1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.

164 67 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 407,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ

CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG

CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ

CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG

CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9.22.90.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học

1 PGS.TS LÊ THỊ LAN ANH

2 GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP

HÀ NỘI - 2020 LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thanh Hương

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Thị Lan Anh và GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, những thầy cô đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn

thành luận án này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Tổ

bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Hà Nội, ngày tháng năm2020

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thanh Hương

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận án 4

6 Bố cục của luận án 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt 19

1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài 22

1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ 22

1.2.2 Khái quát về kết trị của từ 36

Tiểu kết 48

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT KHI DÙNG VỚI NGHĨA GỐC 49

2.1 Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 49

2.1.1 Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 49

2.1.2 Tiêu chí nhận diện tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 52 2.1.3 Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 55

2.1.4 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 57

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc 61

Trang 6

2.3 Đặc điểm kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật

trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc 69

2.3.1 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc 69

2.3.2 Đặc điểm các tham tố của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật khi dùng với nghĩa gốc 74

2.3.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu 89

Tiểu kết 95

Chương 3: SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA VÀ THAY ĐỔI KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT 97

3.1 Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 98

3.1.1 Khát quát về sự phát triển ngữ nghĩa của từ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận 98

3.1.2 Các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 101

3.2 Sự thay đổi kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt 115

3.2.1 Sự thay đổi mô hình kết trị 115

3.2.2 Sự thay đổi các tham tố 117

3.2.3 Khả năng hiện diện của các tham tố trong câu 132

Tiểu kết 136

KẾT LUẬN 139

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 143

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 8

TT Tên gọi TrangBảng 2.1 Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật

trong tiếng Việt

59

Bảng 2.2 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng

khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vậtdùng với nghĩa gốc

76

Bảng 3.1 Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi

nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa

120

Trang 9

TT Tên gọi Tran

gHình 2.1 Sơ đồ ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng

của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

68

Hình 2.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng

của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

71

Hình 3.1 Sơ đồ các hướng phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ

chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

114

Hình 3.2 Mô hình kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng

của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa

115

MỘT SỐ QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 10

3 Nxb Nhà xuất bản

4 VBNT Văn bản nghệ thuật

5 VBKH Văn bản khoa học

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cũng như ở các ngôn ngữ khác, tính từ là từ loại có số lượng lớn và

chiếm vị trí quan trọng trong tiếng Việt Trong đó, nhóm tính từ chỉ đặc điểm

về lượng của sự vật đóng một vai trò không nhỏ làm nên sự phong phú và đadạng của tính từ nói riêng và từ loại tiếng Việt nói chung Đây cũng là nhóm

từ có nhiều đặc điểm phức tạp trong đời sống ngôn ngữ Đặc biệt, khi thamgia vào hoạt động hành chức, nhóm tính từ này không chỉ hiện thực hóa đặcđiểm ngữ nghĩa, ngữ pháp vốn có của nó mà còn có những sự biến đổi vàchuyển hóa trên nhiều bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa tương đối phức tạpnhưng cũng đầy lý thú Vì vậy, chúng luôn thu hút sự chú ý của các nhànghiên cứu

1.2 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng về ngữ phápcủa ngôn ngữ học hiện đại Lí thuyết này đem đến một hướng tiếp cận mới, tiếpcận cú pháp theo đường hướng ngữ nghĩa, chức năng Nó góp phần giải quyếtnhững vấn đề cần yếu đối với ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là mối quan hệ giữangữ nghĩa và ngữ pháp trong sự hiện thực hóa ngôn ngữ Lí thuyết kết trị đã chothấy giữa ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ luôn luôn có mối quan hệ và tươngtác lẫn nhau Trong đó, ý nghĩa giữ vai trò chi phối kết trị, quy định sự hiện thựchóa kết trị của từ trong hoạt động hành chức Và ngược lại, thông qua mô hìnhkết trị thuộc tính ngữ nghĩa bản chất của từ được bộc lộ

1.3 Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã được phát triển và ứng dụng rộngrãi trong nghiên cứu ngữ pháp, nghiên cứu đặc điểm từ loại của nhiều ngônngữ khác nhau Trên thế giới đã có khá nhiều công trình vận dụng lí thuyếtkết trị nghiên cứu một cách có kết quả hệ thống từ loại mà đầu tiên và trướchết là động từ Nằm trong trào lưu chung của ngôn ngữ học thế giới, ở ViệtNam, những năm gần đây lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được vận dụng

Trang 12

trong một số công trình nghiên cứu Nhưng nhóm TTCĐĐVL của sự vậttrong tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thì chưa có một công trìnhkhoa học chuyên sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa

và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt làm đề tài cho luận án.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kếttrị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mốiquan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiệnthực hóa ngôn ngữ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án phải thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:

- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyếtkết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ phápxác định kết trị …), lí thuyết ngữ nghĩa ( nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa

và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miềnđích…), lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêuchí nhận diện, phân loại…)

- Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVLcủa sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

- Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhómTTCĐĐVL trong tiếng Việt

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị củaTTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngôn ngữ học hiện đại có thể xem xét tính từ cũng như nhómTTCĐĐVL của sự vật dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau.Tuy nhiên, trong luận án này, chúng tôi tập trung xem xét các tính từ chỉđặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt ở hai phương diện: đặc điểmngữ nghĩa và kết trị, cũng như mối quan hệ giữa chúng cả mặt tiềm năng lẫnmặt hiện thực hóa

3.3 Phạm vi nguồn ngữ liệu

Nhóm TTCĐĐVL của sự vật xuất hiện đa dạng trong các thể loại vănbản thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ Tuy nhiên, nguồn ngữ liệu mà chúngtôi khảo sát chủ yếu trong 55 nguồn ngữ liệu ở hai loại hình văn bản thuộchai phong cách khác nhau là: VBKH và VBNT Đây là hai loại văn bản màtần số sử dụng nhóm TTCĐĐVL tương đối cao và có đặc thù phong cáchkhác nhau phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án Bên cạnh đó,nguồn ngữ liệu còn được thu thập từ thực tế sử dụng tiếng Việt trong giaotiếp hàng ngày

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tảkết hợp với phương pháp phân tích cú pháp; các thủ pháp so sánh, thống kê -phân loại và mô hình hóa

4.1 Phương pháp miêu tả theo lí thuyết kết trị

Luận án sử dụng phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa

và kết trị của các tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt.Phương pháp miêu tả được dùng để phân tích nghĩa của TTCĐĐVL nhằmchỉ ra nghĩa gốc và sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm tính từ này, đồng thời,phân tích các tham tố tham gia mô hình kết trị nhằm chỉ ra đặc điểm hìnhthức cũng như nội dung của các tham tố

Trang 14

4.2 Phương pháp phân tích cú pháp

Phương pháp này chúng tôi sử dụng nhằm giải mã những vấn đề của câu

về mặt hình thức, từ đó làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và giải mã các vấn

đề về mặt ngữ nghĩa Nhờ đó, mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa kết trị

và ngữ nghĩa được sáng tỏ

4.3 Thủ pháp thống kê, phân loại

Thủ pháp này được dùng để thống kê lượng từ ngữ, phân loại nhómTTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt ở các nguồn ngữ liệu và những biểu thứcngôn ngữ có chứa những tính từ này dựa trên những đặc điểm giống nhau vềngữ nghĩa, kết trị Đây là cơ sở giúp đề tài mang tính khách quan và thuyết phục

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về mặt lí luận

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị củanhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt Thông qua việc nghiên cứu,luận án thêm một bước làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sựtương tác lẫn nhau Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án cũng góp thêmtiếng nói minh chứng cho sự tiến bộ của đường hướng nghiên cứu ngữ pháp

hiện đại: ngữ pháp gắn liền với ngữ nghĩa

Trang 15

5.2 Về mặt thực tiễn

Tính từ nói chung và nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt rấtphong phú nhưng hết sức phức tạp Nó được sử dụng thường xuyên trongcác loại hình văn bản, từ trong các tác phẩm nghệ thuật đến đời sống hàngngày Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng tư liệu và kết quả nghiên cứucủa luận án sẽ là những đóng góp thiết thực trong việc nghiên cứu và họctiếng Việt, cụ thể như: giúp người nghiên cứu về cú pháp và ngữ nghĩa cóđược cái nhìn sâu sắc hơn về tính từ; góp phần vào việc phân tích, giảithích ngữ nghĩa của tính từ trong việc biên soạn từ điển, sách dạy tiếng Việtcho người Việt Nam và người nước ngoài

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu

khảo sát luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Trong chương này, chúng tôi tổng hợp những nghiên cứu cơ bản vềnghĩa, kết trị của từ và tính từ ở trong nước và ngoài nước Đồng thời, chươngnày cũng xác lập một số khái niệm lí thuyết cơ bản về nghĩa và kết trị của từ

Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm

về lượng của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc

Chương này sẽ trình bày khái quát về nhóm TTCĐĐVL của sự vật trongtiếng Việt và kết quả khảo sát của luận án, cũng như kết quả nghiên cứu vềngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này khi dùng với nghĩa gốc

Chương 3: Sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm tính từ

chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt

Ở chương 3, chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích sự phát triển ngữ nghĩacũng như sự thay đổi mô hình kết trị và các tham tố của nhóm TTCĐĐVLtrong sự hiện thực hóa

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Ngữ nghĩa và kết trị của từ là một trong những vấn đề cần được quantâm khi nghiên cứu ngôn ngữ Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cậpđến nội dung này theo các góc độ khác nhau Vì vậy, trong chương này, luận

án điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xácđịnh cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ

Vấn đề ngữ nghĩa từ xưa cho đến nay luôn được các nhà nghiên cứungôn ngữ học đặc biệt quan tâm Hầu như, các công trình nghiên cứu ngônngữ nào cũng đề cập đến nghĩa ở một mức độ nhất định Trong phần này,chúng tôi chỉ điểm lại một cách sơ lược nhất về vấn đề nghiên cứu ngữ nghĩatrên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ

a Những nghiên cứu trên thế giới

Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn độc lập hình thành vào khoảng

cuối thế kỉ XIX và được đánh dấu bằng công trình “Essai de Sémantique”

(1877) của Michel Bréal Ông được xem là người đi tiên phong trong nghiêncứu khoa học ngữ nghĩa Dù công trình của M Bréal ra đời sau, nhưng được

đánh giá là công trình “đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn khoa

học nhân văn.” [82, tr.7] Trong công trình nghiên cứu [82], Lê Quang Thiêm

đã khái lược rất rõ ba thời kì phát triển trong tiến trình ngữ nghĩa học Đó làthời kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận.Mỗi thời kì đều được đánh dấu bằng các công trình nghiên cứu gắn liền vớitên tuổi của các nhà khoa học

Trang 17

Vấn đề quan tâm đầu tiên của các nhà ngôn ngữ học là khái niệm nghĩacủa từ Bởi đây là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữhọc nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau NguyễnThiện Giáp [35] đã chỉ ra tám quan niệm về nghĩa trên thế giới Nhìn chung,

các ý kiến bàn về nghĩa của từ nổi lên hai khuynh hướng: “1) Cho nghĩa của từ

là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh…) 2) Cho nghĩa của

từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng, hoặc quan hệ của từ với khái niệm)” [dẫn theo 35, tr 31] Nghĩa của từ là nhân tố chi phối khả năng

kết hợp của từ (khả năng phóng chiếu của từ), trong trường hợp vị từ đóng vaitrò vị ngữ của câu thì nghĩa của từ chi phối đến các tham tố cùng vị ngữ tạothành câu trọn vẹn, tức thể hiện kết trị của vị từ

Về các thành phần nghĩa của từ, các nhà ngôn ngữ đã đưa ra những kiếngiải khác nhau bằng sơ đồ tam giác nghĩa và các nhân tố hình thành ý nghĩacủa từ Người đầu tiên phải kể đến là F.de Saussure (1916) Ông quan niệm về

bản chất của tín hiệu ngôn ngữ như sau: “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một

không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh

âm thanh Hình ảnh này không phải là cái âm vật chất, một vật thuần túy vật lí,

mà là dấu vết tâm lý của cái âm đó, là cái biểu tượng mà các giác quan của ta cung cấp cho ta về cái âm đó” [75, tr.120] Vậy theo F.de Saussure tín hiệu

ngôn ngữ là một thực thể tâm lý có hai mặt: khái niệm và hình ảnh âm thanh,giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau Đây là bước tiếnlớn trong nhận thức về nghĩa của tín hiệu – từ

Làm rõ hơn một bước, C.K Ogden và I.A Richards (1923) đã đề xuất một

sơ đồ gọi là “tam giác nghĩa” Trong đó, một đỉnh là biểu hiệu, một đỉnh là tư duy và một đỉnh là sở chỉ, giữa chúng luôn có mối quan hệ lẫn nhau “Quan hệ

giữa biểu hiệu và tư duy là quan hệ biểu trưng; quan hệ giữa tư duy hay sự quy chiếu với sở chỉ là quan hệ quy chiếu; quan hệ giữa biểu hiệu với sở chỉ là quan

Trang 18

hệ thay thế tên gọi” [dẫn theo 35, tr.37] Cũng bàn tới vấn đề này, G Stern

(1931) và S Ullmann (1962) cũng đưa ra sơ đồ cải tiến tam giác nghĩa và giảithích mối quan hệ giữa các thành tố của nghĩa Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra banhân tố nghĩa và thay đổi một số thuật ngữ Đáng chú ý là các tác giả đưa thêmkhái niệm nội dung liên hội như một loại nghĩa của tín hiệu từ

Theo quan niệm truyền thống, John Lyons (1977) coi “khái niệm là

nghĩa của từ” Ông đã cải tiến sơ đồ tam giác nghĩa và giải thích: “Hình thức của từ có thể nói là “biểu nghĩa” cho cả “khái niệm’ mà các “sự vật” được gộp vào đó (bằng sự “trừu tượng” khỏi các đặc tính “ngẫu nhiên” của chúng) và cả bản thân các “sự vật” đó nữa” [dẫn theo 35, tr.38] Lúc này, cái

quy chiếu không còn được xem là nghĩa nữa mà nghĩa là nội dung khái niệm,

là nội dung liên hội và nghĩa biểu thị

Bên cạnh các tác giả với những công trình nghiên cứu trên, trong ngữ nghĩahọc thế giới, chúng ta còn gặp nhiều quan niệm với các khuynh hướng khácnhau như: Kurt baldinger, V.A Zveginxev, Ju.D Appressian, Ju.X Stepanov…

Về hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng được các nhà nghiên cứu bàn tớivới những khuynh hướng nghiên cứu khác nhau Có thể kể đến ba khuynhhướng chính trên thế giới như sau: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo nghiêncứu theo lôgic học mà Paul là người khởi xướng Những quan niệm của ôngđược thể hiện qua bảng phân loại logic học các hiện tượng chuyển nghĩa, trong

đó chú ý đến so sánh nội dung khái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thờinêu lên mối quan hệ logic giữa chúng (2) Khuynh hướng nghiên cứu theo tâm

lý học mà đại diện là Wundt, Henry, Murray… Khuynh hướng này giải thíchhiện tượng chuyển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lý với phương châm việcnghiên cứu chuyển nghĩa cuối cùng phải vĩnh viễn quy thành nghiên cứu tâm lý.(3) Khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử đứng đầu là Wellander, Smart… Họnghiên cứu đã quan niệm sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử và chỉ

Trang 19

trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quá trình thực tế Bêncạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tập hợp và hệ thống hóa nhữngnguyên nhân có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự chuyển nghĩa trongngôn ngữ Aitchison và một số nhà ngôn ngữ cùng quan điểm cho rằng: Sựchuyển nghĩa trong tiếng Anh do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ vàtâm lí của người sử dụng, yếu tố xã hội Ngược lại, Fromkin và một số tác giảkhác cho rằng: Nguyên nhân của sự chuyển nghĩa là do sự tái cấu trúc ngônngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm lý của người học quanhiều thế hệ khác nhau Không đồng quan điểm với các tác giả trên, Lyons chorằng: Sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi ngôn ngữ

Khi ngôn ngữ học tri nhận ra đời và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là ngữnghĩa học tri nhận với những tên tuổi như: G Lakoff, M Johnson, M Turner,

C Fillmore, V Evans, M Green thì vấn đề nghĩa cũng như sự chuyển nghĩacủa ngôn ngữ sẽ là mảnh đất còn nhiều điều cần khám phá Dưới góc nhìn củatri nhận, nghĩa của từ và sự chuyển nghĩa của từ chủ yếu được đề cập thông quaviệc nghiên cứu các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm dựa trên những miền nguồn hếtsức cơ bản như: miền cảm xúc, miền bộ phận cơ thể người, miền không gian,miền ăn uống… Qua quá trình chuyển nghĩa, các nhà nghiên cứu ngôn ngữhọc tri nhận cũng nhận thấy ẩn dụ ý niệm là cách thức tư duy, hé lộ cho biếtcách nghĩ và văn hóa dân tộc

b Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, so với nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì ngữ nghĩahọc, đặc biệt nghĩa học ngữ pháp (grammatical semantics) là một chuyênngành chưa có chiều dày Sự xuất hiện ban đầu của ngữ nghĩa học gắn liềnvới từ vựng học Vì vậy, những tri thức ban đầu của ngữ nghĩa học chủ yếuđược đề cập trong những giáo trình cơ sở từ vựng học Nhìn chung, các nhànghiên cứu đã quan tâm đến bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từvựng, các quan hệ nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa …

Trang 20

Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của Đỗ Hữu Châu ra đời.

Lần đầu tiên ở Việt Nam, các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học được giới thiệu

Có thể nói, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều côngtrình về lí thuyết nghĩa của từ Chính ông đã góp phần xây dựng cơ sở nền

tảng cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt Theo ông, “Nghĩa của từ là hợp

điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ

và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ” [17, tr.98] Quan niệm này của

Đỗ Hữu Châu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm nghĩa của từ màcòn bàn tới các thành phần ý nghĩa của từ Tác giả đã xác định các nhân tốngoài ngôn ngữ là (1) sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thểthuộc thế giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng; (2) sự hiểu biết củacon người về nhân tố thứ (1), và (3) nhân tố lịch sử xã hội (mỗi thời đại vàcác tập thể xã hội khác nhau cũng ảnh hưởng đến nghĩa của từ, khiến chomỗi từ có thể có những vẻ nghĩa riêng) Còn các nhân tố thuộc ngôn ngữ là:(1) toàn bộ hệ thống ngôn ngữ với những quan hệ giữa chúng; (2) chứcnăng tín hiệu học của từ Tác giả thay tam giác nghĩa hình học phẳng bằnghình tháp nghĩa hình học không gian như sau:

Sơ đồ hình tháp nghĩa [17, tr.101]

Người dùng

Chức năng tín hiệu

Tư duy Từ-trừu tượng

Sự vật

Hệ thống ngôn ngữ

Trang 21

Theo sơ đồ này thì đỉnh cao nhất của tháp là từ (trừu tượng) với hai thànhphần là hình thức và ý nghĩa Ở mỗi đỉnh của đáy là từng nhân tố góp phần làmthành ý nghĩa, gồm: sự vật, hiện tượng, sự hiểu biết của tư duy; nhân tố người sửdụng; các chức năng tín hiệu học; cấu trúc của ngôn ngữ Đồng thời, tác giả cũngbàn tới các quan hệ ngữ nghĩa và trường từ vựng – ngữ nghĩa…

Tiếp theo đó, ngữ nghĩa học đã từng bước được quan tâm như một bộmôn độc lập với sự xuất hiện của một số công trình khoa học Nguyễn ThiệnGiáp [34] đã tổng hợp đầy đủ các quan niệm về nghĩa Tác giả cho rằng:

“Nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lí hơn Nhưng vì từ có quan hệ rất

đa dạng với các hiện tượng khác cho nên nghĩa của từ cũng là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn như: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu” [34, tr.125] Quan niệm này của tác giả

cũng chỉ ra các thành tố nghĩa của từ Mặc dù, quan niệm của ông và Đỗ HữuChâu không khác nhau nhiều Nhưng hệ thuật ngữ thì có khác nhau Nếu như

Đỗ Hữu Châu gọi các thành phần nghĩa của từ là “nghĩa biểu vật, nghĩa biểu

niệm và nghĩa biểu thái” [18] thì Nguyễn Thiện Giáp dùng: “nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu và nghĩa sở dụng” [34] Ở một số công trình khác, Nguyễn

Thiện Giáp cũng đã đề cập đến ngữ nghĩa học từ vựng như: “sự biển đổi ý

nghĩa của từ ngữ, những quan hệ về nghĩa của từ, trường nghĩa…” [35]

Tiếp theo là Tập bài giảng về Ngữ nghĩa học của Lê Quang Thiêm [82]

Đây có thể coi như một công trình xác lập ngữ nghĩa học với tư cách là một

bộ môn ngôn ngữ học riêng Ngoài việc giới thiệu những thành tựu về ngữ

nghĩa học, tác giả cũng thể hiện cách lí giải về “tầng nghĩa và kiểu nghĩa

chức năng từ vựng”,“tầng nghĩa và kiểu nghĩa trong các phạm trù ngữ pháp”, “tầng nghĩa và kiểu nghĩa hiển ngôn của lời”… Trong công trình này,

không chỉ nghĩa học từ vựng mà nghĩa học ngữ pháp và nghĩa học ngữ dụngcũng được Lê Quang Thiêm bàn tới Đây là cái mới của công trình này

Trang 22

Tiếp nối và triển khai sâu rộng quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Đỗ ViệtHùng [49] đã trình bày những quan niệm cơ bản về các bình diện nội dungcủa tín hiệu ngôn ngữ và vai trò của nghĩa trong hoạt động cũng như sự chiphối của các nhân tố giao tiếp đến việc sử dụng và lĩnh hội nghĩa

Có thể nói, ngữ nghĩa học đã từng bước được các nhà nghiên cứu ngônngữ học Việt Nam tiếp cận và vận dụng trong nghiên cứu về tiếng Việt Với

mong muốn “là một trong những cách làm thiết thực để thúc đẩy sự phát

triển của ngữ nghĩa học ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ngữ nghĩa học ngữ pháp nói riêng” [60, tr.8], Nguyễn Văn Hiệp đã dịch cuốn Ngữ nghĩa học dẫn luận của John Lyons ra tiếng Việt Đây là cuốn dẫn luận ngữ nghĩa học đầu

tiên của nước ngoài được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, cung cấp một cáinhìn bao quát về ngữ nghĩa trên một phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng, ngữnghĩa của câu đến ngữ nghĩa của phát ngôn

Về sự biến đổi nghĩa trong tiếng Việt và một số khía cạnh liên quan cũng

đã được đề cập trong những công trình của các tác giả: Hoàng Phê, Hoàng VănHành, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân…Nhìn chung, các tác giả quantâm nhiều đến hiện tượng đa nghĩa, sự biến đổi nghĩa từ được đề cập theo quanđiểm truyền thống với sự chuyển đổi tên gọi: ẩn dụ, hoán dụ, mở rộng và thuhẹp nghĩa… Gần đây, dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứunghĩa và sự chuyển nghĩa trong tiếng Việt, Nguyễn Đức Tồn và học trò củamình [97] đã thống kê số lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩacủa trường từ vựng chỉ động vật, thực vât, bộ phận cơ thể người Đây là côngtrình khoa học được tiến hành nghiên cứu theo hướng lí thuyết tâm lý ngôn ngữhọc tộc người Lý Toàn Thắng cũng có nhiều nghiên cứu về hiện tượng này.Ông đã so sánh hiện tượng chuyển nghĩa của một số từ chỉ bộ phận cơ thểngười trong tiếng Việt sang các từ chỉ bộ phận đồ vật và định vị không gian vớicác từ tương ứng trong tiếng Anh; thông qua đó để thấy được cách nhận thức

về hiện thực của từng dân tộc Bên cạnh đó, trong công trình [78], Lý Toàn

Trang 23

Thắng đã áp dụng một số khái niệm cơ bản như: tri nhận, ý niệm, hình, nền…

để tìm hiểu thực tiễn tiếng Việt, từ đó đưa ra nhiều kết luận có giá trị Tiếp đó,Trần Văn Cơ [23] cũng coi từ đa nghĩa của từ như một phạm trù ý niệm và mỗinghĩa là một tiểu phạm trù Nguyễn Văn Hiệp [47] đã dùng lí thuyết nghiệm

thân để lý giải con đường chuyển nghĩa của từ “ra”, “vào” trong tiếng Việt

Ngoài những công trình mang tính chất giới thiệu lí thuyết trên, cần phải

kể tới một lượng lớn những công trình mà các nhà nghiên cứu đã áp dụng líthuyết về nghĩa để nghiên cứu một đối tượng cụ thể theo các hướng nghiên cứukhác nhau Đó là các đề tài khoa học, công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc

sĩ, khoá luận tốt nghiệp và một số bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành Gầnđây, trong Việt Ngữ học, hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong mối quan hệ vớikết trị của một từ loại được quan tâm với các công trình tiêu biểu:

Nguyễn Mạnh Tiến [88] đã làm rõ sự chi phối của ý nghĩa đối với kếttrị của động từ tiếng Việt Theo tác giả, ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từluôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó, ý nghĩa giữvai trò chi phối kết trị Sự chi phối của ý nghĩa đối với thuộc tính kết trị của

động từ thể hiện ở chỗ: “ý nghĩa của động từ quy định số lượng kết trị bắt

buộc (số lượng diễn tố) có thể có bên nó”, “quy định ý nghĩa và hình thức ngữ pháp của các diễn tố”và “quy định sự hiện thực hóa kết trị của động từ trong lời nói” [88, tr.35]

Bùi Thị Nga [62] ngoài việc thống kê các vị từ kết nối trong tiếng Việt

đã vận dụng lí thuyết ngữ nghĩa chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa chung của vị từkết nối: hợp nhất, nối kết và tác tạo các đối tượng Tác giả đã phân tích nămhướng chuyển nghĩa của các vị từ nối kết, bước đầu lý giải cội nguồn hiệntượng chuyển nghĩa của vị từ nối kết trong tiếng Việt

Cùng hướng nghiên cứu với Bùi Thị Nga, Phạm Thị Mỹ Việt [100] đãxác lập được hệ thống các vị từ quá trình tiêu biểu trong tiếng Việt Tác giả

Trang 24

đã làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ này khi dùng với nghĩa gốc vànghĩa chuyển Với bốn hướng chuyển nghĩa biểu thị thời gian, hoạt động trítuệ của con người, trạng thái tâm lý- tình cảm và cuộc đời, mối quan hệ giữangữ nghĩa và kết trị của từ nói chung và vị từ quá trình trong sự hiện thựchóa ngôn ngữ được sáng tỏ

Gần đây, Bùi Minh Toán, Lê Thị Lan Anh [95] đã làm sáng tỏ và cụ thểhóa mối quan hệ giữa những đặc điểm ngữ nghĩa của từ (nghĩa từ vựng,nghĩa ngữ pháp, trường nghĩa, sự chuyển nghĩa, sự chuyển trường) với đặcđiểm kết trị (số lượng, kiểu loại) của nó trên ngữ liệu tiếng Việt Nghĩa của

từ “chi phối một cách khá chặt chẽ số lượng và đặc tính của các kết tố cần

yếu, đồng thời cũng cho phép sự có mặt của các kết tố khả dĩ” [95, tr.591]

Có thể nói, những vấn đề ngữ nghĩa học và ngữ nghĩa học tiếng Việttrong những công trình nghiên cứu trên là tri thức quan trọng giúp chúng tôi

có cái nhìn toàn cảnh về ngữ nghĩa học để triển khai nghiên cứu nghĩa và sựphát triển ngữ nghĩa của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ

Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ kết trị - valency - mới được sử dụng rộng

rãi từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX để chỉ khả năng kết hợp của các lớp

từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung

Nhìn một cách tổng thể cho đến nay, đã có nhiều công trình trong và ngoàinước nghiên cứu về kết trị

a Tình hình nghiên cứu về kết trị của từ trên thế giới

Lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trên nhiều cấp độ với nhiều quanđiểm khác nhau Theo tổng kết của Nguyễn Văn Lộc, trong công trình

nghiên cứu “Kết trị của động từ tiếng Việt”, kết trị của từ được hiểu là

thuộc tính kết hợp của động từ hoặc một số từ loại nhất định Quan niệmnày gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học Pháp L.Tesnière và một số

Trang 25

nhà ngôn ngữ học khác như: S.D Kasnelson, A.A Kholodovich, S.M.Kibardina, N.I Tjapkina và A.M Mukhin …

L Tesnière, một trong những người sáng lập lí thuyết kết trị, trong công

trình “Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” đã cho rằng: Động từ “là thành tố

hạt nhân, là cái nút chính của câu Với vai trò hạt nhân động từ qui định số lượng và đặc tính của các thành tố có quan hệ với nó” [dẫn theo 57, tr.26]

Ông đã phân biệt hai loại thành tố phụ thuộc vào động từ là diễn tố và chu tố.Theo đó, cấu trúc câu sẽ bao gồm một động từ hạt nhân cùng các yếu tố bổsung, làm rõ nghĩa cho động từ đó Mỗi loại động từ, tùy vào bản chất củamình, sẽ đòi hỏi một số lượng nhất định các diễn tố với những đặc tính riêngbiệt Bên cạnh đó, L Tesnière cũng đưa ra quan điểm về khái niệm kết trị của

động từ Đó là “thuộc tính hay khả năng của động từ hút vào mình một khối

lượng nhất định các diễn tố” [dẫn theo 58, tr.199] Quan điểm này của L.

Tesnière gắn với lí thuyết ngữ pháp phụ thuộc có tầm ảnh hưởng không chỉ ởPháp mà còn ở một số nước khác

Khác với L Tesnière, S.D Kasnelson đưa ra cách hiểu về kết trị và phânbiệt kết trị với khả năng tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung Theo

ông, “kết trị là thuộc tính của lớp từ nhất định kết hợp vào mình những từ khác…

nhưng không có nghĩa là tất cả các từ đều có kết trị mà chỉ những từ có khả năng tạo ra các “ô trống” đòi hỏi làm đầy trong các phát ngôn mới có kết trị”.

[dẫn theo 57, tr.27] So với L Tesnière, S.D.Kasnelson đã đưa ra khái niệm kếttrị một cách chặt chẽ hơn, cụ thể hơn Nó là khả năng tạo ra các vị trí xungquanh mình của các lớp từ chứ không phải là khả năng kết hợp chung chung.Bên cạnh đó, S.D.Kasnelson cũng đã có sự phân biệt kết trị nội dung và kết trịhình thức Những điều này là những đóng góp mới của S.D Kasnelso gópphần làm cho lí thuyết kết trị trở nên sâu sắc hơn

Trang 26

N.I Tjapkina và A.M Mukhin đã mở rộng khái niệm kết trị của động từ

hơn N.I Tjapkina cho rằng: “Kết trị của động từ được xác định dựa vào toàn

bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó” [dẫn theo 58, tr.200] Với

cách hiểu này, N.I Tjapkina đã đồng nhất khả năng của từ tham gia vào cácmối quan hệ cú pháp nói chung với kết trị Ông phân biệt kết trị chung với kếttrị hạt nhân Trong khi đó, A.M Mukhin quan tâm đến kết trị bắt buộc và kếttrị tự do của động từ như: kết trị nguyên nhân, mục đích, phương tiện

Nếu như L.Tesnière và một số nhà ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến kết trịcủa từ (động từ) thì M.D Stepanova, G Helbig, T.M Beljaeva … lại mở rộngkhái niệm kết trị từ cấp độ từ sang các cấp độ và các bình diện khác của ngôn

ngữ M.D Stepanova trong cuốn “Lý thuyết kết trị và việc phân tích kết trị”,

đã dùng thuật ngữ kết trị theo cách hiểu rộng, kết trị được hiểu là “khả năng

kết hợp của các đơn vị ngôn ngữ cùng cấp độ…Kết trị vừa là tiềm năng vừa là

sự hiện thực hóa tiềm năng này, nghĩa là, kết trị đồng thời vừa là sự kiện của ngôn ngữ, vừa là sự kiện của lời nói” [dẫn theo 57, tr.29] Như vậy, theo quan

niệm của M.D Stepanova, kết trị không phải chỉ là thuộc tính kết hợp của từ(cấp độ từ) mà còn là thuộc tính của các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độkhác Kết trị cũng không phải chỉ thuộc bình diện cú pháp mà còn thuộc một sốbình diện khác của ngôn ngữ Đồng thời, ngoài kết trị chủ động còn có kết trị bịđộng, bên cạnh kết trị cú pháp còn có kết trị ngữ nghĩa và kết trị lôgic …

Có thể thấy, các nhà nghiên cứu không chỉ quan tâm đến vấn đề kết trịcủa từ (động từ) như: khái niệm kết trị, phân biệt kết trị với khả năng kết hợp

và các kiểu kết trị của động từ mà còn mở rộng khái niệm kết trị sang cáccấp độ và bình diện khác của ngôn ngữ Và ở cấp độ từ, ngoài động từ, các từloại khác như: danh từ, tính từ, số từ … có kết trị hay không? Nếu các từ loạinày có kết trị thì chúng phải có những thuộc tính kết trị như thế nào? Để giảiquyết được thấu đáo vấn đề phức tạp trên không phải là việc đơn giản Nóđòi hỏi phải có một công trình riêng, chuyên sâu về lí thuyết kết trị

Trang 27

b Sự vận dụng lí thuyết kết trị vào nghiên cứu từ ở Việt Nam

Lí thuyết kết trị của L.Tesnière đã được các nhà Việt ngữ học nhanhchóng vận dụng vào nghiên cứu tiếng Việt ở nhiều hướng tiếp cận mới Cácnhà ngữ pháp học hiện đại đã tiếp cận ngữ pháp theo đường hướng ngữ nghĩachức năng bên cạnh việc nghiên cứu ngữ pháp theo cấu trúc lôgic của ngữ pháptruyền thống Vì vậy, hàng loạt những công trình có giá trị xuất hiện

Đầu tiên phải kể đến công trình “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức

năng” (2006) của Cao Xuân Hạo Ở công trình này, tác giả chỉ mới đề cập

đến lí thuyết kết trị và khẳng định vai trò quan trọng của L Tesnière trongviệc sáng lập ra lí thuyết kết trị mở đường cho ngữ pháp chức năng Tác giả

viết: L Tesnière “là người đã đưa khái niệm valence và các khái niệm liên

quan (actants, circonstants) vào nghĩa học của cú pháp và do đó có thể coi ông là một trong những người sáng lập ra ngành này” [43, tr.83]

Một trong những người tiên phong vận dụng linh hoạt lí thuyết kết trịcủa L Tesnière vào nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam là Nguyễn Văn Lộc

Trong công trình nghiên cứu “Kết trị của động từ tiếng Việt” (1995), tác giả

đã đưa ra định nghĩa kết trị của động từ:“Kết trị của động từ là khả năng của

động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi những thành tố cú pháp (những thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định Nói cách khác, kết trị của động từ là thuộc tính của động từ kết hợp với mình những thành tố cú pháp bắt buộc hoặc tự do” [57, tr.34] Từ đó, tác giả đã

xác định kết trị của động từ, phân loại kết trị của động từ và đặc biệt đi sâuphân tích, miêu tả hai kiểu kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt là kết tố chủthể và kết tố đối thể cùng với sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ.Tác giả chú ý miêu tả kết trị của các động từ đặt trong các ngữ cảnh cụ thể để

lý giải các hiện tượng kết tố có mặt hay vắng mặt trong quá trình hiện thựchóa kết trị của từ trong câu Tuy nhiên, đặc điểm kết trị của từng nhóm động

Trang 28

từ mới chỉ được đề cập tới chứ chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng Đặcbiệt, kết tố tự do của động từ không được bàn tới

Công trình tiếp theo là chuyên luận [72], Nguyễn Thị Quy đã đề cập tớikhái niệm diễn trị và phân định vị từ hành động theo hai tiêu chí: diễn trị và[+ tác động] Từ đó, các tiểu loại của vị từ hành động, cách diễn đạt các vainghĩa của khung vị ngữ “hành động” bằng các bổ ngữ của vị từ trong tiếngViệt được nghiên cứu cặn kẽ

Gần đây, trong công trình [31], Đinh Văn Đức đã đặt vấn đề nghiên cứu

từ loại tiếng Việt theo đường hướng nghiên cứu của Chức năng luận và quantâm trước nhất đến lí thuyết kết trị, đặc biệt là lí thuyết kết trị của L Tesnière

Ở đây, thuật ngữ “ngữ trị” mà Đinh Văn Đức sử dụng tương đương với thuật ngữ kết trị của L Tesnière Tác giả cho rằng: “Ngữ trị (Valence) vốn là khái

niệm cú pháp quan hệ có thiên về chức năng Ngữ trị vừa chỉ ra quan hệ ngữ pháp vừa chỉ ra quan hệ nghĩa trong câu” [31, tr.276] Còn với phương diện

chức năng của từ loại thì “ Ngữ trị của từ loại sẽ là một loại giá trị rộng lớn,

không riêng của vị ngữ động từ nữa Nó trở thành một loại giá trị ngữ pháp chung có thể ứng dụng cho danh từ và cả tính từ nữa, trong tiếng Việt Do vậy, ngữ trị không phải chỉ có động từ” [31, tr.279] Theo Đinh Văn Đức, nói

đến kết trị là nói đến quan hệ ngữ pháp và nghĩa trong câu Không chỉ động từmới có kết trị mà các từ loại khác như: danh từ và tính từ cũng có kết trị Bêncạnh đó, Đinh Văn Đức còn làm rõ ngữ trị của các từ loại (thực từ tiếng Việt)gồm hai loại giá trị: kết trị và diễn trị Như vậy, tác giả Đinh Văn Đức khôngchỉ quan tâm đến tất cả các kết hợp hình thức của động từ mà còn quan tâmđến các giá trị tình thái xuất hiện ở các kết hợp hình thức đó dưới những tácđộng khác nhau do cách thức phản ánh của người bản ngữ, điều mà tác giảNguyễn Văn Lộc chưa bàn đến trong công trình nghiên cứu

Vận dụng lí thuyết kết trị vào việc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câunói riêng đã được Nguyễn Văn Hiệp [45], Lâm Quang Đông [28] và một số

Trang 29

tác giả khác đề cập đến trong các công trình khoa học Hầu hết các tác giả đã

đề cập đến lí thuyết kết trị và việc vận dụng vào phân tích ngữ pháp khi xem xét,miêu tả vị từ hoặc mặt ngữ nghĩa của câu Gần đây, Nguyễn Mạnh Tiến trongcông trình nghiên cứu [89] đã vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu

về cú pháp Có thể nói, ở công trình này, vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị vàoviệc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xét mộtcách có hệ thống và chuyên sâu

Tác giả Lê Thị Lan Anh đã vận dụng lí thuyết kết trị để nghiên cứu kếttrị của vị từ quan hệ vị trí thuộc tính của tiếng Việt [2] và kết trị của danh từ

“trăng” trong thơ Hàn Mặc Tử Phạm Quang Trường, Vũ Thị Ngân, Nguyễn

Quang Thuấn [98] đã so sánh đối chiếu tìm ra sự khác biệt về kết trị của động

từ trong hai ngôn ngữ Pháp – Việt Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số công

trình khoa học khác như: Kết trị tự do của động từ tiếng Việt (Nguyễn Thùy Dương, 2011, Luận văn Thạc sĩ), Phân tích đối chiếu kết trị danh từ chung

tiếng Anh và tiếng Việt (Hoàng Thu Huyền, 2011, Luận văn Thạc sĩ), Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của vị từ kết nối trong tiếng Việt (Bùi Thị Nga,

2014, Luận văn Thạc sĩ), Sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ trong

tiếng Việt (Trần Minh Tuất, 2014, Luận văn Thạc sĩ)…

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt

Tính từ là một từ loại cơ bản của tiếng Việt Vì vậy, tính từ chủ yếu đượcxem xét dưới góc nhìn ngữ pháp về các phương diện: ý nghĩa ngữ pháp, khảnăng kết hợp, chức vụ ngữ pháp Tuy nhiên, cũng có những công trình đề cậpđến ngữ nghĩa của tính từ; mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và kết trị của một sốnhóm tính từ cụ thể

Chu Bích Thu [84], [85] đã tập trung xem xét cấu trúc nghĩa của tính từtiếng Việt hiện đại Từ đó, tác giả phân loại các tính từ biểu thị mùi thành banhóm (các tính từ chỉ mùi cơ bản, các tính từ biểu thị mùi có nghĩa được xác

Trang 30

định thông qua các từ biểu thị mùi cơ bản, các từ biểu thị mùi có nghĩa xácđịnh nhờ độ bốc hay nồng của mùi, tác động trực tiếp đến cơ quan khứu giác)

và các từ biểu thị vị thành ba nhóm (các tính từ biểu thị vị có nghĩa được xácđịnh bằng cách so sánh trực tiếp với vật đại diện, các tính từ biểu thị vị cónghĩa xác định thông qua các từ biểu thị vị mùi cơ bản, các tính từ biểu thịmức độ của vị)

Nguyễn Thị Dự [27] đã xác định nhóm tính từ không gian trong tiếngViệt, làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của chúng trên cơ sở tri nhận với hướng tiếpcận từ góc độ từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đồng thời, tác giả đã so sánh,đối chiếu tìm ra sự khác nhau của nhóm tính từ chỉ không gian nhằm làm rõ

cơ chế tri nhận không gian của hai dân tộc Anh và Việt

Lê Xuân Bình [12] đã nghiên cứu tính từ kích thước trong tiếng Việt vàtiếng Nga theo mô thức có tính song ngữ và liên văn hóa Tác giả đã làm rõ đặctrưng ngữ nghĩa của các tính từ chỉ kích thước trong tiếng Nga và tiếng Việt, đặcbiệt là phát hiện những nghĩa, nét nghĩa chưa có trong từ điển hoặc nếu có thìchưa được làm sáng tỏ hoặc đang còn mang tính khái quát cần được miêu tả cụthể hơn của nhóm tính từ này Từ đó, luận án làm rõ cơ chế tri nhận không giannói chung và kích thước nói riêng của người Nga và người Việt

Nguyễn Quỳnh Thu [86] cũng nghiên cứu nhóm tính từ chỉ mùi, vịtrong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị Luận văn cũng đã hệthống và phân loại nhóm tính từ chỉ mùi, vị trong tiếng Việt với kết quả nhưsau: trong tiếng Việt có 81 tính từ chỉ mùi và 94 tính từ chỉ vị; chỉ ra đặc điểm

ý nghĩa chung của các tính từ chỉ mùi với hai nhóm sắc thái (các mùi mangcảm giác âm tính và dương tính); nhóm tính từ chỉ vị với hai nhóm (biểu cảmdương tính và âm tính) Về hướng chuyển nghĩa, luận văn chỉ ra ba hướngchuyển nghĩa cơ bản của các tính từ chỉ mùi và bốn hướng chuyển nghĩa củanhóm tính từ chỉ vị Luận văn cũng xác định kết trị và phân tích đặc điểm cáckết tố của nhóm tính từ này Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn, các vấn

Trang 31

đề chưa được nghiên cứu sâu.

Trần Ái Chin [22] nghiên cứu nhóm tính từ chỉ màu sắc trong tiếngViệt trên bình diện ngữ nghĩa và kết trị Luận văn đã tập hợp được 359 từ

(trong đó có 181 từ được thu thập từ “Từ điển tiếng Việt” và 178 từ được thu

thập từ các nguồn khác) với hai loại tính từ chỉ màu sắc: tính từ chỉ màu sắc

cơ bản và tính từ chỉ màu sắc phụ Nhóm tính từ này không chỉ được dùngvới nghĩa gốc mà còn thường xuyên được dùng theo nghĩa chuyển Sựchuyển nghĩa của chúng hết sức phong phú và đa dạng, mang tính ổn địnhcao Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, các vấn đề về nghĩa cũng chưa thực

sự đầy đủ và toàn diện Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lí thuyết kết trị đểmiêu tả đặc điểm ba kiểu kết tố (kết tố chỉ chủ thể mang màu sắc, kết tố chỉmức độ, sắc thái của màu sắc và kết tố chỉ sự so sánh) và sự thay đổi kết trịcủa chúng khi có sự thay đổi về nghĩa của nhóm tính từ này

Nguyễn Thị Huyền [50] đã nghiên cứu ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉmùi vị trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Tác giả chỉ ra: đặc điểmcấu tạo gồm có từ đơn, từ ghép và từ láy; đặc điểm cấu trúc nghĩa gồm haithành tố nghĩa cơ bản là thành tố nghĩa miêu tả, thành tố nghĩa đánh giá vàphương thức chuyển nghĩa ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù của các từ ngữ chỉmùi, vị trong tiếng Việt Luận án liên hệ với tiếng Anh nhằm chỉ ra nhữngtương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ và đưa ra một số nhận xét về việctri nhận về mùi, vị trong hai cộng đồng ngôn ngữ Đây có lẽ là công trìnhnghiên cứu có hệ thống chuyên sâu về ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ mùi, vịtrong tiếng Việt và có liên hệ với tiếng Anh

Dưới góc nhìn khác, Nguyễn Thị Hạnh Phương [70] đã dùng lí thuyếtnghiệm thân cũng như lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận nói chung làm cơ

sở để lí giải cho sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng

Việt Tác giả cho rằng: “ Quá trình phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ

chỉ cảm giác thực chất là quá trình ý niệm hóa diễn ra trong tư duy, tâm trí

Trang 32

con người Đó là quá trình mở rộng ngữ nghĩa từ miền nguồn ý niệm chỉ cảm giác sang nhiều miền đích khác nhau Sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác có tính nghiệm thân” [70, tr.148] Bằng sự diễn giải cụ thể về cơ sở

nghiệm thân cho những con đường phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảmgiác, công trình bước đầu đề cập lối tri nhận vừa mang những nét chung dựatrên đặc trưng gắn với khả năng tri giác của con người, vừa mang những nétriêng gắn với đặc thù tư duy – văn hóa người Việt

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ nói chung

và tính từ tiếng Việt nói riêng, có thể thấy ngữ nghĩa và kết trị của từ và tính

từ đã giành được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên,nghiên cứu nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt trên bình diện ngữnghĩa và kết trị có lẽ chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu mộtcách hệ thống và đầy đủ nhất Vì vậy, luận án trên cơ sở kế thừa những thànhquả nghiên cứu hiện có, tiếp tục tìm hiểu sâu và toàn diện hơn về nhóm tính

từ này trong mối quan hệ ngữ nghĩa và kết trị

1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái quát về nghĩa của từ

1.2.1.1 Nghĩa của từ và sự phát triển ngữ nghĩa của từ từ góc độ cấu trúc luận

a Quan niệm về nghĩa của từ

Từ có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ và đời sống Tronglịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học, từ là đơn vị được phần lớn các nhà nghiêncứu tập trung xem xét về nhiều phương diện trong đó có phương diện nghĩacủa từ Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ, tuynhiên, tựu trung lại, có thể đề cập đến ba nhóm cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm hay sự phản ánh…) E Grodzinski chỉ rõ: “Nghĩa của từ trong ngôn ngữ

Trang 33

nào đó là tư tưởng của người nói thứ tiếng ấy của loài người” [dẫn theo 34,

tr.119] A.I Sminrnitckiy cho rằng: “Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của

sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức” [dẫn theo 97, tr.185] Tác giả Hồ

Lê và một số tác giả khác cũng đồng nhất với quan điểm này

Nhóm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ

đối với đối tượng hoặc quan hệ của từ đối với khái niệm hay quan hệ của từ

với từ ) Golovin cho rằng: Nghĩa của từ là "sự thống nhất của sự phản ánh

vỏ vật chất của từ và sự vật tương ứng" [dẫn theo 34, tr.120] P.A Budagov

cũng cho rằng: "có thể gọi nghĩa của từ là mối liên hệ được hình thành về mặt

lịch sử giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hiện tượng " [dẫn

theo 34, tr.120] Kế tục những nhà nghiên cứu đi trước, St Ullman nhấn

mạnh: "Nghĩa của từ là mối liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ - name

và nội dung khái niệm - sense của nó” [dẫn theo 34, tr.120] A.A.

Reformatskij đồng nhất quan điểm này khi ông coi: “Nghĩa, đó là quan hệ

của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [dẫn theo 34, tr.120] Trong Việt ngữ học,

Nguyễn Thiện Giáp cũng nhận định: “Nghĩa của từ là quan hệ của từ với cái

gì đó nằm ngoài bản thân nó” [33, tr.261] Bên cạnh đó, một số tác giả như:

Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến… cùng quan niệm khi

cho rằng: “Nghĩa của từ là những liên hệ” [20, tr.167]

Nhóm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần (nghĩa tồn tại

trong trí não con người và là một hiện tượng tâm lí, tinh thần) Đỗ Hữu Châu

cho rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình

thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ Cái thực thể tinh thần đó hình thành từ một số nhân tố, không đồng nhất với những nhân tố đó nhưng không

có những nhân tố này thì không có nghĩa của từ” [17, tr.98]

Gần đây, Đỗ Việt Hùng trong cuốn “Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ

thống đến hoạt động” cũng khẳng định: “ Nghĩa của từ là toàn bộ nội

Trang 34

dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người

đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [49, tr.38]

Nguyễn Đức Tồn quan niệm: “Nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí,

tinh thần, nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” Cụ thể hơn, “nghĩa của từ là sự hiểu biết cùng với xúc cảm kèm theo xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ…mà từ biểu thị khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy” Do vậy, nghĩa của từ, theo tác giả là

“không thể nhìn thấy, nghe thấy hay động chạm đến được … bằng năm giác

quan Để hiểu và nhận biết được nghĩa của từ, mỗi người chỉ có thể tự cảm nhận trong trí não” [97, tr.186]

Lê Quang Thiêm cũng cho rằng: “Nghĩa của từ là một sản phẩm văn

hóa tinh thần, tâm lí của con người, là thành tố cấu tạo ngôn ngữ và thành tố của văn hóa tinh thần Về bản chất nó là một thực thể tinh thần” [83, tr.61]

Với đề tài: Đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL của sự

vật trong tiếng Việt, chúng tôi tán thành nhóm quan niệm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần Đó là sự hiểu biết của con người về những sự

vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ mà từ biểu thị Do vậy, nghĩacủa từ luôn chịu sự chi phối của người sử dụng ngôn ngữ Cùng một từ có thể

có nhiều cách giải thích khác nhau tùy thuộc vào trình độ của người giảithích, khả năng nhận thức của người tiếp nhận và cả yếu tố lịch sử, văn hóa

b Các thành phần nghĩa của từ

Từ không chỉ có chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng hay biểu thị kháiniệm Trong thành phần ngữ nghĩa, từ còn có chức năng biểu thị thái độ, tìnhcảm của con người đối với hiện thực Ngoài ra, khi được dùng để đặt câu, từcòn có chức năng biểu thị quan hệ ngữ pháp, tức là chức năng ngữ pháp Do

Trang 35

vậy, khi nói đến ý nghĩa của từ, chúng ta cần phải hiểu đó là một tập hợpnhững thành phần nghĩa sau: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểuthái và ý nghĩa ngữ pháp.

Ý nghĩa biểu vật của từ là “sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực

tế vào ngôn ngữ” [18, tr.108] Nói cách khác, đây là thành phần nghĩa gọi tên

sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Ý nghĩa này phản ánh bản thâncác sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất…của chúng Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vậthay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vậthay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện

tượng cùng loại Ví dụ, từ “tủ” trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi loại tủ

có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là tủ gỗ, tủ sắt, tủ nhựa, tủ vải,

tủ hai buồng, tủ ba buồng… Như vậy, từ tủ đã được khái quát hóa và đưa vào

ngôn ngữ, ứng được với tất cả những cái tủ cụ thể, gợi lên trong tâm lý người

sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái tủ mà họ muốn nói tới Có thể thấyrằng, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nótồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trùngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vàotrong ngôn ngữ

Ý nghĩa biểu niệm của từ là “tập hợp của một số nét nghĩa chung và

riêng, khái quát và cụ thể theo theo một tổ chức, một trật tự nhất định”

[18, tr.118] Nó phản ánh mối quan hệ giữa từ với khái niệm nhưng khôngđồng nhất với khái niệm Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chứcnăng biểu thị khái niệm của từ Đó là kết quả của quá trình tìm hiểu và kháiquát hóa nhằm rút ra những thuộc tính quan trọng của sự vật, hiện tượng –tức là những thuộc tính cần và đủ để có thể phân biệt sự vật, hiện tượng

này với sự vật, hiện tượng khác Ví dụ: Ý nghĩa biểu niệm của từ “ ghế” là:

(đồ dùng) (có mặt phẳng được đặt cách mặt nền một khoảng lớn bởi các

Trang 36

chân) (bằng nguyên liệu rắn) (dùng để ngồi).

Ý nghĩa biểu thái của từ là “phần nghĩa của từ liên quan đến thái độ,

cảm xúc, cách đánh giá” [49, tr.67] Nói một cách khác, ý nghĩa biểu thái của

từ là sự phản ánh tình cảm, cảm xúc, thái độ, sự đánh giá mà từ gợi ra chongười đọc Có thể nói, ý nghĩa biểu thái của từ phản ánh mối quan hệ giữa từvới người sử dụng ngôn ngữ

Ví dụ, các tính từ chỉ mùi vị (thơm, thơm phức, ngọt, ngọt lịm…) thường

biểu thị đánh giá tích cực, tạo cảm giác dễ chịu… Ý nghĩa biểu thái có vaitrò quan trọng trong việc hướng dẫn cách dùng từ cho phù hợp với bối cảnhngôn ngữ, cộng đồng văn hóa Hiểu được ý nghĩa biểu thái sẽ giúp chúng talựa chọn chính xác các từ trong những trường hợp từ gần nghĩa, đồng nghĩa,nhiều nghĩa… Trong tiếng Việt có rất nhiều các phương tiện từ ngữ biểu

hiện ý nghĩa biểu thái Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân

tích cú pháp” đã liệt kê ra “12 nhóm chính biểu thị tình thái, không chỉ là các tình thái từ mà các hư từ cũng biểu thị ý nghĩa tình thái” [45, tr.140].

Ý nghĩa ngữ pháp của từ là “những ý nghĩa khái quát, chung cho nhiều

từ cùng loại” [18, tr.119] Nó liên quan đến khả năng kết hợp của từ với

những từ khác Ví dụ: Ý nghĩa ngữ pháp của động từ tiếng Việt là: “chỉ hoạt

động, trạng thái” (trạng thái vật lí, tâm lí, sinh lí) của sự vật Đây là ý nghĩa

khái quát bao trùm lên tất cả các động từ nói chung

Tóm lại, bốn thành phần nghĩa trên của từ là những ý nghĩa của từ trong

hệ thống - vốn có tính ổn định, lập thành nghĩa hạt nhân của từ Còn tronghoạt động hành chức, từ luôn gây ra những ý nghĩa khác, không có tính ổnđịnh là nghĩa liên hội Loại ý nghĩa này phát sinh do thói quen sử dụng củacộng đồng, gắn với những liên tưởng của cá nhân, của nhóm người nên phảnánh khá rõ đặc điểm nhận thức của cá nhân, cộng đồng đó Trong luận án này,

Trang 37

đối tượng khảo sát là nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt nên nhữngđặc điểm trong ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái đặc biệt là ý nghĩa biểuvật và ý nghĩa ngữ pháp của chúng sẽ được quan tâm, chú ý đến.

c Hiện tượng nhiều nghĩa và chuyển nghĩa của từ

* Hiện tượng nhiều nghĩa (đa nghĩa) của từ là hiện tượng có tính chấtphổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đặc biệt là trong tiếng Việt vàcác thứ tiếng cùng loại hình Đây là hiện tượng ngữ nghĩa trong đó một từ(một vỏ ngữ âm) có chứa từ hai nghĩa trở lên và mỗi nghĩa tương ứng với mộthoặc một số sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Trong một từ nhiềunghĩa, các nghĩa khác nhau có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ giữa cácnghĩa này lập thành một hệ thống ngữ nghĩa chi phối bởi các nét nghĩa cơ sở.Hiện tượng nhiều nghĩa của từ là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn vốn

có của hệ thống ngôn ngữ Đó là mâu thuẫn giữa tính hữu hạn của các đơn vịngôn ngữ (nói chính xác là các vỏ ngữ âm) với tính vô hạn của thực tế kháchquan phải biểu thị

Do ngôn ngữ có tính đa trị (tức một cái biểu đạt có thể có nhiều cáiđược biểu đạt, một hình thức âm thanh có thể có nhiều nội dung ý nghĩa)nên trong ngôn ngữ nảy sinh những hiện tượng nhiều nghĩa và hiện tượngđồng âm Sự phân biệt giữa hai hiện tượng này là sự phân biệt giữa hiệntượng xảy ra trong nội bộ một từ với hiện tượng xảy ra giữa các từ khác

nhau "Hiện tượng nhiều nghĩa là hiện tượng một từ có nhiều nghĩa; còn

hiện tượng đồng âm là hiện tượng các từ khác nhau có hình thức âm thanh trùng nhau một cách ngẫu nhiên" [49, tr.78] Tuy thế, tính nhiều nghĩa của

một từ chỉ là khả năng khi từ chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp Còntrong hoạt động hành chức, tùy thuộc vào ngữ cảnh mà chỉ một nghĩa trong

số các nghĩa của từ được hiện thực hóa, nghĩa đó có sự tương hợp với nghĩa

Trang 38

các từ ngữ khác trong ngữ cảnh Đây cũng là căn cứ để xác định TTCĐĐVLcủa sự vật là các từ nhiều nghĩa

Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra cả với nghĩa biểu vật, nghĩa biểu

niệm và nghĩa biểu thái Chẳng hạn, từ chạy trong tiếng Việt có 14 nghĩa biểu vật” [18, tr.132], từ đi có 4 nghĩa biểu niệm [18, tr.136] Do đó, nói đến hiện

tượng nhiều nghĩa, có thể phân biệt các trường hợp như: Nhiều nghĩa do sựbiến đổi về ý nghĩa biểu vật Đây là trường hợp thay đổi mối quan hệ giữa từngữ âm với sự vật hay hiện tượng Nhiều nghĩa do sự biến đổi về ý nghĩa biểuniệm Đây là trường hợp làm thay đổi mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của từvới nội dung khái niệm mà từ biểu thị Và nhiều nghĩa do sự biến đổi về ýnghĩa biểu thái Đây là trường hợp có sự thay đổi về sắc thái biểu cảm của từ

* Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Hiện tượng nhiều nghĩa của từ là kết quả của hiện tượng chuyển nghĩacủa từ Đây là một trong những nội dung cơ bản của ngôn ngữ học truyền

thống (từ vựng học và ngữ nghĩa học) Chuyển nghĩa là “chuyển sang một

nghĩa mới, ít nhiều vẫn còn mối quan hệ với nghĩa trước” [67, tr.182]

Theo Đỗ Hữu Châu, từ lúc mới xuất hiện chỉ có một nét nghĩa biểu vật.Sau một thời gian sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Cácnghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng

có khả năng biến đổi Việc một nghĩa của từ được hình thành dựa trên mộtnghĩa đã có của từ đó được gọi là sự chuyển nghĩa của từ Các nhà ngôn ngữhọc từ lâu đã phát hiện ra hiện tượng chuyển nghĩa của từ, thừa nhận trongquá trình phát triển ngữ nghĩa, các nghĩa cũ và nghĩa mới của từ có mối quan

hệ với nhau theo cách nào đó Các nghĩa mới (nghĩa phái sinh) thường đượcnảy sinh trên cơ sở một hay vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của

từ, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa, lại có khi cả nghĩa gốc vànghĩa chuyển cùng tồn tại cùng hoạt động song nghĩa gốc của từ ngày càng

Trang 39

mờ nhạt, dần dần trở thành nghĩa phụ trong khi một vài nghĩa chuyển nào đólại được dùng thường xuyên và phổ biến hơn trở thành nghĩa chính của từ Quátrình phát triển ngữ nghĩa của từ còn được quan niệm là cách định danh giántiếp Đó là quá trình lan tỏa về mặt ý nghĩa của từ xuất phát từ sự biểu vật đầutiên của tên gọi (tức là nghĩa gốc, nghĩa định danh trực tiếp) Vì vậy, việc xácđịnh nghĩa gốc và nghĩa chuyển có ý nghĩa quan trọng bởi các nét nghĩa trongnghĩa gốc là căn cứ quan trọng làm cơ sở để tập hợp các nghĩa chuyển và xácđịnh các hướng chuyển nghĩa của từ

Việc chuyển nghĩa của từ luôn được thực hiện qua phương thức chuyểnnghĩa Có nhiều tiêu chí để phân loại các phương thức chuyển nghĩa nhưngquan điểm phổ biến nhất là phân loại dựa vào các quy luật phát triển nghĩacủa từ trong quá trình sử dụng Theo Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu, sựphát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức chuyển nghĩa: ẩn dụ

và hoán dụ Đây là hai phương thức chuyển nghĩa quan trọng trong phát triểnnghĩa từ vựng của từ

Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ được Đỗ Hữu Châu chỉ rõ “là phương

thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị), nếu như x và y giống nhau” [18, tr.155] Như vậy, bản chất của ẩn dụ là hiện tượng chuyển đổi tên

gọi, lấy tên của một đối tượng này để gọi một đối tượng kia, dựa vào điểmtương đồng giữa chúng Còn phương thức chuyển nghĩa hoán dụ được Đỗ

Hữu Châu chỉ rõ hơn trong sự so sánh với ẩn dụ Tác giả cho rằng: “Hoán

dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế.” [18, tr.55] Với quan niệm này, hoán dụ và ẩn dụ vừa có sự

tương đồng vừa có sự khác biệt Trong ẩn dụ, các sự vật được gọi tên không

có liên hệ khách quan, khác nhau về phạm trù Còn trong hoán dụ, các sự vậtngược lại có mối liên hệ đi đôi với nhau có thể cùng phạm trù hoặc khácphạm trù, không phụ thuộc vào nhận thức của con người nên có tính khách

Trang 40

quan hơn ẩn dụ Có thể nói, hoán dụ là hiện tượng chuyển đổi tên gọi, lấytên gọi của một đối tượng này để gọi một đối tượng kia, dựa trên quan hệ

tương cận giữa chúng Ví dụ, khi ta nói: “Anh ấy hút thuốc lá Hoàn Kiếm” thì “thuốc lá Hoàn Kiếm” là hoán dụ lấy tên riêng (Hoàn Kiếm) dùng thay cho tên gọi của loại để chỉ “thuốc lá”

1.2.1.2 Một số khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ

a Ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm

* Ý niệm (Concept) là đối tượng nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ

học tri nhận Trần Văn Cơ cho rằng: “Ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí

của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis),của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm trí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng từ” của tri thức” [23,

tr.139] Theo cách hiểu này, ý niệm là kết quả, là sản phẩm của hoạt động trinhận của con người về thế giới xung quanh cũng như chính bản thân mìnhqua tương tác với thế giới Ý niệm có thể được biểu hiện bằng ngôn từ cũng

có thể không Nó không hình thành riêng lẻ mà trên cơ sở một nền tảng, ýniệm được làm nổi bật trở thành tiêu điểm tri nhận: nền đó là vùng tri nhận

* Ý niệm hóa (Conceptualization) cũng là một trong những luận thuyết

cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Nếu ý niệm là sản phẩm của hoạt động trinhận của con người thì ý niệm hóa có thể được hiểu chính là hoạt động trinhận để hình thành nên những ý niệm Ý niệm hóa vì thế bao gồm nhiều quátrình tinh thần khác nhau Tuy nhiên, các quá trình ấy đều phải bắt đầu từ việctổng hợp những kết quả thu nhận được bởi tri giác cảm tính thông qua các cơquan cảm giác của con người

Ngày đăng: 14/04/2021, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Lan Anh (2006), Sự tình quan hệ và câu quan hệ tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tình quan hệ và câu quan hệ tiếng Việt
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Năm: 2006
2. Lê Thị Lan Anh (2014), “Đặc điểm kết trị của nhóm vị từ quan hệ vị trí thuộc tính trong tiếng Việt”, Từ điển học và bách khoa thư, (5), tr. 101- 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm kết trị của nhóm vị từ quan hệ vị trí thuộctính trong tiếng Việt”, "Từ điển học và bách khoa thư
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Năm: 2014
3. Lê Thị Lan Anh (2014), Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng, Nxb. Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữpháp chức năng
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2014
4. Lê Thị Lan Anh (2014), “Từ trăng trong thơ Hàn Mặc Tử: nhìn từ lý thuyết kết trị,”, Ngôn ngữ và đời sống, (9), tr. 64- 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trăng trong thơ Hàn Mặc Tử: nhìn từ lý thuyếtkết trị,”, "Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Lê Thị Lan Anh
Năm: 2014
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 1999
6. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Tập 1, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
10. Diệp Quang Ban (2013), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
11. Lê Biên (1993), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb. Trường Đại học Sư phạm HàNội I
Năm: 1993
12. Lê Xuân Bình (2009), Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ kích thước” (Trên ngữ liệu tiếng Nga – tiếng Việt), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ kíchthước”
Tác giả: Lê Xuân Bình
Năm: 2009
13. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép" – "Đoảnngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
14. Wallace L. Chafe (1998), Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả: Wallace L. Chafe
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
15. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Khoahọc xã hội
Năm: 1986
16. Đỗ Hữu Châu (1992), “Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay”, Ngôn ngữ (1), tr. 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng họchiện nay"”, Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1992
17. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
18. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
19. Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội (sách tái bản 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2: Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2010
20. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (2007), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sởngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
21. Mai Ngọc Chừ - Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán (2011), Nhập môn Ngôn ngữ học, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
22. Trần Ái Chin (2014), Nhóm tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt: đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt: đặc điểmngữ nghĩa và kết trị
Tác giả: Trần Ái Chin
Năm: 2014
23. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), Nxb.Khoa học và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb.Khoa học và Xã hội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w