1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng việt

154 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt
Tác giả Huỳnh Ngọc Thùy
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Bích Lài
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận án thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 842,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

113 CHƯƠNG BA: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CÁC HÌNH VỊ GỐC HÁN CÓ TẦN SỐ XUẤT HIỆN THẤP TRONG CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT 3.1 Khả năng kết hợp của các hình vị gốc Hán tần số xuất hiện thấp với các h

Trang 2

Trong quá trình theo học Cao học ngành Ngôn ngữ học em đã được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo, trong đó Ts Đỗ Thị Bích Lài luôn luôn là người thầy trực tiếp hướng dẫn trong công việc nghiên cứu, đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thực hiện đề án tốt nghiệp Em xin trân trọng cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn trường Đại Học Khoa Học xã Hội và Nhân Văn, các thầy cô giáo đã truyền dạy những kinh nghiệm, kiến thức quý báu và bổ ích qua các bài dạy trên lớp đã giúp em rất nhiều trong việc học tập và giảng dạy của mình

Xin cảm ơn ba mẹ, anh, chị, em, chồng và các bạn bè gần xa đã cho tôi niềm tin và nghị lực để tôi vững tiến trên con đường đời

Xin cảm ơn Trung tâm Giáo dục Thường xuyên- Kỹ thuật Hướng nghiệp Dĩ An, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình học tập và nghiên cứu của tôi

Tác giả luận án

Huỳnh Ngọc Thùy

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung trong luận án chưa từng được công bố trong bất cứ bài viết của bất kỳ tác giả nào khác Nếu có vi phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm của mình trước hội đồng kỷ luật nhà trường, trước khoa và pháp luật

Người cam đoan

Huỳnh Ngọc Thùy

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU

1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn ngữ liệu 7

5 Đóng góp của luận văn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Bố cục của luận văn 11

7 Quy ước 12

CHƯƠNG MỘT: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1 Khái niệm hình vị, các loại hình vị trong tiếng Việt 13

1.1.1 Khái niệm hình vị 13

1.1.2 Hình vị trong tiếng Việt 14

1.2 Khái niệm từ, phân loại từ 18

1.2.1 Khái niệm từ 18

1.2.2 Phân loại từ 20

1.2.2.1 Xét từ phương thức cấu tạo từ 20

1.2.2.2 Xét từ góc độ nguồn gốc 22

1.3 Khái niệm nghĩa, các loại nghĩa, vấn đề nghĩa của hình vị 23

1.3.1 Khái niệm nghĩa 23

1.3.2 Các loại nghĩa 24

1.3.3 Nghĩa của hình vị 25

1.4 Vấn đề cấu tạo từ, phương thức cấu tạo từ 25

Trang 5

1.4.3 Thế nào là hình vị có tần số xuất hiện thấp 31

CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC HÌNH VỊ GỐC HÁN CÓ TẦN SỐ XUẤT HIỆN THẤP TRONG CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT 2.1 Nghĩa gốc của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp 34

2.2 Nghĩa của hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp khi tham gia vào tổ chức từ ghép trong tiếng Việt 78

2.2.1 Các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp không có sự thay đổi về nghĩa 81

2.2.1.1 Khi kết hợp với các hình vị khác đứng trước 81

2.2.1.2 Khi kết hợp với các hình vị khác đứng sau 85

2.2.2 Các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp có hiện tượng chuyển nghĩa 109

2.2.2.1 Khi kết hợp với các hình vị khác đứng trước 110

2.2.2.2 Khi kết hợp với các hình vị khác đứng sau 110

Tiểu kết 113

CHƯƠNG BA: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA CÁC HÌNH VỊ GỐC HÁN CÓ TẦN SỐ XUẤT HIỆN THẤP TRONG CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT 3.1 Khả năng kết hợp của các hình vị gốc Hán tần số xuất hiện thấp với các hình vị khác để cấu tạo từ 116

3.1.1 Với các hình vị khác đứng trước 116

3.1.2 Với các hình vị khác đứng sau 119

Trang 6

hoặc ngữ tự do 133

3.2.1 Hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp đứng trước trong tổ hợp từ 134

3.2.2 Hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp đứng ở vị trí khác trong tổ hợp từ 136

Tiểu kết 136

KẾT LUẬN 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC 150

Trang 7

Tiếng Việt là ngôn ngữ đã trải qua một hành trình dài và phức tạp

để được định hình và phát triển như ngày hôm nay Một trong những giai đoạn phát triển quan trọng nhất của tiếng Việt là giai đoạn tiếp xúc với tiếng Hán vào thời Bắc Thuộc Kết quả của quá trình tiếp xúc này

là tiếng Việt đã du nhập và Việt hóa một số lượng lớn các từ ngữ gốc Hán để làm giàu thêm cho tiếng nói của mình Ở Việt Nam trong quá trình lịch sử ngàn năm, chữ Hán, tiếng Hán đã được đặt vào vị trí chính thống và được sử dụng có hệ thống vào việc giảng dạy, thi cử, hành chính, ngoại giao , nói chung là trên hầu hết mọi lĩnh vực tinh thần của hoạt động xã hội Kết quả của quá trình tiếp xúc lâu dài ấy là tiếng Việt đã chịu ảnh hưởng của tiếng Hán một cách sâu sắc Dễ thấy là tiếng Việt đã dung nạp một số lượng lớn những từ mượn của tiếng Hán Năm 1912, H Maspero đã thống kê và cho biết có đến 60%

Trang 8

vốn từ tiếng Việt là từ gốc Hán Từ đó đến nay, các nhà ngôn ngữ khi nghiên cứu về tiếng Việt thì không thể không tìm hiểu về từ gốc Hán Các nhà Việt ngữ quen gọi chúng là từ vựng gốc Hán Từ vựng gốc Hán bao gồm từ, ngữ và những yếu tố mang nghĩa nhưng không có khả năng dùng độc lập như từ, chỉ là những yếu tố để tạo từ mà thôi

Có thể nói từ vựng gốc Hán (tạm gọi là đơn vị gốc Hán) là một thành phần quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Hội nhập vào tiếng Việt với tư cách là một thành viên, đơn vị gốc Hán đã có những đóng góp tích cực trong việc hình thành ngôn ngữ văn hóa cho tiếng Việt

Trong giao tiếp, chúng ta dùng khá nhiều từ gốc Hán nhưng thật khó để mà lí giải chính xác được nghĩa của chúng Khả năng của một ngôn ngữ là một vấn đề phức tạp, tế nhị, thể hiện trong nhiều mặt Sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội, trong nội tâm của con người không phải bao giờ cũng hiện ra một cách cụ thể, có ranh giới

rõ ràng; trái lại, nhiều khi lẫn vào nhau, vừa giống nhau lại vừa khác nhau Sự phản ánh này thông qua hệ thống ngữ nghĩa riêng của từng ngôn ngữ Giải thích nghĩa của một từ khác với việc giải thích khái niệm về sự vật hay hiện tượng tương ứng trong thế giới khách quan Thật vậy, trong tiếng Việt có một lớp hình vị gốc Hán có những điểm đặc biệt về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp đó là: Tần số xuất hiện thấp (xuất hiện một lần hoặc một đôi lần trong cấu tạo từ tiếng Việt) Tình hình này dẫn đến một hệ quả, việc nhận diện nghĩa và tiếp nhận nghĩa của chúng là rất khó khăn Việc nghiên cứu về phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt đem lại những bất ngờ, lý thú, đồng thời góp phần nhận định việc sử dụng từng hình vị nói trên một cách chính

Trang 9

xác và mang lại hiệu quả giao tiếp cao nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu của luận văn này

0.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng của đề tài này là các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong vốn từ tiếng Việt Chúng bao gồm các hình vị gốc Hán kiểu như: sử (sử dụng), trừu (trừu tượng), miêu (miêu tả), khoát (dứt khoát), ảm (ảm đạm), trĩ (ấu trĩ), bàng, hoàng ( bàng hoàng), trướng (bành trướng), hồi, bồi (bồi hồi), đát (bi đát), đào (ba đào), băng (băng hoại), bỉ (bỉ sắc tư phong), bĩ (bĩ cực thái lai, cúc (cúc cung tận tụy), củng (củng cố), chiếu (chiếu cố), dung (dung dị), đáo (đáo để), đinh (đinh ninh), giảo (giảo hoạt), hâm (hâm mộ), hống, hách (hống hách), khoản (khoản đãi), khước (khước từ), lũng (lũng đoạn), mâu (mâu thuẫn), đố (đố kị), thiệu (giới thiệu), khẳng (khẳng định), ủng (ủng hộ), hốt (hốt hoảng), thóa (thóa mạ) v.v Chúng tôi thống kê các hình vị này từ hai tài liệu là: Quyển Từ điển Hán - Việt do Đào Duy Anh chủ biên tái bản năm 2004 và Từ Điển Hán – Việt do Trần Thị Thanh Liêm chủ biên xuất bản năm 2007

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ xét đến các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt ở hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp Để thựïc hiện được mục đích nghiên cứu, trước hết cần nhận diện được các đơn vị gốc Hán, tiếp theo là những yếu tố tuy có nghĩa nhưng không dùng độc lập được, khả năng sản xuất của chúng (ở phạm vi bài viết này thì chỉ xem xét các hình vị gốc Hán có khả năng sản xuất thấp mà thôi - tức là khả năng cấu tạo

từ thấp), rồi đến mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp của chúng, qua đó, chỉ ra

Trang 10

những hạn chế do những đơn vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp gây

ra, đồng thời cũng dựa trên cơ sở lí luận nêu ra một số kiến nghị về mặt ứng dụng

0.2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Qua việc tra cứu từ điển, thống kê các từ mà các hình vị gốc Hán

có tần số xuất hiện thấp tham gia, bước đầu chúng tôi giải thích nghĩa gốc cho đến nghĩa hiện dùng của các hình vị trên, sau đó phân tích chúng khi chúng đứng trong tổ hợp từ hoặc ngữ tự do

Luận văn nhằm ba mục đích chính sau đây:

1 Nêu được đặc điểm ngữ nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần

số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt

2 Chỉ ra được đặc điểm ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần

số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt

3 Tìm hiểu cách sử dụng và khả năng cấu tạo từ của chúng trong những trường hợp cụ thể.Ví dụ: sử trong sử dân dĩ thời, bỉ trong bỉ sắc tư phong, bĩ trong bĩ cực thái lai, tang trong tang bồng hồ thỉ , cúc (cúc cung tận tụy),

Trên cơ sở đó góp phần giải quyết những khó khăn, những mặt tiêu cực do đơn vị gốc Hán đem đến, để từ đó có một cách nhìn tổng quát, toàn diện và chủ động sử dụng nó làm cho tiếng Việt ngày càng trong sáng và phong phú hơn Do vậy, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu : Nghiên cứu mặt ngữ nghĩa của lớp từ này với tư cách là hình vị - đơn

vị nhỏ nhất có nghĩa - trong hệ thống các hình vị tiếng Việt; Nghiên cứu mặt ngữ pháp của lớp hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt, ví dụ như khả năng kết hợp chúng với các hình vị khác để tạo từ; khả năng kết hợp với các từ (trong tư cách là

Trang 11

từ của chúng) với các từ khác để tạo nên các ngữ cố định hoặc ngữ

tự do

Việc thống kê toàn bộ các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt là việc làm hữu ích và vô cùng cần thiết giúp chúng ta có cái nhìn hệ thống về các hình vị nói trên Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ xét ở góc độ ngữ nghĩa, ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt còn vấn đề ngữ âm của chúng thì không đề cập đến trong phạm

vi bài viết này Riêng về ngữ nghĩa, chúng tôi chỉ khảo sát căn cứ vào nghĩa gốc và nghĩa hiện nay trong cấu tạo từ, ngữ tiếng Việt

gốc Hán về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp

Ngoài ra, những chuyên luận, những bài viết của ông trên các báo, tạp chí đều đã đưa được những gợi ý cho thế hệ nghiên cứu lớp sau Tác giả Hồ Lê trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, đã đưa ra nhiều ý kiến trình bày về loại “nguyên vị tiềm tàng” (những tiếng, những yếu tố Hán – Việt không độc lập) trong hoạt động cấu tạo từ tiếng Việt Nguyễn Văn Tu, 1978, trong cuốn Từ và vấn đề từ tiếng Việt hiện đại đã dành gần một chương cho từ gốc Hán và đã giới thiệu được những nét cơ bản

Trang 12

thuộc về từ vựng ngữ nghĩa của loại từ này Nguyễn Thiện Giáp,

1998, trong Từ Vựng Học tiếng Việt có giới thiệu sơ lược về từ gốc Hán

Một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu từ gốc Hán theo những khía cạnh khác nhau, như: Đinh Trọng Lạc (1964, 1997),

Cù Đình Tú (1983),Hoàng Văn Hành (1991), Lê Xuân Thại (1991), Nguyễn Như Ý (1991, 1994), Nguyễn Văn Khang (1991, 1994), cũng phải kể đến hàng loạt các bài viết trên báo, tạp chí khoa học, công trình nghiên cứu của các thạc sĩ, tiến sĩ, các tác giả chuyên hoặc không chuyên theo xu hướng nghiên cứu ứng dụng như: Tình hình sử dụng từ Hán – Việt trong các thể loại phong cách chức năng Luận Văn thạc sĩ, Nguyễn Hoài Thu Ba năm 1998; Việc giải thích các từ gốc Hán trong trích giảng văn học cấp

II, III- tạp chí ngôn ngữ số 1, năm 1984; Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, luận văn thạc sĩ, Nguyễn thị Tân năm 2004; Cách dùng

từ gốc Hán trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Nguyễn Văn Tu, báo cáo khoa học 1978; Bàn về hình vị dưới gốc nhìn ngôn ngữ học đại cương, Trần Ngọc Thêm, tạp chí ngôn ngữ số 1, năm 1984; Chữ Hán những vấn đề cơ bản, Lê Đình Khẩn, Nxb ĐH QG

Tp HCM Về lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt, Tạp chí KHXH số 23;

Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Lê Đình Khẩn, Nxb Đại học Quốc gia; Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Phan Ngọc và rất nhiều các công trình nghiên cứu khác Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu lấy từ gốc Hán làm đối tượng như của Phan Ngọc: Về ngữ nghĩa, ngữ pháp của các hình vị gốc Hán

có tần số xuất hiện cao trong quyển Mẹo giải nghĩa từ Hán _ Việt

và cách chữa lỗi chính tả Lê Đình Khẩn với Từ vựng gốc Hán

Trang 13

trong tiếng Việt, nhưng về lớp hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện như là một đối tượng độc lập, riêng biệt Có thể nói, các hình vị trên mới chỉ nhắc đến hoặc được kể tên một cách bình thường như mọi hình vị khác của từ vựng gốc Hán khi chúng được đem ra sử dụng mà ít ai để ý đến

sự xuất hiện thấp (xuất hiện một lần hoặc một đôi lần) và tầm quan trọng cũng như sự thú vị trong cách chọn lọc sự sử dụng của những hình vị này

Hiện nay, trong tiếng Việt có một số lượng không nhỏ các yếu tố cấu tạo từ có nguồn gốc từ tiếng Hán Sự hiện diện của các yếu tố này làm phong phú thêm tiếng Việt hiện đại Vì vậy, có thể nói nghiên cứu như là một đối tượng độc lập về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt là một đề tài mới, có tính gợi mở bước đầu

0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu:

0.4.1 Phương pháp nghiên cứu:

Với phạm vi đề tài như vậy, chúng tôi kế thừa những thành tựu đã

có được thừa nhận, trên cơ sở đó, tập trung vào khảo sát, mô tả, phân tích những vấn đề có nội dung phục vụ cho chiến lược của đề tài

Về phương pháp khoa học chung chúng tôi vận dụng hai phương pháp nhằm bổ sung cho nhau: phương pháp mô hình hóa để lập nên những mô hình, bảng biểu, trên cơ sở quy nạp và phương pháp phân tích mô hình để đi sâu lý giải một cách nhất quán các diễn biến của

mô hình Trong khi tiến hành phương pháp này, tất yếu phải sử dụng phương pháp sau đây:

Trang 14

1 Phương pháp thống kê:

Trước hết chúng tôi tra cứu từ điển và các sách tham khảo có liên quan để thống kê số lượng của các hình vị có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt

2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa:

Kế đó, chúng tôi tổng hợp các từ có chứa cá hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp để miêu tả, phân tích nghĩa từng hình vị gốc Hán

có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt về hai phương nói trên

3 Phương pháp so sánh :

Sau cùng, chúng tôi đi vào nhận xét, miêu tả, đối chiếu và phân tích các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp với các hình vị khác trong cấu tạo từ tiếng Việt

0.4.2 Nguồn ngữ liệu:

Nguồn ngữ liệu của luận văn này là các loại từ điển, sách báo, tạp chí sau:

- Hoàng Phê (chủ biên), Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006

- Đào Duy Anh, Hán Việt Tự Điển, Nxb Trẻ, 2006

- Các văn bản khoa học là các luận án, nghiên cứu khoa học cụ thể như : Tình hình sử dụng từ Hán – Việt trong các thể loại phong cách chức năng Luận Văn thạc sĩ, Nguyễn Hoài Thu Ba năm 1998 Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt, luận văn thạc sĩ, Nguyễn thị Tân năm

2004 Cách dùng từ gốc Hán trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Nguyễn Văn Tu, Báo cáo khoa học 1978 Chữ Hán những vấn đề cơ bản, Lê Đình Khẩn, Nxb ĐH QG Tp HCM, Về ngữ nghĩa, ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện cao trong quyển Mẹo giải

Trang 15

nghĩa từ Hán _ Việt và cách chữa lỗi chính tả, và rất nhiều các công trình nghiên cứu khác

- Các tác phẩm văn học: Bình Ngô Đại Cáo- Nguyễn Trãi, Truyện Kiều- Nguyễn Du, Thơ Duyên- Xuân Diệu, Vợ Nhặt- Kim Lân, Nguyễn Bính - về tác gia và tác phẩm, Tế Hanh – về tác gia và tác phẩm, Nguyễn Tuân - về tác gia và tác phẩm, Nam Cao - tác gia và tác phẩm, Nét đẹp thơ, Thơ và lời bình, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn,

- Các báo, tạp chí như: Báo Tuổi trẻ, Tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và

Đời sống…

- Các trang báo điện tử như: www.vietnamnet.com.vn, www.vietbao.com.vn , www.tuoitre.com.vn , www.eud.com.vn ,

Ngoài ra cũng có thể sử dụng một ít cứ liệu ngoài phạm vi đã nêu

tiễn:

0.5.1 Đóng góp của luận văn:

Kết quả nghiên cứu của luận văn có những đóng góp sau:

- Giới thiệu khái quát về vấn đề các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp nói riêng, từ gốc Hán nói chung, về vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt từ những yếu tố vay mượn

- Bằng những cứ liệu thực tế, góp phần bổ sung, làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong tiếng Việt

- Việc đưa ra một số đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của các hình vị nói trên góp phần xác định những nét riêng trong khả năng cấu tạo từ của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà giáo giảng dạy và học

sinh học tập, về hình vị gốc Hán nói riêng và ngôn ngữ nói chung

Trang 16

0.5.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Trong tiếng Việt hiện đại có vô số những hình vị gốc Hán cùng hoạt động bên cạnh những từ thuần Việt, chúng đã hòa lẫn vào nhau như một khối thống nhất, trở thành bộ phận không thể thiếu trong vốn

từ vựng cơ bản của hệ thống từ vựng tiếng Việt Trong số hàng vạn từ Hán du nhập vào tiếng Việt, có một số đến theo nhu cầu: bù đắp vào

“ô trống ngữ nghĩa” Từ gốc Hán vào tiếng Việt qua sách vở vì vậy chúng luôn mang phong cách sách vở, ít tính khẩu ngữ, xa rời với đông đảo quần chúng

Trong việc học tập, giảng dạy và sử dụng tiếng Việt, hầu như ở đâu chúng ta cũng bắt gặp những vấn đề cần lý giải do đơn vị gốc Hán gây ra, như : vấn đề tạo từ mới, vấn đề giải thích nghĩa của chúng là một vấn đề hết sức khó khăn mà đặc biệt là lớp hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt Để tiến tới một thứ tiếng Việt chuẩn mực, bên cạnh những hướng nghiên cứu khác, một đề tài nghiêng về đặc điểm ngữ nghĩa , ngữ pháp của các hình vị có tần số xuất hiện thấp gốc Hán là rất cần thiết Và kết quả nghiên cứu của đề tài này góp phần bổ sung và hoàn thiện việc nghiên cứu về các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt một loại hình vị có tính đặc thù về ngữ nghĩa và ngữ pháp trong tiếng Việt Xuất phát từ nhu cầu thực tế nói trên, chúng tôi

đã chọn đề tài này để nghiên cứu Công việc này trước tiên là để có một tài liệu mang tính hệ thống, trình bày dựa trên cơ sở khoa học phục vụ việc giảng dạy của chúng tôi Đồng thời các kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ lẫn tiếng nước ngoài

Trang 17

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có ba chương chính:

Chương một : Ở chương này, chúng tôi giới thiệu một số khái niệm về hình vị, nghĩa, từ, Có liên quan đến việc giải quyết các vấn đề trong luận án và trình bày quan điểm lý thuyết của tác giả luận văn Chương hai: Chương này đi vào phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt Trong chương này luận văn sẽ phân tích sâu về nghĩa gốc và nghĩa hiện nay của các hình vị gốc Hán khi tham gia vào tổ chức từ ghép

Chương ba: Chương ba tập trung khảo sát các đặc điểm ngữ pháp của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt, chẳng hạn: + Khả năng kết hợp của chúng với các hình vị khác

Ngoài phần chính văn nói trên, luận văn còn có phần phụ lục Phần phụ lục gồm các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp đã được thống kê để dễ dàng và thuận lợi cho việc tra cứu khi cần thiết

Để tinh giản trong lúc trình bày chúng tôi đã sử dụng một số chữ viết tắt và ký hiệu sau đây:

[1.22] : Số thứ tự 1 ở thư mục, trang 22

TSXHT : Tần số xuất hiện thấp

KNKH : Khả năng kết hợp

Trang 18

(- ) : Chỉ xuất hiện một lần (không có khả năng kết hợp khác) (+) : Có khả năng kết hợp với các yếu tố đứng trước hoặc sau

Trang 19

CHƯƠNG MỘT CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1.1 Khái niệm hình vị, các loại hình vị trong tiếng Việt

ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa vật chất của từ; phụ tố lại phân chia thành biến tố, tiền tố, trung tố, hậu tố

Theo Nguyễn Thiện Giáp trong quyển Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và TH Chuyên nghiệp-1985: Hình vị là đơn vị có nghĩa, được tái hiện như các từ, nhưng hình vị chỉ được phân xuất ra nhờ phân tích bản thân các từ, chúng không tồn tại độc lập mà nhập hẳn vào từ, không tách rời khỏi từ Trong khi đó, từ là một mẫu tách biệt rõ ràng trong vật liệu xây dựng của ngôn ngữ, là thứ “gạch” như lời của viện sĩ L.V.Scherba Tóm lại: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa

Đó là bộ phận nhỏ nhất cấu tạo nên từ Một từ có thể có một hoặc nhiều hình vị

- Từ gồm mộ hình vị : bàn, giấy trong tiếng Việt hay the (mạo từ xác định), and ( và ) trong tiếng Anh

- Từ gồm hai hình vị: cái bàn, tờ giấy trong tiếng Việt hay Boy, s ( con trai, số nhiều) trong tiếng Anh

Trang 20

- Từ gồm ba hình vị: công nghiệp hoá, văn hoá học trong tiếng Việt hay book, selve, s (Cái giá sách, số nhiều) trong tiếng Anh Trong trường hợp vỏ ngữ âm của hình vị trùng với một âm vị ( ví dụ ; hình vị –S chỉ số nhiều của danh từ tiếng Anh) hay một âm tiết (ví dụ: nhà trong tiếng Việt thì ta vẫn cần phân biệt rạch ròi hai loại đơn vị: + Xét trên bình diện cái biểu hiện đó là âm vị hay âm tiết

+ Xét trên bình diện cái được biểu hiện thì đó là hình vị

Trong số các đơn vị ngữ pháp, hình vị là đơn vị cơ sở của ngữ pháp Quả thật đúng như vậy, câu còn có thể chia tách thành các từ

tổ, từ tổ còn chia thành các từ, và từ còn được chia thành các hình vị Trong khi đó hình vị là một khối liền, không thể chia tiếp thành những đơn vị có nghĩa được nữa Đặc điểm “nhỏ nhất” này (đặc điểm về ngữ nghĩa cấu tạo) giúp ta phân biệt hình vị với những đơn vị ngữ pháp khác

1.1.2 Hình vị trong tiếng Việt

Hình vị trong tiếng Việt có thể một mình làm thành từ cũng có thể làm thành tố cấu tạo từ Nếu hiểu ý nghĩa có thể là ý nghĩa từ vựng

mà cũng có thể là ý nghĩa ngữ pháp thì ta nói rằng: Hình vị là cái đơn

vị nhỏ nhất có ý nghĩa, là cái đơn vị gốc để tạo thành từ.”( Nguyễn Anh Quế Giáo trình lí thuyết tiếng Việt Trường ĐHTHHN, 1976, Tr 6) Nếu đúng theo những điều kiện mà ngôn ngữ học thế giới đã chấp

nhận thì hình vị tiếng Việt phải có ba điều kiện:

- Có nghĩa;

- Nhỏ nhất;

- Có thể dùng để cấu tạo từ (với cùng một nghĩa hoặc cùng chức

năng)

Trang 21

Đặc điểm cơ bản của hình vị tiếng Việt là hình vị thường vỏ ngữ

âm là một âm tiết Ví dụ: Câu thơ “ Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió” ( Hồ Chủ Tịch) có 8 hình vị và cũng là 8 âm tiết

Hình vị tiếng Việt là đơn vị cơ sở của cấu trúc ngữ pháp, yếu tố nhỏ nhất có nghĩa và được lập lại nhiều lần cùng một nội dung Về nghĩa,

có ba loại : nghĩa từ vựng , nghĩa khu biệt, nghĩa ngữ pháp Mỗi hình

vị tiếng Việt có một ý nghĩa nhất định Nghĩa đó có thể là nghĩa từ vựng hay nghĩa biểu cảm hoặc nghĩa ngữ pháp Đặc điểm cơ bản của hình vị tiếng Việt là thường có hình thức cấu tạo một âm tiết, tức là mỗi hình vị trùng với một âm tiết Các hình vị một âm tiết có thể trực tiếp tạo ra từ Trong tiếng Việt, hình vị còn được gọi là tiếng

Dựa vào tiêu chí khối lượng (vỏ vật Chất), theo cách nhìn của chúng tôi thì chỉ có một loại Hình vị của tiếng Việt được thể hiện đồng loạt trong những âm tiết có biên giới rất rõ ràng và không bao giờ biết đến hiện tượng phụ âm cuối nhảy sang âm tiết sau làm thay đổi diện mạo của nó đi Mà âm tiết vốn là đại lượng âm thanh nhỏ nhất, là một đơn vị tri giác có diện mạo toàn vẹn, không thể coi là tổng số của các thành phần của nó, là đoạn âm thanh nhỏ nhất có thể cắt ra bằng những nhát thẳng góc với trục thời gian Từ đó ta có thể thấy rằng trong một ngôn ngữ mà mỗi âm tiết làm thành một đơn vị mang nghĩa, nhất là một từ thì điều kiện nhận diện và giải mã sẽ đạt đến mức tối

Trang 22

hiện ý nghĩa ngữ pháp “cơ sở vật chất chủ yếu để cấu tạo từ tiếng Việt là nguyên vị thực Mọi nguyên vị trong tiếng Việt đều không biến hình” Ví dụ: ruộng, vườn trong ruộng vườn; đất, nước trong đất nước;

anh, em trong anh em

Hình vị hư: Là hình vị mang nghĩa ngữ pháp Cần phân biệt các hình vị hư miêu tả với các hình vị hư phát ngôn Các hình vị hư miêu

tả gồm: hình vị hư từ loại, hình vị hư tình thái và hình vị hư quan hệ Dựa vào năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào “ khả năng hoạt động tự do hay không” để chia các hình vị thành hai loại:

- Hình vị tự do: Là hình vị có khả năng hoạt động tự do trong lời nói với tư cách từ Chúng là những hình vị mà tự thân một mình đã đủ khả năng tạo thành từ Ví dụ: mua, bán, thương,

- Hình vị hạn chế: Là hình vị không có khả năng hoạt động tự do và được dùng để kết hợp với các hình vị khác để cấu tạo từ và cụm từ Hình vị là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với dạng chuẩn tối thiểu là một âm tiết tự thân có nghĩa (nghĩa miêu tả hay nghĩa tương liên) có thể chịu tác động của các phương thức tạo

từ để tạo ra từ Sự phân loại hình vị sẽ lấy chức năng ngữ nghĩa của chúng làm nguyên tắc Do vậy, xem xét ở chức năng và sự biến đổi ý nghĩa thì sẽ thấy một yếu tố khi là từ và khi là hình vị (có chức năng tạo từ) thì có những sự chuyển hoá khác nhau Ví dụ, máy trong xe máy, dệt máy, có ý nghĩa khác với chính nó trong trường hợp sử dụng như từ chuyển các cỗ máy mới Cùng với sự chuyển hoá về nghĩa là sự chuyển hoá về từ - ngữ pháp Có thể nói, khi một yếu tố tự

do được dùng như hình vị thì nó mất đi những đặc điểm ngữ pháp đặc trưng cho nó Nói một cách khác, một yếu tố tự do có thể được dùng

Trang 23

ở hai chức năng khác nhau, thuộc hai cấp độ khác nhau: chức năng hình vị và chức năng từ

Để thực sự làm nổi rõ giá trị cấu tạo từ của các hình vị, có thể phân loại chúng theo tiêu chí sau đây: Thứ nhất, theo tính năng sản,

có nghĩa là theo khả năng tạo ra nhiều hay ít các từ phức của hình vị Trong tiếng Việt những hình vị có ý nghĩa sự vật như xe, cá, tàu, máy, thợ, tính năng sản của chúng rất lớn, với chúng có thể tạo ra hàng loạt từ ghép chỉ những sự vật hiện tượng cùng hệ thống; Thứ hai, theo khả năng tham gia vào các phương thức cấu tạo từ Ví dụ, so sánh bào với đẽo thì thấy bào có thể tạo ra hàng loạt từ ghép phân nghĩa nhưng không vào cơ chế hợp nghĩa, trong khi đẽo không tạo ra các từ ghép phân nghĩa nhưng lại tạo ra các từ ghép hợp nghĩa đục đẽo, đẽo gọt Thứ ba, theo vị trí trong các từ phức Các hình vị tự thân có nghĩa nhưng hạn chế thường ít đứng ở vị trí thứ nhất trong các từ ghép phân nghĩa Cũng như tất cả các đối tượng khác, hình vị

là phạm trù lịch sử Lịch sử không chỉ có nghĩa là cái đã qua Lịch sử còn có nghĩa là cái vận động, chuyển hoá Tính lịch sử của các hình vị thể hiện ở chỗ tính chất, chức năng ngữ nghĩa của chúng có thể thay đổi tuỳ theo sự phát triển của ngôn ngữ, của cấu tạo từ

Hiện nay, tiếng Việt không còn dùng các hình vị “nhỏ hơn âm tiết” nữa để cấu tạo từ Cho nên, trong luận văn này chúng tôi theo quan điểm hình vị trùng với âm tiết Với quan điểm động về cấu tạo từ, chúng ta có thể có một cái nhìn thấu suốt, nhất quán về quá khứ và tương lai của các hình vị tiếng Việt

1.2 Khái niệm từ, phân loại từ xét từ các góc độ khác nhau

1.2.1 Khái niệm về từ

Trang 24

F de Saussure nhận xét: “ Ngôn ngữ có một tính chất kỳ lạ

và đáng kinh ngạc là không có những thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn biết chắc là những thực thể đó đang tồn tại, và chính sự giao lưu giữa những thực thể đó làm thành ngôn ngữ” Trong số những thực thể đó có cái mà ngôn ngữ học vẫn gọi là từ Từ là đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ

nó ngôn ngữ mới thực hiện chức năng giao tiếp và chức năng tư duy

Đơn vị cấu trúc – ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và thuộc tính của chúng, các quan hệ thực tiễn, là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ Cấu trúc ngữ âm của từ là toàn bộ các hiện tượng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên

từ Cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ

Để khỏi phải tham gia vào cuộc tranh luận về vấn đề từ là gì, chúng tôi tán thành với cách định nghĩa sau đây: “ Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu”

(Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến Cơ sở Ngôn ngữ họcvà tiếng Việt Nxb ĐH Và GDCN,1990, tr.170)

Tóm lại:

Trang 25

- Từ là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu Từ có thể gồm một tiếng, hay nhiều hơn tiếng Ví dụ như: người, đất nước, hợp tác xã,

- Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định Với đặc điểm về nghĩa và cấu tạo ngữ pháp, từ là một đơn vị đặc biệt quan trọng, khi xét tới mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy, giữa ngôn ngữ với tư tưởng và văn hoá

- Thực từ là từ có “nghĩa thực” nhờ nó mà có thể làm được sự liên hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng nhất định Thực từ gồm có danh từ, động từ, tính từ, đại từ số từ

- Hư từ là tư øcó “nghĩa hư” loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm

sự liên hệ với sự vật hiện tượng nhất định Hư từ gồm phụ từ, kết từ, trợ từ, tình thái từ, thán từ

• Khái niệm từ Hán- Việt: Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng

Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng

Trang 26

Việt; còn gọi là từ Việt gốc Hán Ví dụ: giang sơn, nhân dân, chính phủ…

1.2.2 Phân loại từ xét từ các góc độ khác nhau

Xét từ các gốc độ khác nhau, có thể phân loại các từ theo cấu tạo của chúng, trong tiếng Việt cấu tạo của từ có thể được xét về nhiều mặt sau đây:

- Số lượng tiếng (để phân biệt từ một tiếng với từ nhiều tiếng mà chủ yếu là từ hai tiếng)

- Phương thức cấu tạo (để chủ yếu phân biệt trong từ hai tiếng và

từ nhiều tiếng những yếu tố và quan hệ giữa các yếu tố)

1.2.2.1 Xét từ phương thức cấu tạo từ:

Về mặt cấu tạo khi phân loại từ, các nhà ngôn ngữ cũng có nhiều ý kiến khác nhau Nhưng nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng từ tiếng Việt được cấu tạo như sau: đó là từ đơn, từ ghép, từ láy Chúng tôi đồng ý theo quan điểm trên để tiến hành khảo sát và nghiên cứu vấn đề này

* Từ một tiếng (còn gọi là từ đơn)

- Từ một tiếng là từ chỉ gồm một tiếng mỗi từ Tất nhiên đó phải là tiếng có nghĩa; hoặc nghĩa từ vựng như trâu, dê, gà, chạy, bay, mua, cho ; hoặc nghĩa ngữ pháp như sẽ, đều, thì, mà

Trong cấu tạo của câu, những tiếng như vậy có thể giữ một vai trò ngữ pháp nhất định Đó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu

Trang 27

- Từ láy bộ phận: Là từ láy trong đó có sự phối hợp của từng bộ

phận âm tiết, theo những quy tắc nhất định

- Từ láy toàn bộ: Là từ láy trong đó có sự lặp lại hoàn toàn của

kết hợp với nhau theo quan hệ bình đẳng về ý nghĩa

- Từ ghép chính phụ: là những từ mà có thành tố cấu tạo này phụ

thuộc vào thành tố cấu tạo kia Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính

Từ ngẫu hợp: Là từ nhiều tiếng có cấu tạo khác mà xét theo phương thức cấu tạo thì không thuộc loại từ láy cũng không thuộc loại từ ghép Chúng bao gồm hai tiếng hay nhiều tiếng hơn, nhưng là những tiếng không có nghĩa đối với người Việt Nam, và giữa các tiếng đó không thể nhận ra là có phối hợp ngữ âm hay phối hợp ngữ nghĩa

Trang 28

- Từ vay mượn: Đó là từ của một ngôn ngữ này được nhập vào một ngôn ngữ khác và được bản ngữ hóa, tức là thích nghi với các quy tắc hoạt động, hành chức của các từ thuộc ngôn ngữ đó, còn gọi là từ mượn

Chúng bao gồm các từ có nguồn gốc như:

Những từ vay mượn gốc Hán ( hoặc phiên âm qua âm Hán-Việt) thông qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ: là những từ tiếng Việt

có nguồn gốc từ tiếng Hán, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt Người ta thường gọi là từ Hán Việt gồm một hệ thống những từ Hán cần thiết cho việc giao tế lúc đó nhất là trong ngôn ngữ Việt Ví dụ như: chính phủ, giang sơn, xã tắc, giang hồ, đắc nhân tâm, hi sinh, tài xế,

Những từ vay mượn gốc Ấn - Âu (nói chung) qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ như: axit, sô cô la, cao su, sơ mi, xà phòng, ca cao,

So với bộ phận từ láy, từ ghép thì số lượng những từ này là rất ít Song, do các mối quan hệ quốc tế mở rộng và qua sự giao thoa ngôn ngữ tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ ngữ, nhất

là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kỉ thuật……

1.3 Khái niệm nghĩa, các loại nghĩa, vấn đề nghĩa của hình vị 1.3.1 Khái niệm nghĩa

Là sự phản ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức, trở thành một yếu

tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hê thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh trong hiện thực đực hiện thực hoá

Trang 29

Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa nà thông báo nó cho người khác, mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, này sinh và tồn tại của nó

Toàn bộ các chức năng của các đơn vị ngôn ngữ; tất cả đều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt nội dung của chúng, như: nghĩa chuyển, nghĩa số lượng, nghĩa nguyên nhân

Nghĩa của từ không phải là một thực thể độc lập với ngôn ngữ trong đó nó tồn tại, mà chỉ là một khái niệm về sự vật khách quan được phản ánh vào trong ngôn ngữ Mặt được biểu đạt, tức là nghĩa của từ được xác định bởi những mối quan hệ của chúng với những từ khác trong hệ thống Nói cách khác, nghĩa của từ là một tập hợp các nét khu biệt (còn gọi là nét nghĩa hay nghĩa vị) Đó là những tiêu chí

mà tiếng nói giữ lại để nhận biết một loại đối tượng nào đó trong những vật thể của hiện thực

Như vậy, nghĩa của từ là một cấu trúc có thể phân xuất ra những yếu tố cấu tạo nhỏ nhất, giống như các nét khu biệt trong âm vị học

Ví dụ: Nghĩa của từ “anh” trong tiếng Việt gồm các nghĩa vị: đàn ông, sanh trước trong quan hệ gia đình với người cùng thế hệ

Mỗi câu nói đều truyền đạt đến người nghe một thông báo nhất định Thông báo này thường gồm có hai phần Phần thứ nhất là những gì người nghe có thể trực tiếp nhận ra nhờ nghĩa nguyên văn (gồm có nghĩa đen và một số nghĩa bóng quen thuộc) của những từ

có mặt trong câu và nhờ mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy: Đó là nghĩa hiển ngôn của câu nói Phần thứ hai là những gì không có sẳn

Trang 30

trong nghĩa nguyên văn của các từ ngữ và trong những mối quan hệ

cú pháp ấy, nhưng vẫn thấu đến người nghe thông qua một sự suy diễn: Đó là nghĩa hàm ẩn của câu nói Sự suy diễn cho phép người nghe hiểu được cái nghĩa hàm ẩn ấy thường được thực hiện một cách hoàn toàn tự nhiên và cùng một lúc với quá trình hiểu nghĩa nguyên văn, chứ không phải là gì sau đó

Ta thấy trong mỗi câu nói ngoài cái nội dung mà nó trực tiếp nói rõ

ra bằng từ ngữ (nghĩa hiển ngôn), còn có thể thông báo cho người nghe nhiều điều không thấy có trong nghĩa nguyên văn của từ ngữ (nghĩa hàm ẩn) Nghĩa hàm ẩn có một vị trí hết sức quan trọng trong

sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Nhiều khi nó còn quan trọng hơn cả nghĩa hiển ngôn Không hiểu nghĩa hàm ẩn của một câu nói là chưa thật sự hiểu câu nói đó Mặt khác, khi nói đến nghĩa của từ, người ta còn có cách phân chia khác như sau:

- Nghĩa biểu vật: Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thụôc tính, hành động) mà nó chỉ ra

- Nghĩa biểu niệm: Là liên hệ giữa từ với ý, là sự phản ánh sự vật trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ

- Nghĩa ngữ dụng (còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ): là mối quan hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói

- Nghĩa cấu trúc: Là mối liên hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống từ vựng

Đối với từ vựng ngữ nghĩa học, nghĩa biểu niệm có vị trí quan trọng hàng đầu Do vậy, trong luận văn này chúng tôi khi phân tích, miêu tả các từ và khi nói đến nghĩa là chúng tôi chủ yếu nói đến nghĩa biểu niệm

1.3.3 Nghĩa của hình vị

Trang 31

Như đã nói ở trên, đối với tiếng Việt thì hình vị tiếng Việt là đơn

vị nhỏ nhất có ý nghĩa của từ, có giá trị ngữ pháp dùng để cấu tạo câu Hình vị là đơn vị cơ bản, có chức năng cấu tạo từ tiếng Việt

Mỗi hình vị tiếng Việt có một nghĩa nhất định Nghĩa đó có thể là nghĩa từ vựng , nghĩa biểu cảm hay nghĩa ngữ pháp Đặc điểm cơ bản của hình vị tiếng Việt là thường có hình thức cấu tạo một âm tiết, tức

là mỗi hình vị trùng với một âm tiết Các hình vị một âm tiết có thể trực tiếp tạo ra từ Trong tiếng Việt hình vị còn được gọi là tiếng

1.4 Vấn đề cấu tạo từ, phương thức cấu tạo từ

1.4.1 Đơn vị cấu tạo từ:

Từ được cấu tạo nhờ các hình vị Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định Như vậy, từ chưa phải là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoặc có giá trị về mặt ngữ pháp

Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau Trước hết là

sự phân loại thành các hình vị tự do và hình vị hạn chế

Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập Ví dụ: man, black, sleep, rian trong tiếng Anh; nhà, người, làm, mua, bán, chạy, ôm trong tiếng Việt

Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác Ví dụ: -ing, -ed, -s, -ly của tiếng Anh Trong nội bộ của các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại nữa: các hình vị biến đổi dạng thức ( các biến tố) và các hình vị phái sinh ( các phụ tố) Chính tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng Nghĩa của chính tố có liên hệ logic với đối tượng Nghĩa của chính tố

Trang 32

hoàn toàn độc lập (tự nghĩa) Phụ tố là hình vị mang nghĩa từ vựng bổ sung hoặc nghĩa ngữ pháp Nghĩa của phụ tố thì trừu tượng có liên hệ lôgic với ngữ pháp Nghĩa của phụ tố thì không độc lập (trợ nghĩa), nó chỉ được rõ ràng khi chỉ nằm trong kết cấu của từ

Có nhiều phụ tố khác nhau Trước hết người ta phân biệt phụ tố cấu tạo từ và biến tố

Phụ tố cấu tạo từ biểu thị ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp

Người ta phân phụ tố cấu tạo từ thành:

- Tiền tố là phụ tố đặt trước chính tố

- Hậu tố là phụ tố đặt sau chính tố

- Trung tố là phụ tố nằm chen vào giữa chính tố

- Liên tố là phụ tố đặt biệt, có chức năng liên kết các chính tố trong từ phức

Biến tố là phụ tố chỉ xuất hiện ở những từ có biến đổi hình thái Chức năng của nó là biểu thị mối qua hệ cú pháp của các từ ở trong câu

Ngoài chính tố và phụ tố còn có những hiện tượng được gọi là bán phụ tố Bán phụ tố là những yếu tố không mất hoàn toàn ý nghĩa sự vật của mình, nhưng lại được lập lại trong nhiều từ Có tính chất của những phụ tố cấu tạo từ Tiêu chí cơ bản của bán phụ tố là tính chất phụ trợ của nó, thể hiện trong những đặc điểm về ý nghĩa, phân bố và chức năng Trong khi hoàn thành chức năng cấu tạo từ, chúng vẫn giữ mối liên hệ về ý nghĩa và hình thức với những từ gốc hoạt động độc lập, cho nên chúng không chuyển hoàn toàn thành các phụ tố Trong tiếng việt, những yếu tố như: viên, giả, hóa cũng có tính

chất của các bán phụ tố Ví dụ: - Ủy viên, thành viên, nhân viên

Trang 33

- Kí giả, đọc giả, khán giả, thính giả

- Lão hóa, Việt hóa, công nghiệp hóa

Đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết

- Về hình thức nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên

- Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện Xét về ý nghĩa, về giá trị ngữ pháp, về năng lực tham gia cấu tạo từ không phải tiếng ( hình vị ) nào cũng như nhau

- Có những tiếng tự nó mang nghĩa, được quy chiếu vào một đối tượng, một khái niệm như: cây, cỏ, nước, sơn, thủy

- Có những tiếng tự thân nó không quy chiếu vào một đối tượng, một khái niệm; nhưng có sự hiện diện của nó trong cấu trúc từ hay không, sẽ làm cho tình hình rất khác nhau Ví dụ: dai (nhách), nắng (nôi), xanh (rì), …

- Có những tiếng xuất hiện trong những từ mà tất cả các tiếng tham gia tạo từ đều không quy chiếu vào một khái niệm, một đối tượng- nếu tách rời nhau Ví dụ: mì- chính, mồ-hôi, các từ ở đây có thể có nguồn gốc Việt hoặc nguồn gốc ngoại lai

Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào tiêu chí: “có khả năng hoạt động tự do hay không” để chia các tiếng thành hai loại

- Loại tiếng tự do: Có thể hoạt động tự do trong lời nói với tư cách

là từ

Ví dụ: làng, quê, chợ, bán, thuê

Trang 34

- Loại tiếng không tự do: Loại này gồm hai nhóm: Những tiếng không tự do nhưng bản thân chúng có mang nghĩa: thủy, đoàn, trường, giang

Những tiếng không tự do nhưng tự thân chúng không mang nghĩa:

mồ, hôi, (đen) nhánh, (xanh) rì

Tuy nhiên, ranh giới giữa các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối Cần phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, phạm vi này với phạm vi kia

1.4.2 Phương thức cấu tạo từ

Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ Từ điển tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó

- Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn ( còn gọi là từ đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một tiếng Ví dụ: tôi, anh, bạn, hoa, đường,

lá, vui, giận, nha

- Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta từ gọi là từ ghép Có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:

Từ ghép đẳng lập: Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa Ví dụ: ăn nói, làm ăn, ăn

ở Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp Đây là một trong những điểm cơ bản làm cho nó khác với các từ ghép chính phụ

Từ ghép chính phụ: Những từ ghép mà có các thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ Ví dụ: nông sản, cà chua, dưa hấu, ngọt lịm, đắng

Trang 35

nghét, Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa và sắc thái hóa cho thành tố chính Ví dụ: tàu hỏa, đường sắt, dưa hấu, cà chua, lão hóa, sưng vù

Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm cho ta các

từ láy Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng Một từ sẽ được gọi là từ láy khi các yếu

tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau:

Từ láy gồm hai tiếng ( cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo như sau: Láy hoàn toàn:

- Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở dạng trọng âm Ví dụ: khăng khăng, đăm đăm, rề rề,

- Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu Ví dụ: đo đỏ, ra rả,

phơi phới, vành vạnh, hơn hớn,

- Lớp từ láy hoàn toàn đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm

cuối Ví dụ: ấm áp, chan chát, vằng vặc, phưng phức, …

Láy bộ phận: Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp

ở phần vần thì được gọi là từ láy bộ phận Căn cứ vào đó có thể chia

từ láy bộ phận thành hai lớp

- Lớp từ láy âm đầu, đối ở phần vần Ví dụ: bập bềnh, bấp bênh,

đẹp đẽ, ngơ ngác, say sưa

- Lớp từ láy phần vần, đối ở âm đầu Ví dụ: bâng khuâng, lã chã,

hấp tấp, lụp xụp, lan man,

Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo cách nêu trên; hoặc một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ

có một Ví dụ: bù lu bù loa, lằng nhà lằng nhằng,

Trang 36

Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị; nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó về nghĩa

Trừ các kiểu đã trình bày ở trên, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo ( các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là các từ ngẫu hợp với ngụï ý: Các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên ( Xem phần

1.2.2.2 )

1.4.3 Thế nào là hình vị có tần số xuất hiện thấp

Hình vị có tần số xuất hiện thấp là những hình vị có sức sản sinh thấp (khả năng cấu tạo từ thấp) chúng chỉ xuất hiện một lần hoặc một đôi lần trong cấu tạo từ tiếng Việt Hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp là những hình vị có nguồn gốc từ tiếng Hán và khi du nhập vào tiếng Việt chúng không được dùng để cấu tạo nên hàng loạt các từ ghép như các hình vị khác, mà chúng chỉ xuất hiện một lần hoặc một đôi lần trong vốn từ vựng tiếng Việt Ví dụ như: Hình vị trừu trong trừu tượng , ảm trong ảm đạm, trĩ trong ấu trĩ , củng trong củng cố, sử trong sử dụng, miêu trong miêu tả, ủng trong ủng hộ, v.v là hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt Nói chúng là hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp là vì sao? Vì trong ngữ cảnh giao tiếp của người bản ngữ chúng ta thì các hình vị nói trên ít có khả năng xuất hiện hay nói một cách cụ thể thì: chúng chỉ xuất hiện một lần hoặc một đôi lần trong cấu tạo từ tiếng Việt Trong khi đó các hình vị gốc Hán như: nhân, sĩ, gia, viên, trọng là các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện cao Xin hãy xem ví dụ minh họa sau:

Trang 37

- Đối với hình vị trừu trong trừu tượng thì trừu chỉ xuất hiện ở trong trừu tượng, trừu bị

- Đối với hình vị ảm trong ảm đạm thì cũng như vậy, ảm chỉ xuất hiện trong ảm đạm

- Đối với hình vị trĩ trong ấu trĩ thì không có sự kết hợp nào khác để sản sinh từ mới

- Đối với hình vị củng trong củng cố rất ít khi xuất hiện trong vốn từ tiếng Việt

Tất cả các hình vị gốc Hán trên đây, chúng đều là những hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong vốn từ tiếng Việt

Còn đối với các hình vị gốc Hán như nhân, gia, viên, sĩ lại là các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện cao Vì chúng ta có thể nhận thấy chúng xuất hiện rất thường xuyên (nhiều lần) trong ngữ cảnh giao tiếp của người Việt, chẳng hạn như:

- Hình vị viên ta có: Viên quan, viên sĩ quan, viên chức, viên bộc,

viên sư, viên nhân, viên chủ

- Hình vị nhân ta có: Nhân tâm, triết nhân, thi nhân, thương nhân,

quả nhân, nho nhân, luật nhân, doanh nhân,

- Hình vị gia ta có: gia nhân, gia chủ, gia bộc, gia nô, gia sư, gia

nghiêm, gia trưởng

Trang 38

Như vậy, các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp là những hình vị gốc Hán có sức sản sinh thấp (khả năng cấu tạo từ thấp) Chúng có những đặc điễm riêng về ngữ nghĩa và ngữ pháp mà chúng tôi sẽ lần lượt trình bày ở phần sau Về vấn đề các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện cao mà chúng tôi có dẫn làm ví dụ minh họa thì xin không trình bày trong phạm vi bài viết này Trong bước đầu nghiên cứu, bài viết có thể có một số thiếu sót nhất định, tác giả luận án rất mong được sự thông cảm và lượng thứ từ quý thầy cô và bạn đọc

Trang 39

CHƯƠNG HAI ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC HÌNH VỊ GỐC HÁN CÓ TẦN SỐ XUẤT HIỆN THẤP TRONG CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT

2.1 Nghĩa gốc của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt

Trong quá trình thu thập tài liệu chúng tôi thu thập được gần 90 hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong vốn từ tiếng Việt Ở đây chúng tôi khảo sát và phân tích theo cách giải nghĩa trong quyển Từ điển Hán- Việt do tác giả Đào Duy Anh chủ biên, tái bản năm 2004, và quyển Từ điển Hán – Việt do tác giả Trần Thị Thanh Liêm Xuất bản năm 2007

Để thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu về nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp, chúng tôi xin trình bày một vài ví dụ phân biệt hiện tượng đồng âm hòng tránh sự nhầm lẫn về nghĩa của chúng Từ đây, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong vốn từ tiếng Việt

Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau, không liên quan gì đến nhau Ví dụ: - Đường ra trận mùa này đẹp lắm ( Phạm Tiến Duật, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây)

- Ngọt như đường

Yếu tố đường trong Đường ra trận và đường trong Ngọt như đường tuy có vỏ ngữ âm giống nhau nhưng chúng không hề có quan hệ gì với nhau về nghĩa Như vậy, đây là hiện tượng đồng âm Chúng tôi xin

Trang 40

loại trừ hiện tượng đồng âm, không xem xét trong phạm vi bài viết này

Dựa vào hai tài liệu: Từ Điển Hán Việt do Đào Duy Anh chủ biên và

Từ Điển Hán Việt do Trần Thị Thanh Liêm chủ biên thì nghĩa của các hình vị gốc Hán có tần số xuất hiện thấp trong cấu tạo từ tiếng Việt được biểu hiện như sau:

1 Hình vị ảm (ảm đạm)

- Theo Đào Duy Anh, ảm có nghĩa là tối tăm (trang 7)

- Và theo Trần Thị Thanh Liêm thì ảm có nghĩa là mờ tối, sâu kín, tối tăm (trang 16)

Vậy, ảm có nghĩa là tối tăm

Ví dụ: “ Làng Thiện Vịnh, làng quê chôn nhau cắt rốn của anh, cái làng đồng trũng mà chắc đến cái mùa nước thì con đường đê liên huyện kia chỉ còn là một sợi chỉ mỏng manh bên làn nước giữa gò đất,

bờ bụi, tre pheo Sao mà gió lắm thế, gió trên đồng đêm ngày giật lên, gào lên từng cơn Làng nước xám ngắt, quan cảnh tiêu điều, lam lũ,

ảm đạm, nheo nhóc .”

(Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm, trang 73)

“ Thực ra thì bên cạnh chất liệu lam lũ, ảm đạm của làng quê thứ hai mà ông gắn bó, yêu quý và sống ở đó lâu ngày: Thôn Vân, quê Mẹ ”

(Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm, trang 132)

2 Hình vị trĩ (ấu trĩ)

- Theo Đào Duy Anh, trĩ có nghĩa là trẻ con (trang19)

- Và theo Trần Thị Thanh Liêm thì trĩ có nghĩa là trẻ con, nhỏ, non nớt (trang 655)

Vậy, trĩ có nghĩa là trẻ, non nớt, bồng bột, thiếu kinh nghiệm

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w