Đa số giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá, một số ký sinh ở các bộ phận khác như gan, phổi, cơ… Trong cơ thể vật chủ, nhiều loại giun sán ký sinh ở đường ruột nên thức ăn chủ yếu của giun
Trang 1
Giun sán là những động vật đa bào, đa số sống tự do Dựa trên hình dạng và giới tính:
- Giun (Nemathelminths): thân hình ống, đơn tính.
- Sán (Platyhelminth): thân dẹp Sán ký sinh ở người được chia làm hai lớp:+ Sán dải
(Cestoda): dẹp, dài, thân có nhiều đốt, lưỡng tính.
+ Sán lá (Trematoda): Thân dẹp, hình như chiếc lá Gồm hai nhóm:
Sán lá lưỡng tính: Ký sinh ở ruột, gan, phổi.
Sán lá đơn tính: Ký sinh trong tĩnh mạch (sán máng)
2 Tính chất ký sinh của bệnh giun sán 2.1 Ký sinh vĩnh viễn
Giun sán thường ký sinh vĩnh viễn trong cơ thể vật chủ, một số có thể phát triển ở ngoại cảnh như giun lươn Đa số giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá, một số ký sinh ở các bộ phận khác như gan, phổi, cơ…
Trong cơ thể vật chủ, nhiều loại giun sán ký sinh ở đường ruột nên thức ăn chủ yếu của giun sán là dưỡng chấp, một số lấy thức ăn là máu, sinh chất.
4 Đường xâm nhập
Giun sán xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa (giun đũa, giun tóc, giun kim, sán
1 Đại cương
Chương 3 GIUN SÁN ĐẠI CƯƠNG VỀ GIUN SÁN
Trang 2lá gan, sán lá ruột, sán lá phổi, sán dải heo bò, sán dải cá…) Một số khác xâm nhập qua đường da (giun móc, giun lươn) hoặc qua vết đốt của côn trùng (giun chỉ)
5 Đường bài xuất của giun sán ra ngoại cảnh
Tuỳ theo vị trí ký sinh mà mầm bệnh giun sán được bài xuất theo đường thải bỏ thích hợp như: giun sán ký sinh ở ruột, gan được ra ngoài theo phân, giun sán ký sinh ở phổi được ra ngoài theo đờm
6 Sinh sản
Chỉ sau khi thụ tinh trứng giun sán mới có khả năng phát triển Giun sán có nhiều hình thức sinh sản:
- Các loại giun chủ yếu sinh sản đơn tính như giun đũa, giun móc, giun tóc…
- Các loại sán đa số sinh sản lưỡng tính như sán lá, sán dây
- Có thể sinh sản đa phôi hoặc sinh phôi tử
7 Dịch tể học
Nhiễm giun sán rất phổ biến ở nước ta, do có một số điều kiện thuận lợi:
- Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm rất thuận lợi cho sự phát triển của giun sán
- Sự phong phú của động vật và thực vật ở môi trường sống cũng tạo điều kiện thích hợp cho giun sán ký sinh nhiều ký chủ
8 Tác hại của giun sán
Nhiễm giun sán thường không phải là bệnh nguy hiểm nhưng nếu không phát hiện và điều trị sẽ gây suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu sắt đặc biệt là ở trẻ em Khi nhiễm giun sán, sức đề kháng của cơ thể giảm, tạo điều kiện cho một số bệnh khác Tác hại chủ yếu của giun sán ký sinh trên người như sau:
- Chiếm thức ăn hoặc sinh chất của vật chủ: Giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá, lấy thức ăn đã tiêu hoá dở dang của vật chủ và có thể gây suy dinh dưỡng cho vật chủ; một số lấy thức ăn là máu; các loại giun sán ký sinh ở tổ chức lấy thức ăn là sinh chất của cơ thể
- Giun sán có thể gây những biến chứng do chiếm thức ăn tuỳ thuộc vào mật độ
và tuổi thọ của giun sán, tác hại này thường gặp ở trẻ em
Trang 3- Rối loạn tiêu hoá: Những giun sán ký sinh ở đường tiêu hoá thường gây rối loạn tiêu hoá, bệnh nhân đau bụng vùng quanh rốn, chán ăn, tiêu phân lỏng hoặc táo bón
- Gây rối loạn chức phận các cơ quan: Một số giun sán có tỷ lệ mắc thấp như giun chỉ, sán lá gan, sán lá phổi,… có thể gây những rối loạn chức phận các cơ quan dẫn tới hậu quả nặng nề và có thể tử vong
- Gây dị ứng: Một số giun sán gây hiện tượng dị ứng cho cơ thể như giun móc gây mẩn ngứa khi chui qua da, giun đũa gây hội chứng Loeffler khi ấu trùng ở phổi
- Gây độc: Các loại giun sán ký sinh đều gây độc cho cơ thể vật chủ, mức độ gây độc nhiều hay ít tuỳ theo từng loại giun sán như giun móc tiết chất độc ức chế cơ quan tạo máu, nhiễm độc tuỷ xương
- Gây kích thích thần kinh: Một số giun sán kích thích thần kinh như giun kim gây ngứa hậu môn, có thể gây co giật cho trẻ hoặc gây đái dầm
- Gây biến chứng: Tuỳ theo từng loại giun sán mà cơ thể vật chủ có những biến chứng thậm chí gây nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân Những biến chứng nội khoa như thiếu máu nặng, viêm nhiễm đường mật, những biến chứng ngoại khoa như tắc ruột, thủng ruột, viêm ruột thừa do giun
9 Chẩn đoán bệnh giun sán
9.1 Lâm sàng
- Bệnh giun sán thường ít có triệu chứng điển hình biểu hiện trên lâm sang, một
số trường hợp có biến chứng rõ hoặc do tính chất ký sinh như giun kim gây ngứa hậu môn
- Bệnh giun sán thường dễ nhầm với các bệnh khác
9.2 Xét nghiệm
9.2.1 Xét nghiệm trực tiếp
Tuỳ từng loại giun sán mà lấy bệnh phẩm thích hợp như phân, đờm, dịch tá tràng, máu… làm tiêu bản soi trực tiếp dưới kính hiển vi
Trang 4Phương pháp này thường áp dụng cho xét nghiệm phân bằng kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp hoặc kỹ thuật Kato
Phương pháp xét nghiệm phong phú thường được áp dụng trong trường hợp mật
độ giun sán ít, xét nghiệm trực tiếp không phát hiện được, các kỹ thuật thường được dùng như kỹ thuật Willis
Xét nghiệm một số mẫu bệnh phẩm của người dân địa phương
Điều tra mầm bệnh ở ngoại cảnh
10 Điều trị bệnh giun sán
- Người già, trẻ em, phụ nữ có thai, không dùng cho các trường hợp có chống chỉ định
10.1.3 Điều trị hàng loạt
Một số bệnh giun sán phải điều trị nhiều người mới có kết quả tốt
Trang 5Ex: Bệnh giun kim phải điều trị cả gia đình hoặc điều trị toàn bộ trẻ em vườn trẻ, nhà mẫu giáo
10.1.4 Nguyên tắc khác
Điều trị các giun sán có kích thước lớn trước, kính thước nhỏ sau
Nếu người bệnh mắc nhiều loại một lúc cần tránh biến chứng do giun sán phản ứng với thuốc, dễ di chuyển gây lạc chỗ như giun chui ống mật (trong trường hợp không có thuốc đa năng)
* Có nhiều loại thuốc điều trị giun sán Các loại thuốc thường dùng
- Thuốc điều trị giun thường dùng là:
11.1 Giun sán nhiễm qua đường tiêu hoá
- Quản lý và xử lý nguồn phân tốt: Ở Việt Nam, đặc biệt vùng nông thôn, bệnh giun sán liên quan chặt chẽ với môi trường sống Quản lý phân không tốt, hố xí không hợp vệ sinh, sử dụng phân người làm phân bón là những yếu tố gây ô nhiễm môi trường thì bệnh phổ biến và dễ tái nhiễm
- Vệ sinh ăn uống: Ăn chín uống sôi, cung cấp nước sạch, đặc biệt đối với các vùng nông thôn
- Tiêu diệt côn trùng trung gian truyền bệnh
11.2 Giun sán nhiễm qua da
- Quản lý phân tốt
- Vệ sinh môi trường, diệt mầm bệnh ở ngoại cảnh
- Trang bị bảo hộ lao động để bảo vệ người lao động
Trang 611.3 Giun sán do côn trùng đốt
- Phát hiện và điều trị kịp thời cho bệnh nhân
- Diệt côn trùng trung gian truyền bệnh
GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT
Giun truyền qua đất gồm những giun ký sinh ở đường ruột của người, có một giai đoạn phát triển bên ngoài cơ thể của người, trứng hoặc ấu trùng chưa thể lây nhiễm vào người khi mới thải ra môi trường mà phải tiếp tục phát triển trong đất một thời gian Như vậy sự lây truyền chỉ xảy ra khi đất bị ô nhiễm trứng giun có
ấu trùng bên trong Giun truyền qua đất có một tầm quan trọng đối với sức khỏe người dân trong nhiều nước đang phát triển, vì có nhiều người bị nhiễm một hoặc nhiều loại giun này và biện pháp phòng bệnh cũng như điều trị một loại giun có
ảnh hưởng chặt chẽ đến những loại giun khác
Các loại giun truyền qua đất ký sinh ở người gồm có:
o Ascaris lumbricoides – giun đũa
o Trichuris trichiura – giun tóc
o Ancylostoma duodenale – giun móc
o Necator americanus – giun móc
o Strongyloides stercoralis – giun lươn
GIUN ĐŨA
Ascaris lumbricoides
Giun đũa có tên khoa học là Ascaris lumbricoides, là loài giun có kích thước lớn,
thân hình ống dài như chiếc đũa Giun đũa có tính đặc hiệu ký chủ hẹp, nhiễm vào người qua đường miệng, ký sinh ở ruột và gây nhiều tác hại cho người
1 Hình thể
Trang 7Giun đũa có màu trắng ngà hay hồng lợt Thân dài, đầu và đuôi có hình chóp nón Miệng có 3 môi hình bầu dục, xếp cân đối gồm 1 môi lưng và 2 môi bụng Bờ môi có răng và các gai cảm giác
Giun đũa có kích thước khá to, giun đực: 15 - 31 cm x 2 - 4 mm, đuôi cong lại về phía bụng, có hai gai giao hợp nằm ở cuối đuôi
Giun cái dài 20 - 35 cm x 3 - 6 mm Đuôi giun cái thẳng, hình nón, có 2 gai nhú sau hậu môn Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 trên, mặt bụng Tại khoảng này, giun cái có một vòng thắt quanh than có vai trò giữ giun đực trong khi thụ tinh
Trứng giun đũa có 3 loại trứng:
- Trứng thụ tinh còn gọi là trứng chắc, có hình bầu dục, vỏ gồm 3 lớp: ngoài cùng
là lớp albumin dày đều, xù xì, lớp giữa dày, nhẫn và trong suốt được cấu tạo bởi glycogen và một lớp vỏ trong cùng là màng dinh dưỡng cấu tạo bởi lipid, không thấm nước có vai trò bảo vệ phôi và chống lại các chất độc Trứng có kích thước khoảng 45 - 75 µm x 35 - 50 µm, bên trong trứng là phôi bào chưa phân chia khi trứng nới được đẻ ra Sau một thời gian ở ngoại cảnh, phôi phát triển thành giun bên trong vỏ
- Trứng không thụ tinh hay trứng lép có hình bầu dục dài và hẹp hơn, kích thước từ
88 - 94 µm x 39 - 44 µm Lớp vỏ gồm 2 lớp mỏng, không có lớp màng dinh dưỡng, bên trong trứng là những hạt tròn không đều, rất chiết quang Trứng không bthuj tinh sẽ bị thoái hóa
- Trứng mất vỏ do lớp albumin bị tróc mất làm cho vỏ trứng trở nên trơn tru, gặp ở trứng thụ tinh hay không thụ tinh
2 Sinh học và chu trình phát triển
Trang 8thành ấu trùng trong vòng từ 2 – 4 tháng ở nhiệt độ 36 – 400C (tốt nhất là ở 250C chỉ cần 3 tuần) Trứng có ấu trùng có khả năng lây nhiễm
Khi được nuốt vào dạ dày, ấu trùng thoát ra khỏi vỏ trứng ở tá tràng, đi xuyên qua thành ruột, vào mạch máu và theo dòng máu đến gan, đến tim phải và lên phổi
Ở phổi ấu trùng lột xác 2 lần sau 5 ngày và khoảng 10 ngày sau đó, ấu trùng có chiều dài khoảng 1,5 – 2 mm, đường kính than 0,02 mm Ấu trùng làm vỡ các phế nang để vào phế quản Từ đây ấu trùng đi ngược lên khí quản, thực quản Ấu trùng được nuốt trở lại ruột non và trưởng thành tại đây Từ lúc người bị nhiễm đến khi giun trưởng thành khoảng 5 – 12 tuần Giun đũa sống được khoảng 12 –
18 tháng
Trong quá trình chu du từ ruột non, đi qua các cơ quan khác rồi trở lại định cư ở ruột non, ấu trùng có thể đi lạc sang các cơ quan khác, gây ra hiện tượng giun đi lạc chỗ
3 Dịch tễ
Giun đũa là một loài giun phổ biến nhất trên thế giới và có phân bố rộng nhất trong các loại KST gây bệnh ở người
Tỷ lệ nhiễm giun đũa thay đổi tùy vùng
Nguồn bệnh là người và nơi chứa mầm bệnh là đất bị ô nhiễm trứng giun
Trứng giun đũa phát triển tốt nhất trong đất ẩm và có bóng mát Chúng đề kháng được với lạnh và các chất tẩy ở các nồng độ thường dùng Chúng bị giết bởi ánh sáng mặt trời trực tiếp và nhiệt độ trên 450C
Ở Việt Nam có khoảng 60 triệu người nhiễm giun đũa, tỷ lệ nhiễm giun đũa rất cao, lứa tuổi nhiễm cao nhất là trẻ em (3 – 15 tuổi) Các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn các tỉnh phía Nam Nông thôn nhiễm cao hơn thành thị
Đường lây nhiễm: trứng lây nhiễm vào người qua đường tiêu hóa qua rau sống, quả tươi nước lã, thức ăn bị ô nhiễm Thường trẻ em chơi đùa trên đất chung quanh nhà hay bị nhiễm
Mùa nhiễm giun đũa xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất vào tháng 4 – 5 và tháng
9
Trang 94 Miễn dịch
4.1 Giai đoạn ấu trùng di chuyển
Kháng nguyên được phóng thích trong lúc ấu trùng lột xác từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 3, lúc này có sự gia tăng IgE cao nhất
4.2 Giai đoạn trưởng thành
Giun trưởng thành ở ruột không gây đáp ứng miễn dịch nhưng khi giun di chuyển lạc chỗ thì nó sẽ kích thích cơ thể bệnh nhân để tạo ra đáp ứng miễn dịch tế bào đưa đến kết quả là sự thành lập một u hạt Phản ứng phản vệ tức thì đối với kháng nguyeengiun đũa xảy ra ở một số người
7.2 Bệnh do ấu trùng giun đũa
Trang 10Viêm phổi do ấu trùng giun đũa
Trong quá trình di chuyển ấu trùng gây ra viêm phổi vào ngày 4 – 16 sau khi được nuốt vào, triệu chứng gồm có sốt, ho, ho có đàm, bạch cầu toan tính tăng cao và có thể tìm thấy ấu trùng trong đàm hoặc dịch tá tràng Viêm phổi không kéo dài, chỉ khoảng 3 tuần
Trong quá trình chu du, ấu trùng có thể gây triệu chứng: rối loạn thần kinh (co giật kích thích màng não và động kinh…), phù mí mắt mất ngủ và nghiến răng ban đêm Khi ấu trùng đi lạc lên não, nó gây ra u hạt, những nốt nhỏ ở mắt, võng mạc hoặc não
7.3 Bệnh do giun đũa trưởng thành
Tại ruột: thường gặp rối loạn tiêu hóa, viêm ruột già và nôn ói Nếu nhiễm nặng,
biểu hiện chủ yếu là tắc ruột, thường xảy ra ở trẻ em
Ngoài ruột, do giun di chuyển lạc chỗ: giun trưởng thành có khuynh hướng di
chuyển khi môi trường sống bị xáo trộn Bệnh nhân dùng thuốc tetrachloroethylen, bị gây mê hoặc bị sốt, chúng di chuyển và đi lạc vào ống dẫn mật, bong Vater, ruột thừa, xung quanh hậu môn và ống eustache Chúng có thể gây xoắn ruột và hoại thư ruột, thủng ruột và viêm phúc mạc, viêm tụy cấp, viêm tụy viêm ống mật có mủ, áp xe gan, viêm túi mật cấp và vàng da tắc mật
8 CHẨN ĐOÁN
8.1 Chẩn đoán được xác định khi tìm thấy trứng hoặc giun
Xét nghiệm phân để tìm trứng bằng phương pháp soi trực tiếp hay tập trung Có thể tìm thấy trứng thụ tinh hay trứng lép hoặc trứng mất vỏ
Đôi khi giun trưởng thành thoát ra ở mũi, miệng, hậu môn
8.2 Tăng bạch cầu toan tính
Trong giai đoạn nhiễm ấu trùng, bạch cầu toan tính tăng cao nhưng khi giun trưởng thành rồi thì bạch cầu toan tính giảm nhiều hoặc không tưng Nếu bạch cầu toan tính trong trường hợp nhiễm giun ở giai đoạn trưởng thành thì có thể bị
nhiễm kết hợp với Toxocara hoặc giun lươn
8.3 X quang
Trang 11Chụp x quang cho bệnh nhân uống chất cản quang tư 4 - 6 giờ cho thầy giun có hình ống hoặc một cái bong giống như sợi dây do giun uống thuốc cản quang
8.4 Huyết thanh chẩn đoán
Trong huyết thanh của người nhiễm giun đũa có kháng thể đặc hiệu với loại giun này Những kỹ thuật đã được dung để phát hiện kháng thể gồm: cố định bổ thể, kết tủa, khuếch tán trong thạch, điện di miễn dịch Chẩn đoán nhiễm giun đũa bằng miễn dịch ít được dung do có nhiều phản ứng chéo với các loại giun khác
9 CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
9.1 Triệu chứng ở phổi, thâm nhiễm phổi và tăng bạch cầu toan tính là triệu
chứng phổ biến của nhiều bệnh giun sán và các bệnh khác
Bệnh do ấu trùng giun đũa cần được phân biệt với bệnh do Toxocara, giun móc,
giun lươn, sán máng và hội chứng tăng bạch cầu toan tính nhiệt đới
9.2 Toxocara
Thường nhiễm kết hợp với giun đũa (Ascaris lumbricoides), Toxocara gây ra hội
chứng ấu trùng di chuyển, kéo dài nhiều tháng với sự gia tăng bạch cầu toan tính kéo dài và triệu chứng phổi khong rỏ ràng Ấu trùng Toxocara đi lang thang, gây
các sang thương ở não và mắt như Ascaris lumbricoides và có thể chẩn đoán bằng
huyết thanh miễn dịch học
9.3 Giun móc
Giai đoạn xâm nhập của giun móc kéo dài 2 -3 tháng, triệu chwngsgiamr dần, sau
42 ngày trứng xuất hiện trong phân Có thể có nổi mụn ngứa ở chân trước khi có triệu chứng của ấu trùng di chuyển
9.4 Sán máng
Giai đoạn xâm nhập của sán máng (hội chứng Katayama) có thể kéo dài 2 -3 tháng Thường có lách to và chẩn đoán bằng kỹ thuật miễn dịch
9.5 Tăng BCTT nhiệt đới
Rất giống viêm phổi do ấu trùng giun đũa Bệnh xảy ra chủ yếu ở người lớn, kéo dài hơn nhiều và dương tính với thử nghiệm huyết thanh giun chỉ Đáp ứng nhanh chóng với diethylcarrbamazine
Trang 129.6 Các hội chứng tăng BCTT khác ở phổi
Bệnh nhiễm Aspergillus, phản ứng thuốc và bệnh ưng thư máu dòng bạch cầu
toan tính thường có tính chất kinh niên hơn
10 ĐIỀU TRỊ
10.1 Điều trị đặc hiệu
Điều trị chỉ có kết quả giun trưởng thành Thuốc được chọn là:
- Albendazole: trẻ em từ 2 đến 5 tuổi, liều duy nhất 200mg, trẻ em lớn hơn và người lớn, 1 liều 400mg
- Mebendazole: 100mg x 2 lần/ngày, chỉ uống 1 ngày duy nhất
- Levamisole: liều duy nhất 5 mg/kg cân nặng
- Pyrantel palmoate (Combantrin): liều duy nhất 10mg/kg cân nặng
Uống thuốc tốt nhất vào giữa bữa ăn, không có chế độ kiêng cử gì, có thể dung thuốc sổ trước hoặc sau khi tẩy giun
10.2 Điều trị biến chứng
Viêm phổi do Ascaris lumbricoides
Đáp ứng rất tốt với prednisolone Nên tẩy giun 2 tuần sau khi có triệu chứng ở
phổi
Viêm đường mật
Điều trị bảo tồn: chống co thắt, chống đau, giảm căng dạ dày bằng cách dung ống thông mũi dạ dày, truyền dịch, cách này thường cho kết quả tốt Nên tẩy giun sau khi cơn đau cấp đã qua và chức năng ruột được phục hồi Nên dùng loại thuốc tẩy dạng lỏng và có tác dụng nhanh (levamisole, pyrantel) Nếu cách điều trị này thất bại thì phải dùng phẫu thuật
Tắc ruột
Nên điều trị bảo tồn bằng bằng cách dùng thuốc giảm co thắt, giảm căng dạ dày, truyền dịch dùng paraffin và tẩy giun, thường cho kết quả tốt Nếu bệnh nhan bị sốt, nhịp tim nhanh, nhu động ruột nổi rõ, đau nhiều hoặc không thuyên giảm sau
48 giờ điều trị bảo tồn, thì phải mổ, cố gắng không cắt ruột mà nên làm cho nút lỏng ra, cho giun đi xuống ruột già Hiếm khi phải cắt bỏ đoạn ruột
Trang 1311 PHÒNG BỆNH
Phòng bệnh dựa trên vệ sinh cá nhân, xử lý phân hợp hệ sinh, giáo dục sức khỏe
và điều trị những người bị nhiễm
Trang 14GIUN TÓC
Trichuris trichiura
Giun tóc là loại giun nhỏ, cơ thể được chia làm 2 phần rõ rệt, phần đầu mảnh dài như sợi tóc, cắm sâu vào niêm mạc ruột Phần sau tròn, lơ lửng trong lòng ruột Giun ký sinh ở ruột già, nếu nhiễm nhẹ thì ít gây tác hại, nhưng nếu nhiễm nặng
có thể gây lỵ hoặc sa trực tràng
1 HÌNH THỂ
Giun trưởng thành có màu trắng hay hồng lợt, vỏ có vân Phần đầu dài mảnh
như sợi tóc, chiếm 3/5 cơ thể, chứa thực quản hẹp Phần đuôi phình to, chứa ruột
và cơ quan sinh dục
Giun đực dài 30 - 45 mm, tận cùng đuôi có chóp hình nón và uốn cong, có một gai sinh dục
Giun cái có kích thước 35 -50 mm, phân nữa thân sau là tử cung đầy trứng, âm môn mở ra ở mặt bụng ở 3/5 trước của thân, đuôi thẳng và tròn
Trứng có hình thoi dài, giống trái cau, kích thước 50 - 54 µm x 20 - 22 µm Vỏ
dày, nhẫn gồm 3 lớp, màng ngoài cùng thường bị nhuộm màu vàng của mật, ở hai đầu có nút trong, chứa 1 phôi bào khi mới đẻ ra
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun sống trong manh tràng, dinh dưỡng bằng các chất trong ruột và máu Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường Lúc mới đẻ, phôi bên trong trứng chỉ là một đám tế bào, chưa phân đoạn, đám tế bào này cần ít nhất 21 ngày
để phát triển thành ấu trùng Trứng có ấu trùng mới có khả năng gây nhiễm
Trứng được nuốt vào dạ dày, vỏ trứng sẽ bị các men tiêu hóa làm tiêu đi và ấu trùng được phóng thích vào ruột non, đi vào các hốc ruột và phát triển ở dó 1 tuần
Sau đó di chuyển xuống manh tràng và đại tràng Tại đây, chúng bám vào niêm mạc ruột và trưởng thành trong vòng 3 tháng
Trang 15Ấu trùng giun tóc không có giai đoạn chu du qua gan, phổi, tim Từ lúc người nuốt vào cho đến lúc giun trưởng thành kéo dài khoảng 30 – 45 ngày Giun tóc có thể sống đến 6 năm hoặc lâu hơn
Bệnh nhiễm giun tóc phổ biến ở những nơi có mưa nhiều, độ ẩm cao, có nhiều bóng râm và đất bị ô nhiễm Nhiễm giun tóc thường kết hợp với nhiễm giun đũa của người và giun đũa của chó mèo
Trứng chịu đựng được nhiệt độ thấp, nhưng sẽ chết nếu gặp khô Trứng giun tóc
có sức đề kháng ở ngoại cảnh rất cao Trứng đã có ấu trùng vẫn có thể tồn tại đến
5 năm
Sự phát tán ở ngoại cảnh và phương thức nhiễm vào người của trứng giun tóc cũng giống như trường hợp của trứng giun đũa
Người có thể bị nhiễm giun tóc heo (Trichuris suis), nhất là những người chăn
nuôi heo Về hình thể, giun tóc của người khó phân biệt được với giun tóc của heo
4 BỆNH HỌC
Nếu nhiễm ít thì tác hại không đáng kể Nhưng nếu nhiễm nặng thì giun sẽ lan tràn khắp từ ruột già đến trực tràng gây xuất huyết, phân có nhày, máu kèm theo triệu chứng lỵ, có thể bị sa trực tràng Giun tóc có thể gây viêm ruột thừa
Thời gian ủ bệnh thường là 60 ngày
Đa số các trường hợp nhiễm với số lượng ít, không có triệu chứng
Nhiễm nặng thì sẽ có triệu chứng: rối loạn tiêu hóa như đau bụng, buồn nôn, táo bón xen lẫn tiêu chảy Một số trường hợp có biểu hiện dị ứng ngoài da
Bệnh học
Trang 16Trong trường hợp nhiễm giun tóc nhiều và kéo dài, các triệu chứng lâm sàn có thể gặp như:
+ Lỵ do giun tóc
+ Giun tóc thường nhiễm kết hợp với amip
+ Trẻ bị nhiễm giun tóc nặng, sẽ có ngón tay dùi trống, thiếu protein máu, thiếu máu nặng và chậm lớn
- X quang: Trong vài trường hợp có hình ảnh lỗ chỗ như tổ ong ở ruột non
5.2 Chẩn đoán phân biệt
Trong trường hợp nhiễm nặng, hình ảnh lâm sàng có thể giống nhiễm giun móc, viêm ruột thừa cấp hoặc lỵ amip
6 ĐIỀU TRỊ
Mebendazole là thuốc được chọn để điều trị, dùng liều duy nhất 600 mg sẽ làm giảm 85% số lượng trứng, công hiệu tương đương liều 100 mg x 2/ngày, uống trong 3 ngày
Albendazole cũng hiệu quả với liều duy nhất là 400 mg
7 PHÒNG BỆNH
Giống như đối với giun đũa người
GIUN MÓC
Ancylostoma duodenale Necator americanus
Trang 17Bệnh giun móc do hai loại giun móc là: Ancylostoma duodenale và Necator americanus (Việt Nam gọi là giun móc hay giun mỏ), là một bệnh rất phổ biến
trên thế giới Đặc điểm của giun móc là miệng có bộ phận sắc, giúp chúng bám vào niêm mạc ruột và hút máu bệnh nhân Nếu nhiễm với số lượng lớn, bệnh nhân sẽ bị thiếu máu
1 HÌNH THỂ
1.1 Giun trưởng thành
Ancylostoma duodenale
Giống như sợi chỉ màu trắng xám hay nâu đỏ do tiêu hóa hồng cầu Cả con đực
và con cái đều có bao miệng, 2 cặp răng để bám vào niêm mạc ruột non Con đực (0,8 - 1,1 cm x 0,4 - 0,5 cm) có bao sinh dục ở phía đuôi gồm có phần vỏ xòe ra Con cái (1 - 1,3 cm x 0,6 cm) hơi lứn hơn một chút, xoang cơ thể chứa buồng trứng và ống tử cung đầy trứng Âm môn nằm ở 1/3 sau của thân giun Giun đẻ trứng nhiều nhất vào tháng 15 - 18 sau khi nhiễm vào người; tuổi thọ của giun khoảng 6 năm
Giun cái đẻ 25.000 -35.000 trứng mỗi ngày và khoảng 18 - 54 triệu trứng suốt đời
Necator americanus
Rất giống A duodenale nhưng nó ngăn và mảnh mai hơn (0,9 - 1,1 cm x 0,4 cm)
và có thể phân biệt với A duodenale bởi âm môn của nó nằm ở 1/3 trước của
thân giun và bao miệng nhỏ hơn, có 2 bản dao thay vì răng Con cái đẻ 6000 - 20.000 trứng mỗi ngày Tuổi thọ trung bình khoảng 5 năm
1.2.Trứng
Trứng của hai loài giun móc nói trên rất giống nhau về hình thái và cấu tạo: có hình thoi dài, vỏ mỏng trong suốt, có từ 2 đến 4 phôi bào lúc mới được thải ra Kích thước hơi khác nhau, nhưng cũng khó nhận ra
1.3 Ấu trùng
Ấu trùng giai đoạn 1 dài từ 250 – 300 μm, rộng 17 µm Đầu trước có xoang
miệng dài 98 -14µm Thực quản hình ống, có một chỗ thắt lại, tạo ra một ụ phình
Trang 18to tròn ở sau chỗ thắt, được gọi là ấu trùng có thực quản ụ phình Đuôi nhọn Ấu trùng giai đoạn 1 lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn 2
Ấu trùng giai đoạn 2 có chiều dài khoảng 700 μm, thực quản vẫn còn chỗ thắt lại
nhưng ít hơn nên có dạng hình ống, còn gọi là ấu trùng có thực quản hình ống Vì vậy ấu trùng giai đoạn 2 còn có tên gọi là ấu trùng thực quản hình ống
Ấu trùng giai đoạn 3 có thực quản hình ống, có vỏ bao bên ngoài che chở, không
ăn và có khả năng gây nhiễm
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun cái đẻ trứng trong lòng ruột, trứng mới được đẻ ra có từ 2, 4 hoặc 8 phôi bào
và được thải ra theo phân
Nếu gặp đất ẩm và nhiệt độ thích hợp, trứng nở thành ấu trùng giai đoạn 1, có thực quản hình ụ phình sau 1 - 2 ngày Chúng có chiều dài băng 0,3 mm, sống tự
do ở ngoại cảnh, ăn vi trùng và các chất hữu cơ trong phân Sau đó 2 - 3 ngày, ấu trùng lột xác để chở thành ấu trùng giai đoạn 2 có thực quản hình ống dài khoảng
700 µm Ấu trùng giai đoạn 2 phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3 mà không lột
vỏ, vỏ bao bọc bên ngoài có vai trò che chở Ấu trùng giai đoạn 3 không ăn, không phát triển tiếp tục, có khả năng gây nhiễm cho ký chủ, có đề kháng tốt với những điều kiện bất lợi ở trong môi trường, tồn tại được khoảng từ 6 đến 9 tuần trên mặt đất, nếu gặp điều kiện thích hợp có thể tồn tại đến nữa năm Ấu trùng giai đoạn 3 lúc này có 3 tính hướng: hướng về nơi có nhiều ôxy, nơi có độ ẩm và nhiệt độ cao Với đặc điểm trên, chúng thường trèo lên ngon cây cỏ và rất nhạy với hơi ấm phát ra từ ký chủ đang đi đến gần nơi chúng có mặt Điều này giúp cho chúng dễ bắt gặp ký chủ
Khi gặp được ký chủ, ấu trùng lột bỏ vỏ bên ngoài và chui qua da Sau đó chúng
đi vào mạch máu, theo dòng máu đến phổi vào ngày thứ 3 Ấu trùng đi qua phế nang, vào phế quản, đi lên khí quản, qua thực quản , xuống dạ dày đến ruột non vào ngày thứ 7 Trong quá trình chu du, ấu trùng lột xác lần thứ 3 và bao miệng được tạo thành Khi ấu trùng di chuyển đến ruột, sẽ lột xác lần thứ 4, bám vào
Trang 19niêm mạc ruột non và trưởng thành Quá trình chu du kéo dài khoảng 2 tháng sau khi nhiễm vào người Giun móc có thể sống từ 1 - 9 năm
3 DỊCH TỄ HỌC
Giun móc có mặt ở tất cả các nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Trên thế giới có khoảng 900 triệu người mắc bệnh giun móc và có khoảng 60 triệu người chết hàng năm
Ở VN tỷ lệ nhiểm giun móc cũng khác nhau và phân vùng theo điều kiện thổ nhưỡng, miền cao hay miền sông nước, nghề nghiệp
Ấu trùng không thể sống nếu gặp môi trường nước Ấu trùng thường ở độ sâu 2,5
cm cách mặt đất nhưng vẫn có thể chui xuống lớp đất sâu hơn Nếu gặp môi trường ẩm, chúng có thể sống đến 2 năm
Ấu trùng chết nhanh chóng khi gặp khô hạn, ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào hoặc nước mặn
Thông thường đường xâm nhập của ấu trùng giun móc là qua da hoặc qua miệng
4 BỆNH HỌC
4.1 Giai đoạn xâm nhập
Ấu trùng gây viêm da tại nơi xâm nhập, biểu hiện bởi các nốt sẩn ngứa, mụn nước
Có thể đưa đến chàm hóa do gãi nhiều hoặc nhiễm trùng thứ phát Triệu chứng của viêm da chỉ xảy ra trong khoảng 3 - 4 ngày rồi biến mất Các tổn thương thường ở kẽ ngón tay, kẽ ngón chân, mu bàn chân Triệu chứng này thường nhẹ hay không có ở những người sống trong vùng nhiệt đới
Biểu hiện lâm sàng ở da niêm mạc: niêm mạc nhợt nhạt trong trường hợp thiếu máu vừa và nặng Da xanh tái Móng tay mất màu hồng bình thường, mất độ bóng của móng Người bệnh có thể bị phù nhiều hay ít tùy theo mức độ mất máu
4.2 Giai đoạn ở phổi: ấu trùng có thể gây nên hội chứng Loeffler: hen suyễn,
viêm phế quản và xuất huyết nhẹ ở phế nang cùng với thâm nhiễm bạch cầu toan tính và trung tính ở phổi, nhưng thường nhẹ và không rỏ rang như trường hợp của giun đũa
Trang 204.3 Giai đoạn ở ruột: các rối loạn về tiêu hóa, tuần hoàn, thần kinh giun gây
thiếu máu gặp ở những người sống trong vùng nhiệt đới Người bệnh hay đau bụng, biếng ăn, buồn nôn, tiêu chảy xen lẫn táo bón Đặc biệt, người bệnh thường
có cảm giác đau ở vùng thượng vị không có chu kỳ rõ rệt
4.4 Tác hại của giun móc
Thiếu máu là đặc điểm quan trọng của bệnh giun móc mạn tính Tình trạng thiếu
máu xảy ra từ từ và trong thời gian dài Mức độ thiếu máu tùy thuộc vào sự dinh dưỡng của người bệnh và mức độ làm mất máu của giun Một chế độ ăn cân bằng các chất sắt, muối khoáng, đạm động vật và vitamin có thể bù đắp tình trạng thiếu máu do giun
Thiếu máu do giun móc là thiếu máu do thiếu sắt và nó đáp ứng tốt với việc bổ sung muối sắt; tẩy giun cung có kết quả nhưng lâu hơn
Suy tim: do thiếu máu mạn tính, không bù Biểu hiện lâm sàng bằng chứng hay
hồi hộp, đánh trống ngực, mạch nhanh Nghe tim có thể có tiếng thổi tâm thu, chụp X quang thấy bong tim to Tất cả các biểu hiện trở về bình thường khi tình trạng thiếu máu được chấm dứt
5 CHẨN ĐOÁN
5.1 Lâm sàng
Bệnh giun móc khó xác định trên lâm sang vì triệu chứng rất giống với các nguyên nhân khác Cần chú ý triệu chứng đau vùng thượng vị giống bệnh cảnh của một bệnh viêm hoặc loét dạ dày, tá tràng Cần khai thác thêm về các yếu tố dịch tể để có hướng chẩn đoán
5.2 Xét nghiệm
Xét nghiệm phân tìm trứng tìm trứng móc bằng kỹ thuật soi trực tiếp hoặc kỹ thuật tập trung Willis Cấy phân thường dùng để chẩn đoán xác định giun móc và
để phân biệt giữa bệnh giun móc và giun lươn nhưng mất thời gian hơn
Các xét nghiệm khác thường dùng để theo dõi tình trạng bệnh giun móc nặng có biểu hiện thiếu máu, suy tim… như X quang tim phổi, công thức máu, đo nồng độ sắt, huyết sắc tố trong máu
Trang 217 ĐIỀU TRỊ
Bệnh giun móc có thể hiện thiếu máu luôn luôn phải điều trị: vừa tẩy giun vừa bồi hoàn sắt đã mất và nâng cao chế độ dinh dưỡng
8 DỰ PHÒNG
Giữ vệ sinh ngoại cảnh, quản lý và xử lý phân đúng vệ sinh
Ngăn chặn sự xâm nhiễm của ấu trùng giun móc qua da như không đi chân đất, hạn chế tiếp xúc với đất bằng da trần
GIUN LƯƠN
Strongyloides stercoralis
Giun lươn có kích thước nhỏ, ký sinh ở ruột non ở người Hầu hết các trường hợp nhiễm có triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng Bệnh chỉ trở nên trầm trọng khi người bệnh bị suy giảm miễn dịch đặc biệt khi bệnh nhân được điều trị với corticoides dài ngày
1 HÌNH THỂ
Giun lươn có giai đoạn ký sinh trong cơ thể người và giai đoạn sống tự do không
ký sinh ở ngoại cảnh Hình thể do vậy cũng khác nhau tùy theo giai đoạn ký sinh hay không ký sinh
1.1 Giun trưởng thành
1.1.1 Giun lươn ký sinh
Giun lươn cái dài 2,2 mm x 0,04 mm, đuôi nhọn Miệng có 2 môi, thực quản hình ống dài khoảng ¼ chiều dài toàn thân
Giun lươn đực có kích thước nhỏ 0,7 mm x 0,035 mm
1.1.2 Giun lươn sống tự do
Giun cái dài 1 mm x 0.05 mm, thực quản có dạng phình
Giun đực dài 0.7 mm, đuôi cong, có 2 gai sinh dục
1.2 Ấu trùng
Giun lươn có 2 dạng ấu trùng:
Trang 221.2.1 Ấu trùng có thực quản ụ phình: nở từ trứng, kích thước 200 μm x 16 μm,
xoang bao miệng ngắn, đuôi nhọn, thực quản có eo thắt nên có đoạn phình tròn
1.2.2 Ấu trùng có thực quản hình ống: phát triển từ ấu trùng có thực quản ụ
phình Ấu trùng có kích thước thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển Thực quản hình ống dài từ 1/3 – 1/2 chiều dài toàn thân Đuôi ấu trùng chẻ làm hai ở tận cùng giống như đuôi chim én
1.3 Trứng
Trứng giun lươn hình bầu dục, kích thước khoảng 54 x 32 µm, vỏ mỏng, trong suốt, going như trứng giun móc nhưng trứng mới đẻ đã có ấu trùng bên trong Trứng do giun cái sống tự do đẻ có kích thước lơn hơn: 70x45 µm
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun cái và đực sống ở ruột non, sau khi thụ tinh, giun đực chết và bị thải ra ngoài theo phân Giun cái có thể đẻ trứng mà không cần thụ tinh, hiện tượng này gọi là trinh sản
Trứng nở ngay ở trong ruột non, cho ra ấu trùng có thực quản có ụ phình Ấu trùng này được thải ra ngoài để tiếp tục chu trình phát triển ở ngoại cảnh Tùy theo điều kiện của môi trường, ấu trùng sẽ phát triern theo chu trình trực tiếp hoặc gián tiếp
2.1 Chu trình gián tiếp
Trong điều kiện khí hậu thuận lợi như nhiệt độ cao, ẩm độ đủ, ấu trùng có thực quản phình sẽ phát triển thành giun lươn sống tự do ở ngoại cảnh Giun cái sống
tự do có thực quản phình và có kích thước nhỏ hơn giun cái ký sinh Ấu trùng do giun cái ký sinh và tự do đẻ ra không phan biệt được với nhau và đều phát triển trở thành ấu trùng có thực quản hình ống, có tính lây nhiễm Chúng có thể sống được nhiều tuần trên đất
Phần lớn trường hợp ấu trùng có thực quản ụ phình sẽ lặp chu trình ở ngoại cảnh
đẻ trở thành giun lươn sống tự do Nhưng cũng có một số trường hợp, có thể thay đổi khí hậu, ấu trùng thực quản ụ phình lột xác để trở thành ấu trùng có thực quản
Trang 23hình ống và xâm nhập qua da vào cơ thể ký chủ để trở thành giun lươn ký sinh giống như chu trình trực tiếp
2.2 Chu trình trực tiếp
Nếu gặp điều kiện sống không thuận lợi, ấu trùng có thực quản ụ phình phát triển nhanh chóng thành ấu trùng có thực quản hình ống trong 2 – 3 ngày Ấu trùng có thực quản hình ống chui qua da người vào tĩnh mạch đến tim phải, lên phổi, khí quản, thực quản, dạ dày và xuống phần đầu ruột non, định vị và ký sinh ở đó Ấu trùng khi đến phổi có thể không thoát ra khỏi mao quản để vào phế nang mà vẫn tiếp tục theo luân chuyển của máu, theo hệ tuần hoàn định vị lạc chổ ở các cơ quan khác Trong suốt thời kỳ di chuyển trong máu của ký chủ, ấu trùng trải qua 2 lần lột xác trước khi trưởng thành Trứng giun được đẻ sau khi bị nhiễm 28 ngày
- Trường hợp người bệnh không được chăm sóc vệ sinh chu đáo, ấu trùng thực quản ụ phình theo phân ra ngoài còn dính ở vùng hậu môn sẽ phát triển thành
ấu trùng thực quản hình ống và xuyên qua niêm mạc hậu môn vào hệ tĩnh mạch tiếp tục phát triển như trên: đó là hiện tượng tự nhiễm bên ngoài cơ thể
ký chủ
3 DỊCH TỄ HỌC
Strongyloides stercoralis ký sinh chủ yếu ở người, nhưng người ta còn gặp giun
lươn ở chó, mèo và khỉ tinh tinh Ấu trùng không thể sống ở nhiệt độ dươi 80C, trên 400C và không chịu được khô hạn
Trang 24Giun lươn có mặt trên khắp thế giới nhưng đặc biệt phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm của giun lươn chỉ khoảng 2%
Có một số yếu tố thuận lợi cho bệnh giun lươn phát triển: sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, các bệnh máu ác tính, cắt dạ dày, tình trạng suy giảm miễn dịch kéo dài
4 BỆNH HỌC
Thowig gian ủ bệnh khoảng 1 tháng Đa số các trường hợp nhiễm trong vùng dịch
tễ thường không có triệu chứng Khi nào giun lươn phát triển mạnh, số lượng tăng lên nhiều, lúc đó triệu chứng bệnh mới xuất hiện
Ấu trùng chui qua da gây ra hiện tượng viêm da tại nơi xâm nhập Khi đến phổi gây hội chứng Loeffler ở phổi, trường hợp nhiễm nhiều, bạch cầu toan tính có thể tăng đến 30%
Giun trưởng thành ký sinh ở ruột với số lượng nhiều làm cho người bệnh có cảm giác nóng rát, đau ở vùng thượng vị Dấu hiệu tiêu chảy với phân lỏng như nước,
đi nhiều lần trong ngày, kéo dài dây dưa thường xuyên gặp trong đa số trường hợp nhiễm vừa và nặng
5.CHẨN ĐOÁN
5.1 Lâm sàng
Dựa vào cảm giác đau, rát vùng thượng vị và nhất là triệu chứng tiêu chảy kéo dài, phân lỏng như nước kéo dài, không đáp ứng điều trị với các loại thuốc điều trị tiêu chảy có thể giúp nghĩ đến bệnh giun lươn
5.2 Xét nghiệm
Tìm ấu trùng có thực quản ụ phình bằng:
- Soi phân trực tiếp, có thể thấy ấu trùng di động trong quang trường Cần phân biệt
ấu trùng có thực quản ụ phình của giun lươn vf ấu trùng saii đoạn 1 của giun móc
- Tập trung theo kỹ thuật Baermann: kỹ thuật này dựa trên đặc tính ưa nước và nhiệt độ của ấu trùng Kỹ thuật Baermann khi thực hiện mất khoảng 3 giờ
- Hút dịch tá tràng cũng được dùng để tìm ấu trùng giun lươn khi cần thiết
Trang 25Huyết thanh chẩn đoán thường có phản ứng chéo với các loài giun sán khác và giun chỉ
Sự tăng giảm bạch cầu toan tính giúp theo dõi tiến trình của bệnh và đánh giá sự
tự nhiễm của giun lươn
Giữ vệ sinh ngoại cảnh
Ngăn chặn sự xâm nhiễm của ấu trùng giun lươn qua da như: không đi chân đất, hạn chế tiếp xúc với đất bằng da trần
GIUN KIM
Enterobius vermicularis
Giun kim có kích thước nhỏ, ký sinh và gây bệnh chủ yếu ở trẻ em
1 HÌNH THỂ
Giun trưởng thành có màu trắng, vỏ có vân ngang Lớp vỏ ở phần đầu phình ra 2
bên giống như 2 cánh, gọi là cánh môi Dọc theo 2 bên thân, lớp vỏ dày lên tạo thành 2 gờ chạy dài theo thân Miệng có 3 môi nhỏ, thực quản có phần cuối phình
to
Giun cái (9 - 12 mm) có đuôi dài và nhọn, âm môn nằm ở ¼ trước của thân, tử cung chứa đầy trứng Giun đực nhỏ hơn con cái (2 -5mm), đuôi cong lại về phía bụng, tận cùng có 1 gai sinh dục
Trứng có vỏ mỏng, kích thước 50 - 54 x 20 - 27 µm, có hình thoi dài, lép 1 bên
Trứng không có màu, chứa ấu trùng bên trong và có tính gây nhiễm sau vài giờ được đẻ ra
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Trang 26Chu trình phát triển rất đơn giản, chỉ có một ký chủ Giun kim ký sinh bình thường ở manh tràng, phần cuối ruột non và đầu ruột già Giun hấp thu những chất chứa trong ruột Giun đực sau khi giao hợp sẽ chết Thông thường ban đêm, giun cái di chuyển ra hậu môn và đẻ trứng tại đây Giun cái chết sau khi đẻ trứng Trứng bám dính quanh hậu môn, ngón tay, dưới móng tay hoặc rơi ra chăn màng, quần áo… Trứng mới đẻ ra phát triển rất nhanh đẻ cho ra một ấu trùng bên trong,
vì vậy trứng có thể gây nhiễm cho người khác ngay sau khi đẻ vài giờ Khi người nuốt phải trứng giun kim, ấu trừng thoát ra khỏi trứng ở tá tràng Ấu trùng tăng trưởng chóng, chúng di chuyển từ ruột non xuống ruột già, đến manh tràng và ruột thừa Tại đây chúng xâm nhập vào tuyến ở hốc ruột và trưởng thành Thời gian cần cho một chu kỳ là 2 - 4 tuần
3 DỊCH TỄ HỌC
Giun kim phổ biến khắp nơi trên thế giới, bệnh có mặt ở khắp nơi, kể cả xứ nóng lẫn xứ lạnh và thường tập trung ở trẻ em hơn là người lớn, cư dân thành phố bị nhiễm cao hơn cư dân nông thôn
Bệnh dung kim lây lan không phụ thuộc vào yếu tố khí hậu mà do yếu tố vệ sinh
cá nhân Có 4 khả năng bị bệnh giun kim:
- Khả năng thường gặp nhât là nhiễm theo đường hậu môn - miệng qua tay bẩn hoặc quần áo ngủ bị nhiễm trứng giun
- Khả năng thứ hai là nhiễm từ chăn đệm, giường chiếu hoặc từ các đồ vật khác trong môi trường
- Cách thứ ba là qua bụi, trứng bay lẫn trong bụi được hít vào qua mũi hoặc qua miệng
- Cách thứ tư là tự nhiễm, trứng nở ở niêm mạc hạu môn và di chuyển ngược vào ruột
Trứng giun được phát tán ra bên ngoài qua động tác gãi hậu môn, giũ quần, chăn chiếu
Trang 27Bệnh giun kim mang tính chất gia đình: trong nhà nếu có cháu bé bị nhiễm giun kim, những người khác trong nhà cũng thường bị lây nhiễm do sống chung và chăm sóc bé
Ở Việt Nam, tỉ lệ nhiễm ở trẻ em mẫu giáo, nhà trẻ, có nơi lên đến 87,5% Trung bình tỉ lệ nhiễm ở trẻ em thành phố từ 50 - 60%, người lớn từ 20 - 30%
4 BỆNH HỌC
Ở ruột, giun trưởng thành thường không gây tổn thương đáng kể, khi giun đi lạc chỗ mơi gây hiện tượng viêm nơi giun có mặt
4.1 Các triệu chứng có thể gặp trong bệnh giun kim ở ruột
- Ngứa hậu môn
- Rối loạn tiêu hóa
- Rối loạn thần kinh cũng thường gặp ở đứa bé thường xuyên bị nhiễm giun kim hoặc nhiễm với số lượng nhiều
- Triệu chứng toàn thân là mất ngủ và trạng thái khó chịu Trẻ em bị nhiễm giun kim ăn không ngon miệng, giảm cân, dễ bị nóng nảy, nhạy cảm và đái dầm
4.2 Giun lạc chỗ
- Xâm nhập vào ổ bụng và gây ra u hạt ở gan, buồng trứng, thận, lách và phổi
- Viêm âm hộ do giun kim cũng có thể gặp, gây ngứa âm hộ và huyết trắng
5 CHẨN ĐOÁN
Tìm trứng trong phân chỉ thấy trong 5% ca, chẩn đoàn dựa vào dùng bawbf keo dính dán lên hậu môn, dưới móng tay hoặc tìm con trưởng thành ở quanh hậu môn vào ban đêm
Trang 28- Thuốc điều trị thường điều trị thường được dùng hiện nay:
Mebendazole 100 mg, liều duy nhất, một lần trong ngày
Albendazole, liều duy nhất 400 mg hoặc 10-14mg/kg đối với trẻ em
Pyrantel pamoate (Combantrin) 10mg/kg, liều duy nhất, có thể nhắc lại mỗi 6 tuần cho tới khi nào môi trường xung quang sạch
- Trong thời gian điều trị, điều quan trọng là tránh không để bị tái nhiễm
- Trẻ em nên mặc quần áo bằng vải bông khi đi ngủ và mang bao tay, cắt ngắn móng tay
7 PHÒNG BỆNH
- Vệ sinh môi trường sống (nhà cửa, bàn ghế…)
- Vệ sinh cá nhân (không mút tay, rửa tay trước khi ăn)
- Thường xuyên giặt giũ, phơi nắng quần áo, giường, chiếu, chăn màn
- Điều trị hàng loạt là biện pháp quan trọng trong phòng ngừa bệnh giun kim
Trang 29GIUN KÝ SINH TRONG MÔ/TẠNG
GIUN XOẮN
Trichinella spiralis (Owen, 1835)
Giun xoắn là loại giun có kích thước nhỏ, cả ấu trùng và trưởng thành đều có thể gây bệnh cấp tính trên một ký chủ và có thể gây thành dịch
Giun xoắn có 3 loài phụ, không phân biệt được về hình thể nhưng khác nhau về phân bố địa dư, tính đặc hiệu ký chủ, khả năng chịu lạnh và khả năng gây bệnh
- Trichinella spiralis spiralis (T.s spiralis) phổ biến khắp nơi trên thế giới, nhất
là vùng ôn đới, có khả năng gây bệnh cho heo và chuột, thường gặp nhất ở người
- Trichinella spiralis nativa (T.s nativa) ở vùng Bắc cực, ký sinh ở các động
vật ăn xác chết, gấu Bắc cực và con moóc, người bị nhiễm do ăn các động vật vừa nêu không nấu chin Loài này chủ yếu gây bệnh ở ruột và ít gây nhiễm hệ
cơ, ấu trùng chịu được đông lạnh tốt
- Trichinella spiralis nelsoni (T.s nelsoni) ở Châu Phi và Nam Châu Âu, người
bị nhiễm do ăn thịt động vật ăn thịt hoang dã và heo rừng không nấu chín
1 HÌNH THỂ
1.1 Giun trưởng thành có kích thước nhỏ, mắt thường không nhìn thấy Giun
đực dài 1,4 - 1,6 x 0,04 mm, có gai sinh dục ở phía đuôi Giun cái dài 3 - 4 x 0,06
mm, âm môn nằm ở 1/5 trước của cơ thể, buồng trứng nằm ở 1/2 sau thân, tử cung chứa trứng co kich thước khoảng 20 µm
1.2 Ấu trùng có kích thước # 80 - 160 x 5 - 7 µm lúc mới đẻ Ấu trùng có thể tạo
nang, nang màu trắng, kích thước từ 800 -1.300 µm, thường mỗi nang chứa một
ấu trùng, đôi khi chứa nhiều ấu trùng Sau một thời gian sống nang có thể vôi hóa
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun trưởng thành sống ở ruột non, trong trường hợp nhiễm nặng có thể thấy ở ruột già Sinh sản hữu tính, giun đực chết sau khi giao hợp, giun cái đẻ ra ấu trùng
Trang 30ở niêm mạc ruột non, đôi khi đẻ vào mạch bạch huyết và hạch mạc treo Một giun cái có thể đẻ 1.500 - 2.000 ấu trùng Ấu trùng vào máu theo hệ tuần hoàn đến khắp nơi trong cơ thể nhưng chỉ sống được ở hệ cơ vân và hóa nang trong vòng 2
- 3 tuần Các cơ có thể gặp ấu trùng như cơ hoành, cơ liên sườn, cơ vùng cổ, cơ mắt, cơ ngực Ở chi, ấu trùng thường tập trung phần đầu của các cơ 2 đầu, 3 đầu Khi đến cơ ấu trùng được bọc trong nang, màu trắng, có kích thước khoảng 250 –
400 µm và ấu trùng cuộn lại như hình lò xo Từ lúc nhiễm đến lúc xuất hiện nang
là 17-24 ngày Một nang thường chỉ có một ấu trùng, đôi khi có thể nhiều hơn Ấu trùng có thể sống trong nang từ 6 tháng đến 2 năm Nếu không chuyển sang ký chủ khác nang sẽ hóa vôi
Khi người hoặc một động vật khác ăn nang chứa ấu trùng còn sống, ấu trùng giun xoắn sẽ thoát ra khỏi nang ở tá tràng và sau 4 lần lột xác, ấu trùng trở thành giun trưởng thành
Trong trường hợp người bị nhiễm giun xoắn, ấu trùng ký sinh trong cơ thể người không chuyển qua bất kỳ ký chủ nào khác và không thể tiếp tục thực hiện chu trình phát triển nào nữa, tạo nên hiện tượng ngỏ cùng ký sinh
Bệnh có thể thành dịch khi tại địa phương có sẵn thú mắc bệnh và có thói quen ăn thịt sống Một ký chủ vừa mang giun trưởng thành ở ruột vừa mang ấu trùng trong mô Tuổi thọ của giun trưởng thành từ 4 - 16 tuần, trong khi đó tuổi thọ của
ấu trùng rất cao Nang giun xoắn bị diệt ở -150C trong 20 ngày, -200C trong 10 ngày, -250C trong 6 ngày và chết nagy ở nhiệt độ 370C
Trang 31Ơ Việt Nam, ổ dịch bệnh giun xoắn được phát hiện năm 1970 ở huyện Mù Căng Chải, tỉnh Nghĩa Lộ, có 26 người nhiễm do ăn thịt heo sống chế biến thành mon nem Đến tháng 2 năm 2002, phát hiện một ổ dịch, tỉnh Lai Châu
4 BỆNH HỌC
Tổn thương ở ruột do giun trưởng thành gây ra ở ruột không trầm trọng Tổn thương gây nên chủ yếu do ấu trùng khi di chuyển và hóa nang trong cơ, phủ tạng cùng với phản ứng của ký chủ, với các chất chuyển hóa và độc tố của ấu trùng tiết
ra Ở cơ, tổn thương thường thấy là viêm cơ, phù và tẩm nhuận bạch cầu đa nhân, bạch cầu toan tính, bạch cầu lympno ở cơ và phủ tạng
Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào số lượng giun Nhiễm nhẹ dưới 10 giun/ gram
cơ, bệnh thường không có triệu chứng, nhiễm trung bính khi số lượng giun từ 50 500/ gram cơ và nhiễm nặng khi số lượng giun lên đến 1000 hoặc hơn
-Trong trường hợp bệnh có triệu chứng thì thường qua 3 thời kỳ:
4.1 Thời kỳ giun trưởng thành ký sinh trong ruột: người bệnh có biểu hiện
của sự rối loạn tiêu hóa: đau bụng, buồn nôn, nôn giống như nhiễm độc thức ăn
Có thể có ngứa ngoài da, 1/3 trường hợp có viêm phổi, xuất hiện từ ngày thứ 2 đến thứ 6 sau khi bị nhiễm và kéo dài khoảng 5 ngày
4.2 Thời kỳ ấu trùng di chuyển trong cơ: triệu chứng nổi bậc là đau nhức cơ,
phù ở mặt, mí mắt và tăng bạch cầu toan tính Người bệnh sốt cao, suy nhược nhanh, đau ở các cơ khớp, nhai khó, nuốt khó, thở khó
Nếu nhiễm số lượng lớn, bệnh nhân có thể tử vong do liệt cơ hô hấp do nhiễm độc toàn thân, xuất huyết dạ dày, ruột, màng phổi Có thể có biến chứng ở tim (viêm cơ tim), ở não (viêm màng não-não), viêm cầu thận…
4.3 Thời kỳ ấu trùng hóa nang
Người bệnh suy kiệt nhiều, mặt bị phù nề, da nổi đốm xuất huyết, ngứa
5 CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào triệu chứng sốt cao kèm đau các cơ, phù mặt, phù
mi mắt, tiêu chảy và bệnh xảy ra hàng loạt cho những người cùng ăn chung một bữa ăn có thịt thú sống
Trang 32Sinh thiết cơ có thể tìm thấy ấu trung giun xoắn
Chẩn đoán bằng các kỹ thuật miễn dịch
Bạch cầu toan tính tăng và men cơ có thể tăng
Chẩn đoán phân biệt với thương hàn, viêm não, viêm cơ uốn ván
6 ĐIỀU TRỊ
Điều trị nhằm vào ấu trùng và các phản ứng miễn dịch do chúng gây ra
Mebendazole liều cao kéo dài: 20 mg/kg mỗi 6 giờ trong 2 tuần có tác dụng đối với ấu trùng và có thể lặp lại
Đối với giun trưởng thành trong ruột có thể dùng Thiabendazole 25 mg/kg/2 lần/ ngày x 5 - 7 ngày
Điều trị triệu chứng: chống đau, chống viêm, chống phù
7 PHÒNG BỆNH
Kiểm soát thịt thú nuôi cũng như thú rừng khi mổ thịt bởi cơ quan thú y Không
ăn thịt thú sống hay tái hoặc chế biến chưa thật chín
GIUN CHỈ HỆ BẠCH HUYẾT
Wuchereria bancrofti, Brugia malayi, Brugia timori
Ở Việt Nam, có 2 loài: Wuchereria bancrofti, Brugia malayi, trong đó Brugia malayi chiếm đa số ( trên 90%)
1 HÌNH THỂ
1.1 Wuchereria bancrofti
Giun trưởng thành có màu trăng kem Giun cái dài từ 25 -100 mm x 2,5 mm, giun đực dài 40 mm x 1 mm, thường sống cuộn vào nhau Miệng giun chỉ đơn giản với môi và bao miệng không rỏ ràng Thực quản giun chỉ có hình ống Giun đực có 2 gai giao hợp Giun chỉ có các cơ quan tiêu hóa, tuần hoàn, sinh dục, thần kinh, cấu trúc tương tự các loài giun hnhf ống khác
Giun chỉ cái không đẻ trứng mà đẻ ra ấu trùng gọi là phôi giun chỉ Phôi giun chỉ
có lớp bao bên ngoài, phôi có kích thước 161 - 305 µm x 4 - 10 µm Các nhân
Trang 33được trải dài trong thân phôi nhưng phần đuôi không có nhân Phôi xuất hiện trong máu ký chủ sau khi nhiễm khoảng vài tháng Thời gian trung bình phát hiện phôi giun chỉ trong máu là khoảng 1 năm sau khi nhiễm
1.2.Brugia malayi, Brugia timori
Brugia malayi trưởng thành giống Brugia timori về hình thái nhưng mảnh và
ngắn hơn, giun cái dài 43 -55 mm và giun đực dài 13 -23 mm
Phôi giun chỉ của Brugia malayi dài khoảng 180 - 230 µm, có bao bên ngoài thân,
các nhân bên trong trải dài khắp thân và đoạn cuối đuôi có hai nhân
Phôi giun chỉ của Brugia timori rất giống phôi Brugia malayi, chỉ khác kích
thước lớn hơn: 310 µm, chỉ có một nhân cuối đuôi
- Chu kỳ đêm: mật độ phôi giun chỉ trong máu ngoại biên cao nhất về đêm
- Bán chu kỳ đêm: phôi giun chỉ có thể tìm thấy bất cứ lúc nào trong máu ngoại biên, nhưng mật độ hơi cao hơn về đêm
- Bán chu kỳ ngày: phôi giun chỉ xuất hiện cả 24 giờ, nhưng mật độ hơi cao về ban ngày
Phôi giun chỉ W bancrofti xuất hiện trong máu ngoại biên có thể cả 3 loại chu kỳ: chu kỳ đêm, bán chu kỳ đêm, bán chu kỳ ngày B malayi có hai loại chu kỳ: chu
kỳ đêm, bán chu kỳ đêm B.timori chỉ có một loại chu kỳ đêm
Chu trình phát triển trong cơ thể người Người bị muỗi đốt và truyền ấu trùng
giun chỉ Ấu trùng di chuyển từ máu vào hệ bạch huyết và trưởng thành sau khoảng 1 năm Giun trưởng thành sinh sản hữu tính Con cái đẻ ra ấu trùng, ấu trùng sống trong mạch máu nội tạng Ấu trùng xuất hiện trong máu ngoại biên vào ban ngày hay ban đêm tùy theo tùy theo loài có chu trình ngày hay đêm Từ đấy, ấu trùng giun chỉ được muỗi hút vào dạ dày muỗi khi đốt người
Trang 34Thời điểm phôi giun chỉ xuất hiện trong máu ngoại biên phù hợp với giờ hoạt động của muỗi, muỗi hút máu người sẽ hút luôn phôi vào cơ thể muỗi Nếu phôi giun chỉ không truyền qua muỗi, phôi sẽ chết sau khoảng 7 tuần
Những lúc phôi giun chỉ không ra máu ngoại biên thì phôi có mặt trong máu của nội tạng nhất là phổi
2.2 Chu trình phát triển trong cơ thể muỗi
Phôi giun chỉ theo máu muỗi hút vào dạ dày muỗi, thoát qua màng bao dinh dưỡng xuyên qua thành dạ dày và đến cơ ngực của muỗi, chuyển thành ấu trùng giai đoạn 1 Sau 2 lần lột xác tiếp theo, ấu trùng giai đoạn 3 được hình thành và di chuyển đến vòi muỗi, nằm trong môi dưới của vòi muỗi Khi muỗi đốt người, ấu trùng 3 thoát ra lần theo vết chích đẻ vào máu hoặc bạch huyết và lột xác cho ra
ấu trùng giai đoạn 4 và cuối cùng thành con trưởng thành ở hệ bạch huyết
Thời gian ấu trùng giun chỉ phát triển ở muỗi phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và
độ ẩm của môi trường, trung bình khoảng 1 năm
3.DỊCH TỄ HỌC
Theo WHO có khoản 90,2 triệu người trên thế giới bị nhiễm giun chỉ hệ bạch
huyết, trong đó 81,6 triệu trường hợp là do W Bancrofti và 8,6 triệu ca do B malayi và B timori Khoảng 2/3 số người bị nhiễm là ở Trung Quốc, Ấn Độ hoặc
hiện trong một số đảo của Indonesia
3.1 Trung gian truyền bệnh
Muỗi Culex quinquefasciatus là muỗi chính truyền giun chỉ Wuchereria bancrofti
Muỗi này phổ biến ở thành thị, thị trấn và vung trung du Muỗi cái đẻ trứng ở các vũng nước bẩn có nhiều chất hữu cơ và các cống rãnh quanh nhà Muỗi ưa hút máu người chủ yếu là ban đêm Mật độ muỗi cao vào các tháng 2, 3, 4 trong năm
Trang 35Brugia malayi
Muỗi chính truyền giun chỉ Brugia malayi là:Mansonia annfilera và Mansonia uinformis
Muỗi truyền bệnh giun chỉ B timori là An barbiroscris
3.2 Sức cảm thụ và miễn dịch: mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm bệnh
3.3 Tình hình bệnh giun chỉ ở Việt Nam
Ở miền Bắc, vùng nhiễm giun chỉ chủ yếu là các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng Tỷ lệ nhiễm giảm dần từ đồng bằng lên miền núi, ở miền núi tỷ lệ nhiễm rất thấp
Ở miền Nam, có ổ dịch tại Khánh Vĩnh ( Khánh Hòa)
Loài giun chỉ ở miền Bắc chủ yếu là Brugia malayi, ở miền Nam là Wauchereria bancrofti
4.1 Giai đoạn không triệu chứng
Phôi giun tìm thấy trong máu nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng
4.2 Giai đoạn cấp tính
Viêm mạch bạch huyết cấp và viêm hạch mạch huyết cấp, với sốt nhức đầu, đau
cơ và đau tứ chi Cơ quan sinh dục thường bị tổn thương nhiều nhất: viêm tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn…
4.3 Giai đoạn mạn tính
Các mạch bạch huyết bị tắt nghẽn Nổi bật là phù voi, thủy tinh mạc và đáy dưỡng trấp Phù voi thường gặp ở chi, ngực và cơ quan sinh dục ngoài
5 CHẨN ĐOÁN
5.1 Dịch tễ: yếu tố dịch tễ có thể giúp định hướng đến bệnh giun chỉ vì giun chỉ
thường khu trú ở một vài địa phương
Trang 365.2 Lâm sàng: Các triệu chứng lâm sàng có thể giúp cho việc chẩn đoán khi
người bệnh ở vào giai đoạn mạn tính muộn, nghia là đã có hiện tượng đái dưỡng trấp hoặc phù voi
Trang 37SÁN
Sán có đặc điểm chung là than dẹp, không có xoang đại thể, không có cơ quan tuần hoàn và hô hấp Đa số là những sinh vật lưỡng tính và thích nghi đời sống ký sinh Sán ký sinh ở người được chia làm hai lớp:
1 Lớp Trematoda (Sán lá): than không chia đốt, có hai đĩa hút ddeerr bám, ống
tiêu hóa không có hậu môn Sán lá gồm 2 nhóm:
o Nhóm sán lá thực sự: lưỡng tính, có thân hình như chiếc lá, manh tràng không nhập phía sau
o Nhóm sán máng: có 2 phái riêng biệt, thân dài có manh tràng nhập lại phía sau
2 Lớp Cestoda (Sán dải): thân chia nhiều đốt và không có cơ quan tiêu hóa Sán dải có thân dài và dẹp nên còn gọi là sán dây
SÁN LÁ KÝ SINH
1 HÌNH THỂ
Sán lá là những loài sán có thân dẹp, giống hình chiếc lá, thân không phân đoạn Kích thước từ vài mm đến vài cm Sán có đĩa hút bụng và đĩa hút miệng Đĩa hút cấu tạo bởi những sợi cơ tia Đĩa hút bụng giúp sán bám vào cơ quan ký chủ Các cơ quan bên trong gồm có:
1.1 Cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa gồm ở giữa đĩa hút miệng, tiếp theo là hầu, thực quản và manh tràng (ruột) Sán lá có manh tràng bít ở cuối đuôi, không có hậu môn
1.2 Cơ quan sinh dục
Cơ quan sinh dục gồm cơ quan sinh dục đực và cơ quan sinh dục cái Cơ quan sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh hoặc chia thành nhiều thùy tùy loài,
từ đó xuất phát hai ống dẫn tinh, sau đó nhập lại cho ống duy nhất đi đến dương vật nằm trong túi dương vật Cơ quan sinh dục cái gồm buồng trứng chia nhiều thùy hoặc phân nhánh Từ buồng trứng có ống dẫn trứng ngắn thông với noãn
Trang 38phòng Noãn phòng là nơi trứng được hình thành Tử cung xuất phát từ noãn phòng là một ống khúc khuỷu chứa trứng đổ ra lổ sinh dục cái nằm cạnh cơ quan sinh dục đực Tuyến sinh noãn hoàng hình chum năm hai bên thân sán, cung cấp chất cần thiết để nuôi dương trứng.Tuyến sinh noãn hoàng thông với noãn phòng bởi ống dẫn noãn hoàng
1.3 Cơ quan thần kinh
Cơ quan thần kinh rất thô sơ gồm hai hạch thần kinh não nằm ở gần hầu Từ hạch thần kinh não xuất phát nhánh nhỏ đi đến phía trước; các dây thần kinh lưng và bụng chạy dọc theo thân sán về phía đuôi, nối với nhau bởi nhánh ngang là những vòng thần kinh
1.4 Cơ quan bài tiết
Cơ quan bài tiết gồm những ống nhỏ phân tán khắp cơ thể sán Ở đầu ống nhỏ có những tiền nguyên thận to hình răng cưa và lông tơ rung động Sự chuyển động của lông tơ đẩy chất cặn bã trong nhu mô xốp từ ống nhỏ vào 2 ống dọc Hai ống dọc nhập lại thành ống duy nhất đến một túi đóng vai trò như bàng quang và đổ ra
lỗ bài tiết nằm ở phía bụng
Redia có một miệng, hầu và một ống tiêu hóa đơn giản Redia đến can tụy của ốc, các tế bào mầm phát triển cho ấu trùng đuôi (cercaria) Lúc này, ấu trùng có đuôi
có hai đĩa hút và một ống tiêu hóa chẻ 2 Ấu trùng có đuôi rất di động
Trang 39Mỗi giai đoạn số lượng ấu trùng tăng lên gấp bội Một ấu trùng lông có thể cho ra 100.000 ấu trùng đuôi
Ấu trùng đuôi rời ốc, bơi tìm ký chủ trung gian thích hợp để bám Tại đây nó rụng đuôi biến thành nang trùng (còn gọi là hậu ấu trùng, metacercaria) Tùy loài sán,
ký chủ trung gian thứ 2 là thực vật thủy sinh, cá hay loài giáp xác (tôm, cua) Khi người hay thú ăn ký chủ trung gian thứ 2, nang trùng đi vào ruột, di chuyển đến
cơ quan thích hợp và phát triển thành sán trưởng thành trong vòng vài tháng
SÁN LÁ LỚN Ở GAN
Fasciola hepatica Fasciola gigantica
Sán lá lớn ở gan thường gặp ở trâu, bò Người bị nhiễm do ngẫu nhiên
1 HÌNH THỂ
1.1 Sán trưởng thành
Fasciola hepatica dài khoảng 3 cm, còn Fasciola gigantic dài khoảng 5 cm Sán
có thân dày hình dạng như chiếc lá, có thể hình nón ở đầu Phần thân trước rọng hơn thân sau Sán có đĩa hút bụng và đĩa hút miệng Thực quản tương đối ngắn Ruột dài đến tận cuối thân, phân nhiều nhánh nhỏ Cơ quan sinh dục đực có tinh hoàn phân nhánh, ở phần sau thân sán Lỗ sinh dục ở phía trước đĩa hút bụng
1.2 Trứng: hình bầu dục, có nắp, vỏ dày màu nâu Bên trong có một đám phôi
bào lúc mới sinh Trứng Fasciola gigantic có kích thước 150 - 160 µm x 85 - 95
µm, trứng Fasciola hepatica nhỏ hơn 148 µm x 80 µm
2 CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Sán trưởng thành sống trong ống dẫn mật của người, trâu, bò, cừu Sán đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Trứng tăng trưởng đủ độ trong nước ngọt sau 9 - 15
ngày cho ấu trùng lông Ấu trùng ra ngoài và chui vào ốc Limnea Trong cơ thể ốc
ấu trùng lần lượt qua các giai đoạn bào tử nang, redia 1, redia 2 và ấu trùng đuôi
Trang 40Ấu trùng đuôi chui ra khỏi ốc, bám vào loài thực vật thích hợp mọc dưới nước, rụng đuôi và thành nang trùng
Khi cừu, trâu, bò ăn cỏ hoặc người ăn phải thực vật như rau xà lách xoong có nang trùng, nang trùng sẽ chui qua vách ruột vào ổ bụng, chui vào gan tìm đến ống dẫn mật (giai đoạn chu du) và trưởng thành Trên đường đi, sán ăn mô gan ký chủ và gây các triệu chứng nặng Đôi khi, sán non có thể lọt vào một tĩnh mạch, theo đại tuần hoàn và định vị ở những nơi xa như mô dưới da, tim, phổi, não, mắt… (lạc chỗ)
3 DỊCH TỄ HỌC
3.1 Yếu tố nguy cơ
- Ăn rau sống mọc dưới nước nhiễm nang trùng như xà lách xoong
- Ăn gan trâu bò, cừu không nấu chín cũng có nguy cơ mắc bệnh nhất là vùng dịch lưu hành
3.2 Các đặc điểm dịch tễ
Trên thế giới có khoảng 17 triệu người bị nhiễm Faciola spp Sán được tìm thấy ở những nơi nuôi trâu, bò và cừu Fasciola hepatica gặp ở các nước ôn đới như châu Âu, Đông Nam Phi, châu Mỹ, châu Đại Dương, còn Fasciola gigantica gặp
ở Nhật Bản, Việt Nam, Iran, Hawai và Thái Lan
Châu Âu: có khoảng 19 quốc gia có người mắc bệnh do Faciola spp Các quốc
gia có số người mắc bệnh cao là Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Bồ Đào Nha và một số vùng thuộc Liên Bang Nga
Châu Mỹ: Bệnh thường gặp ở Trung Mỹ và Nam Mỹ Ở Trung Mỹ các nước có
số người mắc bệnh cao là Cuba, Puerto Rico Ở Nam Mỹ Bệnh thường gặp ở Ergentina, Brasil, Colombia, Uraguay
Châu Phi: Bệnh thường gặp ở Ai Cập Các vùng dọc theo sông Nil có khoảng 830.000 người bị nhiễm Tùy từng nơi, tỉ lệ nhiễm từ 2 - 17%
Tại Việt Nam, theo các nghiên cứu cho thấy ở Bình Định tỉ lệ trâu, bò bị nhiễm sán là 49,6%, vùng Tây Nguyên là 74,25% Tại Bình Định, sử dụng kỹ thuật ELISA phát hiện tỉ lệ người có kháng thể kháng sán lá lớn ở gan là 0.56% Trong