1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng ngữ nghĩa luận án thạc sĩ 5 04 27

143 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng-ngữ nghĩa luận án thạc sĩ 5 04 27
Tác giả Lê Thị Thanh Trúc
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Bích Lài
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 418,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2.1.1. Khái niệm nghĩa đen và nghĩa bóng 13 (14)
  • 1.2.1.2. Tìm hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng trong tục ngữ 14 (15)
  • 1.2.2. Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn 17 1. Khái niệm nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn 17 (18)
    • 1.2.2.2. Tìm hiểu nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn trong tục ngữ 18 (19)

Nội dung

Nếu như nghiên cứu cấu trúc- ngữ nghĩa của tục ngữ là “phát hiện những cấu trúc nghĩa logic khái quát dùng làm cơ sở để tạo nên các câu tục ngữ” [56,4 ] thì việc nghiên cứu tục ngữ trên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GI A THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 5.04.27

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ THỊ BÍCH LÀI

TP.HỒ CHÍ MINH- 2007

Trang 2

MỤC LỤC

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7

CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 10

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ, quán ngữ, cách ngôn, châm ngôn, ca

1.2.1.1 Khái niệm nghĩa đen và nghĩa bóng 13 1.2.1.2 Tìm hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng trong tục ngữ 14 1.2.2 Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn 17 1.2.2.1 Khái niệm nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn 17 1.2.2.2 Tìm hiểu nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn trong tục ngữ 18

1.4.1 Lịch sử vấn đề và khái niệm trường 23

2.3 Trường từ vựng-ngữ nghĩa của các từ chỉ nghề nghiệp của con người có

2.4 Trường từ vựng-ngữ nghĩa của các từ chỉ mối quan hệ thân tộc của con

2.5 Trường từ vựng-ngữ nghĩa của các từ chỉ giới tính của con người có trong

Trang 3

Chương ba

TRƯỜNG TỪ VỰNG- NGỮ NGHĨA CÁC TỪ CHỈ ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT

3.1 Trường từ vựng-ngữ nghĩa các từ chỉ động vật 61 3.1.1 Tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ gia súc 61 3.1.2 Tiểu trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ gia cầm 67 3.1.3 Tiểu trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ chim chóc 69 3.1.4.Tiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ các loài động vật dưới nước 75 3.1.5 Tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ các loài gặm nhấm và bò sát 81 3.1.6 Tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ các loài côn trùng 83 3.2 Trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ thực vật 90 3.2.1 Tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ các loài thực vật dùng làm lương

CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG- NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ CHỈ SỐ LƯỢNG; THỜI GIAN- KHÔNG GIAN, ĐỊA ĐIỂM; THỰC PHẨM VÀ THỨC UỐNG

4.1 Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ số lượng 111

4.2 Trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ thời gian; không gian- địa điểm 118 4.2.1 Trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ thời gian 118 4.2.2 Trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ không gian, địa điểm 127 4.3 Tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa về thực phẩm và thức uống 128

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tục ngữ được xem là tài sản tinh thần, văn hóa quý giá của mỗi dân tộc Kho tàng tục ngữ Việt tập trung những tri thức, những kinh nghiệm sống và đạo đức mà ông cha ta đã chắt lọc qua bao thế hệ và truyền lại cho con cháu mai sau Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng kho báu tục ngữ ấy vẫn chưa được khai thác, nghiên cứu một cách toàn diện, đa chiều để có thể vận dụng vào việc giảng dạy cũng như tìm hiểu Lý do dẫn đến tình hình ấy có lẽ một phần là do việc xử lý các đơn vị tục ngữ chưa thật hoàn thiện cho việc khai thác hữu hiệu thể loại văn chương dân gian này Ngoài ra, nội dung của nhiều câu tục ngữ không phải dễ dàng hiểu đúng và thấu đáo Điều này đã khiến cho việc truyền thụ những tinh hoa của dân tộc tích lũy trong kho tàng tục ngữ đối với thế hệ trẻ chưa đạt được mục đích như chúng ta mong đợi Nghiên cứu thật thấu đáo các vấn đề của tục ngữ, nhất là vấn đề ngữ nghĩa sẽ góp phần đặt tục ngữ vào vị trí xứng đáng trong đời sống tinh thần của chúng ta

Nếu như nghiên cứu cấu trúc- ngữ nghĩa của tục ngữ là “phát hiện những cấu trúc nghĩa logic khái quát dùng làm cơ sở để tạo nên các câu tục ngữ” [56,4 ] thì việc nghiên cứu tục ngữ trên bình diện ngữ nghĩa nhìn từ lí thuyết trường từ vựng- ngữ nghĩa sẽ giúp chúng ta phát hiện ra tính hệ thống của từ vựng về mặt ngữ nghĩa, tạo cơ sở để ta hiểu thấu đáo nghĩa của tục ngữ

Như vậy, việc nghiên cứu ngữ nghĩa của tục ngữ không những giúp ta hiểu thấu đáo những câu tục ngữ mà còn góp phần nâng cao hiệu quả việc dạy và học tục ngữ trong nhà trường cũng như việc sử dụng tục ngữ ngoài xã hội Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu của mình:

Trang 5

“Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nhìn từ lí thuyết trường từ vựng-ngữ nghĩa”

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Như trên đã nói, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu bình diện từ vựng- ngữ nghĩa của các từ cấu tạo nên, xây dựng nên tục ngữ Cụ thể chúng tôi sẽ đi vào thống kê, miêu tả, phân tích các lớp từ từ góc độ trường từ vựng- ngữ nghĩa Do điều kiện hạn chế về thời gian và khuôn khổ của luận văn nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số trường từ vựng thuộc hạt nhân của hệ thống từ vựng trong mỗi ngôn ngữ và đồng thời có sự sử dụng và biến đổi nghĩa rất phong phú trong lời nói Những trường từ vựng- ngữ nghĩa phổ biến được khảo sát trong luận văn đó là:

1.Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ người

2 Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ động vật, thực vật, đồ vật- đồ dùng

3 Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ số lượng; thời gian, không gian- địa điểm; thực phẩm và thức uống

Mục đích của luận văn là tìm ra được những từ nào thuộc các trường từ vựng trên được sử dụng để cấu tạo tục ngữ, bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá, lí giải về sự có mặt của những từ này và sự vắng mặt của những từ khác; từ đó tìm hiểu những nét biểu trưng cơ bản được thể hiện qua tục ngữ Việt

3 Lịch sử vấn đề

Tục ngữ trở thành đối tượng sưu tầm, nghiên cứu ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX Từ đó đến nay đã có hàng trăm công trình lớn nhỏ khác nhau nghiên cứu về thể loại văn học dân gian này Trong số các công trình ấy đáng

chú ý nhất là quyển Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan [90],

Trang 6

quyển Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên- Lương Văn Đang và Phương Tri [6], quyển Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào[89], quyển Tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính và Phan Hồng Sơn [75], quyển Từ điển thành ngữ- tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân [44]

Có thể nói tục ngữ đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau bởi vị trí quan trọng trong kho từ vựng của một ngôn ngữ Ở Việt Nam, tục ngữ được nghiên cứu chủ yếu trên những phương diện sau:

3.1 Về phương diện cú pháp

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu cấu trúc cú pháp của tục ngữ Việt dưới nhiều góc độ khác nhau và với những mục đích khác nhau

Cao Xuân Hạo đã sử dụng tục ngữ làm ngữ liệu minh hoạ cho những mô hình cấu trúc câu tiếng Việt theo quan điểm chức năng [4, 153-174] Nguyễn Đức Dương trong bài nghiên cứu về “Cấu trúc cú pháp của các đơn vị tục ngữ “[52] đã nêu ra một số thủ pháp cho việc phân giới đề- thuyết của cấu trúc cú pháp câu tục ngữ Việt Nguyễn Đức Dân trong bài “Vài nhận xét về đặc điểm cú pháp cuả tục ngữ Việt” [50] đã nghiên cứu tục ngữ từ góc độ lôgic- ngữ nghĩa, mở ra một hướng nghiên cứu mới về cú pháp tục ngữ Việt

Tiếp bước những người đi trước, Nguyễn Thái Hòa trong luận án phó tiến

sĩ “Miêu tả và phân loại các khuôn hình tục ngữ Việt Nam” [59] và trong quyển

“Tục ngữ Việt Nam- Cấu trúc và thi pháp” [60] đã miêu tả và phân loại một cách

tỉ mỉ, có hệ thống các khuôn hình cú pháp tục ngữ Việt

3.2 Về phương diện ngữ nghĩa

Nhiều nhà nghiên cứu ngữ nghĩa của tục ngữ cho rằng tục ngữ có nghĩa đen (nghĩa gốc) và nghĩa bóng (nghĩa phái sinh) Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, nghĩa ban đầu khi mới hình thành câu tục ngữ Nghĩa bóng được phát triển trên cơ sở nghĩa đen qua quá trình lưu truyền trong không gian và thời gian

Trang 7

Về vấn đề này, Hoàng Văn Hành đã nhận xét: “Quan hệ giữa tầng nghĩa

cơ sở với các tầng nghĩa phái sinh là quan hệ liên hội theo quy tắc biểu trưng ngữ nghĩa dưới hình thái ẩn dụ hóa” [62,176] Hoàng Tiến Tựu thì lý giải như sau:

“Nghĩa của mỗi câu tục ngữ chỉ lệ thuộc vào những sáng tác ban đầu một phần (tuy là phần gốc nhưng nhiều khi rất nhỏ), còn chủ yếu lệ thuộc vào người sử dụng… Nói tục ngữ có tính nhiều nghĩa là cách nói theo quan điểm đồng đại, đáng ra phải nói, tục ngữ có tính mở rộng nghĩa” [15,117] Ngoài ra còn có thể tìm thấy ở những lời lý giải khác của các tác giả như Nguyễn Thái Hòa [60], Lê Chí Quế [34], Nguyễn Quý Thành [56], Nguyễn Thanh Tùng [57], [58], Nguyễn Công Đức [40], Nguyễn Đức Dương [53], Nguyễn Bá Lương [39], Đỗ Thị Kim Liên [20], [21], Nguyễn Đức Dân [49] v.v… Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về phương diện ngữ nghĩa nhưng xét từ góc độ lý thuyết trường từ vựng- ngữ nghĩa của Nguyễn Thúy Khanh [67], Nguyễn Đức Tồn [54] Cũng với mục đích khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt xét từ góc độ lý thuyết trường từ vựng- ngữ nghĩa, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ về các trường từ vựng- ngữ nghĩa phổ biến nhất trong tục ngữ Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu toàn bộ tục ngữ của một dân tộc là công việc hết sức công phu và cần phải có thời gian dài Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ở đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng- ngữ nghĩa

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Để đạt được những mục tiêu, giải quyết các nội dung mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 4757 câu tục ngữ (tổng số từ trong các câu tục ngữ là 38783 từ) và sử dụng các phương pháp sau:

Trang 8

5.1 Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa: luận văn sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa để miêu tả, phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt xét từ góc độ lý thuyết trường từ vựng- ngữ nghĩa

5.2 Phương pháp thống kê: luận văn sử dụng phương pháp thống kê để thống kê các trường từ vựng ngữ nghĩa vàsố lần xuất hiện của các từ có trong trường từ vựng ngữ nghĩa được thể hiện trong tục ngữ Việt

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu là

các câu tục ngữ trong “Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam”, tập IV (quyển 1),

Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn, Nhà xuất bản Giáo dục 1998 Ngoài ra

chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu khác như “Từ điển thành ngữ, tục

ngữ Việt Nam (Vũ Dung- Vũ Thúy Anh- Vũ Quang Hào), “Từ điển giải thích thành ngữ tục ngữ” ( Nguyễn Lân), “Từ điển thành ngữ tục ngữ- ca dao Việt Nam” ( Việt Chương), “ Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” ( Vũ Ngọc Phan), các câu tục ngữ trong bảng phụ lục 2 của Nguyễn Quý Thành (luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn,2000), và nhiều bài báo liên quan đến tục ngữ đăng trên các tạp chí như: Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và đời sống, Văn hóa dân gian, Nghiên cứu Đông Nam Á,

v.v…

Ngoài những nguồn tư liệu kể trên, chúng tôi còn sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo khác (xin xem phần tài liệu tham khảo ở cuối luận văn)

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

-Về mặt lý luận: Tục ngữ là mảng đề tài phong phú và lý thú từ trước đến nay thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học, trong đó có Việt ngữ học Thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng làm rõ thêm những đặc điểm của tục ngữ về phương diện ngữ nghĩa Qua đó góp phần nhìn nhận về ngôn ngữ, văn hóa được thể hiện qua tục ngữ

Trang 9

Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào những phát hiện và khám phá tục ngữ trên phương diện từ vựng- ngữ nghĩa, từ đó có một cái nhìn tổng thể, toàn diện về đối tượng này- một kho tàng quý giá thể hiện văn hóa- văn minh, tinh thần, tâm lý dân tộc của người Việt

Về mặt thực tiễn: Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, những người làm công tác giáo dục và học tập tiếng Việt, văn hóa Việt như là tiếng mẹ đẻ cũng như tiếng nước ngoài

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm bốn chương

Chương một: Các vấn đề lý thuyết cơ sở bao gồm những vấn đề khái quát về tục

ngữ, nghĩa của từ ( nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, tiền giả định và hàm ý), trường nghĩa

Chương hai: Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ người trong tục ngữ

Việt Chúng tôi nghiên cứu, khảo sát về từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ các bộ

phận cơ thể của con người, các đặc tính của con người, nghề nghiệp, mối quan hệ thân tộc trong gia đình, giới tính của con người

Chương ba: Trường từ vựng-ngữ nghĩa của các từ chỉ động vật, thực vật, đồ

vật- đồ dùng trong tục ngữ Việt Trong chương này chúng tôi nghiên cứu, khảo

sát về các từ chỉ động vật ( gia súc, gia cầm, chim chóc, các loài động vật dưới nước, các loài gặm nhấm và bò sát, các loài côn trùng), thực vật ( dùng làm lương thực, thực phẩm, lấy gỗ), đồ dùng, đồ vật ( phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày hay phương tiện đi lại, các vật dụng nghề nông)

Chương bốn: Trường từ vựng- ngữ nghĩa của các từ chỉ số lượng, thời gian,

không gian- địa điểm, thực phẩm và thức uống Chúng tôi sẽ nghiên cứu, khảo

Trang 10

sát những từ chỉ số lượng có tần số xuất hiện nhiều ( số “một, hai hoặc đôi, ba, chín, mười, trăm, nghìn, vạn), những từ chỉ thời gian, không gian- địa điểm và những từ về thực phẩm và thức uống thường gặp và phổ biến trong đời sống của người Việt ta

Trang 11

Chương một

CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

1.1 Khái quát về tục ngữ

1.1.1 Khái niệm tục ngữ

Tục ngữ là “túi khôn của nhân loại” được đúc kết bởi hàng nghìn năm văn hiến của dân tộc Quan điểm về tục ngữ của các nhà Việt ngữ học rất khác nhau Tìm hiểu về tục ngữ có các tác giả như: Nguyễn Văn Mệnh, Vũ Ngọc Phan, Hoàng Văn Hành, Chu Xuân Diên, Nguyễn Đức Dân, Cù Đình Tú, Hoàng Phê,v.v… Kế thừa thành quả của các tác giả đi trước và sau khi cân nhắc nhiều tiêu chí, luận văn chúng tôi quyết dịnh sử dụng định nghĩa sau: “Tục ngữ là những câu ngắn gọn và thường có vần điệu, truyền đạt những tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức mà nhân dân đúc kết được từ thực tiễn” [27,1026]

Như vậy, định nghĩa đã nêu lên được tất cả các thuộc tính quan trọng của tục ngữ:

-Tục ngữ là những đơn vị câu

-Tục ngữ phải là những hình thức biểu đạt súc tích về ngôn từ

-Tục ngữ thường phải có vần điệu

-Nội dung của tục ngữ là những tri thức và kinh nghiệm đạo đức mà nhân dân đúc kết được từ thực tiễn

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ, quán ngữ, cách ngôn, châm ngôn,

ca dao

a Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Việc phân biệt tục ngữ và thành ngữ đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm Người có ý kiến đầu tiên là Dương Quảng Hàm: “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn

Trang 12

thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì đó cho có màu mè”[10,15] Tuy nhiên Vũ Ngọc Phan lại cho rằng: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn”[90,31] Nguyễn Văn Mệnh cũng khẳng định: “Có thể nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ là mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói… Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”[69,13] Theo Cù Đình Tú thì: “Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ Tục ngữ xét về một mặt nào đó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ”[8,40], “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh… Tục ngữ cũng như các sáng tác khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo…”[8,41] Như vậy qua các kết quả nghiên cứu trên, chúng ta có thể rút ra một số điểm khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ:

- Về mặt ngữ nghĩa: Tục ngữ truyền đạt kinh nghiệm của người xưa hay “một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh” [18,72] Ngược lại nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, miêu tả một hình ảnh, một trạng thái nào đó mang tính chất riêng lẻ

- Về mặt ngữ pháp: “Mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”[69,13]

- Về mặt chức năng: Thành ngữ có chức năng định danh, tức gọi tên sự vật, hiện tượng còn tục ngữ có chức năng thông báo Chính điều này đã chi phối nội dung, cấu trúc cú pháp và sự vận dụng thành ngữ, tục ngữ

Theo đó, những cụm từ sau sẽ được xem là thành ngữ: Chỉ tay năm ngón; Bắt cá

hai tay; Cạn tàu ráo máng; Rào trước đón sau; Sét đánh ngang tay; v.v…

Trang 13

Tuy vậy việc phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ không phải lúc nào cũng có thể vạch ra được đường ranh giới rõ ràng bởi giữa chúng cũng có những điểm khá giống nhau: Chúng đều là những đơn vị ngôn ngữ có sẵn, giàu hình ảnh và giàu sắc thái biểu cảm

b Phân biệt tục ngữ với quán ngữ

Đặc điểm cơ bản để phân biệt tục ngữ và quán ngữ là ở mặt chức năng Tục ngữ có chức năng thông báo nhưng quán ngữ thì lại có chức năng đưa đẩy, chuyển ý, dẫn nhập, rào đón dùng để đệm vào các phát ngôn Ngoài ra xét về mặt ngữ pháp thì tục ngữ là một câu hoàn chỉnh trong khi quán ngữ chỉ là những

cụm từ cố định Thí dụ những quán ngữ như: thảo nào; chẳng lẽ; chả trách; của

đáng tội;v.v…

c Phân biệt tục ngữ với cách ngôn và châm ngôn

Cách ngôn là những “câu nói ngắn gọn được lưu truyền, có ý nghĩa giáo

dục về đạo đức”[27,115] Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

Châm ngôn là những “câu nói có tác dụng hướng về đạo đức, về cách

sống”[27,150] Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương

nhau cùng

Dựa vào định nghĩa trên ta thấy việc phân biệt giữa tục ngữ với cách ngôn và châm ngôn cũng không phải là điều dễ dàng

d Phân biệt tục ngữ với ca dao

Điểm khác biệt nổi bật giữa ca dao và tục ngữ là ca dao thường được lập thức dưới dạng một hoặc đôi ba câu thơ lục bát (hoặc lục bát biến thể) Thí dụ

như câu ca dao sau: Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…

Xét về mặt nội dung, “tục ngữ thiên về lí trí, ca dao thiên về tình cảm”[34,196]

“Tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lý dân gian, tri thức dân gian, ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian”[74,50]

Trang 14

Như vậy xét về mặt lý luận, ranh giới giữa ca dao và tục ngữ xem ra khá rõ ràng Tuy nhiên thực tế thì lại không đơn giản chút nào Những câu lục bát nói về thời tiết, sản vật, danh lam thắng cảnh, con người của từng vùng quê hương đôi khi khiến người đọc không biết nên phân loại là ca dao hay tục ngữ Thí dụ

như câu sau: Nhất cao là núi Tản Viên,

Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường

Trong tiếng Việt, việc phân giới một cách rõ ràng các thuật ngữ tục ngữ, thành ngữ, quán ngữ, cách ngôn, châm ngôn và ca dao thật phức tạp và gây không ít trở ngại cho việc thực hành

1.2 Vấn đề nghĩa của tục ngữ

1.2.1 Nghĩa đen và nghĩa bóng

1.2.1.1 Khái niệm nghĩa đen và nghĩa bóng

Theo Nguyễn Như Ý “nghĩa đen là nghĩa từ vựng của từ theo đúng nghĩa của nó, còn gọi là nghĩa trực tiếp Nghĩa đen cũng đồng thời là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát không có căn cứ, không có tính lý do Còn nghĩa bóng là nghĩa phái sinh, nghĩa thứ yếu của từ, bắt nguồn từ nghĩa đen hoặc một nghĩa bóng khác nhờ kết quả của việc sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị sự vật không phải là vật quy chiếu tự nhiên, thường xuyên.một từ có được nghĩa bóng khi nó định danh sự vật không phải trực tiếp, mà qua một sự vật khác theo phép ẩn dụ, hoán dụ hay cải dụng Như vậy, nghĩa bóng của từ là nghĩa có căn cứ, có tính lý do” [48,144]

Trong “Từ điển Tiếng Việt” ( năm 2000, do Hoàng Phê chủ biên), dù không

đề cập một cách rõ ràng nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng ta dễ nhận thấy rằng các từ đa nghĩa, nghĩa đầu tiên thường là nghĩa đen, còn các nghĩa khác là nghĩa phái sinh, thứ yếu, không cơ bản, xuất phát từ một nghĩa bóng khác Theo như trang 14 của quyển từ điển này thì các nghĩa của một đơn vị đa nghĩa được đánh

Trang 15

số bằng chữ Ả Rập 1,2,3,…,xếp theo một thứ tự căn cứ vào sự phát triển logic của ngữ nghĩa; khi không xác định một thứ tự như vậy, thì nêu nghĩa cụ thể trước nghĩa trừu tượng, nghĩa đen trước nghĩa bóng, nghĩa thông thường trước nghĩa chuyên môn hoặc phương ngữ, nghĩa thường dùng trước nghĩa cũ Hãy xem thí dụ minh hoạ sau:

Cây d 1 Thực vật có rễ, thân, lá rõ rệt, hoặc vật có hình thù giống

những thực vật có thân, lá Cây tre Cây nấm Aên quả nhớ kẻ trồng cây (tng.) 2 Từ dùng để chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vật có hình như thân cây Cây cột

Cây nến Cây rơm 3 (ph.) Gỗ Mua cây đóng bàn ghế 4 (kng.) Từ dùng để chỉ

người thông thạo đặc biệt về một mặt nào đó trong sinh hoạt Anh ta là một cây

kể chuyện Cây văn nghệ 5 (kng.) Cây số (nói tắt) Còn ba cây nữa là đến nơi 6

(kng.) Lạng (vàng) Một cây vàng Giá hai cây ba chỉ”[27,128-129]

Qua thí dụ trên ta có thể nhận thấy rằng: Mục từ cây có 1 nghĩa đen và 5

nghĩa bóng Nghĩa đen là thực vật có rễ, thân, lá rõ rệt” Các nghĩa bóng là (1) từ dùng để chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vật có hình như thân cây (hay vật có chiều cao nhất định), (2) gỗ (chỉ vật liệu), (3)từ dùng để chỉ người thông thạo đặc biệt về một mặt nào đó trong sinh hoạt (hay chỉ người giỏi), (4) cây số (hay chỉ khoảng cách), và (5)lạng (vàng) (hay chỉ giá trị) Như vậy các nghĩa: vật có chiều

cao nhất định, chỉ vật liệu, chỉ người giỏi, chỉ giá trị của từ cây đều là nghĩa bóng,

và chúng được sắp xếp trong từ điển sau nghĩa đen được nêu ra đầu tiên

1.2.1.2 Tìm hiểu nghĩa đen và nghĩa bóng trong tục ngữ

Khi nói về nghĩa của tục ngữ, Đinh Gia Khánh cho rằng: “một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng” [11,243]

Sau này tiếp tục công việc của các bậc thầy và các đồng nghiệp của nghiệp của mình trong giáo trình “văn học dân gian Việt Nam” viết cho sinh viên Đại học tổng hợp Hà Nội,Lê Chí Quế đã nhấn mạnh: “Tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen (hay là nghĩa gốc) và nghĩa bóng”[34,197] Như vậy, ở đây tác giả đã tuyệt đối hóa tính hai nghĩa của tục ngữ và loại bỏ đi một bộ phận tục

Trang 16

ngữ- loại chỉ có một nghĩa Chẳng hạn như những câu tục ngữ sau chỉ có một nghĩa:

a)“Tháng tám nắng rám trái bưởi”

b)“Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa”

c)“Một búi cỏ, một giỏ phân”

d)“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng”

e)“Ngày thàng mười chưa cười đã tối”

f)“Đỉa bám lên, sên bám xuống”

g)“Mùa đông mưa dầm gió bấc, mùa hè mưa to gió lớn, mùa thu sương sa nắng gắt”

h)“Tháng ba bà già chết cóng”

i)“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”

j)“Mỡ gà thời nắng, mỡ chó thời mưa”

k)“Chớp đông nhay nháy gà gáy thì mưa”

l)“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”

m)“Quạ tắm thì nắng, sáo tắm thì mưa”

n)“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”

v.v và v.v…

Qua các câu tục ngữ trên, ta có thể thấy rằng: “trong những câu tục ngữ một nghĩa, sự miêu tả những hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người không có hàm ý gì khác ngoài ý nghĩa toát ra từ bản thân các hiện tượng ấy” [6,63]

Trong khi đó, Hoàng Tiến Tựu [28] đã chia khá tỷ mỷ các loại tục ngữ để xác định nghĩa của từng loại, và đặc biệt nhấn mạnh bộ phận tục ngữ có nhiều nghĩa Ông viết: “Có những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa Nhưng bộ phận tục ngữ

đa nghĩa chiếm tỷ lệ khá lớn, chất lượng khá cao và là bộ phận tiêu biểu nhất của thể loại này” Thí dụ câu:

“Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ”

Trang 17

Không phải chỉ nói lên một nhận xét về hiện tượng kiến tha mồi mà còn nói lên một phán đoán về các hành động kiên trì, nhẫn nại của con người nữa Hay như câu:

“Lớn thuyền lớn sóng”

đâu phải chỉ có người đi sông đi biển sử dụng Người đi buôn, thợ đi rừng, anh học trò, hay thủ trưởng một cơ quan đều có thể sử dụng trong một văn cảnh thích hợp

Theo Bùi Mạnh Nhị thì: “Trong tục ngữ, cái cụ thể và cái khái quát liên quan đến nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp gắn liền với sự vật và hiện tượng ban đầu Nghĩa bóng là nghĩa gián tiếp, nghĩa biểu tượng, ẩn dụ” [3,244]

Ở đây, ta thấy rằng: “Rất nhiều câu tục ngữ qua quá trình lưu truyền, quá trình sử dụng trong lời nói và suy nghĩ, đã từ ý nghĩa ban đầu nói về bản chất của một hiện tượng nhất định mà mở rộng nội dung phản ánh của nó về bản chất của nhiều hiện tượng khác nữa Đó là một quá trình sáng tạo liên tục về nghĩa trên cơ sở sự hình thành nghĩa ban đầu, nghĩa gốc của một câu tục ngữ” [6,65]

Chẳng hạn như những câu tục ngữ sau:

a)“Mật ngọt chết ruồi, những nơi cay đắng là nơi thật thà”

b)“Cây thẳng bóng ngay, cây cong bóng vạy”

c)“Con vua vua dấu, con chấu chấu yêu”

d)“Đời cha trồng cây, đời con ăn quả”

e)“Nước chảy đá mòn”

f)“Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”

g)“Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”

h)“Ở hiền gặp lành”

i)“Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn”

j)“Đất lành chim đậu”

Trang 18

k)“Trèo cao, ngã đau”

v.v và v.v…

Phương pháp phân tích, tìm hiểu nghĩa bóng của tục ngữ, đòi hỏi phải đặt tục ngữ vào hoàn cảnh, trường hợp được sử dụng của nó Cơ sở của sự sử dụng tục ngữ theo nghĩa bóng là ở chỗ tục ngữ biểu hiện những nhận xét khái quát một cách cụ thể, hình ảnh “Nghĩa bóng đã tạo cho tục ngữ khả năng vận dụng vào các trường hợp, và cứ mỗi lần được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì nội dung, ý nghĩa kinh nghiệm, những lớp nghĩa nằm bên trong và bên ngoài từ ngữ của nó lại giàu thêm” [3,244-245] Đối với những câu tục ngữ có nhiều nghĩa, thì khái niệm “nghĩa đen” được sử dụng để chỉ nội dung trực tiếp, nội dung thứ nhất của nó Nội dung này có thể không được dùng nữa ( không tồn tại trong thực tế sử dụng) nhưng nó tồn tại trong bản thân câu tục ngữ và là cơ sở để hiểu được các nghĩa khác Thí dụ câu: “Tre già măng mọc”, “Cha lươn không đào mả cho lươn nằm” chỉ được nhân dân dùng với nghĩa bóng mà thôi Nhưng không vì thế mà nghĩa đen của chúng không tồn tại Như vậy nếu thiếu sự tồn tại của nghĩa đen thì nghĩa bóng cũng biến mất

Nghĩa đen và nghĩa bóng của tục ngữ quan hệ hữu cơ với nhau Nghĩa bóng được thể hiện thông qua nghĩa đen, trên cơ sở của nghĩa đen “Chỉ có thể xới lật, bóc đúng các lớp nghĩa bóng khi đặt nó trong quan hệ logic với nghĩa đen” [3,244]

1.2.2 Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn

1.2.2.1 Khái niệm nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn

Theo Cao Xuân Hạo nghĩa hiển ngôn là hết thảy những gì người nghe có thể cảm nhận được một cách trực tiếp nhờ vào nghĩa nguyên văn (gồm nghĩa đen và một số nghĩa như đề dụ, hoán dụ, ẩn dụ) của những từ ngữ có mặt trong câu và nghĩa của mối quan hệ ngữ pháp của những từ ấy Nghĩa hàm ẩn là những gì không có sẵn trong nghĩa nguyên văn của các từ ngữ và trong mối quan hệ cú

Trang 19

pháp ấy nhưng người nghe vẫn có thể cảm nhận được một cách gián tiếp nhờ vào phép suy diễn [5]

1.2.2.2 Tìm hiểu nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn trong tục ngữ

Nói đến nghĩa hiển ngôn của các đơn vị tục ngữ là nói đến hai thành tố chính hợp thành cái nghĩa ấy: nghĩa từ vựng của các yếu tố có mặt trong các đơn

vị tục ngữ và nghĩa của các mối quan hệ ngữ pháp liên kết giữa các yếu tố trong đó Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến thành tố thứ nhất Đó là nghĩa từ vựng của các yếu tố có mặt trong tục ngữ

Chúng ta đều biết rằng, mỗi câu tục ngữ là một phát ngôn hoàn chỉnh Mỗi phát ngôn phải đảm bảo hai yếu tố: từ và ngữ Từ tạo ra logic ngữ nghĩa, ngữ chính là logic cú pháp Logic ngữ nghĩa có được trước hết là nhờ vào nghĩa vốn có của từ Mỗi từ trước khi tham gia vào tổ chức phát ngôn đều mang những nghĩa độc lập, nghĩa gốc, được gọi là nghĩa từ vựng Nghĩa từ vựng luôn luôn tồn tại trong các phát ngôn nhưng không phải trong bất kỳ trường hợp nào nghĩa của nó cũng là nghĩa của phát ngôn Thí dụ câu:

“ Một búi cỏ, một giỏ phân”

được người nghe tiếp nhận trực tiếp từ nghĩa từ vựng Tuy nhiên ở câu:

Tuy nhiên, nhìn chung nghĩa từ vựng của các từ ngữ có mặt trong các đơn

vị tục ngữ, trong nhiều trường hợp, hầu như chẳng có gì khác biệt đáng kể lắm so với nghĩa từ vựng của các thành tố thường hiện diện trong những câu mà chúng ta vẫn gặp trong giao tiếp hàng ngày Thí dụ đối với những câu tục ngữ sau:

a Ai giàu ba họ ai khó ba đời

b Con hơn cha là nhà có phúc

Trang 20

c Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ

d Aên trông nồi, ngồi trông hướng

e Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo

f Không thầy đố mày làm nên

g Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

h Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ

i Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

j Mềm nắn, rắn buông

k Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng

l Đông tay hơn hay làm

m Con gái giống cha giàu ba họ, con trai giống mẹ khó ba đời

n Nhất vợ, nhì trời

o Học thầy không tày học bạn

p Nốt ruồi ở tay ăn vay suốt đời

q Tiên học lễ, hậu học văn

r Én bay thấp mưa ngập bờ ao, én bay cao mưa rào lại tạnh

v.v và v.v; chúng ta hầu như không gặp một trở ngại nào trong việc tìm nghĩa từ

vựng của các thành tố ngôn từ có mặt trong đó

Tuy nhiên, vẫn còn một số những đơn vị tục ngữ mà khía cạnh ngữ nghĩa của một số từ ngữ trong đó không dễ gì giải thích ngay được Chẳng hạn như những câu sau đây:

a Cơm chắm, mắm chườm

b Cấy tháng sáu máu rồng

c Mùa đất chối, chiêm bối rễ

d Cày trâu loạn, bán trâu đồ

e Lọng máu cáo, áo hoa hiên

f Chiêm bóc vỏ, mùa xỏ tay

v.v và v.v

Trang 21

Ngoài ra, có lẽ phải kể đến một số câu tuy chẳng hề chứa đựng một từ ngữ nào “xa lạ” cả, nhưng vẫn gây cho chúng ta sự lúng túng, đôi khi còn nhầm lẫn trong việc giải thích từ ngữ ấy Và do vậy mà nghĩa của cả câu tục ngữ cũng bị ảnh hưởng Chẳng hạn như câu:

“Rắn mai tại lỗ, rắn hổ về nhà”

Chúng ta ai cũng biết “mai” là “mai gầm” và “hổ” là “hổ mang” Ở đây có tác giả đã giải thích câu tục ngữ trên như sau: “ Nhận xét cho rằng rắn mai gầm thường ở trong hang, còn rắn hổ mang thì thường ra ngoài” [44,244] Cách giải thích trên hoàn toàn khác với cách cảm nhận vẫn lưu truyền rộng rãi trong nhiều vùng quê, ít ra là tại đồng bằng sông Hồng và trung du Bắc Bộ Thực ra đây không phải là một lời “nhận xét” về tập tính của hai loài rắn trên mà đây là một kinh nghiệm sinh tử mà những người bắt rắn đúc kết được từ thực tiễn nghề của họ Đó là: “Rắn mai [cắn thì nạn nhân có thể chết ngay tức khắc], rắn hổ [cắn thì nạn nhân có thể chết khi lê về đến nhà” [31,97] Và do vậy đề tài ở đây không phải là lời “nhận xét” về tập tính như đã nêu ở trên mà đây là “nọc độc” của hai loài rắn trên Nọc độc của rắn mai gầm độc hơn nọc của rắn hổ mang

Tục ngữ là hình thức ngôn từ lấy việc thông tin làm mục tiêu hàng đầu Trong tục ngữ, nghĩa hiển ngôn và hàm ẩn rất hay được bàn đến trong sách vở ngôn ngữ học hiện nay Rất nhiều câu tục ngữ (có thể lên đến hàng nghìn câu) chỉ có nghĩa hiển ngôn mà thôi

Tuy nhiên, trong quá trình thực tế sử dụng cho thấy, vẫn có những câu không theo cái khuôn khổ quen thuộc ấy mà chúng mở rộng dần phạm vi ứng dụng Đây chính là nhân tố chính tạo điều kiện thuận lợi hình thành nghĩa hàm ẩn Xin nêu ra đây vài thí dụ minh hoạ:

Thí dụ 1: “Áo dài chớ ngại quần thưa”

Lúc đầu, câu tục ngữ trên hẳn chỉ có duy nhất một nghĩa: “Vạt áo đã dài rồi thì quần dẫu thưa chăng nữa cũng chẳng có gì là đáng ngại”

Trang 22

Dần dần, trong quá trình sử dụng, nghĩa của câu tục ngữ không còn dừng lại ở chuyện “quần áo” cũng như phẩm chất áo quần ấy là “dài ngắn” hay “dày thưa” nữa, mà liên quan đến khiếm khuyết này hay khiếm khuyết khác của người đời

Kết quả của quá trình mở rộng nghĩa đó là một nghĩa mới xuất hiện, thứ nghĩa mà các tác giả dân gian ngầm gửi gắm và người hiện thời chỉ có thể cảm nhận được nhờ sự suy diễn từ cái nghĩa hiển ngôn ban đầu Đó chính là nghĩa hàm ẩn Và như thế nghĩa của câu hàm ẩn trên là: “Đã có cái bình phong che chắn rồi thì khỏi phải bận tâm đến những khiếm khuyết nhỏ nhặt”

Thí dụ 2: “Bồi ở, lở đi”

Đọc câu tục ngữ trên, ai trong chúng ta cũng có thể hiểu ngay được nghĩa của nó Con sông nào cũng có hiện tượng bên lở, bên bồi Và những người sinh sống ở ven sông thường thích sống ở “bên bồi” hơn vì đất đai được phù sa bồi đắp, thuận lợi cho việc xây cất và trồng trọt hơn Như vậy, nghĩa ban đầu của câu trên là: “Nơi nào đất được bồi đắp thêm thì ở lại, còn nơi nào đất bị xói lở thì [bỏ nơi ấy mà] ra đi” [53,122]

Trong quá trình sử dụng, con người đã phát hiện ra một nghĩa khác vô cùng thâm thúy “Nơi nào được đối đãi tử tế thì ở lại, còn nơi nào bị đối xử tệ bạc thì [bỏ nơi ấy mà] ra đi” [53,122]

Thí dụ3: “Ai bảo trời không có mắt”

Nghĩa hiển ngôn của câu tục ngữ trên chắc ai trong chúng ta cũng dễ dàng nhận ra “Trời”, theo vũ trụ học “ngây thơ” của người Việt, là đấng nắm toàn quyền cai quản mọi tạo vật trên cõi trần Đấng tối cao đó, theo cảm nhận của người Việt, có thể mặt( “mặt trời”), có lưng(“lưng trời”), có chân(“chân trời”) Riêng “mắt” thì chưa từng nghe nói đến

Tuy vậy, người Việt chúng ta vẫn tin rằng: Đấng toàn năng ấy có thể biết tường tận mọi hành động lớn nhỏ, tốt xấu của người đời, dù hành động đó diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật hay nơi kín đáo không ai nhìn thấy Nhưng “Trời” lại

Trang 23

nhìn thấy hệt như thể ngài có đến hàng ngàn cặp mắt tinh anh, luôn quan sát, dõi theo mỗi con người ở khắp mọi ngõ ngách của chốn trần gian

Trong thực tiễn cuộc sống, câu tục ngữ này thường hay được người Việt sử dụng như lời mách bảo với nhau khi chứng kiến cảnh một kẻ nào đó bị “quả báo”

vì những điều ác mà hắn đã gây ra cho con người Người Việt chúng ta tin rằng chính “ông Trời” đã ra tay trừng trị kẻ ác gian ấy Và trên cơ sở ấy, nghĩa hàm ẩn được hình thành và đi vào đời sống hàng ngày của người Việt ta

Như vậy, ngoài nghĩa hiển ngôn: chẳng ai dám bảo trời không có mắt Câu tục ngữ trên còn được dùng với nghĩa hàm ẩn như một lời nhắc nhở người đời rằng: “Đừng tưởng Trời sẽ tha thứ cho ngươi vì Ngài không nhìn thấy những điều ác mà ngươi đã gây ra cho đồng loại mình”

1.3 Phép chuyển nghĩa trong tục ngữ

“Phép chuyển nghĩa được gọi là “hình thể tạo nghĩa” vì nó làm cho nghĩa của từ thay đổi, từ được dùng sẽ mang một nghĩ a mới, và đó lại là nghĩa chính ( từ nghĩa sát theo chữ sang nghĩa ẩn ở chiều sâu, cần đoán định, khám phá)” [3,252] Trong tục ngữ Việt Nam có ba hình thái của phép chuyển nghĩa: hình thái đề dụ, hình thái hoán dụ và hình thái ẩn dụ

a Hình thái đề dụ “Là chỉ một sự vật này bằng tên của một sự vật khác có quan

hệ với sự vật trước về một nguồn gốc, sự cấu thành, bản chất, số lượng” [3,252]

Thí dụ như từ “tay” trong câu: “Đông tay hơn hay làm” được dùng để nói con người; hay từ “lưỡi” trong câu: “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” để nói về

cách nói năng, sự xử thế

b Hình thái hoán dụ “Là chỉ một sự vật này bằng tên một sự vật khác có quan

hệ kế cận tức là cả hai sự vật đều có những nét phù hợp nhau, tương ứng nhau,

nhờ nhau mà có” [3,252] Thí dụ từ “hàm răng” trong câu: “Hòn đất mà biết nói

Trang 24

năng, thì thấy địa lý hàm răng không còn” được dùng để nói cái toàn thể là sự

hành nghề, sự tồn tại

c Ẩn dụ “Là dùng một sự vật chứa đựng trong một từ nào đó để nói đến một sự

vật khác (không hiện rõ trên bề mặt) có sự đồng dạng hay so sánh ngầm với sự

vật trong từ được dùng” [3,253] Thí dụ câu: “Thuận vợ thuận chồng ,tát biển

Đông cũng cạn” “Tát biển Đông” là một hình tượng ẩn dụ Từ hình ảnh “vợ

chồng thuận hòa” sẽ làm nên được những chuyện lớn lao, kỳ vỹ, người ta đã đưa lên thành một đạo lý phổ quát, có tính nhân loại, làm bài học muôn đời: đoàn kết làm nên sức mạnh và sẽ chiến thắng tất cả

Có thể nói trong tục ngữ ẩn dụ là hình thái chuyển nghĩa đạt được mức hư cấu hay tưởng tượng sáng tạo cao nhất

1.4 Vấn đề trường nghĩa

1.4.1 Lịch sử vấn đề và khái niệm trường

“Trường” là một thuật ngữ mượn của các ngành khoa học tự nhiên Những nhà ngôn ngữ học có công đi đầu trong việc đưa ra khái niệm trường và vận dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu hệ thống từ vựng ngữ nghĩa là M.M.Pokrovski- nhà ngôn ngữ học người Nga (1890) Pokrovski đã gắn hệ thống “biểu tượng” giống nhau với các hệ thống của hiện tượng đời sống xã hội và kinh tế ( công cụ lao động) Theo đó, kiểu trường Pokrovski được chia dựa trên cơ sở sử dụng đồng thời ba tiêu chuẩn:

a)Nhóm nội dung, bao gồm các từ có quan hệ dùng

b)Hiện tượng đồng nghĩa

c)Quan hệ tình thái học

Tiếp theo Pokrovski là công lao của Trier- nhà ngôn ngữ học người Đức Tác phẩm đầu tiên của ông là “Trường từ vựng và

Trang 25

trường khái niệm” (1931) Ông cho rằng trường là những thực thể ngôn ngữ tồn tại giữa những từ cá biệt và từ vựng; chúng là bộ phận của một tổng thể, giống từ ở chỗ kết hợp với nhau tạo thành một loại đơn vị cao hơn và giống từ vựng ở chỗ tự chia mình thành những đơn vị nhỏ hơn Weisgerber cũng góp tiếng nói của mình về vấn đề này Về sau cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu khác

Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu đã công bố công trình đầu tiên về

lý thuyết trường vào năm 1973 Theo Đỗ Hữu Châu “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng theo sự đồng nhất về mặt ngữ nghĩa” [14,46] Theo đó, ông đã chia kho từ vựng thành hai kiểu trường: trường ngữ nghĩa và trường ý niệm

1.4.2 Phân loại trường

Dựa theo sự phân loại của Đỗ Hữu Châu, ta có hai kiểu trường: trường ngữ nghĩa và trường ý niệm Cơ sở của sự phân chia này là ý nghĩa biểu thị- vốn dựa trên quan hệ trực tiếp với chức năng gọi tên; và ý nghĩa diễn đạt- vốn dựa trên quan hệ trực tiếp với chức năng biểu đạt khái niệm Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu trường ngữ nghĩa

Trường ngữ nghĩa là một phần hiện thực khách quan được chia tách theo kinh nghiệm chủ quan của con người và có sự tương xứng về mặt lý thuyết trong ngôn ngữ dưới dạng là một nhóm từ, một tiểu hệ thống từ vựng nào đó là sự đồng nhất hay đối lập giữa các đơn vị từ vựng theo một nét nghĩa nào đó trong ý nghĩa Thí dụ, trường ngữ nghĩa về thực vật, động vật, về không gian, thời gian, về con người… Đặc biệt ở đây ta cần chú ý đến các tiểu hệ thống trong những trường ngữ nghĩa Ta hãy xem một thí dụ về trường ngữ nghĩa chỉ hoạt động tác động đến đối tượng sẽ được hình dung như sau [14,50]:

Trang 26

Qua đây, ta có thể thấy cách phân loại của tác giả về trường ngữ nghĩa là dựa vào nghĩa của từ Căn cứ vào cấu trúc biểu vật và cấu trúc biểu niệm của một từ, trường ngữ nghĩa có thể được phân thành trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

a.Trường biểu vật là tất cả các đơn vị từ vựng có liên quan với

nhau ở một nét nghĩa biểu vật nào đó[17,149] Như vậy tất cả các đơn vị nào có chung một nét nghĩa biểu vật thì có thể đưa vào một trường Ta hãy xem một thí dụ về trường nghĩa biểu vật sau [43,33]:

A Con người nói chung:

- Con người xét theo giới tính: nam, nữ, trai, gái, đàn ông,

phá vỡ, chia cắt nối liền làm mất đi tạo lập nên

cắt, chia, xẻ,

diệt, hủy, khử,xóa, hạ, triệt, thủ, tiêu,…

chế tạo, phát minh, hình thành,…

Trang 27

- Con người xét theo nghề nghiệp: sinh viên, nhân viên, thư

ký, giáo viên…

B Hoạt động con người:

- Hoạt động giác quan: nghe, thấy, ngửi, nếm…

- Hoạt động trí tuệ: suy nghĩ, phán đoán, phân tích…

- Hoạt động cơ bắp: xô, đẩy, kéo, đào, xới, xây…

C Đặc điểm con người:

- Đặc điểm ngoại hình: cao, thấp, đẹp, xấu, trắng, đen…

- Đặc điểm nội tâm: hiền, tốt bụng, độc ác, rộng rãi…

b Trường biểu niệm: là một trường nghĩa gồm các đơn vị thỏa một

tính chất nghĩa nào đó ở nét nghĩa biểu niệm Tuy vậy chưa có một tiêu chí nào rõ ràng và cụ thể để nhận diện nó Đỗ Hữu Châu cho rằng có thể phân lập các trường loại này theo các nguyên tắc của trường biểu vật ( nghĩa là dựa trên nét nghĩa phạm trù chung mà

mỗi đơn vị có được) Thí dụ, ta có một tập hợp gồm các từ “phá,

thái, vỡ, sứt, mẻ, gãy… Tập hợp này có thể là một trường nghĩa

biểu niệm được dựa trên nét nghĩa phạm trù chung là sự tác động làm biến đổi hình dáng, trạng thái của sự vật” [43,34]

Tục ngữ phản ánh các sự vật, hiện tượng, tính chất, trạng thái… Sự phản ánh này được thể hiện bằng các từ trung tâm của tục ngữ Đây cũng là cơ sở để các nhà từ điển học xếp loại tục ngữ

Sau đây chương hai, chương ba và chương bốn của luận văn sẽ phân tích một số trường nghĩa tiêu biểu trong tục ngữ Việt

Trang 28

Chương hai

TRƯỜNG TỪ VỰNG- NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ CHỈ NGƯỜI

TRONG TỤC NGỮ VIỆT

2.1 Trường từ vựng-ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể của con người

a Kết quả thống kê ( trên 4757 câu tục ngữ)

Số thứ tự Từ Số lần xuất hiện

Trang 30

đây là những từ chỉ các bộ phận cơ thể người có liên quan đến các hoạt động sống của con người Bằng lao động chân tay và lao động trí óc của mình, con người đã làm nên tất cả để nuôi sống bản thân mình và toàn xã hội Trong 40 từ này, chúng tôi sẽ tiếp tục chia nhỏ thành những trường sau:

b.1 Trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ các bộ phận bên ngoài cơ thể người

b.1.1 Trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ các bộ phận ở phần đầu

gồm có: cổ, đầu, họng, lỗ mũi, lỗ tai, lợi, lưỡi, mắt, mặt, mày (lông mày), má (gò

má), miệng, môi, mồm, răng, gáy, tóc, trốc (đầu) Trong các từ này, các từ ở bộ

phận miệng xuất hiện khá đầy đủ ( môi, răng, lợi, lưỡi, mồm) Điều này cũng dễ

hiểu bởi đây là các từ liên quan đến việc nói, phát âm

b.1.2 Trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ các bộ phận ở thân gồm

có: thân, lưng, bụng, lườn, ngực, vú, vai, hông

b.1.3 Trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ các bộ phận phía dưới và

tứ chi gồm có: cánh tay, chân, đầu gối, đít, ngón (tay), tay, dái

b.2 Trường từ vựng- ngữ nghĩa các từ chỉ các bộ phận bên trong cơ

thể người gồm có: cật, cuống ruột, dạ, ruột, gan, xương

Sau đây chúng tôi sẽ tìm hiểu và phân tích một số nét nghĩa biểu trưng của một số từ có tần số xuất hiện cao trong tiểu trường này

1 Mặt

“Mặt” là phần phía trước, từ trán đến cằm của đầu người “Mặt” là một

trong những bộ phận quan trọng của cơ thể, thể hiện tính cách, diện mạo, đạo đức

của con người “trông mặt mà bắt hình dong” Theo tri nhận của người Việt ta,

mọi cảm xúc: hỉ, nộ, ái, ố đều dễ dàng bộc lộ ngay trên nét mặt, khiến người

khác cũng dễ dàng nhận thấy Vì vậy, “mặt” xuất hiện với số lần cũng rất nhiều

trong tục ngữ Việt, 87 lần và với những hình ảnh liên tưởng khác nhau:

Trang 31

1.“Mặt” tượng trưng cho danh dự, thể diện của con người (Ai cũng muốn phấn dồi

mặt, chứ ai muốn phấn dồi gót chân; Chó gầy hổ mặt người nuôi; Ai đội mũ lệch xấu mặt người ấy; Con khôn nở mặt mẹ cha; Đứa dại cởi truồng, người khôn xấu mặt; Tránh voi chẳng xấu mặt nào.v.v…)

2.Lòng tự trọng của con người ( Làm thân lươn chẳng nề lấm mặt.v.v…)

3.Thể hiện uy tín, sự tin cậy của con người ( Chọn mặt gửi vàng; Chọn mặt gởi

lời, chọn người gởi của.v.v…)

4 Thể hiện người hoặc đối tượng giao tiếp ( Chọn mặt bưng mâm.v.v…)

5 Thể hiện sự giả dối, sống không biết trước sau ( Hiền lành trước mặt, làm giăïc

sau lưng; Tắm khi nào vuốt mặt khi ấy.v.v…)

6 Thể hiện phẩm chất, tướng mạo (Khô chân gân mặt đắt tiền cũng mua.v.v…)

7 Thể hiện tính cách của con người ( Má miếng bầu coi lâu muốn chửi, mặt chữ

điền tiền rưỡi muốn mua; Những người phinh phính mặt mo, chân đi chữ bát dù cho chẳng màng.v.v…)

2 Miệng

“Miệng thường được coi là biểu tượng của ăn uống hay nói năng của con

người” [27,627] Con người giao tiếp, trao đổi tâm tư tình cảm, nguyện vọng của

mình thông qua yếu tố “miệng” “Miệng” gắn liền với những nhu cầu thuộc về căn bản nhất của con người Chính vì lẽ ấy “miệng” xuất hiện tương đối nhiều

trong tục ngữ Việt, 85 lần

1 Nói đến “miệng”, chúng ta liên tưởng đến đặc tính hay nói, hay bàn ra tán vào chuyện người khác của con người ( Bưng miệng thúng chứ ai bưng được miệng

thế; Bưng được miệng chum miệng vại, ai bưng được miệng người.v.v…)

2 Lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt hàng ngày ( Sẩy chân gượng lại còn vừa, sẩy

miệng còn biết đá đưa đường nào; Thà lỡ chân hơn lỡ miệng; Bệnh ngoài miệng chui vào, vạ trong miệng chui ra.v.v…)

3 Tượng trưng cho những kẻ giả dối, thâm độc (Bụng chua miệng ngọt; Miệng

thơn thớt dạ ớt ngâm; Miệng Bồ Tát, dạ ớt ngâm.v.v…)

Trang 32

4 Thể hiện ý kiến, lời nói (Ăn xôi chùa ngọng miệng; Xôi thịt bịt lấy miệng.v.v…)

5 Thể hiện sự nhịn ăn vì phung phí trong chi tiêu (Còn chẳng dè, hết se

miệng.v.v…)

6 Đặc điểm tướng mạo, ngoại hình của con người (Đàn ông miệng rộng thì sang,

đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà; Làm người có miệng có môi, khi buồn thì khóc khi vui thì cười.v.v…)

3 Đầu

“Đầu” là nơi có bộ óc và nhiều giác quan khác “Đầu của con người được coi là biểu tượng của suy nghĩ, nhận thức”[27,305] “Đầu” xuất hiện 82 lần trong

tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người Tuy được xem là biểu

tượng của nhận thức nhưng “đầu” xuất hiện trong tục ngữ với nhiều nét nghĩa

khác nhau trong những tình huống khác nhau

1 “Đầu” tượng trưng cho sinh mạng của con người (Kẻ khó giữ đầu, người giàu

giữ của.v.v…)

2 Người đứng đầu một tổ chức, một nhóm người có quyền quyết định công việc

(Ai cũng mặc áo đến vai, chẳng ai mặc áo qua đầu.v.v…)

3 Biểu thị quyền lực, địa vị (To đầu, khó chui.v.v…)

4 Biểu thị sự không có địa vị (Trọc đầu càng mát.v.v…)

5 Biểu thị sự không có khả năng kinh tế của những kẻ cùng đinh, tay trắng

(Bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu; Cứ người có tóc ai cứ người trọc đầu;

Róc thằng có tóc ai róc thằng trọc đầu.v.v…)

6 Thể hiện sự khó nhọc của các bậc sinh thành (Con biết nói, mẹ hói đầu.v.v…)

7 Một cá thể riêng lẻ (Đầu ai chấy nấy.v.v…)

8 Lòng tự trọng của những người nghèo (Thân lươn chẳng quản lấm đầu.v.v…)

4 Tay, chân

“Tay” và “chân” xuất hiện với số lần nhiều nhất trong tiểu trường này (tay:

115 lần; chân: 68 lần) Có lẽ do cuộc sống lao động nông nghiệp và nền văn hóa

Trang 33

Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp nên yếu tố “tay, chân” trở

nên gần gũi và xuất hiện nhiều trong tục ngữ Việt trong những tình huống sau:

1 “Tay, chân” tượng trưng cho sự làm việc, lao động, cần cù, chịu thương, chịu khó của con người ( Của ở bàn chân bàn tay; Của bề bề không bằng có nghề

trong tay.v.v…)

2 Trong quan hệ giao tiếp, quan hệ gia đình, vợ chồng, cũng như các mối quan

hệ mang tính tập thể, cộng đồng ( Tay đứt ruột đau; Anh em như chân tay; Vợ

chồng đầu gối tay ấp.v.v…)

3 Thể hiện hình thức, bên ngoài của con người ( Khôn ngoan hiện ra mặt, què

quặt hiện ra chân tay; Những người phinh phính mặt mo, chân đi chữ bát dù cho chẳng màng; Lưng tôm tít, đít tôm càng, chân đi khắt khẻo hai hàng, được như lời ấy lạng vàng cũng mua.v.v…)

4 Thể hiện tư thế của con người lúc qua đời ( Chín đụn mười trâu chết cũng hai

tay cắp đít; Của giàu tám vạn ngàn tư, chết hai tay buông xuôi.v.v…)

5 Nơi để nhận biết xem người khéo léo hay không (Thuộc sách văn hay, mau tay

tốt chữ; Chữ tốt xem tay, ngựa hay xem khóay.v.v…)

6 Sự nhanh nhẹn trong công việc (Nhanh chân thì được, chậm chân thì

trượt.v.v…)

5 Bụng- Dạ

“Bụng” là nơi chứa lục phủ, ngũ tạng của con người, về sau thì nó chỉ

chung cho những suy nghĩ thầm kín của con người Bởi theo quan niệm của người

phương Đông nói chung và người Việt nói riêng thì lý trí, suy nghĩ, nằm ở bụng chứ không phải ở đầu Chính vì lẽ ấy mà bụng là một trong những bộ phận xuất hiện với số lần tương đối nhiều (47 lần) “Bụng” còn được coi là biểu tượng của thái độ, tình cảm của con người (Rộng bụng hơn rộng nhà; Nước trong không cá,

hẹp bụng không bạn) Rõ ràng bụng là yếu tố mà ở đó con người hoàn toàn có

thể che giấu cái gì đó được bằng cách không nói ra (Dạ sâu hơn bể, bụng kín hơn

Trang 34

buồng) hoặc nói nhưng trái với điều mình nghĩ (Bụng chua miệng ngọt) Ngoài ra, bụng còn là biểu tượng của người có tướng sang trọng(Nhất có râu, nhì có bụng)

“Dạ” là từ đồng nghĩa với bụng, song ý nghĩa có phần hẹp hơn.“Dạ” cũng là “bụng” nhưng được dùng để nói về mặt chức năng làm nơi chứa và tiêu hóa thức ăn hoặc chứa thai” [54,288] (Cơm ăn vào dạ không sớm thì trưa, nón đội trên

đầu không mưa thì nắng.)

Về phương diện biểu trưng, “bụng” và “dạ” đồng nghĩa nên có nghĩa biểu trưng

giống nhau Tuy nhiên, bên cạnh những nét giống nhau, giữa hai từ trên cũng có

sự khác biệt nhau Dù “bụng” và “dạ” đều có thể biểu trưng cho tư duy, song

“bụng” được dùng để nói về mặt ý nghĩ, suy nghĩ, còn “dạ” thì lại được sử dụng để biểu trưng cho khả năng nhận thức và ghi nhớ của con người (Bò ăn mạ thì dạ

bò hay; Bò ăn mạ, có dạ bò chịu; Bụng làm, dạ chịu.)

6 Mắt

“Mắt “được coi là biểu tượng của cái nhìn của con người Thật vậy, con

mắt là “cửa sổ tâm hồn” Con người có thể nhìn đời, nhìn người, nhìn sự vật, hiện

tượng qua đôi mắt (Trời sinh con mắt là gương, người ghét ngó ít người thương

ngó nhiều) Mắt xuất hiện trong tiểu trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể

người với số lần khá nhiều (69 lần)

1 Mắt tượng trưng cho những người khôn ngoan, có con mắt tinh đời (Con mắt là

mặt đồng can.v.v…)

2 Người ta có thể phán đoán được tính tình của con người qua đôi mắt (Con mắt

lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền; Dữ như tê giác, ác như đàn bà một mắt; Đàn bà mắt trắng hai chồng, đàn ông mắt lươn hai vợ; Người khôn con mắt đen sì, người dại con mắt nửa chì nửa thau; Những người ty hý mắt lươn, trai thì trộm cướp gái buôn chồng người.v.v…)

3 Thể hiện sự cẩn thận, đàng hoàng khi phải làm việc gì (Có được mắt ta mới ra

mắt người; Đẹp mắt ta, ra mắt người.v.v…)

Trang 35

4 Thể hiện sự vất vả trong lao động (Một đồng kiếm nát đống cỏ, hai đồng kiếm

đỏ con mắt.v.v…)

5 Những kẻ hay chê bai, xét nét người khác (Vụng tay hay con mắt.v.v…)

7 Ruột

Ruột phần của ống tiêu hóa từ cuối dạ dày đến hậu môn” [27,826] Tuy

không xuất hiện nhiều lần trong các câu tục ngữ mà chúng tôi khảo sát nhưng

ruột lại có những nét nghĩa biểu trưng sâu sắc:

1 Ruột biểu trưng quan hệ gia đình máu mủ ( Giàu sang lắm kẻ tới nhà, khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau; Máu chảy ruột mềm; Tay đứt ruột đau; Đắng cay cũng thể ruột rà, ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng; v.v…)

2 Ruột biểu trưng về tâm trạng, sự chịu đựng (Của là cuống ruột; Đói trong ruột không ai biết, rách ngoài cật nhiều kẻ hay;v.v…)

3 Đôi khi ruột dùng cho những cách nói khác (Chẳng no lòng cũng được mát ruột; Nhiều no lòng, ít mát ruột; v.v….)

8 Gan

Bộ phận cơ thể này được người Việt dùng để biểu trưng cho tinh

thần, ý chí mạnh mẽ, khí phách hiên ngang của con người Gan lại còn có

thể biểu trưng cho cả tâm trạng, tình cảm tiêu cực, phủ định của con người

Trong tục ngữ Việt, gan xuất hiện tương đối nhiều ( 15 lần) và mang những

nét nghĩa sau:

1 Thể hiện ý chí mạnh mẽ ( Có chí làm quan, có gan làm giàu.v.v…)

2 Thể hiện tinh thần, tính cách khẳng khái ( Có gan ăn cướp ,có gan chịu đòn; Có gan ăn muống có gan lội hồ.v.v…)

Như vậy, có thể thấy rằng cách dùng bộ phận cơ thể để biểu trưng cho thế giới tâm lý, tình cảm của con người được sử dụng khá nhiều trong tục ngữ Việt nói chung và trong tục ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người nói riêng Nếu so sánh

Trang 36

với các ngôn ngữ khác ( tiếng Anh chẳng hạn) thì ta có thể nhận thấy rõ ràng những nét riêng của tiếng Việt trong cách biểu trưng tâm lý- tình cảm qua cách sử dụng các tên bộ phận cơ thể “ Ở người Việt, thế giới tâm lý- tình cảm của con người nói chung được biểu thị một cách tượng trưng, ước lệ bằng toàn bộ cái được

chứa đựng trong bụng con người, tức là lòng người” [54,286]

2.2 Trường từ vựng-ngữ nghĩa chỉ các đặc tính, tính cách của con người có trong tục ngữ Việt

a Kết quả thống kê ( trên 4757 câu tục ngư õ)

Số thứ tự Từ Số lần xuất hiện

Trang 37

18 độc (độc ác) 7

38 kiệm (cần kiệm) 3

39 kiêu (kiêu căng) 1

40 kính yêu 2

41 lầm bầm 1

43 lẳng lơ 2

Trang 40

b.1.Trường từ vựng ngữ nghĩa của các từ chỉ tính chất, phẩm chất, đặc

tính của con người theo xu hướng tốt đẹp gồm có: anh hùng, chắt chiu, dễ, dịu

dàng, giỏi, hay (giỏi), hiền, hiếu, hữu thủy, khôn, kiệm (cần kiệm), kính yêu, lành, lịch sự, lịch thiệp, mộc mạc, nâng niu, nết na, ngây thơ, ngay (thẳng), ngoan, ngọt, nhân đức, nhún nhường, phong lưu, phú quý, quân tử, sang, siêng, thật (thà), thanh, thanh lịch, thanh nhàn, tháo vát, thiện, thơ ngây, thuận hòa, xởi lởi, yêu

Chúng xuất hiện 709 lần trong các câu tục ngữ, chiếm 60,96% trong tiểu trường này

Trong những từ chỉ các đặc tính, tính cách tốt của con người thì các từ như

anh hùng, dễ, hay (giỏi), hiền ,khôn, lành, nết na, ngay (thẳng),ngoan, sang, thật (thà), yêu xuất hiện nhiều nhất Đây là những từ thường được sử dụng trong đời

sống hàng ngày, rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Chúng xuất hiện trong những tình huống khác nhau:

1 Thể hiện những đức tính điển hình của con người Việt Nam: trai thì khí phách,

anh hùng; gái thì công, dung, ngôn, hạnh (Anh hùng chí đảm; Anh hùng vô úy tử,

úy tử bất anh hùng; Dịu dàng con gái nết na học trò; Nết na con gái tiếng tăm thầy đồ; Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi; Trai khôn lấy được vợ hiền khác nào mất tiền mua được miếng ngon; Vợ hiền hoà, nhà hướng nam; Có phúc lấy được dâu hiền, vô duyên lấy phải dâu dại.v.v…)

2 Sống ngay thẳng, thật thà, hiền lành sẽ mang đến những điều tốt đẹp khác

trong cuộc sống (Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành; Cây ngay chẳng sợ chết

đứng; Chết thằng gian, chết gì thằng ngay; Một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng; Người gian thì sợ người ngay,người ngay chỉ sợ đường cày khúc khiu; Trúc dẫu đốt cháy ngay vẫn thẳng; những người tính nết thật thà đi đâu cũng được người ta tin dùng; Thật thà là cha quỷ quái, quỷ quái còn phải rái thật thà; Thật thà ma vật không chết; Ở hiền gặp lành; Ở hiền nhiều bạn tốt, ở ác hết bạn hiền;

Ở hiền thì lại gặp lành, hễ ai ở ác tội dành vào thân; Ở hiền thì lại gặp lành,

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Đào (1969), Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao về lời ăn tiếng nói, Ngôn ngữ, (S2), tr. 69-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao về lời ăn tiếng nói
Tác giả: Anh Đào
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1969
2. Bùi Khắc Việt (1978), Về tính biểu trưng của thành ngữ trong Tiếng Việt, Ngôn ngữ (S1), tr.1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính biểu trưng của thành ngữ trong Tiếng Việt
Tác giả: Bùi Khắc Việt
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1978
3. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (1999), Văn học dân gian Việt Nam (những công trình nghiên cứu), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam (những công trình nghiên cứu)
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
4. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1991
5. Cao Xuân Hạo, Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Chu Xuân Diên-Lương Văn Đang- Phương Tri (1993), Tục ngữ Việt Nam, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1993
7. Cù Đình Tú (1972), Hồ Chủ Tịch dùng thành ngữ, tục ngữ, Ngôn ngữ, (S2), tr.12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ Tịch dùng thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1972
8. Cù Đình Tú (1973), Góp ý kiến về sự phân biệt giữa thành ngữ với tục ngữ, Ngôn ngữ, (S 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý kiến về sự phân biệt giữa thành ngữ với tục ngữ
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1973
9. Dương Hữu Biên (2000), Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ nghĩa học thực hành tiếng Việt
Tác giả: Dương Hữu Biên
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
10. Dương Quảng Hàm (1951),Việt Nam văn học sử yếu, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: HN
Năm: 1951
11. Đinh Gia Khánh- Chu Xuân Diên- Võ Quang Nhơn (1997),Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
12. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1994), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
13. Đỗ Hữu Châu (1973), Trường từ vựng và các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, Ngôn ngữ, (S4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng và các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1973
14. Đỗ Hữu Châu (1973), Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng, Ngôn ngữ, (S2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1973
15. Đỗ Hữu Châu (1981), Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam, NXB ĐH và TH chuyeõn nghieọp, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐH và TH chuyeõn nghieọp
Năm: 1981
16. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
17. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa từ vựng, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng-ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng-ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương về ngôn ngữ học, Tập II, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
20. Đỗ Thị Kim Liên (20002), Ngữ nghĩa của kết hợp có số từ chỉ số lượng một trong tục ngữ Việt Nam, Ngôn ngữ, ( S169) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa của kết hợp có số từ chỉ số lượng một trong tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 20002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình ảnh lươn cũng được dùng cho những phần tử không tốt trong xã hội (Lươn - Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng   ngữ nghĩa luận án thạc sĩ 5 04 27
2. Hình ảnh lươn cũng được dùng cho những phần tử không tốt trong xã hội (Lươn (Trang 82)
1. Hình ảnh đàn kiến tha từng hột tấm, hột cám về tổ để tích trữ lương thực phòng  khi đói kém, “lâu ngày chầy tháng” tha mãi cũng đầy tổ đã được ông bà ta dùng  để khuyên con người phải biết kiên nhẫn, đừng quản ngại khó khăn (Kiến tha lâu - Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng   ngữ nghĩa luận án thạc sĩ 5 04 27
1. Hình ảnh đàn kiến tha từng hột tấm, hột cám về tổ để tích trữ lương thực phòng khi đói kém, “lâu ngày chầy tháng” tha mãi cũng đầy tổ đã được ông bà ta dùng để khuyên con người phải biết kiên nhẫn, đừng quản ngại khó khăn (Kiến tha lâu (Trang 85)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w