1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ nghĩa ngữ pháp của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)

129 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngữ nghĩa – ngữ pháp của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)
Tác giả Nguyễn Thị Diễm Chi
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Bá Lân
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (9)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (14)
  • 4. Đối tượng nghiên cứu (0)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận tài liệu (15)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (15)
  • 7. Bố cục luận văn (0)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (16)
    • 1.1. Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong ngôn ngữ (17)
      • 1.1.1. Một số vấn đề liên quan đến loại hình ngôn ngữ (17)
      • 1.1.2. Khái niệm về lượng và vấn đề phạm trù số (19)
      • 1.1.3. Các đơn vị biểu thị về lượng và khả năng hoạt động của chúng (22)
    • 1.2. Các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh (32)
      • 1.2.1. Các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt (32)
      • 1.2.2. Các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh (41)
    • 1.3. Tiểu kết (44)
  • CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT (16)
    • 2.1. Đại từ biểu thị về lượng trong tiếng Việt (46)
      • 2.1.1. Nhóm đại từ biểu thị số lượng toàn bộ (46)
      • 2.1.2. Nhóm đại từ nghi vấn về lượng (47)
    • 2.2. Phụ từ biểu thị về lượng trong tiếng Việt (50)
      • 2.2.1. Nhóm phụ từ biểu thị số lượng nhiều (50)
      • 2.2.2. Nhóm phụ từ biểu thị số lượng ít (55)
    • 2.3. Số từ (58)
      • 2.3.1. Số từ chính xác (58)
      • 2.3.2. Số từ ước chừng (60)
    • 2.4. Danh từ đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt (62)
      • 2.4.1. Danh từ đơn vị quy ước chính xác và ước chừng (0)
      • 2.4.2. Danh từ đơn vị chỉ đơn thể và tập hợp (64)
    • 2.5. Các đơn vị biểu thị về lượng khác trong tiếng Việt (67)
      • 2.5.1. Tính từ biểu thị về lượng (67)
      • 2.5.2. Dạng láy biểu thị về lượng (70)
      • 2.5.3. Các trường hợp biểu thị về lượng khác (0)
    • 2.6. Tiểu kết (76)
  • CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG ANH; NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH (16)
    • 3.1. Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh (80)
      • 3.1.1. Lượng từ trong tiếng Anh (0)
      • 3.1.2. Cụm danh từ biểu thị về lượng trong tiếng Anh (99)
      • 3.1.3. Các hình thức biểu thị về lượng khác trong tiếng Anh (103)
    • 3.2. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị biểu thị về lượng (108)
      • 3.2.1. Những điểm tương đồng (108)
      • 3.2.2. Những điểm khác biệt (114)
    • 3.3. Tiểu kết (120)
  • KẾT LUẬN (122)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (125)

Nội dung

Trong Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội UBKHXH 1983, các tác giả xem những đơn vị: một, hai, ba, mười, một trăm…những, vài, các, mấy, tất cả, số đông, phần lớn… là những dan

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

a) Việc nghiên cứu các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt

Khái niệm "lượng" có nhiều nghĩa, bao gồm số lượng, thời gian, và khối lượng Trong luận văn, thuật ngữ này chủ yếu được hiểu là số lượng, có thể là nhiều, ít, chính xác hoặc ước chừng.

Nghiên cứu về các đơn vị biểu thị số lượng trong tiếng Việt đã được nhiều tác giả đề cập Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, các tác giả lựa chọn cách tiếp cận và trình bày những đơn vị này theo nhiều cách khác nhau Ví dụ, Trần Thị Quỳnh Lê đã nghiên cứu các từ biểu thị số lượng dựa trên tính biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao của cả tiếng Việt và tiếng Anh.

Các đơn vị biểu thị lượng trong ngữ pháp rất đa dạng và đã được nhiều tác giả nghiên cứu Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo và Nguyễn Phú Phong gọi chúng là lượng từ Trong khi đó, Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim lại xem các đơn vị này là lượng số chỉ định tự Ngoài ra, Diệp Quang Ban, Lê Biên và Nguyễn Hữu Quỳnh phân chia các đơn vị biểu thị lượng thành danh từ chỉ đơn vị và số từ.

Lê Văn Lý phân loại từ vựng tiếng Việt thành các loại như: loại A (danh từ), loại B (động từ), loại B’ (tính từ), loại C1 (ngôi từ), loại C2 (số từ), và loại C3 (phụ từ) Đối với loại C2, ông cho rằng những từ có thể kết hợp với độ, chừng, ngót là từ ngữ chỉ số lượng Mặc dù không gọi các đơn vị biểu thị lượng là lượng từ hay danh từ chỉ đơn vị, tác giả vẫn đề cập đến hạng mục số, chia thành ngữ vị chỉ số nhiều và ngữ vị chỉ tập hợp Các ngữ vị chỉ số nhiều bao gồm: những, mấy, lắm, nhiều, trong khi ngữ vị chỉ tập hợp gồm có: đông, đầy, các, mọi, cả.

Tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) đã định nghĩa số và lượng, trong đó số được chia thành số đơn như một và số phức từ hai trở lên, ví dụ như hai mươi sáu Lượng được xác định qua các giá trị cụ thể như một, hai, chín, mười, trăm, nghìn, v.v

Lượng từ trong tiếng Việt bao gồm nhiều loại như lượng từ đơn vị (chiếc, đôi, cặp, chục, tá, đội, đám, đàn, lũ, nải, chùm, tràng) và lượng từ phỏng chừng (vài, dăm, mấy, mươi) Ngoài ra, còn có lượng từ bất định như nhiều, lắm, bao nhiêu, rất nhiều, số nhiều, đa số, và một ít Hai ông cũng đề cập đến lượng từ trỏ toàn thể như cả, tất, hết, suốt, khắp, và lượng từ trỏ phần đều nhau của một toàn thể như từng, từng…một.

Các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1973) đã xác định các đơn vị như mấy, ít, vài, dăm, vài ba, dăm bảy, mươi lăm để chỉ lượng số nhỏ và thể hiện sự ước lượng không chính xác.

Trọng Kim đề cập đến lượng số chỉ định tự, bao gồm các tiếng chỉ từ số một đến số mười và các từ như tá, chục, trăm, nghìn, vạn, muôn, mớ Các tiếng lượng số chỉ định tự ghép như mười một, mười hai, hăm ba, hăm bốn cũng được nhắc đến Ngoài ra, những từ như mọi, cả, hết, tất cả, hết thảy được sử dụng để chỉ toàn số Để chỉ lượng số nhỏ, ước lượng hoặc không xác định, có các tiếng như mấy, vài, dăm, mươi, ít.

Bùi Đức Tịnh (1996) phân loại lượng số chỉ định thành ba nhóm chính: số đếm như một, hai, ba, bốn, v.v.; từ chỉ lượng nhiều hay ít như mỗi, từng, tất cả, nhiều, những, các, v.v.; và từ chỉ phân số như hai phần ba, ba phần tư cùng với các từ chỉ bội số như gấp, xấp.

Nguyễn Quang Oánh, Bùi Kỷ, và Trần Trọng Kim định nghĩa rằng lượng số chỉ định tự là từ ngữ được sử dụng trước danh từ để chỉ số lượng, bao gồm cả số nhiều và số đếm cụ thể Theo các tác giả, lượng số chỉ định tự không chỉ biểu thị số đếm từ một trở lên mà còn phản ánh khái niệm về số nhiều hay số ít (Nguồn: Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý, tr 252)

Theo Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học xã hội (1983), các đơn vị như một, hai, ba, mười, một trăm, cùng với những từ như những, vài, các, mấy, tất cả, số đông, phần lớn được xem là danh từ số lượng Tuy nhiên, ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của chúng khác biệt so với các tiểu loại danh từ khác, vì chúng thường chỉ đóng vai trò phụ tố và không được sử dụng làm chính tố như các tiểu loại danh từ khác.

Nguyễn Thiện Giáp (2011) phân loại từ chỉ lượng thành hai nhóm: từ chỉ lượng xác định như một, hai, ba, bốn, năm, và từ chỉ lượng không xác định như mấy, mỗi, từng, mọi, cả, tất.

Danh từ đơn vị, còn được gọi là loại từ, tiền danh từ hoặc phó danh từ, đóng vai trò quan trọng trong việc biểu thị lượng Nhiều tác giả đã nghiên cứu về chủ đề này, trong đó có Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Hai và Lê Ni Na Đặc biệt, Cao Xuân Hạo đã trình bày chi tiết và cung cấp một danh sách phong phú các danh từ chỉ đơn vị trong tiếng Việt.

Ngoài số từ và danh từ đơn vị, các đại từ và phụ từ (được gọi là quán từ) thể hiện số lượng cũng được đề cập trong sách ngữ pháp và các bài viết của nhiều tác giả như Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Đào Thản, Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Thanh Phong, Võ Thanh Hương, và Nguyễn Vân Phổ.

Các nhà Việt ngữ học đã chỉ ra rằng có nhiều đơn vị liên quan đến lượng và số trong tiếng Việt Một số tác giả như Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, và Nguyễn Phú Phong gọi các đơn vị này là lượng từ, nhưng luận văn này không sử dụng thuật ngữ đó do sự đa dạng về từ loại trong tiếng Việt Hầu hết các tác giả đều đồng ý rằng số từ là đơn vị chính để biểu thị số lượng, bên cạnh đó, danh từ đơn vị, đại từ, và tính từ cũng có khả năng biểu thị lượng Các đơn vị này có thể là từ độc lập hoặc là tổ hợp nhiều từ (cụm từ) Việc nghiên cứu các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh cũng là một lĩnh vực quan trọng.

Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là khảo sát các đơn vị biểu thị về lượng, chủ yếu là số lượng, trong tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung vào vai trò và vị trí của chúng trong các kết cấu danh ngữ Luận văn tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị này, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn đơn vị biểu thị lượng trong hai ngôn ngữ khác nhau Cuối cùng, luận văn chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các đơn vị biểu thị về lượng, chủ yếu là số lượng, trong danh ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Nghiên cứu tập trung vào các đơn vị và yếu tố biểu thị số lượng từ góc độ ngữ nghĩa – ngữ pháp, đặc biệt là sự biến đổi ngữ âm khi danh từ chuyển từ số ít sang số nhiều.

(đối với tiếng Anh) và các trường hợp nghĩa biểu trưng, ẩn dụ trong đời sống hay trong thơ ca sẽ không được trình bày

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị số lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.

5 Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận tài liệu

Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này luận văn dùng phương pháp miêu tả, thủ pháp liệt kê và phương pháp so sánh đối chiếu

Luận văn tập trung vào việc quan sát và miêu tả các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng, chủ yếu liên quan đến số lượng trong danh ngữ của tiếng Việt và tiếng Anh.

Thủ pháp liệt kê được áp dụng để thu thập và phân loại các đơn vị, yếu tố biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, thông qua việc nghiên cứu các tác phẩm văn học và từ điển.

Phương pháp so sánh đối chiếu cho phép chúng ta quan sát và phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị biểu thị lượng trong hai ngôn ngữ.

Hướng tiếp cận tài liệu trong nghiên cứu ngôn ngữ học bao gồm việc thu thập và tìm hiểu các khái niệm liên quan đến đề tài thông qua sách, báo, tạp chí và các bài viết Đồng thời, cần thu thập dẫn chứng từ các công trình nghiên cứu trước đó và ngữ liệu từ các tác phẩm văn học cũng như từ điển để làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu.

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Đề tài này làm phong phú thêm nguồn tư liệu về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng các đơn vị này giữa hai ngôn ngữ.

Nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của yếu tố biểu thị số lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng như trong công tác dịch thuật giữa hai ngôn ngữ này.

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Trong chương 1, luận văn giới thiệu khái quát về cách biểu thị lượng trong hai loại hình ngôn ngữ khác nhau Tiếp theo, luận văn phân tích các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Việt và tiếng Anh, cùng với vị trí của chúng trong danh ngữ.

Chương 2: Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Việt

Chương 2 tập trung vào việc phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong danh ngữ tiếng Việt, cùng với một số đơn vị biểu thị lượng khác.

Chương 3: Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong tiếng Anh, cùng với những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đơn vị này trong tiếng Việt và tiếng Anh, sẽ được phân tích chi tiết Nội dung sẽ tập trung vào cách mà các đơn vị lượng được sử dụng trong hai ngôn ngữ, từ đó làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt và hiểu biết về lượng.

Chương 3 phân tích đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của các đơn vị biểu thị lượng trong tiếng Anh Dựa trên những đặc điểm này, luận văn so sánh và đối chiếu với tiếng Việt, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Đặc điểm của các đơn vị biểu thị về lượng trong ngôn ngữ

1.1.1 Một số vấn đề liên quan đến loại hình ngôn ngữ

Tiếng Việt và tiếng Anh là hai loại hình ngôn ngữ khác nhau, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt trong đặc điểm ngôn ngữ của chúng Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu so sánh tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, đóng góp quan trọng cho lĩnh vực Ngôn ngữ học.

So sánh đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Việt – Anh không chỉ làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho việc học tập và nghiên cứu, mà còn giúp rút ra những đặc điểm ngôn ngữ hỗ trợ giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật Luận văn khảo sát những nét tương đồng và khác biệt về lượng giữa hai ngôn ngữ, tập trung vào khía cạnh ngữ nghĩa và ngữ pháp, mà không đi sâu vào ngữ âm Mặc dù nhiều tác giả đã trình bày sự khác biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ này, luận văn vẫn cần khái quát để làm nổi bật điểm khác biệt liên quan đến số lượng giữa chúng.

1.1.1.1 Đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG ANH; NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC ĐƠN VỊ BIỂU THỊ VỀ LƯỢNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Ngày đăng: 01/07/2023, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (2013), Ngữ pháp tiếng Việt, (tập 1, 2), NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
2. Lê Biên (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998
3. Bùi Hạnh Cẩn (1997), Từ vựng chữ số và số lượng, NXB. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng chữ số và số lượng
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: NXB. Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
4. Nguyễn Tài Cẩn (1981), Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng – từ ghép – đoản ngữ, NXB. Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội (tái bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng – từ ghép – đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB. Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1981
5. Đỗ Hữu Châu (2005), Từ vựng – ngữ nghĩa, (tập I), NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2005
6. Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Đại học Huế
Năm: 1963
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2013), Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
8. Nguyễn Quốc Dũng (2006), “Về đặc điểm ngữ pháp của cấu trúc “nhiều +D” trong tiếng Việt”, tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, (10), tr. 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc điểm ngữ pháp của cấu trúc “nhiều +D” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Quốc Dũng
Nhà XB: tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Năm: 2006
9. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
10. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
11. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Thiện Giáp (2011), Vấn đề “từ” trong tiếng Việt, NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề “từ” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
13. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết (2012), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Hai (2006), “Về việc dạy danh từ chỉ đơn vị tự nhiên tiếng Việt cho học viên, sinh viên nước ngoài”, tạp chí Khoa học Ngôn ngữ, Đại học Sư phạm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc dạy danh từ chỉ đơn vị tự nhiên tiếng Việt cho học viên, sinh viên nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Thị Hai
Nhà XB: tạp chí Khoa học Ngôn ngữ
Năm: 2006
16. Hoàng Văn Hành – Hoàng Phê – Đào Thản (2002), Sổ tay dùng từ tiếng Việt, NXB. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dùng từ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành, Hoàng Phê, Đào Thản
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2002
17. Cao Xuân Hạo (2006), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt. Ngữ đoạn và từ loại, (quyển II), NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt. Ngữ đoạn và từ loại
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2006
18. Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Hân (2006), Đối chiếu trật tự của các thành tố phụ trong đoản ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH KHXH & NV TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu trật tự của các thành tố phụ trong đoản ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
Tác giả: Nguyễn Hân
Nhà XB: ĐH KHXH & NV TP HCM
Năm: 2006
20. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2008
21. Bùi Mạnh Hùng (2011), “Sự phân biệt về ý nghĩa và cách dùng giữa “một ít” và “một chút””, tạp chí Ngôn ngữ, 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phân biệt về ý nghĩa và cách dùng giữa “một ít” và “một chút”
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm