người và sự vật, được chia nhỏ thành bảy loại như sau: lượng từ cá thể, lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận, lượng từ chuyên trách, lượng từ chuyển loại, lượng từ tạm thời, lượng từ đo lường
- Lượng từ cá thể: dùng để biểu thị số đơn của người và sự vật, cũng là
loại lượng từ chuyên dùng cho danh từ cá thể Nói cách khác, những danh từ cá thể có thể đếm từng cái một như: (bàn), (phòng học), (học sinh), (giáo viên) v.v đều có các lượng từ cá thể chuyên dùng riêng cho chúng: (chiếc), (căn), (người), (vị) v.v Có thể nói rằng
lượng từ cá thể là chủ thể của danh lượng từ, phạm vi ứng dụng rất rộng
lớn, ranh giới phân định của lượng từ cá thể cũng rất rõ ràng, hơn nữa chức năng của nó rất đa dạng, số lượng cũng rất nhiều Các lượng từ cá thể thường dùng gồm có:
(đội, bản) (tấm) (cánh)
Trang 35Trong số các lượng từ cá thể thì lượng từ (gè) là thông dụng nhất,
đa số các danh từ cá thể đều có thể dùng với (gè) để chỉ số lượng Có thể nói rằng lượng từ (gè) là một lượng từ đặc biệt trong lượng từ cá thể Song, lượng từ cá thể cũng có những mặt hạn chế của nó như sau:
Trước hết, lượng từ cá thể yêu cầu phải được kết hợp với danh từ đếm được cụ thể, như lượng từ (vị) chỉ có thể dùng trước danh từ đếm được cụ thể
Ví dụ: (một vị giảng viên ) (một vị học giả)
(một vị bác sĩ) (một vị tướng quân)
Nhưng lượng từ (vị) không được dùng với danh từ trừu tượng Chẳng hạn không thể nói: “ ”(một vị tư tưởng), “ ”(một vị chủ
nghĩa) Và cũng không được dùng với danh từ không đếm được như: không thể nói: “ ”(một vị cát), “ ”(một vị sữa bò)
Thông thường, lượng từ cá thể và danh từ cá thể thường có mối quan hệ kết hợp nhất định Ví dụ:
(hổ) Ỉ lượng từ (con) (dao) Ỉ lượng từ (con) (ngựa) Ỉ lượng từ (con) (cá) Ỉ lượng từ , (con) Ngoài ra giữa lượng từ cá thể và danh từ cá thể không được thêm trợ từ “ ”(của) vào giữa Ví dụ: không thể nói , , ,
Nhưng khi số từ “ ”(một) kết hợp với lượng từ cá thể ở dạng trùng
điệp như “ABB” hoặc “ABAB” thì ta có thể thêm trợ từ (của) ở giữa
lượng từ và danh từ trung tâm Lúc đó lượng từ trùng điệp sẽ mang nghĩa
Trang 36“mỗi một cái” Ví dụ:
Qua những điểm nêu trên, có thể thấy rằng, lượng từ cá thể là một loại tiêu biểu nhất trong lượng từ tiếng Hán Về mặt tu từ, ngữ pháp và ý nghĩa của lượng từ cá thể đều có nét đặc trưng rõ ràng Trong đó, ý nghĩa sắc thái và chức năng tu từ của lượng từ cá thể rất phong phú, đó chính là cái mà ngôn ngữ Ấn Âu không có
- Lượng từ tập hợp: dùng để biểu thị số lượng tập thể của người và sự
vật Đây là loại lượng từ đối lập với lượng từ cá thể, và nó được chia thành
hai loại nhỏ: lượng từ định lượng xác định và lượng từ định lượng không xác định
- Lượng từ định lượng xác định: dùng để biểu thị số lượng tập thể cố
định bất biến của người và sự vật như: “ (đôi), (cặp, đôi), (bộ, đôi),
(tá), (tuần) v.v…” đều biểu thị số lượng từ “một” trở lên và phải đếm
từng nhóm Số lượng tập thể mà những lượng từ này biểu thị là nhất định, cho dù kết hợp với đại từ hay số từ thì số lượng vẫn không thay đổi Ví dụ:
(1) “ (đôi), (cặp, đôi)” biểu thị các người hoặc sự vật thành đôi,
thành cặp Ví dụ:
(một đôi vợ chồng) (đôi vợ chồng này)
Trang 37(2) “ (bộ, đôi, cặp)” biểu thị hai cái, thành nhóm thành bộ:
Ngoài ra, “ (bộ, đôi, cặp)” còn biểu thị số lượng nhất định của sự vật:
(một bộ mạt chược) (bộ cờ vây này) (3) “ (tá)” biểu thị số lượng 12 cái, chỉ các vật được đóng gói xếp
thành tá, nó chỉ kết hợp với danh từ chỉ vật mà thôi:
(một tá khăn lông) (một tá bút chì) (4) “ (tuần)” biểu thị 10 ngày hoặc 10 tuổi:
(10 ngày đầu tháng) (mẹ già 80 tuổi)
Danh từ cá thể cũng có thể dùng lượng từ tập hợp, nhưng số lượng biểu thị của lượng từ cá thể và lượng từ tập hợp không giống nhau Ví dụ:
(một con mắt) ≠ (một đôi mắt) (một con dê) ≠ (một đàn dê)
(một người sinh viên) ≠ (một tốp sinh viên)
Nhưng đối với danh từ tập hợp thì chỉ có thể dùng lượng từ tập hợp, không dùng với lượng từ cá thể Chẳng hạn như các danh từ tập hợp: “(vợ chồng), (ba mẹ), (con cái), (nhân khẩu), (giấy tờ) v.v…” không được dùng với lượng từ cá thể
- Lượng từ định lượng không xác định: dùng để biểu thị số lượng
tập thể không cố định và không chính xác của người và sự vật Loại lượng
Trang 38từ này thường dùng gồm có: (nhóm), (bọn), (đàn), (tốp), (ổ), (tổ), (vũng), (hàng), (loạt), (nhóm) …
(một nhóm người) (một tốp người) (một ổ heo con) (một tổ chim)
Số lượng được nêu ở đây đều rất khó nói rõ cụ thể con số Nó thường không nhất định, có thể thay đổi, số lượng đại khái mà thôi
Trong số các lượng từ bất định thì lượng từ “ (số), (chút, tí)” được sử dụng nhiều nhất Đặc điểm ngữ pháp của “ (số), (chút, tí)” tuy có điểm giống nhau nhưng cũng có điểm khác nhau như sau:
- Trước lượng từ “ , ” chỉ được dùng với số từ “một” để nhấn
mạnh số lượng rất ít, mà không dùng với số từ khác như (hai), (ba)
Ví dụ: (một vài người) (một ít người)
Ỉ không thể nói: hoặc
Đôi khi “ ” cũng có thể dùng ở dạng phủ định kết hợp với “(chưa), (không)”
Ví dụ: (chưa ăn chút nào cả)
(không hiểu chút nào cả)
- Lượng từ “ , ” đều có thể kết hợp với các đại từ chỉ thị “ (này), (kia), (thế này), (thế kia)”, nhưng khi “ ” kết hợp với “ , ” thì số lượng được biểu thị sẽ nhiều hơn “ ” Ví dụ:
(số người này) (số việc đó)
(nhiều đồ thế này) (nhiều cảm tượng thế kia)
Trang 39(chút ít người này) (chút việc đó)
(chút đồ thế này)
(
chút cảm tượng thế kia)
- Trước lượng từ “ , ” đều có thể thêm tính từ để biểu thị mức độ
hay số lượng được tăng lên hay giảm xuống chút ít, có nghĩa “hơi, có chút”
Ví dụ: (hơi lạnh), (hơi nóng)
- Đôi khi lượng từ “ ” có thể trùng điệp ở dạng “ABB” hoặc
“ABAB” để nhấn mạnh số lượng rất ít, nhưng lượng từ “ ” thì không
Ví dụ: .(đã hiểu được chút ít)
.(xem từng chút từng chút)
Ỉ Không thể nói: hoặc
Bên cạnh đó, trong số lượng từ định lượng không xác định có một ít lượng từ mang ý nghĩa rất mơ hồ khi phân định các đối tượng khách quan Chức năng ngữ nghĩa của lượng từ có ý nghĩa mơ hồ nhằm mục đích thông
qua “số lượng mơ hồ” và “hiệu quả mơ hồ” để thể hiện một bầu không khí và một cảm giác thú vị Số lượng tập thể của các lượng từ này biểu thị là
không thể tính toán được, do đó nó chỉ có thể kết hợp với các danh từ trừu tượng không đếm được, và chỉ dùng với số từ “ ”(một) mà không dùng số từ “ ”(hai) Ví dụ:
: một làn gió (không thể nói: )
: một nắm thuốc sợi (không thể nói: )
: một lớp sóng (không thể nói: )
: một vệt dầu mỡ (không thể nói: )
- Lượng từ bộ phận: thường dùng để biểu thị một phần số lượng trong
một tổng thể, nó có tính độc lập và đối lập với số lượng tổng thể của sự
Trang 40vật
Ví dụ: (một nửa số người) ≠ (cả tập thể)
(một bài văn) ≠ (một bộ sách) (một trang sách) ≠ (cả bộ sách) (một thang thuốc) ≠ (cả bao thuốc) (một miếng bánh) ≠ (cả cái bánh)
(một miếng bánh mì) ≠ (cả cái bánh mì) (một phần dưa) ≠ (cả trái dưa)
(một đoạn mía) ≠ (cả cây mía) (một cánh hoa) ≠ (cả bông hoa) (một đoạn văn) ≠ (cả bài văn)
Điểm nổi bật của lượng từ bộ phận là có thể kết hợp với “số từ” bất kỳ
Ví dụ: (tiết, đoạn) Ỉ (một đoạn mía)
(hai tiết học) (mấy đoạn âm tiết) (góc, phần) Ỉ (một phần dưa)
(bánh tam giác) (hai góc bánh) Riêng lượng từ bộ phận “ ”(nửa) là một lượng từ rất đặc biệt mang
hai ý nghĩa, vừa là lượng từ vừa là số từ; nhưng khi làm lượng từ thì chỉ được
dùng với “ ”
Ví dụ: (một nửa tài sản)