NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HÀ NỘI - 2020... 48 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ
CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG
CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS.TS LÊ THỊ LAN ANH
2 GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các ngữ liệu nêu trong luận án là xác thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Thị Lan Anh và
GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, những thầy cô đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành luận án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Tổ
bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm2020
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Hương
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận án 4
6 Bố cục của luận án 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt 19
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài 22
1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ 22
1.2.2 Khái quát về kết trị của từ 36
Tiểu kết 48
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC 49
2.1 Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 49
2.1.1 Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 49
2.1.2 Tiêu chí nhận diện tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 52 2.1.3 Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 55
2.1.4 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 57
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc 61
2.2.1 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng sự vật 61
2.2.2 Ngữ nghĩa nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật 66
Trang 6trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc 69
2.3.1 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc 69
2.3.2 Đặc điểm các tham tố của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc 74
2.3.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu 89
Tiểu kết 95
Chương 3: SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA VÀ THAY ĐỔI KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT 97
3.1 Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 98
3.1.1 Khát quát về sự phát triển ngữ nghĩa của từ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận 98
3.1.2 Các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 101
3.2 Sự thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 115
3.2.1 Sự thay đổi mô hình kết trị 115
3.2.2 Sự thay đổi các tham tố 117
3.2.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu 132
Tiểu kết 136
KẾT LUẬN 139
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 7TT Tên gọi Trang Bảng 2.1 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật
trong tiếng Việt
59
Bảng 2.2 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng
khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc
76
Bảng 3.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi
nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa
120
Trang 8TT Tên gọi Trang Hình 2.1 Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng
của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
68
Hình 2.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng
của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
71
Hình 3.1 Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ
chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
114
Hình 3.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng
của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa
115
Trang 9TT Chữ viết tắt Nội dung
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cũng như ở các ngôn ngữ khác, tính từ là từ loại có số lượng lớn và
chiếm vị trí quan trọng trong tiếng Việt Trong đó, nhóm tính từ chỉ đặc điểm
về lượng của sự vật đóng một vai trò không nhỏ làm nên sự phong phú và đa dạng của tính từ nói riêng và từ loại tiếng Việt nói chung Đây cũng là nhóm
từ có nhiều đặc điểm phức tạp trong đời sống ngôn ngữ Đặc biệt, khi tham gia vào hoạt động hành chức, nhóm tính từ này không chỉ hiện thực hóa đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp vốn có của nó mà còn có những sự biến đổi và chuyển hóa trên nhiều bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa tương đối phức tạp nhưng cũng đầy lý thú Vì vậy, chúng luôn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu
1.2 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng về ngữ pháp của ngôn ngữ học hiện đại Lí thuyết này đem đến một hướng tiếp cận mới, tiếp cận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa, chức năng Nó góp phần giải quyết những vấn đề cần yếu đối với ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ Lí thuyết kết trị đã cho thấy giữa ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn luôn có mối quan hệ và tương tác lẫn nhau Trong đó, ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị, quy định sự hiện thực hóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức Và ngược lại, thông qua mô hình kết trị thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ được bộc lộ
1.3 Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ pháp, nghiên cứu đặc điểm từ loại của nhiều ngôn ngữ khác nhau Trên thế giới đã có khá nhiều công trình vận dụng lí thuyết kết trị nghiên cứu một cách có kết quả hệ thống từ loại mà đầu tiên và trước hết là động từ Nằm trong trào lưu chung của ngôn ngữ học thế giới, ở Việt Nam, những năm gần đây lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được vận dụng
Trang 11trong một số công trình nghiên cứu Nhưng nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thì chưa có một công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa
và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt làm đề tài cho luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết kết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị …), lí thuyết ngữ nghĩa ( nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa
và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miền đích…), lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêu chí nhận diện, phân loại…)
- Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
- Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngôn ngữ học hiện đại có thể xem xét tính từ cũng như nhóm TTCĐĐVL của sự vật dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, trong luận án này, chúng tôi tập trung xem xét các tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt ở hai phương diện: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị, cũng như mối quan hệ giữa chúng cả mặt tiềm năng lẫn mặt hiện thực hóa
3.3 Phạm vi nguồn ngữ liệu
Nhóm TTCĐĐVL của sự vật xuất hiện đa dạng trong các thể loại văn bản thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ Tuy nhiên, nguồn ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát chủ yếu trong 55 nguồn ngữ liệu ở hai loại hình văn bản thuộc hai phong cách khác nhau là: VBKH và VBNT Đây là hai loại văn bản mà tần số sử dụng nhóm TTCĐĐVL tương đối cao và có đặc thù phong cách khác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án Bên cạnh đó, nguồn ngữ liệu còn được thu thập từ thực tế sử dụng tiếng Việt trong giao
tiếp hàng ngày
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả kết hợp với phương pháp phân tích cú pháp; các thủ pháp so sánh, thống kê - phân loại và mô hình hóa
4.1 Phương pháp miêu tả theo lí thuyết kết trị
Luận án sử dụng phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa
và kết trị của các tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt Phương pháp miêu tả được dùng để phân tích nghĩa của TTCĐĐVL nhằm chỉ ra nghĩa gốc và sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ này, đồng thời, phân tích các tham tố tham gia mô hình kết trị nhằm chỉ ra đặc điểm hình thức cũng như nội dung của các tham tố
Trang 134.2 Phương pháp phân tích cú pháp
Phương pháp này chúng tôi sử dụng nhằm giải mã những vấn đề của câu
về mặt hình thức, từ đó làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và giải mã các vấn
đề về mặt ngữ nghĩa Nhờ đó, mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa kết trị
và ngữ nghĩa được sáng tỏ
4.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được dùng để thống kê lượng từ ngữ, phân loại nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt ở các nguồn ngữ liệu và những biểu thức ngôn ngữ có chứa những tính từ này dựa trên những đặc điểm giống nhau về ngữ nghĩa, kết trị Đây là cơ sở giúp đề tài mang tính khách quan và thuyết phục
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về mặt lí luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt Thông qua việc nghiên cứu, luận án thêm một bước làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án cũng góp thêm tiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp
hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa
Trang 145.2 Về mặt thực tiễn
Tính từ nói chung và nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt rất phong phú nhưng hết sức phức tạp Nó được sử dụng thường xuyên trong các loại hình văn bản, từ trong các tác phẩm nghệ thuật đến đời sống hàng ngày Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng tư liệu và kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là những đóng góp thiết thực trong việc nghiên cứu và học tiếng Việt, cụ thể như: giúp người nghiên cứu về cú pháp và ngữ nghĩa có được cái nhìn sâu sắc hơn về tính từ; góp phần vào việc phân tích, giải thích ngữ nghĩa của tính từ trong việc biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước ngoài
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu khảo sát luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Trong chương này, chúng tôi tổng hợp những nghiên cứu cơ bản về nghĩa, kết trị của từ và tính từ ở trong nước và ngoài nước Đồng thời, chương này cũng xác lập một số khái niệm lí thuyết cơ bản về nghĩa và kết trị của từ
Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm
về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc
Chương này sẽ trình bày khái quát về nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt và kết quả khảo sát của luận án, cũng như kết quả nghiên cứu về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này khi dùng với nghĩa gốc
Chương 3: Sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ
chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Ở chương 3, chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích sự phát triển ngữ nghĩa cũng như sự thay đổi mô hình kết trị và các tham tố của nhóm TTCĐĐVL trong sự hiện thực hóa
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Ngữ nghĩa và kết trị của từ là một trong những vấn đề cần được quan tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cập đến nội dung này theo các góc độ khác nhau Vì vậy, trong chương này, luận
án điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ
Vấn đề ngữ nghĩa từ xưa cho đến nay luôn được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm Hầu như, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ nào cũng đề cập đến nghĩa ở một mức độ nhất định Trong phần này, chúng tôi chỉ điểm lại một cách sơ lược nhất về vấn đề nghiên cứu ngữ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ
a Những nghiên cứu trên thế giới
Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn độc lập hình thành vào khoảng
cuối thế kỉ XIX và được đánh dấu bằng công trình “Essai de Sémantique”
(1877) của Michel Bréal Ông được xem là người đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học ngữ nghĩa Dù công trình của M Bréal ra đời sau, nhưng được
đánh giá là công trình “đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn khoa
học nhân văn.” [82, tr.7] Trong công trình nghiên cứu [82], Lê Quang Thiêm
đã khái lược rất rõ ba thời kì phát triển trong tiến trình ngữ nghĩa học Đó là thời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận Mỗi thời kì đều được đánh dấu bằng các công trình nghiên cứu gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học
Trang 16Vấn đề quan tâm đầu tiên của các nhà ngôn ngữ học là khái niệm nghĩa của từ Bởi đây là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau Nguyễn Thiện Giáp [35] đã chỉ ra tám quan niệm về nghĩa trên thế giới Nhìn chung,
các ý kiến bàn về nghĩa của từ nổi lên hai khuynh hướng: “1) Cho nghĩa của từ
là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh…) 2) Cho nghĩa của
từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng, hoặc quan hệ của từ với khái niệm)” [dẫn theo 35, tr 31] Nghĩa của từ là nhân tố chi phối khả năng
kết hợp của từ (khả năng phóng chiếu của từ), trong trường hợp vị từ đóng vai trò vị ngữ của câu thì nghĩa của từ chi phối đến các tham tố cùng vị ngữ tạo thành câu trọn vẹn, tức thể hiện kết trị của vị từ
Về các thành phần nghĩa của từ, các nhà ngôn ngữ đã đưa ra những kiến giải khác nhau bằng sơ đồ tam giác nghĩa và các nhân tố hình thành ý nghĩa của
từ Người đầu tiên phải kể đến là F.de Saussure (1916) Ông quan niệm về bản
chất của tín hiệu ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một
không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh
âm thanh Hình ảnh này không phải là cái âm vật chất, một vật thuần túy vật lí,
mà là dấu vết tâm lý của cái âm đó, là cái biểu tượng mà các giác quan của ta cung cấp cho ta về cái âm đó” [75, tr.120] Vậy theo F.de Saussure tín hiệu
ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt: khái niệm và hình ảnh âm thanh, giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau Đây là bước tiến lớn trong nhận thức về nghĩa của tín hiệu – từ
Làm rõ hơn một bước, C.K Ogden và I.A Richards (1923) đã đề xuất một
sơ đồ gọi là “tam giác nghĩa” Trong đó, một đỉnh là biểu hiệu, một đỉnh là tư duy và một đỉnh là sở chỉ, giữa chúng luôn có mối quan hệ lẫn nhau “Quan hệ
giữa biểu hiệu và tư duy là quan hệ biểu trưng; quan hệ giữa tư duy hay sự quy chiếu với sở chỉ là quan hệ quy chiếu; quan hệ giữa biểu hiệu với sở chỉ là quan
Trang 17hệ thay thế tên gọi” [dẫn theo 35, tr.37] Cũng bàn tới vấn đề này, G Stern
(1931) và S Ullmann (1962) cũng đưa ra sơ đồ cải tiến tam giác nghĩa và giải thích mối quan hệ giữa các thành tố của nghĩa Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ba nhân tố nghĩa và thay đổi một số thuật ngữ Đáng chú ý là các tác giả đưa thêm khái niệm nội dung liên hội như một loại nghĩa của tín hiệu từ
Theo quan niệm truyền thống, John Lyons (1977) coi “khái niệm là
nghĩa của từ” Ông đã cải tiến sơ đồ tam giác nghĩa và giải thích: “Hình thức của từ có thể nói là “biểu nghĩa” cho cả “khái niệm’ mà các “sự vật” được gộp vào đó (bằng sự “trừu tượng” khỏi các đặc tính “ngẫu nhiên” của chúng) và cả bản thân các “sự vật” đó nữa” [dẫn theo 35, tr.38] Lúc này, cái
quy chiếu không còn được xem là nghĩa nữa mà nghĩa là nội dung khái niệm,
là nội dung liên hội và nghĩa biểu thị
Bên cạnh các tác giả với những công trình nghiên cứu trên, trong ngữ nghĩa học thế giới, chúng ta còn gặp nhiều quan niệm với các khuynh hướng khác nhau như: Kurt baldinger, V.A Zveginxev, Ju.D Appressian, Ju.X Stepanov…
Về hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng được các nhà nghiên cứu bàn tới với những khuynh hướng nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến ba khuynh hướng chính trên thế giới như sau: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo nghiên cứu theo lôgic học mà Paul là người khởi xướng Những quan niệm của ông được thể hiện qua bảng phân loại logic học các hiện tượng chuyển nghĩa, trong
đó chú ý đến so sánh nội dung khái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thời nêu lên mối quan hệ logic giữa chúng (2) Khuynh hướng nghiên cứu theo tâm lý học mà đại diện là Wundt, Henry, Murray… Khuynh hướng này giải thích hiện tượng chuyển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lý với phương châm việc nghiên cứu chuyển nghĩa cuối cùng phải vĩnh viễn quy thành nghiên cứu tâm lý (3) Khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử đứng đầu là Wellander, Smart… Họ nghiên cứu đã quan niệm sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử và chỉ
Trang 18trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quá trình thực tế Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tập hợp và hệ thống hóa những nguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự chuyển nghĩa trong ngôn ngữ Aitchison và một số nhà ngôn ngữ cùng quan điểm cho rằng: Sự chuyển nghĩa trong tiếng Anh do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng, yếu tố xã hội Ngược lại, Fromkin và một số tác giả khác cho rằng: Nguyên nhân của sự chuyển nghĩa là do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm lý của người học qua nhiều thế hệ khác nhau Không đồng quan điểm với các tác giả trên, Lyons cho rằng: Sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi ngôn ngữ
Khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là ngữ nghĩa học tri nhận với những tên tuổi như: G Lakoff, M Johnson, M Turner,
C Fillmore, V Evans, M Green thì vấn đề nghĩa cũng như sự chuyển nghĩa của ngôn ngữ sẽ là mảnh đất còn nhiều điều cần khám phá Dưới góc nhìn của tri nhận, nghĩa của từ và sự chuyển nghĩa của từ chủ yếu được đề cập thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm dựa trên những miền nguồn hết sức cơ bản như: miền cảm xúc, miền bộ phận cơ thể người, miền không gian, miền ăn uống… Qua quá trình chuyển nghĩa, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận cũng nhận thấy ẩn dụ ý niệm là cách thức tư duy, hé lộ cho biết cách nghĩ và văn hóa dân tộc
b Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, so với nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì ngữ nghĩa học, đặc biệt nghĩa học ngữ pháp (grammatical semantics) là một chuyên ngành chưa có chiều dày Sự xuất hiện ban đầu của ngữ nghĩa học gắn liền với từ vựng học Vì vậy, những tri thức ban đầu của ngữ nghĩa học chủ yếu được đề cập trong những giáo trình cơ sở từ vựng học Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa …
Trang 19Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của Đỗ Hữu Châu ra đời
Lần đầu tiên ở Việt Nam, các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học được giới thiệu
Có thể nói, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều công trình về lí thuyết nghĩa của từ Chính ông đã góp phần xây dựng cơ sở nền
tảng cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt Theo ông, “Nghĩa của từ là hợp
điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ
và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ” [17, tr.98] Quan niệm này của
Đỗ Hữu Châu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm nghĩa của từ mà còn bàn tới các thành phần ý nghĩa của từ Tác giả đã xác định các nhân tố ngoài ngôn ngữ là (1) sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thể thuộc thế giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng; (2) sự hiểu biết của con người
về nhân tố thứ (1), và (3) nhân tố lịch sử xã hội (mỗi thời đại và các tập thể
xã hội khác nhau cũng ảnh hưởng đến nghĩa của từ, khiến cho mỗi từ có thể
có những vẻ nghĩa riêng) Còn các nhân tố thuộc ngôn ngữ là: (1) toàn bộ
hệ thống ngôn ngữ với những quan hệ giữa chúng; (2) chức năng tín hiệu học của từ Tác giả thay tam giác nghĩa hình học phẳng bằng hình tháp nghĩa hình học không gian như sau:
Sơ đồ hình tháp nghĩa [17, tr.101]
Người dùng
Chức năng tín hiệu
Tư duy Từ-trừu tượng
Sự vật
Hệ thống ngôn ngữ
Trang 20Theo sơ đồ này thì đỉnh cao nhất của tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần là hình thức và ý nghĩa Ở mỗi đỉnh của đáy là từng nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, gồm: sự vật, hiện tượng, sự hiểu biết của tư duy; nhân tố người sử dụng; các chức năng tín hiệu học; cấu trúc của ngôn ngữ Đồng thời, tác giả cũng bàn tới các quan hệ ngữ nghĩa và trường từ vựng – ngữ nghĩa…
Tiếp theo đó, ngữ nghĩa học đã từng bước được quan tâm như một bộ môn độc lập với sự xuất hiện của một số công trình khoa học Nguyễn Thiện Giáp [34] đã tổng hợp đầy đủ các quan niệm về nghĩa Tác giả cho rằng:
“Nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lí hơn Nhưng vì từ có quan hệ rất
đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn như: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu” [34, tr.125] Quan niệm này của tác giả
cũng chỉ ra các thành tố nghĩa của từ Mặc dù, quan niệm của ông và Đỗ Hữu Châu không khác nhau nhiều Nhưng hệ thuật ngữ thì có khác nhau Nếu như
Đỗ Hữu Châu gọi các thành phần nghĩa của từ là “nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
niệm và nghĩa biểu thái” [18] thì Nguyễn Thiện Giáp dùng: “nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu và nghĩa sở dụng” [34] Ở một số công trình khác, Nguyễn
Thiện Giáp cũng đã đề cập đến ngữ nghĩa học từ vựng như: “sự biển đổi ý
nghĩa của từ ngữ, những quan hệ về nghĩa của từ, trường nghĩa…” [35]
Tiếp theo là Tập bài giảng về Ngữ nghĩa học của Lê Quang Thiêm [82]
Đây có thể coi như một công trình xác lập ngữ nghĩa học với tư cách là một
bộ môn ngôn ngữ học riêng Ngoài việc giới thiệu những thành tựu về ngữ
nghĩa học, tác giả cũng thể hiện cách lí giải về “tầng nghĩa và kiểu nghĩa chức
năng từ vựng”,“tầng nghĩa và kiểu nghĩa trong các phạm trù ngữ pháp”,
“tầng nghĩa và kiểu nghĩa hiển ngôn của lời”… Trong công trình này, không
chỉ nghĩa học từ vựng mà nghĩa học ngữ pháp và nghĩa học ngữ dụng cũng được Lê Quang Thiêm bàn tới Đây là cái mới của công trình này
Trang 21Tiếp nối và triển khai sâu rộng quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng [49] đã trình bày những quan niệm cơ bản về các bình diện nội dung của tín hiệu ngôn ngữ và vai trò của nghĩa trong hoạt động cũng như sự chi phối của các nhân tố giao tiếp đến việc sử dụng và lĩnh hội nghĩa
Có thể nói, ngữ nghĩa học đã từng bước được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam tiếp cận và vận dụng trong nghiên cứu về tiếng Việt Với
mong muốn “là một trong những cách làm thiết thực để thúc đẩy sự phát triển
của ngữ nghĩa học ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ngữ nghĩa học ngữ pháp nói riêng” [60, tr.8], Nguyễn Văn Hiệp đã dịch cuốn Ngữ nghĩa học dẫn luận
của John Lyons ra tiếng Việt Đây là cuốn dẫn luận ngữ nghĩa học đầu tiên của nước ngoài được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, cung cấp một cái nhìn bao quát về ngữ nghĩa trên một phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng, ngữ nghĩa của câu đến ngữ nghĩa của phát ngôn
Về sự biến đổi nghĩa trong tiếng Việt và một số khía cạnh liên quan cũng
đã được đề cập trong những công trình của các tác giả: Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân…Nhìn chung, các tác giả quan tâm nhiều đến hiện tượng đa nghĩa, sự biến đổi nghĩa từ được đề cập theo quan điểm truyền thống với sự chuyển đổi tên gọi: ẩn dụ, hoán dụ, mở rộng và thu hẹp nghĩa… Gần đây, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu nghĩa và sự chuyển nghĩa trong tiếng Việt, Nguyễn Đức Tồn và học trò của mình [97] đã thống kê số lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩa của trường từ vựng chỉ động vật, thực vât, bộ phận cơ thể người Đây là công trình khoa học được tiến hành nghiên cứu theo hướng lí thuyết tâm lý ngôn ngữ học tộc người Lý Toàn Thắng cũng có nhiều nghiên cứu về hiện tượng này Ông đã so sánh hiện tượng chuyển nghĩa của một số từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt sang các từ chỉ bộ phận đồ vật và định vị không gian với các từ tương ứng trong tiếng Anh; thông qua đó để thấy được cách nhận thức
về hiện thực của từng dân tộc Bên cạnh đó, trong công trình [78], Lý Toàn
Trang 22Thắng đã áp dụng một số khái niệm cơ bản như: tri nhận, ý niệm, hình, nền…
để tìm hiểu thực tiễn tiếng Việt, từ đó đưa ra nhiều kết luận có giá trị Tiếp đó, Trần Văn Cơ [23] cũng coi từ đa nghĩa của từ như một phạm trù ý niệm và mỗi nghĩa là một tiểu phạm trù Nguyễn Văn Hiệp [47] đã dùng lí thuyết nghiệm
thân để lý giải con đường chuyển nghĩa của từ “ra”, “vào” trong tiếng Việt
Ngoài những công trình mang tính chất giới thiệu lí thuyết trên, cần phải
kể tới một lượng lớn những công trình mà các nhà nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết về nghĩa để nghiên cứu một đối tượng cụ thể theo các hướng nghiên cứu khác nhau Đó là các đề tài khoa học, công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ, khoá luận tốt nghiệp và một số bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành Gần đây, trong Việt Ngữ học, hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong mối quan hệ với kết trị của một từ loại được quan tâm với các công trình tiêu biểu:
Nguyễn Mạnh Tiến [88] đã làm rõ sự chi phối của ý nghĩa đối với kết trị của động từ tiếng Việt Theo tác giả, ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó, ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị Sự chi phối của ý nghĩa đối với thuộc tính kết trị của
động từ thể hiện ở chỗ: “ý nghĩa của động từ quy định số lượng kết trị bắt
buộc (số lượng diễn tố) có thể có bên nó”, “quy định ý nghĩa và hình thức ngữ pháp của các diễn tố”và “quy định sự hiện thực hóa kết trị của động từ trong lời nói” [88, tr.35]
Bùi Thị Nga [62] ngoài việc thống kê các vị từ kết nối trong tiếng Việt
đã vận dụng lí thuyết ngữ nghĩa chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa chung của vị từ kết nối: hợp nhất, nối kết và tác tạo các đối tượng Tác giả đã phân tích năm hướng chuyển nghĩa của các vị từ nối kết, bước đầu lý giải cội nguồn hiện tượng chuyển nghĩa của vị từ nối kết trong tiếng Việt
Cùng hướng nghiên cứu với Bùi Thị Nga, Phạm Thị Mỹ Việt [100] đã xác lập được hệ thống các vị từ quá trình tiêu biểu trong tiếng Việt Tác giả
Trang 23đã làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ này khi dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển Với bốn hướng chuyển nghĩa biểu thị thời gian, hoạt động trí tuệ của con người, trạng thái tâm lý- tình cảm và cuộc đời, mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của từ nói chung và vị từ quá trình trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ được sáng tỏ
Gần đây, Bùi Minh Toán, Lê Thị Lan Anh [95] đã làm sáng tỏ và cụ thể hóa mối quan hệ giữa những đặc điểm ngữ nghĩa của từ (nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp, trường nghĩa, sự chuyển nghĩa, sự chuyển trường) với đặc điểm kết trị (số lượng, kiểu loại) của nó trên ngữ liệu tiếng Việt Nghĩa của
từ “chi phối một cách khá chặt chẽ số lượng và đặc tính của các kết tố cần
yếu, đồng thời cũng cho phép sự có mặt của các kết tố khả dĩ” [95, tr.591]
Có thể nói, những vấn đề ngữ nghĩa học và ngữ nghĩa học tiếng Việt trong những công trình nghiên cứu trên là tri thức quan trọng giúp chúng tôi
có cái nhìn toàn cảnh về ngữ nghĩa học để triển khai nghiên cứu nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ
Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ kết trị - valency - mới được sử dụng rộng
rãi từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX để chỉ khả năng kết hợp của các lớp
từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung
Nhìn một cách tổng thể cho đến nay, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về kết trị
a Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ trên thế giới
Lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trên nhiều cấp độ với nhiều quan điểm khác nhau Theo tổng kết của Nguyễn Văn Lộc, trong công trình
nghiên cứu “Kết trị của động từ tiếng Việt”, kết trị của từ được hiểu là
thuộc tính kết hợp của động từ hoặc một số từ loại nhất định Quan niệm này gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học Pháp L.Tesnière và một số
Trang 24nhà ngôn ngữ học khác như: S.D Kasnelson, A.A Kholodovich, S.M Kibardina, N.I Tjapkina và A.M Mukhin …
L Tesnière, một trong những người sáng lập lí thuyết kết trị, trong công
trình “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” đã cho rằng: Động từ “là thành tố
hạt nhân, là cái nút chính của câu Với vai trò hạt nhân động từ qui định số lượng và đặc tính của các thành tố có quan hệ với nó” [dẫn theo 57, tr.26]
Ông đã phân biệt hai loại thành tố phụ thuộc vào động từ là diễn tố và chu tố Theo đó, cấu trúc câu sẽ bao gồm một động từ hạt nhân cùng các yếu tố bổ sung, làm rõ nghĩa cho động từ đó Mỗi loại động từ, tùy vào bản chất của mình, sẽ đòi hỏi một số lượng nhất định các diễn tố với những đặc tính riêng biệt Bên cạnh đó, L Tesnière cũng đưa ra quan điểm về khái niệm kết trị của
động từ Đó là “thuộc tính hay khả năng của động từ hút vào mình một khối
lượng nhất định các diễn tố” [dẫn theo 58, tr.199] Quan điểm này của L
Tesnière gắn với lí thuyết ngữ pháp phụ thuộc có tầm ảnh hưởng không chỉ ở Pháp mà còn ở một số nước khác
Khác với L Tesnière, S.D Kasnelson đưa ra cách hiểu về kết trị và phân biệt kết trị với khả năng tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung Theo
ông, “kết trị là thuộc tính của lớp từ nhất định kết hợp vào mình những từ khác…
nhưng không có nghĩa là tất cả các từ đều có kết trị mà chỉ những từ có khả năng tạo ra các “ô trống” đòi hỏi làm đầy trong các phát ngôn mới có kết trị”
[dẫn theo 57, tr.27] So với L Tesnière, S.D.Kasnelson đã đưa ra khái niệm kết trị một cách chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Nó là khả năng tạo ra các vị trí xung quanh mình của các lớp từ chứ không phải là khả năng kết hợp chung chung Bên cạnh đó, S.D.Kasnelson cũng đã có sự phân biệt kết trị nội dung và kết trị hình thức Những điều này là những đóng góp mới của S.D Kasnelso góp phần làm cho lí thuyết kết trị trở nên sâu sắc hơn
Trang 25N.I Tjapkina và A.M Mukhin đã mở rộng khái niệm kết trị của động từ
hơn N.I Tjapkina cho rằng: “Kết trị của động từ được xác định dựa vào toàn
bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó” [dẫn theo 58, tr.200] Với
cách hiểu này, N.I Tjapkina đã đồng nhất khả năng của từ tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung với kết trị Ông phân biệt kết trị chung với kết trị hạt nhân Trong khi đó, A.M Mukhin quan tâm đến kết trị bắt buộc và kết trị tự do của động từ như: kết trị nguyên nhân, mục đích, phương tiện
Nếu như L.Tesnière và một số nhà ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến kết trị của từ (động từ) thì M.D Stepanova, G Helbig, T.M Beljaeva … lại mở rộng khái niệm kết trị từ cấp độ từ sang các cấp độ và các bình diện khác của ngôn
ngữ M.D Stepanova trong cuốn “Lý thuyết kết trị và việc phân tích kết trị”,
đã dùng thuật ngữ kết trị theo cách hiểu rộng, kết trị được hiểu là “khả năng kết
hợp của các đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ…Kết trị vừa là tiềm năng vừa là sự hiện thực hóa tiềm năng này, nghĩa là, kết trị đồng thời vừa là sự kiện của ngôn ngữ, vừa là sự kiện của lời nói” [dẫn theo 57, tr.29] Như vậy, theo quan
niệm của M.D Stepanova, kết trị không phải chỉ là thuộc tính kết hợp của từ (cấp độ từ) mà còn là thuộc tính của các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác Kết trị cũng không phải chỉ thuộc bình diện cú pháp mà còn thuộc một số bình diện khác của ngôn ngữ Đồng thời, ngoài kết trị chủ động còn có kết trị bị động, bên cạnh kết trị cú pháp còn có kết trị ngữ nghĩa và kết trị lôgic …
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến vấn đề kết trị của từ (động từ) như: khái niệm kết trị, phân biệt kết trị với khả năng kết hợp
và các kiểu kết trị của động từ mà còn mở rộng khái niệm kết trị sang các cấp độ và bình diện khác của ngôn ngữ Và ở cấp độ từ, ngoài động từ, các từ loại khác như: danh từ, tính từ, số từ … có kết trị hay không? Nếu các từ loại này có kết trị thì chúng phải có những thuộc tính kết trị như thế nào? Để giải quyết được thấu đáo vấn đề phức tạp trên không phải là việc đơn giản Nó đòi hỏi phải có một công trình riêng, chuyên sâu về lí thuyết kết trị
Trang 26b Sự vận dụng lí thuyết kết trị vào nghiên cứu từ ở Việt Nam
Lí thuyết kết trị của L.Tesnière đã được các nhà Việt ngữ học nhanh chóng vận dụng vào nghiên cứu tiếng Việt ở nhiều hướng tiếp cận mới Các nhà ngữ pháp học hiện đại đã tiếp cận ngữ pháp theo đường hướng ngữ nghĩa chức năng bên cạnh việc nghiên cứu ngữ pháp theo cấu trúc lôgic của ngữ pháp truyền thống Vì vậy, hàng loạt những công trình có giá trị xuất hiện
Đầu tiên phải kể đến công trình “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức
năng” (2006) của Cao Xuân Hạo Ở công trình này, tác giả chỉ mới đề cập
đến lí thuyết kết trị và khẳng định vai trò quan trọng của L Tesnière trong việc sáng lập ra lí thuyết kết trị mở đường cho ngữ pháp chức năng Tác giả
viết: L Tesnière “là người đã đưa khái niệm valence và các khái niệm liên
quan (actants, circonstants) vào nghĩa học của cú pháp và do đó có thể coi ông là một trong những người sáng lập ra ngành này” [43, tr.83]
Một trong những người tiên phong vận dụng linh hoạt lí thuyết kết trị của L Tesnière vào nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam là Nguyễn Văn Lộc
Trong công trình nghiên cứu “Kết trị của động từ tiếng Việt” (1995), tác giả
đã đưa ra định nghĩa kết trị của động từ:“Kết trị của động từ là khả năng của
động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi những thành tố cú pháp (những thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định Nói cách khác, kết trị của động từ là thuộc tính của động từ kết hợp với mình những thành tố cú pháp bắt buộc hoặc tự do” [57, tr.34] Từ đó, tác giả đã
xác định kết trị của động từ, phân loại kết trị của động từ và đặc biệt đi sâu phân tích, miêu tả hai kiểu kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt là kết tố chủ thể và kết tố đối thể cùng với sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ Tác giả chú ý miêu tả kết trị của các động từ đặt trong các ngữ cảnh cụ thể để
lý giải các hiện tượng kết tố có mặt hay vắng mặt trong quá trình hiện thực hóa kết trị của từ trong câu Tuy nhiên, đặc điểm kết trị của từng nhóm động
Trang 27từ mới chỉ được đề cập tới chứ chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng Đặc biệt, kết tố tự do của động từ không được bàn tới
Công trình tiếp theo là chuyên luận [72], Nguyễn Thị Quy đã đề cập tới khái niệm diễn trị và phân định vị từ hành động theo hai tiêu chí: diễn trị và [+ tác động] Từ đó, các tiểu loại của vị từ hành động, cách diễn đạt các vai nghĩa của khung vị ngữ “hành động” bằng các bổ ngữ của vị từ trong tiếng Việt được nghiên cứu cặn kẽ
Gần đây, trong công trình [31], Đinh Văn Đức đã đặt vấn đề nghiên cứu
từ loại tiếng Việt theo đường hướng nghiên cứu của Chức năng luận và quan tâm trước nhất đến lí thuyết kết trị, đặc biệt là lí thuyết kết trị của L Tesnière
Ở đây, thuật ngữ “ngữ trị” mà Đinh Văn Đức sử dụng tương đương với thuật ngữ kết trị của L Tesnière Tác giả cho rằng: “Ngữ trị (Valence) vốn là khái
niệm cú pháp quan hệ có thiên về chức năng Ngữ trị vừa chỉ ra quan hệ ngữ pháp vừa chỉ ra quan hệ nghĩa trong câu” [31, tr.276] Còn với phương diện
chức năng của từ loại thì “ Ngữ trị của từ loại sẽ là một loại giá trị rộng lớn,
không riêng của vị ngữ động từ nữa Nó trở thành một loại giá trị ngữ pháp chung có thể ứng dụng cho danh từ và cả tính từ nữa, trong tiếng Việt Do vậy, ngữ trị không phải chỉ có động từ” [31, tr.279] Theo Đinh Văn Đức, nói
đến kết trị là nói đến quan hệ ngữ pháp và nghĩa trong câu Không chỉ động từ mới có kết trị mà các từ loại khác như: danh từ và tính từ cũng có kết trị Bên cạnh đó, Đinh Văn Đức còn làm rõ ngữ trị của các từ loại (thực từ tiếng Việt) gồm hai loại giá trị: kết trị và diễn trị Như vậy, tác giả Đinh Văn Đức không chỉ quan tâm đến tất cả các kết hợp hình thức của động từ mà còn quan tâm đến các giá trị tình thái xuất hiện ở các kết hợp hình thức đó dưới những tác động khác nhau do cách thức phản ánh của người bản ngữ, điều mà tác giả Nguyễn Văn Lộc chưa bàn đến trong công trình nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết kết trị vào việc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câu nói riêng đã được Nguyễn Văn Hiệp [45], Lâm Quang Đông [28] và một số
Trang 28tác giả khác đề cập đến trong các công trình khoa học Hầu hết các tác giả đã
đề cập đến lí thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tích ngữ pháp khi xem xét, miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa của câu Gần đây, Nguyễn Mạnh Tiến trong công trình nghiên cứu [89] đã vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu
về cú pháp Có thể nói, ở công trình này, vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xét một cách có hệ thống và chuyên sâu
Tác giả Lê Thị Lan Anh đã vận dụng lí thuyết kết trị để nghiên cứu kết trị của vị từ quan hệ vị trí thuộc tính của tiếng Việt [2] và kết trị của danh từ
“trăng” trong thơ Hàn Mặc Tử Phạm Quang Trường, Vũ Thị Ngân, Nguyễn
Quang Thuấn [98] đã so sánh đối chiếu tìm ra sự khác biệt về kết trị của động
từ trong hai ngôn ngữ Pháp – Việt Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số công
trình khoa học khác như: Kết trị tự do của động từ tiếng Việt (Nguyễn Thùy Dương, 2011, Luận văn Thạc sĩ), Phân tích đối chiếu kết trị danh từ chung
tiếng Anh và tiếng Việt (Hoàng Thu Huyền, 2011, Luận văn Thạc sĩ), Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của vị từ kết nối trong tiếng Việt (Bùi Thị Nga,
2014, Luận văn Thạc sĩ), Sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ trong
tiếng Việt (Trần Minh Tuất, 2014, Luận văn Thạc sĩ)…
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt
Tính từ là một từ loại cơ bản của tiếng Việt Vì vậy, tính từ chủ yếu được xem xét dưới góc nhìn ngữ pháp về các phương diện: ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp, chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên, cũng có những công trình đề cập đến ngữ nghĩa của tính từ; mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của một số nhóm tính từ cụ thể
Chu Bích Thu [84], [85] đã tập trung xem xét cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại Từ đó, tác giả phân loại các tính từ biểu thị mùi thành ba nhóm (các tính từ chỉ mùi cơ bản, các tính từ biểu thị mùi có nghĩa được xác định thông qua các từ biểu thị mùi cơ bản, các từ biểu thị mùi có nghĩa xác
Trang 29định nhờ độ bốc hay nồng của mùi, tác động trực tiếp đến cơ quan khứu giác)
và các từ biểu thị vị thành ba nhóm (các tính từ biểu thị vị có nghĩa được xác định bằng cách so sánh trực tiếp với vật đại diện, các tính từ biểu thị vị có nghĩa xác định thông qua các từ biểu thị vị mùi cơ bản, các tính từ biểu thị mức độ của vị)
Nguyễn Thị Dự [27] đã xác định nhóm tính từ không gian trong tiếng Việt, làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của chúng trên cơ sở tri nhận với hướng tiếp cận từ góc độ từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đồng thời, tác giả đã so sánh, đối chiếu tìm ra sự khác nhau của nhóm tính từ chỉ không gian nhằm làm rõ
cơ chế tri nhận không gian của hai dân tộc Anh và Việt
Lê Xuân Bình [12] đã nghiên cứu tính từ kích thước trong tiếng Việt và tiếng Nga theo mô thức có tính song ngữ và liên văn hóa Tác giả đã làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thước trong tiếng Nga và tiếng Việt, đặc biệt là phát hiện những nghĩa, nét nghĩa chưa có trong từ điển hoặc nếu có thì chưa được làm sáng tỏ hoặc đang còn mang tính khái quát cần được miêu tả cụ thể hơn của nhóm tính từ này Từ đó, luận án làm rõ cơ chế tri nhận không gian nói chung và kích thước nói riêng của người Nga và người Việt
Nguyễn Quỳnh Thu [86] cũng nghiên cứu nhóm tính từ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị Luận văn cũng đã hệ thống và phân loại nhóm tính từ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt với kết quả như sau: trong tiếng Việt có 81 tính từ chỉ mùi và 94 tính từ chỉ vị; chỉ ra đặc điểm ý nghĩa chung của các tính từ chỉ mùi với hai nhóm sắc thái (các mùi mang cảm giác
âm tính và dương tính); nhóm tính từ chỉ vị với hai nhóm (biểu cảm dương tính và âm tính) Về hướng chuyển nghĩa, luận văn chỉ ra ba hướng chuyển nghĩa cơ bản của các tính từ chỉ mùi và bốn hướng chuyển nghĩa của nhóm tính từ chỉ vị Luận văn cũng xác định kết trị và phân tích đặc điểm các kết tố của nhóm tính từ này Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn, các vấn đề chưa được nghiên cứu sâu
Trang 30Trần Ái Chin [22] nghiên cứu nhóm tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị Luận văn đã tập hợp được 359 từ
(trong đó có 181 từ được thu thập từ “Từ điển tiếng Việt” và 178 từ được thu
thập từ các nguồn khác) với hai loại tính từ chỉ màu sắc: tính từ chỉ màu sắc
cơ bản và tính từ chỉ màu sắc phụ Nhóm tính từ này không chỉ được dùng với nghĩa gốc mà còn thường xuyên được dùng theo nghĩa chuyển Sự chuyển nghĩa của chúng hết sức phong phú và đa dạng, mang tính ổn định cao Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, các vấn đề về nghĩa cũng chưa thực
sự đầy đủ và toàn diện Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lí thuyết kết trị để miêu tả đặc điểm ba kiểu kết tố (kết tố chỉ chủ thể mang màu sắc, kết tố chỉ mức độ, sắc thái của màu sắc và kết tố chỉ sự so sánh) và sự thay đổi kết trị của chúng khi có sự thay đổi về nghĩa của nhóm tính từ này
Nguyễn Thị Huyền [50] đã nghiên cứu ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ mùi vị trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Tác giả chỉ ra: đặc điểm cấu tạo gồm có từ đơn, từ ghép và từ láy; đặc điểm cấu trúc nghĩa gồm hai thành tố nghĩa cơ bản là thành tố nghĩa miêu tả, thành tố nghĩa đánh giá và phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù của các từ ngữ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt Luận án liên hệ với tiếng Anh nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ và đưa ra một số nhận xét về việc tri nhận về mùi, vị trong hai cộng đồng ngôn ngữ Đây có lẽ là công trình nghiên cứu có hệ thống chuyên sâu về ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt và có liên hệ với tiếng Anh
Dưới góc nhìn khác, Nguyễn Thị Hạnh Phương [70] đã dùng lí thuyết nghiệm thân cũng như lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận nói chung làm cơ
sở để lí giải cho sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng
Việt Tác giả cho rằng: “ Quá trình phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ
cảm giác thực chất là quá trình ý niệm hóa diễn ra trong tư duy, tâm trí con người Đó là quá trình mở rộng ngữ nghĩa từ miền nguồn ý niệm chỉ cảm giác
Trang 31sang nhiều miền đích khác nhau Sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác có tính nghiệm thân” [70, tr.148] Bằng sự diễn giải cụ thể về cơ sở
nghiệm thân cho những con đường phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác, công trình bước đầu đề cập lối tri nhận vừa mang những nét chung dựa trên đặc trưng gắn với khả năng tri giác của con người, vừa mang những nét riêng gắn với đặc thù tư duy – văn hóa người Việt
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ nói chung
và tính từ tiếng Việt nói riêng, có thể thấy ngữ nghĩa và kết trị của từ và tính
từ đã giành được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị có lẽ chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ nhất Vì vậy, luận án trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu hiện có, tiếp tục tìm hiểu sâu và toàn diện hơn về nhóm tính
từ này trong mối quan hệ ngữ nghĩa và kết trị
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ
1.2.1.1 Nghĩa của từ và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc độ cấu trúc luận
a Quan niệm về nghĩa của từ
Từ có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ và đời sống Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học, từ là đơn vị được phần lớn các nhà nghiên cứu tập trung xem xét về nhiều phương diện trong đó có phương diện nghĩa của từ Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ, tuy nhiên, tựu trung lại, có thể đề cập đến ba nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự phản ánh…) E Grodzinski chỉ rõ: “Nghĩa của từ trong ngôn ngữ
nào đó là tư tưởng của người nói thứ tiếng ấy của loài người” [dẫn theo 34,
Trang 32tr.119] A.I Sminrnitckiy cho rằng: “Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của
sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức” [dẫn theo 97, tr.185] Tác giả Hồ
Lê và một số tác giả khác cũng đồng nhất với quan điểm này
Nhóm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ
đối với đối tượng hoặc quan hệ của từ đối với khái niệm hay quan hệ của từ
với từ ) Golovin cho rằng: Nghĩa của từ là "sự thống nhất của sự phản ánh
vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng" [dẫn theo 34, tr.120] P.A Budagov
cũng cho rằng: "có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt
lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hiện tượng " [dẫn
theo 34, tr.120] Kế tục những nhà nghiên cứu đi trước, St Ullman nhấn
mạnh: "Nghĩa của từ là mối liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ - name
và nội dung khái niệm - sense của nó” [dẫn theo 34, tr.120] A.A
Reformatskij đồng nhất quan điểm này khi ông coi: “Nghĩa, đó là quan hệ
của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [dẫn theo 34, tr.120] Trong Việt ngữ học,
Nguyễn Thiện Giáp cũng nhận định: “Nghĩa của từ là quan hệ của từ với cái
gì đó nằm ngoài bản thân nó” [33, tr.261] Bên cạnh đó, một số tác giả như:
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến… cùng quan niệm khi
cho rằng: “Nghĩa của từ là những liên hệ” [20, tr.167]
Nhóm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần (nghĩa tồn tại
trong trí não con người và là một hiện tượng tâm lí, tinh thần) Đỗ Hữu Châu
cho rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình
thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ Cái thực thể tinh thần đó hình thành từ một số nhân tố, không đồng nhất với những nhân tố đó nhưng không
có những nhân tố này thì không có nghĩa của từ” [17, tr.98]
Gần đây, Đỗ Việt Hùng trong cuốn “Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ
thống đến hoạt động” cũng khẳng định: “ Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người
Trang 33đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [49, tr.38]
Nguyễn Đức Tồn quan niệm: “Nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí,
tinh thần, nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” Cụ thể hơn, “nghĩa của từ là sự hiểu biết cùng với xúc cảm kèm theo xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ…mà từ biểu thị khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” Do vậy, nghĩa của từ, theo tác giả là
“không thể nhìn thấy, nghe thấy hay động chạm đến được … bằng năm giác
quan Để hiểu và nhận biết được nghĩa của từ, mỗi người chỉ có thể tự cảm nhận trong trí não” [97, tr.186]
Lê Quang Thiêm cũng cho rằng: “Nghĩa của từ là một sản phẩm văn hóa
tinh thần, tâm lí của con người, là thành tố cấu tạo ngôn ngữ và thành tố của văn hóa tinh thần Về bản chất nó là một thực thể tinh thần” [83, tr.61]
Với đề tài: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự
vật trong tiếng Việt, chúng tôi tán thành nhóm quan niệm thứ ba coi nghĩa của
từ là một thực thể tinh thần Đó là sự hiểu biết của con người về những sự vật,
hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ mà từ biểu thị Do vậy, nghĩa của từ luôn chịu sự chi phối của người sử dụng ngôn ngữ Cùng một từ có thể có nhiều cách giải thích khác nhau tùy thuộc vào trình độ của người giải thích, khả năng nhận thức của người tiếp nhận và cả yếu tố lịch sử, văn hóa
b Các thành phần nghĩa của từ
Từ không chỉ có chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng hay biểu thị khái niệm Trong thành phần ngữ nghĩa, từ còn có chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của con người đối với hiện thực Ngoài ra, khi được dùng để đặt câu, từ còn có chức năng biểu thị quan hệ ngữ pháp, tức là chức năng ngữ pháp Do vậy, khi nói đến ý nghĩa của từ, chúng ta cần phải hiểu đó là một tập hợp
Trang 34những thành phần nghĩa sau: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái và ý nghĩa ngữ pháp
Ý nghĩa biểu vật của từ là “sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực
tế vào ngôn ngữ” [18, tr.108] Nói cách khác, đây là thành phần nghĩa gọi tên
sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện
tượng cùng loại Ví dụ, từ “tủ” trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi loại tủ
có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là tủ gỗ, tủ sắt, tủ nhựa, tủ vải,
tủ hai buồng, tủ ba buồng… Như vậy, từ tủ đã được khái quát hóa và đưa vào
ngôn ngữ, ứng được với tất cả những cái tủ cụ thể, gợi lên trong tâm lý người
sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái tủ mà họ muốn nói tới Có thể thấy rằng, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ
Ý nghĩa biểu niệm của từ là “tập hợp của một số nét nghĩa chung và
riêng, khái quát và cụ thể theo theo một tổ chức, một trật tự nhất định”
[18, tr.118] Nó phản ánh mối quan hệ giữa từ với khái niệm nhưng không đồng nhất với khái niệm Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị khái niệm của từ Đó là kết quả của quá trình tìm hiểu và khái quát hóa nhằm rút ra những thuộc tính quan trọng của sự vật, hiện tượng – tức là những thuộc tính cần và đủ để có thể phân biệt sự vật, hiện tượng
này với sự vật, hiện tượng khác Ví dụ: Ý nghĩa biểu niệm của từ “ghế” là:
(đồ dùng) (có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng lớn bởi các chân) (bằng nguyên liệu rắn) (dùng để ngồi)
Trang 35Ý nghĩa biểu thái của từ là “phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ,
cảm xúc, cách đánh giá” [49, tr.67] Nói một cách khác, ý nghĩa biểu thái của
từ là sự phản ánh tình cảm, cảm xúc, thái độ, sự đánh giá mà từ gợi ra cho người đọc Có thể nói, ý nghĩa biểu thái của từ phản ánh mối quan hệ giữa từ với người sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ, các tính từ chỉ mùi vị (thơm, thơm phức, ngọt, ngọt lịm…) thường
biểu thị đánh giá tích cực, tạo cảm giác dễ chịu… Ý nghĩa biểu thái có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn cách dùng từ cho phù hợp với bối cảnh ngôn ngữ, cộng đồng văn hóa Hiểu được ý nghĩa biểu thái sẽ giúp chúng ta lựa chọn chính xác các từ trong những trường hợp từ gần nghĩa, đồng nghĩa, nhiều nghĩa… Trong tiếng Việt có rất nhiều các phương tiện từ ngữ biểu
hiện ý nghĩa biểu thái Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân
tích cú pháp” đã liệt kê ra “12 nhóm chính biểu thị tình thái, không chỉ là các tình thái từ mà các hư từ cũng biểu thị ý nghĩa tình thái” [45, tr.140]
Ý nghĩa ngữ pháp của từ là “những ý nghĩa khái quát, chung cho nhiều
từ cùng loại” [18, tr.119] Nó liên quan đến khả năng kết hợp của từ với
những từ khác Ví dụ: Ý nghĩa ngữ pháp của động từ tiếng Việt là: “chỉ hoạt
động, trạng thái” (trạng thái vật lí, tâm lí, sinh lí) của sự vật Đây là ý nghĩa
khái quát bao trùm lên tất cả các động từ nói chung
Tóm lại, bốn thành phần nghĩa trên của từ là những ý nghĩa của từ trong
hệ thống - vốn có tính ổn định, lập thành nghĩa hạt nhân của từ Còn trong hoạt động hành chức, từ luôn gây ra những ý nghĩa khác, không có tính ổn định là nghĩa liên hội Loại ý nghĩa này phát sinh do thói quen sử dụng của cộng đồng, gắn với những liên tưởng của cá nhân, của nhóm người nên phản ánh khá rõ đặc điểm nhận thức của cá nhân, cộng đồng đó Trong luận án này, đối tượng khảo sát là nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt nên những
Trang 36đặc điểm trong ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái đặc biệt là ý nghĩa biểu
vật và ý nghĩa ngữ pháp của chúng sẽ được quan tâm, chú ý đến
c Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa của từ
* Hiện tượng nhiều nghĩa (đa nghĩa) của từ là hiện tượng có tính chất phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đặc biệt là trong tiếng Việt và các thứ tiếng cùng loại hình Đây là hiện tượng ngữ nghĩa trong đó một từ (một vỏ ngữ âm) có chứa từ hai nghĩa trở lên và mỗi nghĩa tương ứng với một hoặc một số sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Trong một từ nhiều nghĩa, các nghĩa khác nhau có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ giữa các nghĩa này lập thành một hệ thống ngữ nghĩa chi phối bởi các nét nghĩa cơ sở Hiện tượng nhiều nghĩa của từ là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn vốn
có của hệ thống ngôn ngữ Đó là mâu thuẫn giữa tính hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ (nói chính xác là các vỏ ngữ âm) với tính vô hạn của thực tế khách quan phải biểu thị
Do ngôn ngữ có tính đa trị (tức một cái biểu đạt có thể có nhiều cái được biểu đạt, một hình thức âm thanh có thể có nhiều nội dung ý nghĩa) nên trong ngôn ngữ nảy sinh những hiện tượng nhiều nghĩa và hiện tượng đồng âm Sự phân biệt giữa hai hiện tượng này là sự phân biệt giữa hiện tượng xảy ra trong nội bộ một từ với hiện tượng xảy ra giữa các từ khác
nhau "Hiện tượng nhiều nghĩa là hiện tượng một từ có nhiều nghĩa; còn
hiện tượng đồng âm là hiện tượng các từ khác nhau có hình thức âm thanh trùng nhau một cách ngẫu nhiên" [49, tr.78] Tuy thế, tính nhiều nghĩa của
một từ chỉ là khả năng khi từ chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp Còn trong hoạt động hành chức, tùy thuộc vào ngữ cảnh mà chỉ một nghĩa trong
số các nghĩa của từ được hiện thực hóa, nghĩa đó có sự tương hợp với nghĩa các từ ngữ khác trong ngữ cảnh Đây cũng là căn cứ để xác định TTCĐĐVL của sự vật là các từ nhiều nghĩa
Trang 37Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra cả với nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
niệm và nghĩa biểu thái Chẳng hạn, từ chạy trong tiếng Việt có 14 nghĩa biểu vật” [18, tr.132], từ đi có 4 nghĩa biểu niệm [18, tr.136] Do đó, nói đến hiện
tượng nhiều nghĩa, có thể phân biệt các trường hợp như: Nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểu vật Đây là trường hợp thay đổi mối quan hệ giữa từ ngữ âm với sự vật hay hiện tượng Nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểu niệm Đây là trường hợp làm thay đổi mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của từ với nội dung khái niệm mà từ biểu thị Và nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểu thái Đây là trường hợp có sự thay đổi về sắc thái biểu cảm của từ
* Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Hiện tượng nhiều nghĩa của từ là kết quả của hiện tượng chuyển nghĩa của từ Đây là một trong những nội dung cơ bản của ngôn ngữ học truyền
thống (từ vựng học và ngữ nghĩa học) Chuyển nghĩa là “chuyển sang một
nghĩa mới, ít nhiều vẫn còn mối quan hệ với nghĩa trước” [67, tr.182]
Theo Đỗ Hữu Châu, từ lúc mới xuất hiện chỉ có một nét nghĩa biểu vật Sau một thời gian sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng
có khả năng biến đổi Việc một nghĩa của từ được hình thành dựa trên một nghĩa đã có của từ đó được gọi là sự chuyển nghĩa của từ Các nhà ngôn ngữ học từ lâu đã phát hiện ra hiện tượng chuyển nghĩa của từ, thừa nhận trong quá trình phát triển ngữ nghĩa, các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ có mối quan
hệ với nhau theo cách nào đó Các nghĩa mới (nghĩa phái sinh) thường được nảy sinh trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của
từ, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa, lại có khi cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển cùng tồn tại cùng hoạt động song nghĩa gốc của từ ngày càng
mờ nhạt, dần dần trở thành nghĩa phụ trong khi một vài nghĩa chuyển nào đó lại được dùng thường xuyên và phổ biến hơn trở thành nghĩa chính của từ Quá
Trang 38trình phát triển ngữ nghĩa của từ còn được quan niệm là cách định danh gián tiếp Đó là quá trình lan tỏa về mặt ý nghĩa của từ xuất phát từ sự biểu vật đầu tiên của tên gọi (tức là nghĩa gốc, nghĩa định danh trực tiếp) Vì vậy, việc xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển có ý nghĩa quan trọng bởi các nét nghĩa trong nghĩa gốc là căn cứ quan trọng làm cơ sở để tập hợp các nghĩa chuyển và xác định các hướng chuyển nghĩa của từ
Việc chuyển nghĩa của từ luôn được thực hiện qua phương thức chuyển nghĩa Có nhiều tiêu chí để phân loại các phương thức chuyển nghĩa nhưng quan điểm phổ biến nhất là phân loại dựa vào các quy luật phát triển nghĩa của từ trong quá trình sử dụng Theo Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu, sự phát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức chuyển nghĩa: ẩn dụ
và hoán dụ Đây là hai phương thức chuyển nghĩa quan trọng trong phát triển nghĩa từ vựng của từ
Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ được Đỗ Hữu Châu chỉ rõ “là phương
thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị), nếu như x và y giống nhau” [18, tr.155] Như vậy, bản chất của ẩn dụ là hiện tượng chuyển đổi tên
gọi, lấy tên của một đối tượng này để gọi một đối tượng kia, dựa vào điểm tương đồng giữa chúng Còn phương thức chuyển nghĩa hoán dụ được Đỗ
Hữu Châu chỉ rõ hơn trong sự so sánh với ẩn dụ Tác giả cho rằng: “Hoán
dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế.” [18, tr.55] Với quan niệm này, hoán dụ và ẩn dụ vừa có sự
tương đồng vừa có sự khác biệt Trong ẩn dụ, các sự vật được gọi tên không
có liên hệ khách quan, khác nhau về phạm trù Còn trong hoán dụ, các sự vật ngược lại có mối liên hệ đi đôi với nhau có thể cùng phạm trù hoặc khác phạm trù, không phụ thuộc vào nhận thức của con người nên có tính khách quan hơn ẩn dụ Có thể nói, hoán dụ là hiện tượng chuyển đổi tên gọi, lấy tên gọi của một đối tượng này để gọi một đối tượng kia, dựa trên quan hệ
Trang 39tương cận giữa chúng Ví dụ, khi ta nói: “Anh ấy hút thuốc lá Hoàn Kiếm” thì “thuốc lá Hoàn Kiếm” là hoán dụ lấy tên riêng (Hoàn Kiếm) dùng thay cho tên gọi của loại để chỉ “thuốc lá”
1.2.1.2 Một số khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ
a Ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
* Ý niệm (Concept) là đối tượng nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ
học tri nhận Trần Văn Cơ cho rằng: “Ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí
của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis),của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm trí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng từ” của tri thức” [23,
tr.139] Theo cách hiểu này, ý niệm là kết quả, là sản phẩm của hoạt động tri nhận của con người về thế giới xung quanh cũng như chính bản thân mình qua tương tác với thế giới Ý niệm có thể được biểu hiện bằng ngôn từ cũng
có thể không Nó không hình thành riêng lẻ mà trên cơ sở một nền tảng, ý niệm được làm nổi bật trở thành tiêu điểm tri nhận: nền đó là vùng tri nhận
* Ý niệm hóa (Conceptualization) cũng là một trong những luận thuyết
cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Nếu ý niệm là sản phẩm của hoạt động tri nhận của con người thì ý niệm hóa có thể được hiểu chính là hoạt động tri nhận để hình thành nên những ý niệm Ý niệm hóa vì thế bao gồm nhiều quá trình tinh thần khác nhau Tuy nhiên, các quá trình ấy đều phải bắt đầu từ việc tổng hợp những kết quả thu nhận được bởi tri giác cảm tính thông qua các cơ quan cảm giác của con người
* Ẩn dụ ý niệm (Coceptual metaphor) là một khái niệm của Ngữ nghĩa học tri nhận Khác vơi quan niệm truyền thống coi ẩn dụ là phương thức tu từ,
Trang 40là cách diễn đạt bóng bẩy, mới lạ Ngôn ngữ học tri nhận các định ẩn dụ là công cụ của tư duy, là một trong hai quá trình ý niệm hóa cơ bản và thú vị
Theo G Lakoff, “Ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai
miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” [dẫn theo 35, tr.90] Ẩn dụ
thâm nhập khắp trong cuộc sống hằng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà còn cả trong tư duy và hành động
Trần Văn Cơ cũng quan niệm: “Ẩn dụ ý niệm là một trong những hình
thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới” [23,
tr.293] Có thể nói, ẩn dụ ý niệm chính là một công cụ tri nhận, một phương thức tư duy quan trọng để ý niệm hóa một miền tâm trí khác Nhờ nó con người mới nhận biết thế giới bao gồm thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảm xúc Vì thế, ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn hóa của người bản ngữ Bản chất của ẩn dụ ý niệm là ở sự cấu trúc hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong cách diễn giải của các hiện tượng loại khác Nó có tính một chiều, là động lực thúc đẩy cho miền đích và miền nguồn mang lại những
ý nghĩa (tri thức) bổ sung đôi khi khá chi tiết và gây ấn tượng
Ẩn dụ ý niệm được phân loại thành: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn
dụ định hướng; trong đó ẩn dụ cấu trúc là dạng phong phú nhất
Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) là “loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá
trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một một từ (hoặc một biểu thức) khác” [23, tr.295] Kiểu ẩn dụ
này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng Chẳng hạn, ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ MỘT HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH…