Trong Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội UBKHXH 1983, các tác giả xem những đơn vị: một, hai, ba, mười, một trăm…những, vài, các, mấy, tất cả, số đông, phần lớn… là những dan
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
a) Việc nghiên cứu các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt
Khái niệm "lượng" có nhiều nghĩa, bao gồm số lượng, thời gian, và khối lượng Trong luận văn, thuật ngữ này chủ yếu được hiểu là số lượng, có thể là nhiều, ít, chính xác hoặc ước chừng.
Nghiên cứu về các đơn vị biểu thị số lượng trong tiếng Việt đã được nhiều tác giả đề cập Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, các tác giả lựa chọn cách tiếp cận và trình bày những đơn vị này theo nhiều cách khác nhau Ví dụ, Trần Thị Quỳnh Lê đã nghiên cứu các từ biểu thị số lượng dựa trên tính biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao của cả tiếng Việt và tiếng Anh.
Các đơn vị biểu thị lượng trong ngữ pháp rất đa dạng và đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo và Nguyễn Phú Phong gọi chúng là lượng từ Trong khi đó, Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim lại xem các đơn vị này là lượng số chỉ định tự Ngoài ra, Diệp Quang Ban, Lê Biên và Nguyễn Hữu Quỳnh phân chia các đơn vị biểu thị lượng thành danh từ chỉ đơn vị và số từ.
Lê Văn Lý phân loại từ vựng tiếng Việt thành các loại như: loại A (danh từ), loại B (động từ), loại B’ (tính từ), loại C1 (ngôi từ), loại C2 (số từ), và loại C3 (phụ từ) Đối với loại C2, ông cho rằng những từ có thể kết hợp với độ, chừng, ngót là từ ngữ chỉ số lượng Mặc dù không gọi các đơn vị biểu thị lượng là lượng từ hay danh từ chỉ đơn vị, tác giả vẫn đề cập đến hạng mục số, chia thành ngữ vị chỉ số nhiều và ngữ vị chỉ tập hợp Các ngữ vị chỉ số nhiều bao gồm: những, mấy, lắm, nhiều, trong khi ngữ vị chỉ tập hợp gồm có: đông, đầy, các, mọi, cả.
Tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đã định nghĩa số và lượng, trong đó số được chia thành số đơn như một và số phức từ hai trở lên, ví dụ như hai mươi sáu Lượng được xác định qua các giá trị cụ thể như một, hai, chín, mười, trăm, nghìn, v.v
Lượng từ trong tiếng Việt bao gồm nhiều loại như lượng từ đơn vị (chiếc, đôi, cặp, chục, tá, đội, đám, đàn, lũ, nải, chùm, tràng) và lượng từ phỏng chừng (vài, dăm, mấy, mươi) Ngoài ra, còn có lượng từ bất định như nhiều, lắm, bao nhiêu, rất nhiều, số nhiều, đa số, và một ít Hai ông cũng đề cập đến lượng từ trỏ toàn thể như cả, tất, hết, suốt, khắp, và lượng từ trỏ phần đều nhau của một toàn thể như từng, từng…một.
Các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1973) đã xác định các đơn vị như mấy, ít, vài, dăm, vài ba, dăm bảy, mươi lăm để chỉ lượng số nhỏ và thể hiện sự ước lượng không chính xác.
Trọng Kim đề cập đến lượng số chỉ định tự, bao gồm các tiếng chỉ từ số một đến số mười và các từ như tá, chục, trăm, nghìn, vạn, muôn, mớ Các tiếng lượng số chỉ định tự ghép như mười một, mười hai, hăm ba, hăm bốn cũng được nhắc đến Ngoài ra, những từ như mọi, cả, hết, tất cả, hết thảy được sử dụng để chỉ toàn số Để chỉ lượng số nhỏ, ước lượng hoặc không xác định, có các tiếng như mấy, vài, dăm, mươi, ít.
Bùi Đức Tịnh (1996) phân loại lượng số chỉ định thành ba nhóm chính: số đếm như một, hai, ba, bốn, v.v.; từ chỉ lượng nhiều hay ít như mỗi, từng, tất cả, nhiều, những, các, v.v.; và từ chỉ phân số như hai phần ba, ba phần tư cùng với các từ chỉ bội số như gấp, xấp.
Nguyễn Quang Oánh, Bùi Kỷ, và Trần Trọng Kim định nghĩa rằng lượng số chỉ định tự là từ ngữ được sử dụng trước danh từ để chỉ số lượng, bao gồm cả số nhiều và số đếm cụ thể Theo các tác giả, lượng số chỉ định tự không chỉ biểu thị số đếm từ một trở lên mà còn phản ánh khái niệm về số nhiều hay số ít (Nguồn: Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý, tr 252)
Theo Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội (1983), các đơn vị như một, hai, ba, mười, một trăm, cùng với những từ như những, vài, các, mấy, tất cả, số đông, phần lớn được xem là danh từ số lượng Tuy nhiên, ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của chúng khác biệt so với các tiểu loại danh từ khác, vì chúng thường chỉ đóng vai trò phụ tố và không được sử dụng làm chính tố như các tiểu loại danh từ khác.
Nguyễn Thiện Giáp (2011) phân loại từ chỉ lượng thành hai nhóm: từ chỉ lượng xác định như một, hai, ba, bốn, năm, và từ chỉ lượng không xác định như mấy, mỗi, từng, mọi, cả, tất.
Danh từ đơn vị, còn được gọi là loại từ, tiền danh từ hoặc phó danh từ, đóng vai trò quan trọng trong việc biểu thị lượng Nhiều tác giả đã nghiên cứu về chủ đề này, trong đó có Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Hai và Lê Ni Na Đặc biệt, Cao Xuân Hạo đã trình bày chi tiết và cung cấp một danh sách phong phú các danh từ chỉ đơn vị trong tiếng Việt.
Ngoài số từ và danh từ đơn vị, các đại từ và phụ từ (được gọi là quán từ) thể hiện số lượng cũng được đề cập trong sách ngữ pháp và các bài viết của nhiều tác giả như Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Đào Thản, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Thanh Phong, Võ Thanh Hương, và Nguyễn Vân Phổ.
Các nhà Việt ngữ học đã chỉ ra rằng có nhiều đơn vị liên quan đến lượng và số trong tiếng Việt Một số tác giả như Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, và Nguyễn Phú Phong gọi các đơn vị này là lượng từ, nhưng luận văn này không sử dụng thuật ngữ đó do sự đa dạng về từ loại trong tiếng Việt Hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng số từ là đơn vị chính để biểu thị số lượng, bên cạnh đó, danh từ đơn vị, đại từ, và tính từ cũng có khả năng biểu thị lượng Các đơn vị này có thể là từ độc lập hoặc là tổ hợp nhiều từ (cụm từ) Việc nghiên cứu các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh cũng là một lĩnh vực quan trọng.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là khảo sát các đơn vị biểu thị về lượng, chủ yếu là số lượng, trong tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung vào vai trò và vị trí của chúng trong các kết cấu danh ngữ Luận văn tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị này, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn đơn vị biểu thị lượng trong hai ngôn ngữ khác nhau Cuối cùng, luận văn chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị biểu thị về lượng, chủ yếu là số lượng, trong danh ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Nghiên cứu tập trung vào các đơn vị và yếu tố biểu thị số lượng từ góc độ ngữ nghĩa – ngữ pháp, đặc biệt là sự biến đổi ngữ âm khi danh từ chuyển từ số ít sang số nhiều.
(đối với tiếng Anh) và các trường hợp nghĩa biểu trưng, ẩn dụ trong đời sống hay trong thơ ca sẽ không được trình bày
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị số lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.
5 Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận tài liệu
Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này luận văn dùng phương pháp miêu tả, thủ pháp liệt kê và phương pháp so sánh đối chiếu
Luận văn tập trung vào việc quan sát và miêu tả các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng, chủ yếu liên quan đến số lượng trong danh ngữ của tiếng Việt và tiếng Anh.
Thủ pháp liệt kê được áp dụng để thu thập và phân loại các đơn vị, yếu tố biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, thông qua việc nghiên cứu các tác phẩm văn học và từ điển.
Phương pháp so sánh đối chiếu cho phép chúng ta quan sát và phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị biểu thị lượng trong hai ngôn ngữ.
Hướng tiếp cận tài liệu trong nghiên cứu ngôn ngữ học bao gồm việc thu thập và tìm hiểu các khái niệm liên quan đến đề tài thông qua sách, báo, tạp chí và các bài viết Đồng thời, cần thu thập dẫn chứng từ các công trình nghiên cứu trước đó và ngữ liệu từ các tác phẩm văn học cũng như từ điển để làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài này làm phong phú thêm nguồn tư liệu về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng các đơn vị này giữa hai ngôn ngữ.
Nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của yếu tố biểu thị số lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng như trong công tác dịch thuật giữa hai ngôn ngữ này.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Trong chương 1, luận văn giới thiệu khái quát về cách biểu thị lượng trong hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Tiếp theo, luận văn phân tích các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, cùng với vị trí của chúng trong danh ngữ.
Chương 2: Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt
Chương 2 tập trung vào việc phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong danh ngữ tiếng Việt, cùng với một số đơn vị biểu thị lượng khác.
Chương 3: Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh, cùng với những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị này trong tiếng Việt và tiếng Anh, sẽ được phân tích chi tiết Nội dung sẽ tập trung vào cách mà các đơn vị lượng được sử dụng trong hai ngôn ngữ, từ đó làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt và hiểu biết về lượng.
Chương 3 phân tích đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Anh Dựa trên những đặc điểm này, luận văn so sánh và đối chiếu với tiếng Việt, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong ngôn ngữ
1.1.1 Một số vấn đề liên quan đến loại hình ngôn ngữ
Tiếng Việt và tiếng Anh là hai loại hình ngôn ngữ khác nhau, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt trong đặc điểm ngôn ngữ của chúng Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu so sánh tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, đóng góp quan trọng cho lĩnh vực Ngôn ngữ học.
So sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Việt – Anh không chỉ làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho việc học tập và nghiên cứu, mà còn giúp rút ra những đặc điểm ngôn ngữ hỗ trợ giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật Luận văn khảo sát những nét tương đồng và khác biệt về lượng giữa hai ngôn ngữ, tập trung vào khía cạnh ngữ nghĩa và ngữ pháp, mà không đi sâu vào ngữ âm Mặc dù nhiều tác giả đã trình bày sự khác biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ này, luận văn vẫn cần khái quát để làm nổi bật điểm khác biệt liên quan đến số lượng giữa chúng.
1.1.1.1 Đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt