1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

54 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG

CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9.22.90.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS LÊ THỊ LAN ANH

2 GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP

Phản biện 1: GS.TS Đinh Văn Đức

Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội

Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Khang

Viện Ngôn ngữ học

Phản biện 3: GS.TS Đỗ Việt Hùng

Trường ĐHSP Hà Nội

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường tại:

Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

I ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Nghiên cứu kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng trong tiếng Việt,(2016), Đề tài NCKH Cấp Cơ sở, Trường Đại học Hồng Đức

II CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC

1 Nguyễn Thị Thanh Hương (2013), Đặc điểm tính từ chỉ lượng trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 /2013, tr 43-46

2 Nguyễn Thị Thanh Hương (2016), Kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về

lượng của sự vật trong Truyện Kiều – Nguyễn Du, Tạp chí Khoa học Trường

Đại học Hồng Đức, số 31, tr 125-134

3 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Sự chuyển nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm

tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong Truyện Kiều – Nguyễn Du, Tạp chí

Khoa học Trường Đại học Hồng Đức - số đặc biệt, tr.124-131

4 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về

lượng của sự vật trong tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 4

(48), tr 54 - 60

5 Nguyễn Thị Thanh Hương (2017), Kết trị và sự thay đổi kết trị của nhóm tính

từ chỉ đặc điểm về lượng trong tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa

thư, số 6 (50), tr 21- 27

6 Nguyễn Thị Thanh Hương (2019), Sự chuyển nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc

điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt, Hội thảo ngữ học toàn quốc 2019,

tr.287-296

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cũng như ở các ngôn ngữ khác, tính từ là từ loại có số lượng lớn và chiếm

vị trí quan trọng trong tiếng Việt Ngoài những tiểu loại tính từ chỉ đặc điểm khác, nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật đóng một vai trò không nhỏ làm nên

sự phong phú và đa dạng của tính từ nói riêng và từ loại tiếng Việt nói chung

1.2 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng về ngữ pháp của ngôn ngữ học hiện đại Lí thuyết này đem đến một hướng tiếp cận mới, tiếp cận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa, chức năng Nó góp phần giải quyết những vấn đề cần yếu đối với ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ

1.3 Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ pháp, nghiên cứu đặc điểm từ loại của nhiều ngôn ngữ khác nhau Trên thế giới đã có khá nhiều công trình vận dụng lí thuyết kết trị nghiên cứu một cách có kết quả hệ thống từ loại mà đầu tiên và trước hết là động từ Nằm trong trào lưu chung của ngôn ngữ học thế giới, ở Việt Nam, những năm gần đây lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được vận dụng trong một số công trình nghiên cứu Nhưng với nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thì chưa có một công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt làm đề tài

nghiên cứu trong luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ

2.2 Nhiệm vụ của luận án

- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết kết trị,

lí thuyết ngữ nghĩa và lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt

- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

- Phân tích và mô tả sự phát triển nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm TTCĐĐVL trong tiếng Việt

Trang 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trong 55 nguồn ngữ liệu ở hai loại hình văn bản thuộc hai phong cách khác nhau: khoa học và nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau: Phương pháp miêu tả kết hợp với phương pháp phân tích cú pháp; thủ pháp mô hình hóa, so sánh

và thống kê, phân loại

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về mặt lí luận

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt Thông qua việc nghiên cứu, luận án thêm một bước làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự tương tác lẫn nhau Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án cũng góp thêm tiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường

hướng nghiên cứu ngữ pháp hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa

5.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ là những đóng góp thiết thực trong công việc nghiên cứu

và học tiếng Việt, cụ thể như: giúp những người nghiên cứu về cú pháp và ngữ nghĩa có được cái nhìn sâu sắc hơn về tính từ; góp phần vào việc phân tích, giải thích ngữ nghĩa của tính từ trong việc biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việt cho người Việt Nam và người nước ngoài

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu khảo sát luận

án gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan tính hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết; Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của

sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc; Chương 3: Sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ

Trên thế giới, việc nghiên cứu nghĩa của từ đã được các nhà ngôn ngữ học đặc biệt

quan tâm Người đầu tiên phải kể đến là Michel Bréal - với công trình: “Essai de

Sémantique (Science des signification, 1877), tiếp đến F.de Saussure (1916), C.K

Ogden và I.A Richards (1923), G Stern (1931), V.A Zveginxev (1957), S Ullmann (1962), John Lyons (1977) Bên cạnh đó, G Lakoff, M Johnson, M Turner, C Fillmore, V Evans, M Green cũng quan tâm và nghiên cứu nghĩa dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã tiếp thu chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới Ở góc độ ngôn ngữ học truyền thống, người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều công trình về lí thuyết nghĩa của từ là

Đỗ Hữu Châu (1998), tiếp đó là Nguyễn Thiện Giáp (2005), Lê Quang Thiêm (2008),

Đỗ Việt Hùng (2014)… Ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận, các tác giả như: Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Văn Hiệp… cũng nghiên cứu về nghĩa của từ, đặc biệt sự chuyển nghĩa của từ Dù dưới góc độ khác nhau song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều đưa ra quan niệm về nghĩa của từ, các thành phần nghĩa của từ, hiện tượng chuyển nghĩa của từ…

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ

Trên thế giới, lí thuyết kết trị được nghiên cứu trên nhiều cấp độ với nhiều quan

điểm khác nhau Đầu tiên phải kể đến L Tesnière với cuốn Elément de Syntax

structurale (Các yếu tố của cấu trúc cú pháp) (1969) đã đưa ra cách hiểu về kết trị

của động từ và phân biệt chu tố và diễn tố Tiếp đến S.D Kasnelson (1973) đã làm rõ cách hiểu kết trị và phân biệt kết trị với khả năng tham gia vào các mối quan hệ cú pháp N.I Tjapkina (1980) và A.M Mukhin (1987) đã mở rộng khái niệm kết trị của động

từ hơn M.D Stepanova (1988) lại mở rộng khái niệm kết trị từ cấp độ từ sang các cấp độ và các bình diện khác của ngôn ngữ …

Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ học nhanh chóng vận dụng lý thuyết kết trị vào

nghiên cứu tiếng Việt Đầu tiên phải kể đến Cao Xuân Hạo (2006) với công trình “Tiếng

Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” Một trong những người tiên phong vận dụng linh

hoạt lí thuyết kết trị của L Tesnière vào nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam là Nguyễn

Trang 7

Văn Lộc (1995) Đinh Văn Đức (2015) đã đặt vấn đề nghiên cứu từ loại tiếng Việt theo đường hướng nghiên cứu của Chức năng luận và quan tâm trước nhất đến lí thuyết kết trị Bên cạnh đó phải kể đến: Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp và Lâm Quang Đông (2008), Lê Thị Lan Anh (2014), Nguyễn Mạnh Tiến (2016) …

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt

Tính từ là một từ loại cơ bản của tiếng Việt Vì vậy, tính từ chủ yếu được xem xet dưới góc nhìn ngữ pháp về các phương diện: ý nghĩa ngữ pháp, khả năng kết hợp, chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên, cũng có những công trình đề cập đến ngữ nghĩa của tính từ; mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của một số nhóm tính từ cụ thể như: Chu Bích Thu (1996), Nguyễn Thị Dự (2004), Lê Xuân Bình (2009), Nguyễn Quỳnh Thu (2013), Trần Ái Chin (2014), Nuyễn Thị Huyền (2018)…

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ nói chung và tính

từ tiếng Việt nói riêng, có thể thấy ngữ nghĩa và kết trị của từ và tính từ đã giành được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị có lẽ chưa

có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ nhất

1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ

1.2.1.1 Nghĩa của từ và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc độ cấu trúc luận

a Quan niệm về nghĩa của từ

Khái niệm “nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ và được các nhà nghiên cứu quan tâm

Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ, tuy nhiên, tựu trung lại, có thể đề cập đến ba nhóm quan trọng Ở luận án này, chúng tôi tán thành

nhóm quan niệm coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần Đó là sự hiểu biết của con

người về những sự vật, hiện tượng … mà từ biểu thị

b Các thành phần nghĩa của từ

Khi nói đến ý nghĩa của từ, chúng ta cần phải hiểu đó là một tập hợp những thành phần nghĩa sau: Ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái và ý nghĩa ngữ pháp Đây là những ý nghĩa của từ trong hệ thống - vốn có tính ổn định, lập thành nghĩa hạt nhân của từ Còn trong hoạt động hành chức, từ luôn gây ra những ý nghĩa khác, không có tính ổn định là nghĩa liên hội

c Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa của từ

Hiện tượng nhiều nghĩa là hiện tượng ngữ nghĩa trong đó một từ (một vỏ ngữ âm) có chứa từ hai nghĩa trở lên và mỗi nghĩa tương ứng với một hoặc một số sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan

Trang 8

Hiện tượng chuyển nghĩa của từ là việc một nghĩa của từ được hình thành dựa trên một nghĩa đã có của từ đó Việc chuyển nghĩa của từ luôn được thực hiện qua phương thức chuyển nghĩa Theo một số nhà nghiên cứu, có hai phương thức chuyển nghĩa của từ: ẩn dụ và hoán dụ

1.2.1.2 Một số khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến nghĩa

và sự phát triển ngữ nghĩa của từ

a Ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

Ý niệm là kết quả, là sản phẩm của hoạt động tri nhận của con người về thế giới xung quanh cũng như chính bản thân mình qua tương tác với thế giới Ý niệm có thể được biểu hiện bằng ngôn từ cũng có thể không Ý niệm hóa là hoạt động tri nhận để hình thành nên những ý niệm, gồm nhiều quá trình tinh thần khác nhau

Ẩn dụ ý niệm là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn

và miền đích Bản chất của ẩn dụ ý niệm là ở sự cấu trúc hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong cách diễn giải của các hiện tượng loại khác Nó có tính một chiều, là động lực thúc đẩy cho miền đích và miền nguồn mang lại những ý nghĩa (tri thức) bổ sung đôi khi khá chi tiết và gây ấn tượng Hoán dụ ý niệm là một quá trình tri nhận trong đó một thực thể ý niệm (phương tiện) cung cấp sự tiếp nhận tinh thần đến một thực thể ý niệm khác (đích) trong cùng một miền hoặc cùng một mô hình tri nhận lý tưởng

b Phạm trù và phạm trù hóa

Phạm trù là khái niệm khoa học phản ánh những thuộc tính và mối quan hệ chung, cơ bản nhất của các hiện tượng Trong ngôn ngữ học tri nhận, phạm trù là một trong những hình thái nhận thức của tư duy con người, cho phép khái quát hóa kinh nghiệm để phân loại các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Phạm trù hóa là một quá trình tinh thần phức tạp nhằm phân loại các sự vật hiện tượng mà sản phẩm của nó là các phạm trù tri nhận

c Miền, miền nguồn và miền đích

Miền là một thực thể ý niệm được sử dụng trong lí thuyết ẩn dụ ý niệm và những hướng tiếp cận liên quan tới chiếu xạ ý niệm Miền ý niệm có cấu trúc tri thức tương đối phức tạp có liên quan đến các phương diện thống nhất trong kinh nghiệm, là tập hợp các ý niệm có mối quan hệ gắn bó với nhau

Miền nguồn bao gồm một tập hợp các thực thể ngôn từ, các thuộc tính, các quá trình và các quan hệ, được liên kết ngữ nghĩa và dường như được lưu trữ cùng nhau trong tâm trí Miền đích có xu hướng trừu tượng và rút ra cấu trúc của mình từ miền nguồn thông qua liên kết ẩn dụ hay “ẩn dụ ý niệm”

Trang 9

1.2.2 Khái quát về kết trị của từ

1.2.2.1 Khái niệm kết trị

Dựa trên quan điểm về khái niệm kết trị của các nhà ngôn ngữ học trong và

ngoài nước, kết trị là khả năng của từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp

giúp hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ

1.2.2.2 Khái niệm tham tố và phân loại tham tố

a Khái niệm tham tố

Tham tố là những thành tố hiện thực hóa đặc trưng ngữ nghĩa của từ trung tâm,

có thể đảm đương một chức vụ ngữ pháp nhất định trong câu

b Phân loại tham tố

Trong luận án này, chúng tôi dùng cặp thuật ngữ: tham tố bắt buộc và tham tố không bắt buộc Tham tố bắt buộc là loại tham tố cần thiết để cho từ có được mức độ hoàn chỉnh tối thiểu về nghĩa mà không cần có sự hỗ trợ của ngữ cảnh Tham tố này chịu sự chi phối chặt chẽ vào đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp của từ, thường chỉ có mặt ở từng loại từ nhất định Sự xuất hiện của tham tố bắt buộc là do nghĩa của từ trung tâm đòi hỏi Tham tố không bắt buộc là loại tham tố có thể có mặt hay vắng mặt cạnh từ trung tâm nhưng vẫn phải do từ trung tâm cho phép Đặc điểm ngữ nghĩa

- ngữ pháp của tham tố này vẫn chịu sự chi phối của từ trung tâm

1.2.2.3 Nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị

a Nguyên tắc xác định kết trị

Các tham tố với tư cách là đơn vị ngữ pháp được đặc trưng bởi hai mặt: mặt ý nghĩa

và hình thức ngữ pháp Vì vậy, kết trị nói chung và tham tố nói riêng sẽ được xác định

cả về mặt nội dung (chức năng nghĩa) và cả về mặt hình thức (ngữ pháp) của từ

b Thủ pháp xác định kết trị

Khi xác định kết trị của từ, có nhiều thủ pháp nhưng một thủ pháp đơn giản nhưng hữu hiệu nhất là thủ pháp đặt câu hỏi Đây là thủ pháp dựa vào cấu trúc ngữ nghĩa của từ trung tâm đặt câu hỏi để tìm ra các tham tố xoay quanh từ đó Hay nói cách khác, chúng ta dùng chính từ trung tâm để đặt câu hỏi tìm ra các tham tố Như vậy, từ trung tâm sẽ có mặt ở tất cả các câu hỏi tìm tham tố Câu trả lời cho các câu hỏi đó chính là các tham tố của từ Mỗi câu hỏi sẽ giúp chúng ta xác định một ô trống cần hoặc có thể lấp đầy, tương đương với một tham tố

1.2.2.4 Mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của từ

Ngữ nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, ngữ nghĩa luôn giữ vai trò chi phối kết trị, tức ngữ nghĩa của từ quy định

sự hiện thực hóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức Ngược lại, thông qua mô

Trang 10

hình kết trị thuộc tính ngữ nghĩa vốn có của từ được bộc lộ Đây chính là căn cứ để khẳng định rằng ở mọi ngôn ngữ, cơ sở cuối cùng của sự liên kết cú pháp là nhân tố ngữ nghĩa Tính quy định của mặt nghĩa đối với kết trị thể hiện ở chỗ mỗi kiểu kết trị thường chỉ gắn với kiểu ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp của từ Vì kết trị phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của từ nên sự thay đổi nghĩa từ vựng - ngữ pháp của từ luôn kéo theo

sự thay đổi kết trị của nó

Tiểu kết

Nhóm TTCĐĐVL của sự vật là một trong những nhóm từ trung tâm, cơ bản của mọi ngôn ngữ Đây là nhóm từ có nhiều đặc điểm phức tạp đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã xác lập một số khái niệm lí thuyết cơ bản về ngữ nghĩa, kết trị Những vấn đề lí thuyết này sẽ được vận dụng để làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL

của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc và phát triển nghĩa

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH

TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT

KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC

2.1 Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

2.1.1 Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Dựa trên những quan niệm của các nhà nghiên cứu, trong luận án này, chúng

tôi quan niệm: TTCĐĐVL là những tính từ định lượng sự vật (dài, ngắn, cao, thấp,

nông, sâu…) và biểu thị số lượng sự vật (đông, vắng, nhiều, ít, đầy, đủ…)

Trang 11

từ chỉ mức độ Thành tố phụ sau của TTCĐĐVL rất đa dạng về cấu tạo, từ loại, ý nghĩa … Trong đó, thành tố phụ sau chỉ lượng xuất hiện sau TTCĐĐVL là dấu hiệu đặc trưng nhất giúp phân biệt nhóm tính từ này với các nhóm tính từ khác

2.1.2.3 Về chức vụ ngữ pháp

Là một tiểu nhóm nằm trong tính từ nên TTCĐĐVL cơ bản có chức vụ ngữ pháp trong câu giống như tính từ nói chung Chúng có khả năng làm vị ngữ trực tiếp, làm định ngữ (mở rộng, bổ sung nghĩa cho danh từ)

2.1.3 Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Luận án cho rằng: TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt gồm hai nhóm: Nhóm tính

từ định lượng sự vật (định lượng về kích thước, trọng lượng, khoảng cách, nhiệt lượng …) như: nặng, nhẹ, dài, ngắn, rộng, hẹp, nông, sâu, cao, thấp, nóng, lạnh, xa, gần và nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật như: nhiều, ít, đông, vắng, đầy, thưa…

2.1.4 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Luận án đã khảo sát 55 nguồn ngữ liệu với 2045 câu trong hai loại văn bản:

VBKH và VBNT Chúng tôi thấy: Tiếng Việt có 31 TTCĐĐVL của sự vật (cao,

rộng, dài, ngắn, dày, mỏng, nhiều, ít, thưa, vắng, đông, đủ….) Dựa vào đặc điểm

cấu tạo, chúng đều là từ đơn và có bản chất từ vựng – ngữ pháp quy định những yếu

2.2.1.1 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng kích thước sự vật

Kích thước là toàn thể nói chung những đại lượng (như chiều dài, chiều rộng, chiều cao, chiều sâu …) xác định độ lớn của một vật Vì vậy, nhóm tính từ định lượng kích thước sự vật theo các chiều kích khác nhau như: chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu, chiều dày … Ngữ nghĩa chung của nhóm tính từ này là biểu thị chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu… của sự vật Tiêu biểu là các tính từ cơ

bản sau: cao, thấp, ngắn, dài, rộng, nông, sâu, cao vút, sâu hoắm, dài ngoẵng, thâm

thấp Ví dụ:

Tấm ván dài 2 mét, rộng 1 mét, dày 5 centimét (Hoàng Phê – Từ điển tiếng Việt)

Trang 12

2.2.1.2 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng trọng lượng sự vật

Trọng lượng là từ dùng để chỉ khối lượng của một vật cụ thể nào đó Với cách

hiểu như vậy: nặng, nhẹ, nhẹ bỗng, nhè nhẹ, nhẹ nhẹ, nặng trĩu, nặng trịch, nặng

nề… là các tính từ định lượng trọng lượng sự vật Ngữ nghĩa của nhóm tính từ này là

biểu thị khối lượng của sự vật Ví dụ:

Nhìn từ xa, cầu Long Biên như một dải lụa uốn lượn vắt ngang sông Hồng,

nhưng thực ra “dải lụa” ấy nặng tới 17 nghìn tấn (Nguyễn Khắc Phi - Ngữ văn 6)

2.2.1.3 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng nhiệt lượng sự vật

Nhiệt lượng là số lượng nhiệt năng, thường được tính bằng calori Tiêu biểu cho nhóm tính từ này là các tính từ: nóng, lạnh, ấm, mát, nóng ran, lành lạnh, lạnh ngắt,

âm ấm, man mát, nong nóng, lạnh buốt … Trong đó, cặp tính từ nóng và lạnh đại

diện nhóm và xuất hiện với tần số cao Ngữ nghĩa của nhóm tính từ là biểu thị nhiệt lượng của sự vật Ví dụ:

Lượng trở lại vùng rừng miền Tây Quảng trị lần này vào giữa tháng mưa to

nhất, không khí bao giờ cũng lạnh xuống đến mười độ

(Nguyễn Minh Châu – Dấu chân người lính)

2.2.1.4 Ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng khoảng cách sự vật

Khoảng cách là khoảng chia cách giữa hai vật Tiêu biểu là các tính từ: xa, gần,

xa xa, xa tít, xa tắp, xa xôi, xa lắc, xa thẳm, gần gần… Trong đó, cặp tính từ xa và gần xuất hiện nhiều và đại diện cho nhóm Ngữ nghĩa của nhóm tính từ này là biểu

thị khoảng cách của sự vật Ví dụ:

Con ngựa phi rất nhanh, nếu đường xá tốt có thể phi tới hơn trăm cây số một giờ,

bước nhảy của nó xa tới 4 mét (Nguyễn Huy Thiệp – Tuyển tập truyện ngắn)

2.2.2 Ngữ nghĩa nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật

Bên cạnh ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng sự vật, TTCĐĐVL còn có nhóm ngữ nghĩa thứ hai biểu thị số lượng của sự vật Số lượng là con số biểu thị có nhiều

hay có ít Tiêu biểu cho nhóm tính từ này là các tính từ: đầy, vơi, đủ, thiếu, ít, nhiều,

đông, vắng, thưa, to, nhỏ, thưa thớt, đông đủ, vơi vơi, nho nhỏ… Chúng có nghĩa

chung là biểu thị số lượng sự vật Tuy nhiên, các sự vật được nói đến ở đây là các sự vật tồn tại trong một tập hợp không phải là các sự vật tồn tại cá thể Ví dụ:

Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém

sang hơn (Tuyển tập Tự lực văn đoàn, tập 3)

Trang 13

Hình 2.1 Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong

tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

2.3 Đặc điểm kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc

2.3.1 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi

dùng với nghĩa gốc

Dựa trên những nguyên tắc và thủ pháp xác định kết trị, chúng tôi xác định mô

hình kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật như sau:

Hình 2.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong

tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

Tham tố chỉ lượng

Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm

Định lượng khoảng cách

Định lượng nhiệt lượng

Trang 14

Khi dùng với nghĩa gốc, mô hình kết trị của nhóm TTCĐĐVL gồm bốn tham tố xoay quanh tính từ hạt nhân: (1) Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng, (2) Tham

tố chỉ lượng, (3) Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm, (4) Tham tố chỉ sự so sánh Trong đó, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng là tham tố bắt buộc, ba tham tố còn lại là tham tố không bắt buộc

2.3.2 Đặc điểm các tham tố của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc

2.3.2.1 Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng

a Về nội dung

Loại tham tố này bổ sung, hiện thực hóa ý nghĩa chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng do TTCĐĐVL biểu thị Đó là những sự vật ở dạng vật chất mà con người có thể tri giác được Qua khảo sát 2045 câu, trong đó 1224 câu có chứa TTCĐĐVL được dùng với nghĩa gốc từ 55 nguồn ngữ liệu, kết quả như sau:

Căn phòng rộng 12 mét vuông, cửa ở

giữa, hai bên kê hai cái giường nhỏ, đầu giường mỗi người có một cái tủ đựng sách

vở, quần áo (Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)

2 Các hiện tượng

tự nhiên

Vực sâu khoảng hơn trăm mét, dưới

lòng vực là một con suối cạn khô (Nguyễn

Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)

3 Con người Con nặng ba cân hai anh ạ

(Lê Lựu - Hai nhà) 218 18%

4 Động vật Con bạch tuộc này dài 18m (kể cả tua

miệng), mắt có đường kính 30cm, giác ở tua miệng to bằng chiếc mũ …

(Nguyễn Quang Vinh - Sinh học 7)

5 Thực vật Cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân

(Nguyễn Du - Truyện Kiều) 137 11%

Bảng 2.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng khi nhóm tính từ chỉ

đặc điểm về lượng của sự vật dùng với nghĩa gốc

Trang 15

b Về hình thức

* Vị trí

Khi được hiện thực hóa trong câu, vị trí của tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng thường là vị trí đứng trước TTCĐĐVL, đây có thể coi là vị trí phổ biến của nó Khảo sát trên ngữ liệu, chúng tôi không ghi nhận có trường hợp nào tham tố này thay đổi vị trí

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng TTCĐĐVL

Tham tố chỉ lượng tạo nên ý nghĩa về số lượng cụ thể cho TTCĐĐVL của sự

vật Nhờ nó mà đặc điểm về lượng của sự vật trong thực tế khách quan có thể “lượng

hóa” Ví dụ:

Vạc Phổ Minh: Đúc bằng đồng vào thời Trần Nhân Tông, đặt tại sân chùa

Phổ Minh (Tức Mạc, ngoại thành Nam Định) Vạc sâu 4 thước 1,6 m), rộng 10

thước ( nặng trên 7 tấn (Trần Ngọc Thêm – Cơ sở văn hóa Việt Nam)

Trang 16

2.3.2.3 Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm

a Về nội dung

Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm bổ sung ý nghĩa mức độ, sắc thái cho TTCĐĐVL của sự vật, giúp cho lượng của sự vật được thể hiện cụ thể hơn, có tính gợi hình, gợi tả hơn Ví dụ:

Khi triều lên, lòng sông rộng mênh mông đến hàng nghìn mét, sâu hơn chục

chỉ quan hệ so sánh: như, bằng, hơn, là…

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm

Trang 17

* Cấu tạo

Xét về cấu tạo, tham tố chỉ sự so sánh có dạng cấu tạo sau: một từ, một cụm từ

2.3.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu

2.3.3.1 Khả năng hiện diện đầy đủ

Khả năng hiện diện đầy đủ là trường hợp tất cả các tham tố trong cấu trúc kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật khi dùng nghĩa gốc đều được hiện thực hóa trong câu Thực tế khảo sát 55 nguồn ngữ liệu cho thấy, trong 1224 câu chứa TTCĐĐVL khi dùng nghĩa gốc, khả năng các tham tố hiện diện đầy đủ không xuất hiện

2.3.3.2 Khả năng hiện diện không đầy đủ

Khả năng hiện diện không đầy đủ là trường hợp khuyết một hoặc một số tham tố trong cấu trúc kết trị

a Khuyết tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng

Về mặt lí thuyết, đây là tham tố bắt buộc phải hiện diện trong câu Tuy nhiên, dưới sự chi phối của ngữ cảnh, vẫn có trường hợp tham tố này bị khuyết nhằm những dụng ý nhất định, thường diễn ra ở văn bản nghệ thuật Ví dụ:

Tôi bắn được con gấu này ở trong Xốp Cốp Nặng 137 cân

(Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)

b Khuyết tham tố chỉ lượng

Vì đây là tham tố không bắt buộc nên chúng có thể không xuất hiện trong câu

Ví dụ: Trên khoáy, chùm tóc hoa roi dài lòng thòng như cái đuôi đỏ của con ngựa

bạch (Hà Minh Đức - Tuyển tập Tô Hoài, tập 1)

c Khuyết tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh Nếu như hiện tượng vắng khuyết tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng là rất

ít và không phổ biến thì hiện tượng vắng khuyết tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh diễn ra khá phổ biến, nhằm những mục đích nhất định

Ví dụ: Sáng ngày mắt thầy Phó trũng sâu và râu thì dài ra đến một xăng ti mét

(Nhiều tác giả - Truyện ngắn hay)

d Khuyết tham tố chỉ lượng; tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh

Trong những trường hợp này, các tham tố không bắt buộc không xuất hiện chỉ duy nhất tham tố bắt buộc là tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng xuất hiện cùng với tính từ trung tâm Hiện tượng này diễn ra khá phổ biến Ví dụ:

Bây chừ biển rộng trời cao (Tố Hữu - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chi Minh)

Trang 18

Tiểu kết

Qua khảo sát 55 nguồn ngữ liệu, chúng tôi thấy: Tiếng Việt có 31 TTCĐĐVL của sự vật Chúng đều là từ đơn, vừa mang những đặc điểm của tính từ nói chung vừa mang những đặc điểm riêng có tính khu biệt Về ngữ nghĩa, nhóm TTCĐĐVL

có ý nghĩa định lượng sự vật và biểu thị số lượng sự vật trong thực tế khách quan

Về kết trị, do sự chi phối của đặc trưng ngữ nghĩa, nhóm TTCĐĐVL của sự vật luôn đòi hỏi có 4 tham tố Mỗi loại tham tố đều mang những đặc điểm nội dung và hình thức khác nhau Sự hiện diện của các tham tố trong câu diễn ra linh hoạt và hết sức đa dạng

Chương 3

SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA VÀ THAY ĐỔI KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH

TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT 3.1 Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

3.1.1 Khát quát về sự phát triển ngữ nghĩa theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận

Sự phát triển nghĩa của từ là hiện tượng mang tính phổ quát ở mọi ngôn ngữ, xuất phát từ chính nhu cầu giao tiếp của con người và có động lực từ con người Bản chất của sự phát triển nghĩa chính là sự phát triển ý niệm, gắn với quá trình ý niệm hóa, là sự phóng chiếu từ miền ý niệm này sang miền ý niệm khác và cấu trúc ngữ nghĩa thực chất là sự ngoại hiện của cấu trúc ý niệm

Quá trình phát triển nghĩa của từ có thể diễn ra theo nhiều phương thức khác nhau Qua khảo sát 55 nguồn ngữ liệu, chúng tôi thấy: Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trước hết là sự chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ ý niệm và hơn nữa là sự mở rộng phạm trù

Từ kết quả khảo sát 821/2045 câu chứa TTCĐĐVL được dùng với nghĩa chuyển, luận án sẽ trình bày các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt như sau:

3.1.2 Các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

3.1.2.1 Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị con người

a Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị tính cách của con người Theo quan niệm của người Việt, tính cách con người là phạm trù trừu tượng, vô hình nên người Việt thường dùng đặc điểm về lượng để tri nhận tính cách của mình

Trang 19

Dựa trên ẩn dụ ý niệm TÍNH CÁCH LÀ MỘT VẬT THỂ CÓ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG, nhóm TTCĐĐVL phát triển nghĩa biểu thị tính cách của con người Ví dụ:

Giọng ông bác sĩ vẫn lạnh như kem: - Tùy gia đình

(Nhiều tác giả - Truyện ngắn hay)

b Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị trí tuệ, sự hiểu biết

và tài năng của con người

Dựa trên ẩn dụ TRÍ TUỆ, SỰ HIỂU BIẾT VÀ TÀI NĂNG LÀ VẬT THỂ CÓ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG, nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt có khả năng phát triển nghĩa biểu thị các khái niệm thuộc về hoạt động tư duy, trí tuệ, hiểu biết của con người Đây đều là những khái niệm mang tính trừu tượng Ví dụ:

Mưu cao chẳng bằng chí dày

(Tục ngữ - Ca dao Việt Nam)

c Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị đặc điểm tâm lí - tình cảm của con người

Dựa trên ẩn dụ ý niệm TÌNH CẢM LÀ MỘT VẬT THỂ CÓ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG, nhóm TTCĐĐVL của sự vật được mở rộng nghĩa vượt khỏi giới hạn chỉ đặc điểm về lượng của sự vật chuyển sang diễn tả cung bậc tình cảm, đời sống tinh thần, đời sống nội tâm bên trong của con người Đây là một sự chuyển di khá xa và khác biệt về bản chất (từ phạm trù vật chất sang phạm trù tinh thần), là nghĩa chuyển phong phú nhất và chiếm ưu thế với số lượng lớn Ví dụ:

Tình sâu nghĩa nặng trời xuân thắm

(Nguyễn Bính - Nguyễn Bính toàn tập)

d Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị cuộc đời, số phận của con người

Cũng như thời gian, suy nghĩa và tình cảm, CUỘC ĐỜI VÀ SỐ PHẬN NHƯ MỘT VẬT THỂ CÓ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG Dựa trên ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI NHƯ MỘT VẬT THỂ CÓ CHIỀU KÍCH, nhóm TTCĐĐVL phát triển nghĩa để biểu thị cuộc đời, số phận của con người Ví dụ:

Cún đã chết Cuộc đời thật ngắn ngủi, cuộc đời của kẻ chưa được thành người

(Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn)

3.1.2.2 Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị thời gian

Bởi hiệu lực của ẩn dụ THỜI GIAN LÀ MỘT VẬT THỂ CÓ ĐẶC ĐIỂM

VỀ LƯỢNG nên nhóm TTCĐĐVL của sự vật có khả năng phát triển nghĩa để biểu thị thời gian, từ không gian chuyển sang thời gian, từ cụ thể chuyển sang trừu tượng Ví dụ:

Trang 20

Quá khứ dài là mái tóc em đen

(Xuân Quỳnh - Thơ Xuân Quỳnh)

3.1.2.3 Nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng chuyển sang biểu thị tính cách, tâm

trạng của vật thể, hiện tượng tự nhiên

Trong ý niệm VẬT THỂ, HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN LÀ THỰC THỂ CÓ

TÍNH CÁCH, TÂM TRẠNG, các thuộc tính của miền nguồn đặc điểm về lượng

được dùng để tri nhận về miền đích tính cách, tâm trạng Theo đó, nhân cách hóa

được cho là một loại ẩn dụ ý niệm Ví dụ:

Rừng vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn Rừng muôn đời là thế

Thiên nhiên muôn đời là thế: vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn

(Nguyễn Huy Thiệp - Tuyển tập truyện ngắn) Con người Thời gian

Tính cách, tâm trạng

của vật thể, hiện tượng tự nhiên

Hình 3.1 Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về

lượng của sự vật trong tiếng Việt

3.2 Sự thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lƣợng của sự vật

trong tiếng Việt

3.2.1 Sự thay đổi mô hình kết trị

Khảo sát 55 nguồn ngữ liệu, chúng tôi thấy: mô hình kết trị của nhóm

TTCĐĐVL thay đổi và nội dung ý nghĩa, hình thức của mỗi loại tham tố cũng có

sự biến đổi nhất định

TTCĐĐVL

Trang 21

Hình 3.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật

trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa

Bộ ba tham tố xoay quanh tính từ: (1) tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm, (2) tham

tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm (3) tham tố chỉ sự so sánh Tham tố chỉ lượng không xuất hiện Trong đó, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm vẫn là tham tố bắt buộc còn tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh là tham tố không bắt buộc

3.2.2 Sự thay đổi các tham tố

3.2.2.1 Sự thay đổi của tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm

a Về nội dung

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm vẫn bổ sung, hiện thực hóa ý nghĩa chỉ sự vật mang đặc điểm do tính từ biểu thị Tuy nhiên, điểm khác biệt là, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng chuyển thành tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm và được mở rộng phạm vi nghĩa biểu thị Lúc này, TTCĐĐVL có khả năng kết hợp được cả những sự vật vật chất và những sự vật phi vật chất, thuộc các trường nghĩa khác nhau diễn tả những sắc thái ý nghĩa khác nhau

Luận án đã khảo sát 821 câu chứa TTCĐĐVL khi phát triển nghĩa trong 55 nguồn ngữ liệu, kết quả như sau:

Tham tố chỉ

sự vật mang đặc điểm

Tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm

Tham tố chỉ sự

so sánh

TTCĐĐVL

Trang 22

STT Tham tố chỉ sự vật

Số lần xuất hiện

Tỷ lệ

%

1 Trạng thái cảm

xúc, đời sống tinh

thần của con người

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

(Tuyển tập Tự lực văn đoàn, tập 3) 339 41%

3 Hoạt động tư duy,

trí tuệ, hiểu biết

của con người

Tài cao học rộng phúc lành duyên may

(Nguyễn Bính - Nguyễn Bính toàn tập) 85 10%

4

Cuộc đời, số phận Số còn nặng nghiệp má đào

(Nguyễn Du - Truyện Kiều) 48 6%

5 Sự vật, hiện tượng

tự nhiên

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần

Bảng 3.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về

lượng phát triển nghĩa

b Về hình thức

* Vị trí

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm vẫn có thể đứng ở cả hai vị trí trước và sau tính

từ Vị trí đứng trước vẫn là cơ bản

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm TTCĐĐVL

Nhìn chung, so với các tham tố khác, khi TTCĐĐVL dùng với cả nghĩa gốc và khi phát triển nghĩa, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm có vị trí tương đối ổn định

* Từ loại

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm thường kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với các tính từ và có thể là danh từ, cụm danh từ, đại từ nghi vấn Đặc biệt, khi tham tố này do một danh từ được danh hóa bằng cách thêm các yếu tố danh hóa vào trước và

thường có số từ "một" kèm theo biểu hiện

* Cấu tạo

Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm có những dạng cấu tạo từ một từ, một ngữ

3.2.2.2 Sự thay đổi của tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm

Mặc dù vẫn tham gia mô hình kết trị nhưng tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm xuất hiện tương đối ít và ít có sự thay đổi về nội dung và hình thức

Trang 23

a Về nội dung

Tham tố này vẫn bổ sung ý nghĩa mức độ, sắc thái cho tính từ Chúng vừa cho biết thông tin về bản chất sự vật, vừa cho ta biết mối quan hệ giữa sự vật với chủ thể Ví dụ:

Tình xa lăng lắc dưới chăn bông

(Nguyễn Bính - Nguyễn Bính toàn tập)

3.2.2.3 Sự thay đổi của tham tố chỉ sự so sánh

Khác với khi nhóm TTCĐĐVL dùng với nghĩa gốc, khi nhóm tính từ phát triển nghĩa, tham tố này xuất hiện với tần số thấp hơn và mang những đặc điểm sau:

a Về nội dung

Tham tố chỉ sự so sánh vẫn bổ sung ý nghĩa mức độ, sắc thái hoặc tăng thêm thông tin chi tiết cho tính từ hạt nhân Tham tố này có thể là những sự vật, hiện tượng phi vật chất, mang tính trừu tượng Ví dụ:

Ngày dài như nỗi nhớ

(Xuân Quỳnh – Thơ Xuân Quỳnh)

b Về hình thức

* Vị trí

Vị trí phổ biến của tham tố chỉ sự so sánh vẫn luôn đứng sau tính từ, kết hợp gián

tiếp với tính từ trung tâm bằng các từ chỉ quan hệ so sánh: như, bằng, hơn, là…

Tham tố chỉ sự vật mang đặc

điểm

TTCĐĐVL Tham tố chỉ sự so sánh

Trang 24

* Từ loại

Cũng giống như khi tính từ dùng với nghĩa gốc, hình thức biểu hiện cơ bản của tham tố chỉ sự so sánh thường do một danh từ hoặc một cụm danh từ biểu hiện

* Cấu tạo

Xét về cấu tạo, tham tố chỉ sự so sánh có thể được cấu tạo từ một từ, một cụm từ

3.2.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu

3.2.3.1 Khả năng hiện diện đầy đủ

Khảo sát 55 nguồn ngữ liệu, trong 821 câu chứa TTCĐĐVL được dùng khi nhóm TTCĐĐVL phát triển nghĩa, không có trường hợp nào bộ ba tham tố hiện diện đầy đủ Điều này chứng tỏ, khi nhóm TTCĐĐVL được dùng với nghĩa gốc hay phát triển nghĩa thì khả năng hiện diện đầy đủ của bộ tham tố trong mô hình kết trị đều

không xảy ra

3.2.3.2 Khả năng hiện diện không đầy đủ

a Khuyết tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm

Giống như khi nhóm tính từ dùng với nghĩa gốc, dưới sự chi phối của ngữ cảnh, tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm vẫn bị khuyết nhằm những dụng ý nhất định như: tránh lặp từ, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị ngôn ngữ, tạo nhịp điệu, hướng người đọc tới phần thông tin mới, tiêu điểm của thông báo Ví dụ:

Rộng như lòng mẹ đưa nôi

Lại say đắm mãi như người tình nhân

(Xuân Diệu – Thơ và đời)

b Khuyết tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm

Do sự chi phối của các yếu tố ngữ dụng, tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm có thể bị tỉnh lược Hiện tượng này diễn ra phổ biến khi tham tố chỉ sự so sánh xuất hiện Dụng ý của người viết nhằm tránh lặp lại thông tin để người nghe tập trung chú ý vào thông tin mới Ví dụ:

Một nỗi buồn xa như sóng vỗ

(Huy Cận - Tuyển tập Huy Cận II)

c Khuyết tham tố chỉ sự so sánh

Tham tố chỉ sự so sánh bị tỉnh lược khi tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm xuất hiện nhằm tăng sự chú ý cho thông tin của tham tố khác và tránh lặp lại thông tin cũ Nếu sự tỉnh lược tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm xảy ra không phổ biến thì sự tỉnh lược tham tố này diễn ra khá phổ biến Ví dụ:

Trang 25

Xót con lòng nặng chề chề

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)

d Khuyết tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ dưới, trường hợp khuyết tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh lại diễn ra rất phổ biến Lúc này, chỉ còn lại một tham tố duy nhất xoay quanh tính từ - tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm Ví dụ:

Tình sâu nghĩa nặng ơn dày xiết bao

(Nguyễn Bính - Nguyễn Bính toàn tập)

Tiểu kết

Nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt có sự phát triển nghĩa rất phong phú, từ chỗ chỉ những thuộc tính vật chất về lượng của các sự vật trong thế giới khách quan đã chuyển sang thể hiện các nội dung liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống tinh thần của con người Dựa trên quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận về các loại

ẩn dụ ý niệm, luận án đã chỉ ra sự phát triển ngữ nghĩa theo hướng ẩn dụ ý niệm của nhóm TTCĐĐVL, đó là: chuyển sang biểu thị con người, thời gian và vật thể, hiện tượng tự nhiên Bên cạnh đó, nhóm tính từ này đã mở rộng phạm trù nghĩa Khi ngữ nghĩa thay đổi thì hệ luận là sự thay đổi kết trị Mô hình kết trị chung thay đổi và nội dung ý nghĩa, hình thức của mỗi tham tố cũng có sự biến đổi nhất định Hiện tượng

vắng khuyết các tham tố trong câu cũng diễn ra

KẾT LUẬN

TTCĐĐVL là một trong những nhóm từ trung tâm, cơ bản của mọi ngôn ngữ Đây là nhóm tính từ đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Vận dụng lí thuyết về nghĩa và kết trị để giải quyết một đối tượng cụ thể - nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt - thực sự là một hướng tiếp cận khá mới mẻ Qua 3 chương nghiên cứu của luận án được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:

1 Dựa trên 55 nguồn ngữ liệu với 2045 câu, luận án đã thống kê trong tiếng Việt có 31 tính từ chỉ đặc điểm về lượng Chúng đều là những từ đơn có bản chất từ vựng - ngữ pháp quy định những yếu tố có tính chất bắt buộc tạo thành kết trị Bên cạnh đó, qua khảo sát chúng tôi còn thấy xuất hiện TTCĐĐVL là từ phức được tạo thành nhờ phương thức ghép và láy Chúng có phạm vi biểu vật hẹp hơn, có ý nghĩa và kết trị khác với từ chỉ đặc điểm về lượng là từ đơn

2 Về đặc điểm ngữ nghĩa, khi được dùng với nghĩa gốc, nhóm TTCĐĐVL của

sự vật trong tiếng Việt biểu thị ý nghĩa định lượng sự vật (định lượng kích thước,

Trang 26

định lượng trọng lượng, định lượng khoảng cách, định lượng nhiệt lượng…) và biểu thị số lượng sự vật trong thực tế khách quan Luận án đã xem xét đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL theo hai nhóm lớn Đó là ngữ nghĩa nhóm tính từ định lượng

sự vật biểu thị ý nghĩa về kích thước, trọng lượng, nhiệt lượng, khoảng cách… và nhóm tính từ biểu thị số lượng sự vật Trong đó, ngữ nghĩa nhóm định lượng sự vật chiếm ưu thế và xuất hiện với tần số cao

Dựa trên quan điểm của Ngôn ngữ học tri nhận về các loại ẩn dụ ý niệm, luận án

đã chỉ ra sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL theo hướng ẩn dụ ý niệm, đó là: chuyển sang biểu thị con người, thời gian và vật thể, hiện tượng tự nhiên Trong

đó, hướng phát triển nghĩa biểu thị con người, đặc biệt là biểu thị đặc điểm tâm lí – tình cảm là một sự chuyển di khá xa và khác biệt về bản chất chiếm ưu thế với số lượng tương đối lớn Bên cạnh đó, nhóm tính từ còn có sự mở rộng phạm trù nghĩa

Từ chỗ chỉ những thuộc tính vật chất về lượng của các vật thể trong thế giới khách quan, nhóm tính từ đã phát triển nghĩa để thể hiện các nội dung liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống tinh thần của con người

3 Về đặc điểm kết trị, với vai trò là trung tâm của cấu trúc nghĩa, nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt đòi hỏi các yếu tố kết hợp xung quanh nó phải phù hợp về ngữ nghĩa Khi được dùng với nghĩa gốc, ở dạng cơ bản và đầy đủ nhất,

mô hình cấu trúc kết trị của nhóm TTCĐĐVL gồm bốn tham tố xoay quanh nó: (1) tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng, (2) tham tố chỉ lượng, (3) tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm, (4) tham tố chỉ sự so sánh Các tham tố này vừa có những đặc trưng riêng biệt cả ở phương diện ngữ pháp (hình thức) và ngữ nghĩa (nội dung) vừa có mối tương quan khăng khít với nhau tạo thành mô hình tham tố xoay quanh tính từ Tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng là tham tố bắt buộc bổ sung, hiện thực hóa ý nghĩa chỉ sự vật mang đặc điểm do tính từ trung tâm biểu thị

Vị trí cơ bản thường đứng trước tính từ Ba tham tố không bắt buộc còn lại đều là những tham tố có chức năng bổ sung đặc điểm về lượng, ý nghĩa về mức độ, sắc thái hoặc bổ sung thông tin cho tính từ trung tâm và thường đứng sau tính từ

Khi nhóm TTCĐĐVL phát triển nghĩa, mô hình kết trị thay đổi và nội dung ý nghĩa, hình thức của mỗi tham tố cũng có sự biến đổi nhất định Cụ thể, tham tố chỉ lượng không tham gia vào mô hình cấu trúc kết trị Lúc đó, mô hình kết trị của nhóm tính từ này chỉ còn ba tham tố: một tham tố bắt buộc là tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm và hai tham tố không bắt buộc là tham tố chỉ mức độ, sắc thái của đặc điểm và tham tố chỉ sự so sánh Về sự thay đổi của các tham tố thì sự thay đổi về hình thức nhìn chung không có nhiều sự khác biệt về vị trí, cấu tạo và từ loại Điểm khác biệt

Trang 27

bản chất nhất vẫn là sự thay đổi về mặt nội dung của các sự vật đảm nhận vai trò tham tố diễn ra mạnh mẽ và rõ ràng nhất Chính sự thay đổi này tạo nên những kết hợp lạ, độc đáo thể hiện mục đích sáng tạo và phong cách của mỗi cá nhân khi sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật

4 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu cũng được quan tâm xem xét Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tượng các tham tố trong mô hình cấu trúc kết trị hiện diện đầy đủ không xảy ra khi nhóm TTCĐĐVL được dùng với cả nghĩa gốc và phát triển nghĩa Nhưng ở những ngữ cảnh nhất định, sự vắng khuyết các tham tố trong mô hình kết trị thường xảy ra chủ yếu trong VBNT nhằm những dụng ý nhất định Riêng đối với tính từ trung tâm, không xảy ra hiện tượng vắng khuyết Điều này khẳng định, trong mọi ngữ cảnh, tính từ trung tâm luôn có tính thường trực cao nhất trong mô hình

5 Có thể thấy, khi ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật thay đổi thì hệ luận là sự thay đổi về kết trị Ngược lại, thông qua mô hình kết trị, đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm tính từ cũng được biểu lộ rõ ràng nhất Sự thay đổi dù về ngữ nghĩa (nội dung) hoặc kết trị (hình thức) hoặc cả hai của bất kỳ một loại tham tố nào, cũng

chính là dấu hiệu biểu thị sự “biến động”, chuyển đổi về ngữ nghĩa của tính từ trung

tâm Từ đó, có thể khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức biểu hiện, giữa đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của từ Trong đó, ngữ nghĩa luôn giữ vai trò chi phối kết trị, quy định sự hiện thực hóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức

Và thông qua mô hình kết trị, thuộc tính ngữ nghĩa vốn có của từ được bộc lộ Từ

điển bách khoa ngôn ngữ học do V.N Jarseva chủ biên, mục kết trị đã khẳng định:

“Bất cứ một sự biến đổi nào về chất hay về lượng trong kết trị của từ đều có thể minh

chứng về sự chuyển hóa trong ý nghĩa của từ” [52, tr.80] Nghiên cứu sự chi phối của

nhân tố nghĩa đối với thuộc tính kết hợp nói riêng và hoạt động ngữ pháp của từ nói chung góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng của ngữ pháp tiếng Việt

Với việc nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên hai bình diện kết học và nghĩa học vừa độc lập vừa tương tác, luận án đã góp thêm một tiếng nói khẳng định hướng nghiên cứu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng là một hướng nghiên cứu mới, hiệu quả, đặc biệt khi có sự hỗ trợ những nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận Kết quả nghiên cứu của luận án bước đầu cung cấp cho người đọc một bức tranh vừa khái quát, vừa cụ thể về nhóm TTCĐĐVL của sự vật trên phương diện ngữ nghĩa và kết trị Hi vọng đây sẽ là tiền đề để nghiên cứu chuyên sâu về các nhóm tính từ khác trong tiếng Việt

Ngày đăng: 13/06/2021, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w