Trong kýsinh trùng y học, vật chủ bị ký sinh là người, do đó đối tượng nghiên cứu của kýsinh trùng y học là những ký sinh trùng sống nhờ vào cơ thể của người và truyềnbệnh vector hoặc tr
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ký sinh trùng học (Parasitology) là một môn khoa học nghiên cứu về cácloài ký sinh trùng (parasites), vật chủ (host) của chúng và mối quan hệ giữa kýsinh trùng – vật chủ Trước đây, ký sinh trùng là bộ môn nghiên cứu bao gồm tất
cả các loại vi sinh vật (vi khuẩn, virus), động vật đơn bào và động vật đa bào kýsinh, nấm ký sinh Nhưng ngày nay vi sinh vật đã được tách ra thành mộtngành học riêng Trong phạm vi rất rộng như vậy, Ký sinh trùng y học là lĩnhvực chỉ nghiên cứu riêng các loại ký sinh trùng gây bệnh trên người Trong kýsinh trùng y học, vật chủ bị ký sinh là người, do đó đối tượng nghiên cứu của kýsinh trùng y học là những ký sinh trùng sống nhờ vào cơ thể của người và truyềnbệnh (vector) hoặc trực tiếp gây bệnh cho người, bao gồm các động vật đơn bào,giun sán, tiết túc, côn trùng và nấm ký sinh
Có rất nhiều bệnh nguy hiểm ở người do ký sinh trùng gây ra ở Việt Nam
và trên thế giới như bệnh sốt rét (do ấu trùng sốt rét Plasmodium), viêm gan (do sán lá gan lớn Fasciola gigantica), giun chui ống mật (do giun đũa), phù chân
voi, phù bộ phận sinh dục (do loài giun chỉ bạch huyết), bệnh nhiễm nấmCandida Các bệnh do ký sinh trùng gây ra không kém phần nguy hiểm đối vớiđời sống con người, nhiều bệnh còn gây ra dịch trên diện rộng, giết chết hàngtriệu người Ví dụ, mỗi năm có khoảng 515 triệu người mắc bệnh sốt rét, trong
đó có 1-3 triệu người tử vong, đa số là trẻ em ở khu vực Châu Phi (theo Tổ chức
Y tế thế giới WHO) Vì vậy, ký sinh trùng y học đóng một vai trò quan trọngtrong chuẩn đoán và điều trị dịch tễ học, các bệnh nhiệt đới ở nước ta Tuynhiên, đặc điểm chung của các bệnh do ký sinh trùng gây ra là bệnh diễn ra mộtcách thầm lặng, kéo dài gây mệt mỏi cho người bệnh; các biểu hiện do bị nhiễm
ký sinh trùng cũng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với biểu hiện của các bệnh khác;
sự biểu hiện của bệnh phụ thuộc vào vòng đời phát triển và đời sống của loài kýsinh trùng đó Vì vậy, việc hiểu biết về chức năng, cấu tạo, đặc điểm sinh học,sinh thái học và vòng đời phát triển của các loài ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh
ở người (và vật nuôi) sẽ giúp chúng ta tốt hơn trong việc chuẩn đoán và điều trịcác bệnh do ký sinh trùng trong y học
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KÝ SINH TRÙNG Y HỌC
1.1 KHÁI NIỆM KÝ SINH TRÙNG
Ký sinh trùng (parasites) (vt KST) là những sinh vật sống trong cơ thể của
một sinh vật khác, gọi là vật chủ (host), hấp thụ chất dinh dưỡng từ cơ thể của
vật chủ mà không trực tiếp giết chết vật chủ đó Ví dụ, Giun đũa (Ascaris lumbricoides) sống trong ruột người thì người gọi là vật chủ, còn giun đũa là
KST Giun đũa sống ký sinh và hấp thụ chất dinh dưỡng trực tiếp từ ruột khiếnngười bị nhiễm giun đũa gầy gò, da xanh, mất máu, dị ứng , nhưng bệnh dogiun đũa không trực tiếp gây chết người đó
Giữa KST và vật chủ có mối quan hệ khăng khít lẫn nhau Một số loài KSTchỉ ký sinh trên một hoặc một vài đối tượng vật chủ nhất định, hoặc một số loài
có vòng đời phát triển phức tạp với sự thay đổi qua nhiều lần vật chủ (như cácloài sán lá) KST có thể sống ở những vị trí khác nhau của cơ thể vật chủ: ởngoài da, trong mô cơ quan hoặc ký sinh trong nội tạng cơ thể vật chủ Dựa vàohình thái ký sinh có thể phân chia thành hai nhóm:
Ngoại ký sinh: là những KST chỉ sống ở trên bề mặt hoặc trong các hốc tự
nhiên (như miệng, âm đạo) của cơ thể vật chủ Ví dụ các loại tiết túc, KST ghẻ
(Sarcoptes scabiei), trùng roi âm đạo (Trichomanas vaginalis), loại amip ký sinh
ở răng miệng (Entamoanba gingivalis), các nấm ký sinh ngoài da và nấm men
âm đạo (Candida albicans) đều là những ngoại KST
Nội ký sinh: Là những KST sống ở trong các tổ chức hoặc nội tạng của cơ
thể vật chủ Ví dụ các loại giun sán, KST sốt rét, các loại đơn bào đường tiêuhóa và nội tạng đều là nội KST
Đa số các ngoại KST như côn trùng tiết túc chỉ khi nào chiếm thức ăn (ví
dụ khi đốt, hút máu) chúng mới bám vào vật chủ; còn lại phần lớn thời gian
chúng sống tự do ngoài thiên nhiên Những loài KST đó gọi là KST tạm thời.
Những KST khác, toàn bộ cuộc đời của chúng hoặc trong một giai đoạn lâu dài
phải sống nhờ vào vật chủ được gọi là KST vĩnh viễn Tất cả các nội KST như
giun sán, sốt rét, đơn bào đều là KST vĩnh viễn
Bản thân KST tuy sống nhờ vào vật chủ nhưng cũng có thể bị những KSTkhác sống bám trên cơ thể chúng Ví dụ, muỗi là KST nhưng muỗi có thể bị sinhvật khác sống như nấm, culicoides Những sinh vật ký sinh trên một KST được
gọi là Bội KST.
Về mặt bệnh tật, có thể phân biệt KST thành 2 nhóm:
Trang 3- KST gây bệnh là những KST trực tiếp gây các triệu chứng bệnh thông
qua các hoạt động sống của chúng, ví dụ như giun đũa, sán lá ruột, KST sốt rét
ký sinh trong cơ thể người gây bệnh trực tiếp cho con người
- KST truyền bệnh (vector) là những KST đóng vai trò trung gian môi giới
truyền bệnh ví dụ như: muỗi truyền bệnh sốt rét, giun chỉ; chấy, rận, bọ chéttruyền các bệnh sốt hồi quy phát ban hoặc bệnh dịch hạch Tuy nhiên có thểgặp những KST tuy gọi là KST truyền bệnh nhưng chúng cũng có thể trực tiếpgây bệnh, ví dụ như các vết đốt của muỗi hoặc bọ chét có thể gây dị ứng, khóchịu hoặc mẩn ngứa, song mức độ gây bệnh không nghiêm trọng nên vẫn đượcsắp xếp vào nhóm KST truyền bệnh
Trong chuẩn đoán bệnh KST, có thể xảy ra những trường hợp nhầm lẫn
trong khi nhận định, vì vậy cần phân biệt KST thực thụ và KST giả hiệu KST
thực thụ gây bệnh, còn KST giả hiệu không gây bệnh KST giả hiệu có thể là donhững sinh vật khác bị tạp nhiễm vào bệnh phẩm hoặc các dị vật thấy đượctrong quá trình xét nghiệm, ví dụ trong bệnh phẩm lẩn các thức ăn không tiêu cóHình thể giống như ấu trùng hoặc trứng giun sán
1.2 KHÁI NIỆM VẬT CHỦ
Vật chủ (host) là những sinh vật bị nhiễm KST Có 2 dạng vật chủ cơ bản:
- Vật chủ chính (hay vật chủ cuối cùng – definitive host) là những vật chủ
mà KST ở giai đoạn trưởng thành, có thể giao phối và sinh sản được
- Vật chủ trung gian (hay vật chủ phụ - secondary/intermediate host) là vật
chủ mà KST chỉ ký sinh trong một giai đoạn nhất định trong vòng đời phát triểncủa chúng, sau đó chuyển sang ký sinh ở vật chủ khác (vật chủ chính) cho tới
dạng trưởng thành Ví dụ, con trưởng thành của loài Sán lá gan lớn (Fasciola gigantic) ký sinh ở gan người hoặc ruột trâu bò, sinh sản và đẻ trứng Tuy nhiên,
ở giai đoạn ấu trùng (Cecaria) chúng ký sinh ở các loài động vật nước ngọt nhưcua, ốc, cá… Như vậy, ốc là vật chủ trung gian của Sán lá gan lớn, còn conngười và trâu, bò là vật chủ chính của nó
Đứng về mặt bệnh tật người ta còn dùng danh từ vật chủ trung gian để chỉnhững vật chủ (hoặc chính hoặc phụ) làm trung gian truyền bệnh từ người nàysang người khác Ví dụ muỗi là vật chủ trung gian truyền bệnh sốt rét hay ốc làvật chủ trung gian truyền các bệnh sán lá Cần phân biệt vật chủ trung gian với
Sinh vật môi giới truyền bệnh (vector) Sinh vật môi giới truyền bệnh có thể là
Trang 4gian hoặc môi giới truyền bệnh, nhưng trong bệnh lỵ amip, ruồi chỉ là môi giớitruyền bệnh vì ruồi vận chuyển bào nang của amip từ nơi này đến nơi khác làmcho bệnh lây lan nhưng ruồi hoàn toàn không phải là vật chủ của amip (vì bàonang amip có thể dính vào cơ thể ruồi nhưng không ký sinh ở ruồi, không thayđổi và phát triển trong quá trình bám vào cơ thể ruồi).
1.3 CHU KỲ PHÁT TRIỂN CỦA KÝ SINH TRÙNG
Toàn bộ các quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau ởbên trong hoặc bên ngoài cơ thể vật chủ, từ dạng ban đầu là trứng cho tới dạngtrưởng thành có khả năng sản sinh ra thế hệ tiếp theo, được gọi là chu kỳ pháttriển (Life cycle)
Có 3 dạng chu kỳ phát triển của KST, bao gồm:
- Chu kỳ phát triển thực hiện hoàn toàn bên ngoài tự nhiên: Thường xảy ra
ở những loài KST tạm thời như muỗi, ruồi, bọ xít hút máu Ví dụ muỗi đẻtrứng, trứng nở thành bọ gậy, bọ gậy chuyển thành quăng và quăng chuyểnthành muỗi trưởng thành Muỗi đực và muỗi cái giao hợp, muỗi cái lại đẻ trứng;toàn bộ quá trình vừa nêu hợp thành chu kỳ của muỗi (Hình 1)
Hình 1 Chu kỳ phát triển của Muỗi
- Chu kỳ phát triển thực hiện hoàn toàn bên trong cơ thể vật chủ: Thường
xảy ra ở các loài KST vĩnh viễn, ví dụ như KST sốt rét, giun chỉ bạch huyết(Hình 2) Toàn bộ các giai đoạn phát triển từ trứng, ấu trùng, nang cho tới trưởngthành của KST đều diễn ra bên trong cơ thể vật chủ
Trang 5Hình 2 Chu kỳ phát triển của KST sốt rét P falciparum
- Chu kỳ phát triển có giai đoạn ấu trùng sống tự do ngoài tự nhiên: Thông
thường ở các loài KST có sự thay đổi 1-2 lần vật chủ, ví dụ như ở các loài Sán
lá, sán dây, giun tròn (Hình 3)
Hình 3 Chu kỳ phát triển Sán lá gan lớn Fasciola gigantica
Ngoài ra còn một kiểu chu kỳ đặc biệt, KST chỉ lây truyền sang một loàivật chủ và do tiếp xúc, ví dụ KST ghẻ lây lan do tiếp xúc, trùng roi âm đạo lâylan do giao hợp
Việc hiểu biết về chu kỳ phát triển của KST rất quan trọng đối với y học,
Trang 6thức truyền bệnh, dịch tễ học từ đó dự đoán được chính xác tình hình diễn biếncủa bệnh KST, đề xuất các biện pháp thích hợp trong phòng ngừa, điều trị cácbệnh KST gây ra Chu kỳ phát triển của KST có nhiều giai đoạn, chỉ cần mộtgiai đoạn không có hoặc bị phá vỡ là chu kỳ không thể thực hiện được Ví dụ cóthể cắt đứt đường chu kỳ của KST từ vật chủ ra ngoại cảnh, từ ngoại cảnh vàovật chủ mới; hoặc diệt KST ở trên vật chủ bằng cách điều trị đối với người hoặcvật chủ có ích (như trâu, bò ) hoặc diệt ngay những vật chủ có hại (như chuột,ruồi, muỗi ).
1.4 ĐẶC ĐIỂM CHUNG KÝ SINH TRÙNG
Đặc điểm về hình thể: KST có kích thước nhỏ bé, đa số có dạng hình
thoi hoặc hình tròn, thích hợp cho việc xâm nhập vào cơ quan nội tạng, đườngmáu của vật chủ Các loài sán lá thì có cơ thể dẹt thích nghi với việc bám vàothành nội quan hoặc thành xoang cơ thể
Đặc điểm về cấu tạo cơ thể: KST có sự biến đổi về một vài cấu tạo cơ
thể để thích nghi với đời sống ký sinh như sau:
- Tiêu giảm một số cơ quan không cần thiết, thường là những cơ quan tiêu
hóa, vận động, cảm giác Ví dụ, Sán lá sống những nơi trong cơ thể có nguồnthức ăn chọn lọc sẵn nên không cần có bộ máy tiêu hóa hoàn chỉnh và ống tiêuhóa chỉ là những ống đơn giản không có đường thải bã ra ngoài cơ thể Sán dâycũng sống bằng những thức ăn chọn lọc nên không có ống tiêu hóa và tiêu hóabằng phương pháp thẩm thấu
Hình 4 Sự biến đổi phần đầu có nhiều gai thích nghi với việc bám vào thành ruột của giun sán ký sinh (1), Đầu giun đầu gai Acanthocephala có nhiều gai; (2), Đầu loài
sán dây Taenia solium có gai và 4 giác bám.
Trang 7- Phát triển các cơ quan đặc biệt cho đời sống ký sinh: Do cách sống ký
sinh, KST phát triển những cơ quan đặc biệt bảo đảm cho việc sống ăn bámđược thuận lợi Những cơ quan được hoàn chỉnh thường là những cơ quan thựchiện chức năng để bám vào cơ thể vật chủ như móc bám, giác bám… (Hình 4);
cơ quan truy tìm vật chủ, chiếm thức ăn ở vật chủ, giúp cho sinh sản dễ dàngtrên vật chủ hoặc ở ngoại cảnh Ví dụ ở muỗi, nhờ những phân tích giác quanđặc biệt muỗi dễ dàng tìm được vật chủ; muỗi dễ dàng bám vào vật chủ nhờchân có túi bám bai và móng Khi muỗi hút máu ở vật chủ, vòi muỗi có nhữngtuyến tiết chất chống đông máu đồng thời có những bộ phận giúp cho máu chảy
dễ dàng vào vòi
Đặc điểm về sinh sản: KST có nhiều hình thức sinh sản để phát triển
nhân lên Đơn giản nhất là sinh sản vô tính, ví dụ như KST sốt rét, amip có thể
tự phân chia làm hai hoặc thành nhiều KST mới
Nhiều loài KST có thể lưỡng tính, tức là có cả hai bộ phận sinh dục đực
và cái trên cùng một cơ thể, do đó chúng có thể thực hiện giao phối và sản sinh
ra những thế hệ sau trong những điều kiện khó khăn
Cũng có trường hợp ấu trùng của KST có khả năng sinh sản: đó là Hìnhthức phôi tử sinh Ví dụ, ấu trùng sinh của sán lá (metacecarica) có dạng bọc,bên trong bọc có nhiều ấu trùng có đuôi hoặc lông có thể di chuyển được(cecaria)
Do điều kiện sống ký sinh khắc nghiệt, khả năng ký sinh trên cơ thể vật chủkhó khăn cho nên đa số các loài KST sinh sản nhanh, nhiều và dễ dàng, phát
triển theo Quy luật số lớn Ví dụ Giun đũa hàng ngày có thể đẻ tới 200.000
trứng Ruồi, muỗi mỗi lứa đẻ cũng sản sinh ra hàng trăm trứng
Đặc điểm về phân vùng địa lý và khí hậu: Mỗi một loài KST hoặc
nhóm KST có sự phân vùng địa lý riêng, phù hợp với những điều kiện sinh tháimôi trường nhất định Ví dụ, loài trùng roi đường ruột phân vùng chủ yếu ở cácnước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi, Đông Nam Á , những
ca nhiễm ở các nước ôn đới như Châu Âu chủ yếu là do sự lây lan qua conđường du lịch Do phụ thuộc vào môi trường, nên những biến động thời tiết khíhậu đều có thể ảnh hưởng đến sự có mặt và mật độ của KST Ở Việt Nam, ruồi,muỗi phát triển nhiều, từ tháng 4 đến tháng 9 là những tháng có khí hậu nóng
ẩm thích hợp
Từ yếu tố môi trường đã hình thành môn y học địa lý, y học khí hậu trong
Trang 8thế giới cũng như ở Việt Nam đã hình thành những khu vực phân bố địa lý rõrệt Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, số lượng ca nhiễm sốt rét trên toàn thế giớitập trung chủ yếu ở các nước có khí hậu nóng, mạnh nhất là ở Châu Phi và Tây
Á, Ấn Độ (là những nơi có điều kiện vệ sinh dịch tễ kém), và gần như không có
ở các nước có khí hậu lạnh như Châu Âu hay Mỹ, Canada (Hình 5)
Hình 5 Số lượng ca nhiễm sốt rét trên toàn thế giới năm 2010 (Theo WHO)
1.5 DỊCH TỄ HỌC KÝ SINH TRÙNG Y HỌC
1.5.1 Đặc điểm bệnh KST
Bệnh do KST ở người có bốn đặc điểm:
- Bệnh KST có tính phổ biến theo vùng: Vùng nào có những yếu tố khí hậu,
địa lý, nhân sự, thuận lợi cho KST nào phát triển thì vùng đó sẽ phổ biến bệnhnày Ví dụ: trong phạm vi toàn thế giới, những vùng nóng, ẩm thuộc các nướcchâu Á, Phi, Mỹ Latinh là những vùng có nhiều bệnh KST nhất
- Bệnh KST hầu hết đều mang tính chất thời hạn rõ rệt: Hầu hết bệnh do
KST gây ra là ở giai đoạn trưởng thành của loài KST đó, ví dụ như các bệnhgiun đũa, giun móc, giun chỉ, giun kim Mỗi loài KST đều có tuổi thọ nhất định,
ví dụ như giun đũa sống khoảng một năm trong ruột người; giun kim sốngkhoảng hai tháng Vì vậy, bệnh KST có thời hạn tồn tại phụ thuộc vào tuổi thọcủa KST Tuy nhiên cũng có trường hợp mắc bệnh KST trong những thời gianrất dài do người bệnh bị tái nhiễm liên tục
- Bệnh KST thường kéo dài: Nhưng khác hẳn với một số bệnh truyền nhiễm
có thời hạn ngắn như sởi, thủy đậu, bệnh KST thường diễn biến lâu dài hàng
Trang 9tháng, hằng năm Điều này chủ yếu do sự tái nhiễm liên tục hoặc do nhiều loàiKST có vòng đời phát triển khép kín trong cơ thể vật chủ.
- Bệnh KST thường diễn biến thầm lặng: Bệnh KST thường biểu hiện thầm
lặng, dễ nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác, và chỉ biểu hiện cấp tính khi
số lượng KST trong cơ thể quá nhiều gây suy yếu bệnh nhân, hoặc gây tắcnghẽn một cơ quan bộ phận nào đó (ví dụ giun đũa gây tắc ống mật) Vì vậy, cầnphải theo dõi và chữa trị dứt điểm tránh tình trạng tái nhiễm nếu phát hiện thấybệnh KST
1.5.2 Ảnh hưởng của KST đối với vật chủ
Có thể có một số KST không gây ảnh hưởng gì đặc biệt đối với vật chủ
như amip Entamoeba coli ký sinh ở ruột người không gây tác hại gì đặc biệt.
Tuy nhiên nói chung hầu hết KST đều gây hại với vật chủ Những ảnh hưởng táchại của KST đối với vật chủ có thể xếp làm 6 loại: chiếm thức ăn, gây độc, gâychấn thương, gây tắc cơ học, gây kích thích và vận chuyển mầm bệnh khác vào
cơ thể
- KST chiếm thức ăn của vật chủ: Muốn sống và phát triển, KST phải
nhờ vào vật chủ để lấy thức ăn Lượng thức ăn bị tiêu hao phụ thuộc vào nhiềuyếu tố: loại KST, khả năng phục hồi của cơ thể và số lượng KST
- KST gây độc đối với cơ thể vật chủ: Trong quá trình tồn tại trên vật chủ,
KST tiết ra nhiều chất và những chất này có thể gây độc đối với cơ thể Ví dụgiun đũa tiết ra chất ascaron có thể gây hiện tượng nhiễm độc nặng
- Tác hại gây tắc cơ học do KST: Một loại KST có kích thước nhất định
nên có thể gây tắc tại chỗ ký sinh Ví dụ giun đũa gây tắc ruột, gây viêm tắc ốngmật Hiện tượng này tùy thuộc vào phản ứng của cơ thể đối với sự xâm nhập củaKST và số lượng KST
- Tác hại gây chấn thương của KST: KST sử dụng móc, giác hoặc gai để
bám vào một vị trí nhất định của cơ thể vật chủ và gây tổn thương nhất định đốivới cơ thể vật chủ Ví dụ: giun tóc phải cắm sâu đầu vào thành ruột của vật chủ,giun móc phải ngoạm vào niêm mạc ruột Mức độ tổn thương có thể thay đổi tùytheo từng loại KST, tùy theo những viêm nhiễm kết hợp với tổn thương
- Tác hại gây kích thích do KST: Do tổn thương, do những độc tố và do
cả những cơ chế khác, KST có thể gây cho vật chủ những kích thích rất khácnhau Ví dụ kích thích ngứa gây ra bởi những giun kim cái tới cái nếp nhăn
Trang 10với toàn cơ thể, ví dụ như các hiện tượng dị ứng toàn thân xảy ra khi cơ thể bịKST xâm nhập.
- Tác hại vận chuyển các mần bệnh mới vào cơ thể: Trong quá trình
xâm nhập vào cơ thể vật chủ, KST có thể mang trên thân chúng một số mầmbệnh khác Ví dụ ấu trùng giun có thể mang vi khuẩn than, vi khuẩn lao để gâybệnh cho vật chủ
1.5.3 Phản ứng của cơ thể đối với KST
Cơ thể vật chủ không chịu đựng một cách thụ động toàn bộ những ảnhhưởng của KST mà sẽ phản ứng lại theo những mức độ khác nhau Cơ thể phảnứng lại với KST bằng hai hình thức:
Phản ứng tại chỗ: là những phản ứng tế bào của cơ thể như viêm, dị ứng,
sốt, tăng sản, loạn sản
Phản ứng toàn cơ thể: là những thay đổi như tăng thân nhiệt, thay đổi
chức năng và phản xạ tự vệ để chống trả lại với sự xâm nhập của KST
Kết quả của ảnh hưởng qua lại giữa KST và vật chủ có thể dẫn tới: KST bịchết hoặc KST không hoạt động và không gây bệnh Tùy theo mức tác hại gây
ra do KST mà xảy ra bệnh KST với những diễn biến khác nhau
Bệnh KST có những đặc điểm riêng, có những hội chứng riêng và cónhững nét riêng về diễn biến, dịch tể học, chuẩn đoán, điều trị và phòng chống.Cũng vì vậy, bệnh KST có những phạm trù chung của bệnh học, đồng thời lại cónhững sắc thái riêng
1.5.4 Hội chứng bệnh KST
Tuy mỗi bệnh KST có những đặc điểm, triệu chứng riêng, nhưng do tínhthống nhất của ảnh hưởng qua lại giữa KST và vật chủ nên bệnh KST vẫn cónhững biểu hiện chung Hội chứng bệnh KST thể hiện dưới hình thức của bốntriệu chứng lớn:
- Hiện tượng viêm: Từ chỗ xâm nhập của KST vào cơ thể hoặc tại nơi ký
sinh nhất thiết phải có hiện tượng viêm Hiện tượng viêm do KST gây nên tạichỗ hoặc do phản ứng của tế bào của tổ chức vật chủ đối với KST Có khi do cảhai phản ứng cộng lại để tạo nên hiện tượng viêm
- Hiện tượng nhiễm độc: Triệu chứng này thường xuyên gặp vì KST nói
chung đều tiết ra những độc tố Hiện tượng nhiễm độc mang tính chất chung làkéo theo dài và mạn tính Cũng có những trường hợp nhiễm độc cấp như khi bị
ve đốt hoặc ruồi vàng đốt
Trang 11- Hiện tượng hao tổn dưỡng chất: Do KST thường xuyên chiếm những
chất của cơ thể làm thức ăn cho chúng nên cơ thể vật chủ bị hao tổn các chấtmột cách thường xuyên và kéo dài Hiện tượng hao tổn các chất thường dẫn đếnsuy dinh dưỡng và thiếu máu
- Hiện tượng dị ứng: Hiện tượng dị ứng hầu như bao giờ cũng xảy ra
trong bệnh KST với những mức độ biểu hiện khác nhau như tăng bạch cầu toantính, nổi mẩn dị ứng Lợi dụng tính chất này có thể chuẩn đoán bệnh bằngphương pháp tiêm kháng nguyên trong da
1.5.5 Diễn biến của bệnh KST
- Hình thức diễn biến: Từ những ảnh hưởng qua lại khác nhau, bệnh KST
sẽ có 3 hình thức diễn biến như sau:
+ Tự diễn biến: Trong trường hợp tự diễn biến, có hai khả năng: diễn biến
tốt và diễn biến xấu Cơ thể vật chủ vượt lên những tổn hại do KST gây ra, thậmchí không có những biểu hiện bệnh và chỉ là một trạng thái nhiễm KST Sau mộtthời gian vật chủ sẽ tiêu diệt KST hoặc KST tự hết sau khi hết tuổi thọ Trongtrường hợp diễn biến xấu, bệnh KST sẽ biểu hiện với những mức độ bệnh khácnhau
+ Diễn biến có can thiệp: Đối với những trường hợp có can thiệp điều trị,
bệnh KST vẫn có thể có những diễn biến xấu nếu việc điều trị không đạt kếtquả Đối với những trường hợp điều trị có kết quả, bệnh sẽ mất đi sớm hoặcmuộn tùy theo tác động điều trị
+ Diễn biến sau điều trị: Sau khi khỏi bệnh, bệnh vẫn có thể để lại những
di chứng như phù voi sau khi mắc bệnh giun chỉ Những bệnh KST sau khi mắc
có thể để lại một trạng thái miễn dịch tuy nhiên mức độ miễn dịch thường khôngcao và không bền vững
- Tính chất miễn dịch của các bệnh KST: Trước kia người ta cho rằng
bệnh KST không tạo nên miễn dịch Quan niệm này dựa vào những nhận xétlâm sàng của người có mắc bệnh sốt rét hoặc giun sán nhiều lần, do đó bệnh cótính chất tái nhiễm dễ dàng, thậm chí có người suốt đời mang bệnh do tính chấttái nhiễm liên tiếp Trừ một số rất ít bệnh có tạo miễn dịch, bệnh KST đều cókhả năng bị mắc lại Hiện nay, quan niệm trên đây đã thay đổi căn bản Các nhànghiên cứu cho rằng bệnh KST có miễn dịch, dựa vào những cơ sở sau đây:+ Bệnh KST giảm dần theo tỷ lệ tuổi, tuy mức độ vệ sinh và phòng bệnhkhông có sự cách biệt lớn theo các lứa tuổi Ví dụ: các bệnh giun sán ở lứa tuổi
Trang 12trên 9 tuổi giảm rõ rệt cho đến tuổi già Hiện tượng giảm dần theo tuổi chứng tỏrằng sau những lần tái nhiễm, miễn dịch cũng dần được kiến lập.
+ Đối với một số bệnh KST như là sốt rét, mức độ của bệnh lần tái nhiễmbao giờ cũng nhẹ hơn lần mắc trước Ở những nơi đã không còn sốt rét, hiệntượng sốt lâm sàng nặng dễ chuyển thành ác tính, vì lúc đó người ta đã mất miễndịch (do nhiều năm đã không mắc bệnh sốt rét)
+ Đối với một số bệnh của gia súc, hiện tượng miễn dịch lại càng rõ hơn:bệnh giun đũa nghé, bệnh giun đũa lợn chỉ mắc khi gia súc còn non Các bệnhnói trên không gây nhiễm được cho những gia súc ở lứa tuổi cao
+ Dùng phương pháp gây nhiễm thực nghiệm, người ta thấy sau một số lầntái nhiễm không thể nào gây lại được bệnh nữa Như vậy chứng tỏ ràng nhữnglần tái nhiễm được nhắc lại có tạo một miễn dịch chắc chắn, có hạn định
+ Với những phương pháp thăm dò miễn dịch học ngày nay, ví dụ: xácminh kháng thể, xác minh khả năng thực bào tăng, người ta có thể thấy khá rõcác hiện tượng xuất hiện kháng thể sau khi mắc bệnh KST, cũng như có hiệntượng tăng thực bào sau lần mắc bệnh KST
Tuy có miễn dịch nhưng miễn dịch KST không cao và không bền vững,phải mất một thời gian dài mới kiến lập được Chính vì tính chất này nên đa sốbệnh vẫn có tái nhiễm và phải chờ cho tới sau nhiều lần tái nhiễm, miễn dịch đãđược tạo ra đến mức tương đối thì lúc đó mới có khả năng bảo vệ được cơ thểchống lại bệnh Người ta thấy miễn dịch tự nhiên nói chung của các bệnh KSTkhông có hoặc không đáng kể Các nghiên cứu ở một vùng bệnh lưu hành nặng,thấy có những người không mắc bệnh, thì đó không phải là những trường hợpmiễn dịch tự nhiên, mà chỉ là do số lượng KST quá ít không gây biểu hiện lâmsàng, hoặc do thể trạng tốt nên bệnh không phát ra Cần phân biệt miễn dịch tựnhiên và trạng thái không tiếp thu bệnh: sinh vật này không tiếp thu những bệnhcủa sinh vật khác Nếu có trường hợp mắc bệnh thì chỉ là hiện tượng ký sinh bấtthường, lạc chủ
Tuy không có miễn dịch tự nhiên nhưng sau khi mắc bệnh KST hoặc saukhi được dự phòng bằng vaccin, cơ thể sẽ chọn sự kích thích của kháng nguyên
và từ đó tạo ra kháng thể Trong các loại kháng thể, cần phân biệt ra kháng thểphản ứng và kháng thể bảo vệ Kháng thể phản ứng không nhất thiết là có khảnăng bảo vệ Miễn dịch có được là do kháng thể bảo vệ Những kháng thể cótính chất bảo vệ tùy theo mức độ hiện diện sẽ làm cho bệnh được giảm nhẹ ở lầnmắc sau, hoặc làm cho không thể mắc lại được bệnh, bệnh “mụn miền đông” do
Trang 13Leishmania và truyền bởi muỗi cát không thể tái nhiễm Đối với bệnh “mụn
miền đông” vaccin dự phòng cũng đã thành công từ lâu và đó cũng là vaccinKST đầu tiên được ứng dụng Hiện nay, các thành tựu về miễn dịch học đã được
áp dụng có hiệu quả nghiên cứu KST và rất có thể có khả năng tạo được nhữngvaccin KST như vaccin sốt rét
Có thể phân chia các loại KST gây bệnh ở người thành hai nhóm: NhómKST thuộc Giới động vật (Animalia) bao gồm KST đơn bào (như amip, trùngroi, trùng sốt rét…) và đa bào (giun sán, tiết túc); và nhóm KST thuộc Giới nấm(Fungi) bao gồm các loài nấm ký sinh
2.1 KÝ SINH TRÙNG ĐỘNG VẬT
2.1.1 Ký sinh trùng đơn bào
Động vật đơn bào (Protozoa) hay còn gọi là động vật nguyên sinh(Protista) là những sinh vật mà cơ thể chỉ gồm một tế bào, có khả năng chuyểnđộng và dị dưỡng Động vật đơn bào là một dạng sống vô cùng đơn giản, không
có những tế bào biệt hoá đảm nhận những vai trò khác nhau trong cơ thể nhưđộng vật đa bào Theo thống kê có khoảng 40,000 loài động vật đơn bào, đa sốchúng có đời sống tự do ở ngoài môi trường tự nhiên Một số loại đơn bào thíchnghi với đời sống ký sinh ở trong các vật chủ là người và động vật gọi là KSTđơn bào
Đặc điểm cấu tạo: Mỗi đơn bào được bao bọc bởi một lớp màng
(membrane) có vai trò trong sự vận động và bảo vệ cơ thể (ngoại trừ các đơnbào thuộc lớp Giả túc Rhizopoda hoặc amip thì không có màng tế bào bao bọc).Cấu tạo đơn bào giống như tế bào động vật hay thực vật, tức là có một lớp ngoại
và nội nguyên sinh chất và nhân (Hình 6)
Trang 14Hình 6 Cấu tạo cơ thể chung của một đơn bào
Chức năng của ngoại nguyên sinh chất là chuyển động, tiêu hóa thức ăn,
hô hấp và bảo vệ cơ thể Chức năng của nội nguyên sinh chất là dinh dưỡng vàsinh sản Trong nội nguyên sinh chất có hai loại không bào với chức năng khácnhau: loại không bào co bóp (Constractile vacuole) có chức năng điều chỉnh áplực thẩm thấu, điều chỉnh sự bài tiết và loại không bào tiêu hóa (Food vacuole)
để giúp cho việc dự trữ và tiêu hoá thức ăn
Nhân (nuclear) ở trung tâm tế bào, có màng nhân bao bọc Một vài loạiđơn bào như amip màng nhân mang những hạt ăn màu hoặc hạt nhiễm sắc
(Cromatina granule) Ở trùng lông (Balantidium), đơn bào có 2 nhân, một nhân
lớn và một nhân nhỏ nằm ngay cạnh nhân lớn
Chức năng vận động: Đơn bào được thực hiện nhờ sự kéo dài của ngoại
nguyên sinh chất dưới hình thức của những cơ quan vận động (Locommotororgan), cụ thể là:
- Các chân giả (Pseudopode) như đối với amip
- Các lông chuyển (Cilia) đối với trùng lông
- Các roi (Flagellum) và màng vây (Ondulante membrane) đối với cácloại trùng roi
Các đơn bào thuộc lớp bào tử trùng như KST sốt rét (Plasmodium), cung trùng (Toxoplasma) không có cơ quan chủ động Chúng ký sinh cố định trên các
tế bào của cơ thể vật chủ
Chức năng dinh dưỡng: Đơn bào dinh dưỡng theo 3 cách thông thường:
- Thẩm thấu tiếp thu các chất dinh dưỡng qua màng
- Xâm chiếm theo kiểu thực bào
Trang 15- Cách hấp thu tự nhiên như kiểu dinh dưỡng thực vật Cách này chỉ gặp ởmột số rất ít đơn bào hết sức thô sơ và chức năng chuyển hóa lục diệp tố, ví dụnhư các đơn bào Suctoria.
Chức năng hô hấp: Đơn bào không có những cơ quan biệt hóa và tế bào
có thể tiếp thu oxy, thải khí cacbonic bằng khuếch tán; nhưng đơn bào thô xơ cóthể tiếp thu oxy thông qua sự tiếp thu khi cacbonic (CO2) như kiểu thực vật
Chức năng sinh sản: Động vật đơn bào có hai hình thức sinh sản cơ bản:
vô tính hoặc hữu tính Các hình thức Sinh sản vô tính như phân đôi (như trườnghợp của các amip, các trùng roi); phân chia liên tục (như trong giai đoạn phân
liệt của Plasmodium ở người); và phân chia cắt ngang (ở trùng lông Balantidium coli).
Sinh sản hữu tính ở động vật đơn bào là sự kết hợp và thụ tinh giữa giao tửđực và giao tử cái kèm theo hiện tượng thoát roi dẫn đến sự hình thành trứng củaKST sốt rét ở trong cơ thể côn trùng Một số loại đơn bào khác ở trong lớp
Sporozoa như Isospora, Toxoplasma đều có khả năng sinh sản tạo bào tử Trong
trường hợp giao bào đực và cái kích thước bằng nhau thì đó là sinh sản đồng thể;nếu giao tử đực và giao tử cái kích thước khác nhau (giao tử cái thường lớn hơn
và còn goi là giao tử lớn) thì đó là sinh sản không đồng thể
Hiện tượng tạo thành bào nang của đơn bào: Một vài loài đơn bào có
đặc tính trong một số điều kiện nhất định có khả năng chuyển thành thể bàonang Bào nang thường hình tròn hoặc hình bầu dục và bao giờ cũng có mộtmàng dày bao bọc Vì vậy những bào nang này có khả năng tồn tại ở ngoại cảnhtrong một thời gian dài và đồng thời đồng thời chúng cũng có thể nhiễm bệnh(Infectious form) Các loại amip, trùng lông và một số trùng roi đường tiêu hóađều có khả năng tạo thành bào nang
Đặc điểm về chu kỳ của đơn bào: Chu kỳ của các loại đơn bào đường
ruột và sinh dục tiết niệu tương đối đơn giản KST không cần vật chủ trung gian(Intermediary host) để phát triển chu kỳ Đó là trường hợp chu kỳ của amip,trùng lông, trùng roi đường tiêu hóa và sinh dục tiết niệu Những KST không
cần vật chủ trung gian trong chu kỳ phát triển được gọi là KST đơn chủ
(Monoxenic parasite)
Các loại đơn bào khác ở đường máu và tổ chức phải cần đến vật chủ trung
gian là côn trùng truyền bệnh (Insect vector) trong chu kỳ phát triển vì vậy
chúng là những KST đa chủ (Heteroxenic parasite) Đó là trường hợp chu kỳ
Trang 16Sự đáp ứng miễn dịch trong các bệnh do động vật đơn bào: Đa số các
đơn bào khi xâm nhập cơ thể vật chủ đều tạo ra cho cơ thể vật chủ có một sự đápứng miễn dịch tự nhiên Tuy vậy hiện tượng miễn dịch này không được bềnvững và ổn định đủ đề phòng những đợt miễn dịch bệnh sau đó Chỉ có 1 loại
trùng roi đường máu và nội tạng Leishmania tropica gây bệnh mụn miền cân
đông sau khi nhiễm vào cơ thể vật chủ chỉ một lần đầu là có thể gây miễn dịchbền vững Bệnh nhân không bị các các lần nhiễm tiếp theo
Tuy nhiên mức độ sinh kháng thể trong các bệnh này đủ để làm những
phản ứng chuẩn đoán huyết thanh (Serodiagnoisis) Cho đến nay đã có được
nhiều xét nghiệm chẩn đoán huyết thanh cho khoảng 24 loại bệnh KST, trong đó
có nhiều bệnh do đơn bào
Phân loại: Có thể phân chia động vật đơn bào thành 4 lớp dựa vào đặc
điểm cấu tạo của cơ quan vận động và phương thức vận động như sau:
A LỚP CHÂN GIẢ (RHIZOPODA)
Thuộc ngành Trùng biến hình (Amoebozoa) Chân giả bao gồm các loạiamip cử động bằng cách phình phần tế bào chất lên phía trước, gọi là pseudopod(Hình 7) Các loài trong lớp amip chân giả phân biệt nhau bởi cấu tạo bên trongcủa những pseudopod này Để điều chỉnh áp suất thẩm thấu, nhất là các loài amip nước ngọt, chúng có một không
bào co bóp để điều chỉnh lượng nước
dư thừa trong tế bào Các nguồn thực
phẩm của amip là khác nhau Một số
amip ăn thịt và sống bằng cách ăn vi
khuẩn và sinh vật nguyên sinh khác
Một số là sinh vật phân huỷ và ăn các
chất hữu cơ chết Amip dinh dưỡng Hình 7 Cấu tạo amip Amoebabằng thực bào, mở rộng giả hành để bao vây và nuốt chửng lấy thức ăn
Các dạng hình thể:
- Thể hoạt động ăn hồng cầu: Đó là thể gây bệnh thường thấy trong phân
người bị bệnh lỵ do amip, hoặc khu trú trong các áp xe ở thành ruột, hoặc trongcác tổn thương ở các phủ tạng khác do amip di chuyển tới và gây nên Thể ănhồng cầu này có kích thước từ 20 – 40 µm, soi tươi thấy nó di chuyển nhanhtheo một hướng nhất định bằng cách phóng ra một chân giả trong suốt Trong
Trang 17nội nguyên sinh chất có chứa những hồng cầu do amip ăn vào, do đó mới có têngọi là thể ăn hồng cầu (Hình 8B) Thể ăn hồng cầu là thể độc và gây bệnh.
Hình 8 Amip lỵ (E hystolitica): A – Amip sống đang di chuyển; B – Cá thể nuốt và chưa nuốt hồng cầu; C – Bào nang 1 nhân và 4 nhân (từ Ghillarov).
- Thể hoạt động minuta: Thể này sống hoại sinh trong lòng ruột và có thể
thấy trong phân người không có lỵ Chúng cũng di chuyển bằng cách phóngchân giả Nhân cũng giống như chân của thể ăn hồng cầu, nhưng kích thước củathể này nhỏ hơn, chỉ từ 10 – 12 µm chúng không ăn hồng cầu mà chỉ ăn các cặncủa thức ăn hoặc vi khuẩn, do đó trong nội nguyên sinh chất không thấy có hồngcầu (Hình 8A)
- Thể bào nang (hoặc thể kén của amip): Đó là thể bảo vệ và phát tán
amip Bào nang có hình cầu, bất động, có thành dày và chiết quang Bào nangnon chỉ chứa 1 hoặc 2 nhân, 1 không bào và một cài hình que có 2 đầu tầy, chiếtquang, đó là các thể ưu sắt Bào nang già có 4 nhân (Hình 8C), kích thước bàonang từ 10 – 12 µm Bào nang được thải ra theo phân và cũng là mẫu phát tánbệnh
Sức đề kháng của các thể này khác nhau, các thể hoạt động không có sức
đề kháng đối với nhiệt và độ hanh khô như thể bào nang Bào nang còn có thểsống nhiều ngày trong nước Acid chlohydric ở dạ dày không có tác động gì đốivới bào nang, nhưng lại phá hủy nhanh các thể hoạt động của amip, làm cho cácthể này không nhiễm được qua đường miệng
Một số amip chân giả gây bệnh phổ biến cho người và gia súc bao gồm
Trang 18- Entamoeba histolytica (amip lỵ): ký sinh ở ruột, gây bệnh lỵ amip
(amoebiasis)
- E gingivalis: ký sinh ở chất bám ở nứu răng, tìm thấy trong 95% những
người bị bệnh nứu răng Amip lây lan do hôn nhau hoặc do ăn chung thức ăn
- E coli: (không nên nhầm lẫn với vi khuẩn Escherichia coli) ký sinh trong ruột nhưng không lây bệnh, dễ nhầm lẫn với loài amip lỵ E histolytica.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu người ăn thịt nấu chưa chín bị nhiễm
chủng E coli O157:H7 cũng có thể bị rối loạn tiêu hóa nặng, thậm chí gây tử
vong
- E polecki: ký sinh ở ruột lợn và khỉ, hiếm gặp ở người.
- Entamoeba hartmanni, Endolimax nana, Iodamoeba butschlii, Dietamoeba fragilis: ký sinh trong ruột người, gây tiêu chảy cấp hoặc mãn tính.
Bệnh cũng dễ nhầm lẫn với bệnh amip lỵ
- Naegleria fowleri (amip ăn não) là một loài amip nước ngọt, có thể gây
tử vong cho con người nếu xâm nhập qua đường mũi
- Acanthamoeba có thể gây ra viêm giác mạc amip và viêm não ở người.
- Balamuthia mandrillaris là nguyên nhân gây ra viêm não màng não
amip u hạt (thường gây tử vong)
Hình 9 Hình thể các loại amip đường ruột (theo Brooke and Melvin, 1964)
Các amip tự do có thể gây bệnh ở người: Các amip tự do là các đơn bào
chân giả gặp ở tất cả các môi trường tự nhiên và có bất thường ở các động vật,
Trang 19các loài có vú và nhất là ở người, ở đó chúng sẽ gây ra các biểu hiện bệnh lý mà
tiên lượng thường là nặng Có 2 giống rất ưa người là giống Naegleria và giống Acanthamoeba, phổ biến ở trong thiên nhiên (nước ngọt, nước mặn, đất, không
khí) và cả ở trong môi trường nhân tạo như các nuôi cấy tế bào Chúng không cócác sinh vật dự trữ nhưng nhiều sinh vật sống có thể là vật chủ bất thường mangchúng trong đường mũi – họng và ruột sau khi bị nhiễm từ môi trường ngoạicảnh
Trong giống Naegleria thì loài N fowleri là đáng quan tâm nhất do khả
năng gây ra các biểu hiện cấp tính cực nhanh ở bộ máy thần kinh của các bệnh
nhân còn khả năng miễn dịch Bệnh viêm màng não – não tiên phát do N fowleri đặc trưng bởi sự xuất hiện rất nặng ở trẻ em, hay gặp nhất sau khi tắm
bằng nước bị ô nhiễm Bệnh tiến triển cấp chỉ trong vài ngày
Với giống Acanthamoeba, hiện nay có các loài gây bệnh phổ biến như A polyphaga, A castellanie và A thamoeba Acanthamoeba thường gây bệnh mạn tính ở các bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch Các biểu hiện do Acanthamoeba
gây ra thường là Viêm màng não – não hạt, tiến triển cũng gây chết người; bệnh
do Acanthamoeba ở mắt (viêm giác mạc) là bệnh thứ phát hoặc do một chấn
thương bất thường ở mắt; Viêm tai, loét da, viêm cơ tim, viêm phổi
Chẩn đoán: Chẩn đoán lâm sàng thường rất khó do sự thiếu thông tin của
các nhà lâm sàng, các nhà sinh họa và điều trị học Chẩn đoán sinh học dựa trên
sự tìm thấy tác nhân gây bệnh, kết quả thay đổi theo lâm sàng, với các kỹ thuậtsau:
- Viêm màng não – não tiên phát do amip: xét nghiệm dưới kính hiển vi
nước não tủy cấy trong môi trường thạch 2% ở 37°C, có phủ Enterobacter sp.
- Viêm màng não – não hạt do amip: kỹ thuật trên không mang lại kết quả,chuẩn đoán chủ yếu là mổ tử thi
- Bệnh do Acanthamoeba ở mắt: Xét nghiệm các phiến đàn giác mạc trải
trên phiến kính nhuộm Gram và cấy ở 30°C các phiến đàn giác mạc hoặc mảnhghép giác mạc
- Các khu trú khác: nuôi cấy đơn thuần
Điều trị: Điều trị thường thất bại do amip này có sức đề kháng rất lớn:
- Với các khu trú ở não: Dùng amphotericin B
- Các khu trú ở mắt: ngoài ghép giác mạc điều trị bằng liệu pháp lạnh vàbằng isothionate propamidine
Trang 20B TRÙNG ROI (FLAGELLATA)
Trùng roi là những nguyên sinh động vật có một hoặc nhiều roi (flagella),
có vai trò trong sự vận động Chúng sống tự do trong nước ngọt hoặc nước biển,một số sống ký sinh Đặc điểm chung của trùng roi là di chuyển nhờ roi, vừa tựdưỡng vừa dị dưỡng (ở các trùng roi thực vật) hoặc chỉ dị dưỡng (ở các trùng roiđộng vật), hô hấp qua màng cơ thể, bài tiết và điều chỉnh áp suất thẩm thấu bằngkhông bào co bóp, sinh sản vô tính bằng cách phân đôi Những loài trùng roisống tự do là sinh vật có lợi, chúng chỉ thị về độ sạch cho môi trường nước, làthức ăn cho nhiều loài thuỷ sinh vật khác
Phân loại: Chủ yếu gồm hai nhóm chính là Trùng roi thực vật và Trùng
roi động vật (Euglenozoa):
- Trùng roi thực vật bao gồm Trùng roi xanh (Euglena viridis) và Tập
đoàn trùng roi (hay còn gọi là tập đoàn Vôn-vốc) Trùng roi xanh là đơn bào cỡnhỏ (khoảng 0,05 mm) có cơ thể hình thoi, đuôi nhọn và có một roi dài xoáy vàonước giúp cơ thể vừa tiến vừa lui (Hình 10) Chúng tạo thành các mảng vángxanh trên bề mặt ao, hồ Tập đoàn trùng roi (vôn-vốc) là tập hợp hàng nghìn cáthể trùng roi hình quả lê, có 2 roi xếp thành một lớp bề mặt, roi hướng ra ngoàigiúp tập đoàn di chuyển Tập đoàn trùng roi vừa sinh sản vô tính (mỗi cá thể tựphân chia) vừa sinh sản hữu tính (một số cá thể thành giao tử đực, cái) Tập đoàntrùng roi dù có nhiều tế bào nhưng chỉ được coi là một nhóm động vật đơnbào vì mỗi tế bào vẫn vận động và dinh dưỡng độc lập Tập đoàn trùng roi đượccoi là hình ảnh của mối quan hệ về nguồn gốc giữa động vật đơn bào và độngvật đa bào
Ở nơi có ánh sáng, nhờ các hạt dự trữ mà trùng roi dinh dưỡng kiểu tựdưỡng như thực vật, còn ở chỗ tối trùng roi vẫn sống nhờ khả năng đồng hoá cácchất như động vật Trùng roi có tính hướng sáng, cảm nhận ánh sáng nhờ điểmmắt và bơi về chỗ sáng nhờ roi bơi
Trang 21
Hình 10 Cấu tạo trùng roi xanh E Viridis và tập đoàn Von-vốc
- Trùng roi động vật: Gồm nhiều loài ký sinh ở động vật, cơ thể không cóhạt lục lạp cho nên có khả năng bắt mồi hoặc hấp thụ chất dinh dưỡng từ cơ thểvật chủ Các loài trùng roi ký sinh đều thuộc trùng roi động vật
Các loài Trùng roi ký sinh phổ biến ở người:
- Loài Trichomonas intestinalis, có hình dạng trái lê, kích thước 10-15
µm, có từ 3-5 roi Đây là một loại trùng roi rất phổ biến ở các nước nhiệt đới, kýsinh trong ống dẫn mật, tá tràng và ruột non của người Chúng gây các cơ đaubụng quằn quại và ỉa chảy nặng Bệnh lan truyền chủ yếu qua nước nhiễm mầmbệnh từ phân người
- Loài T buccalis gặp trong miệng người, ký sinh trong các tổ chức tổn
thương viêm lợi có mủ và còn gặp trong đờm, trong các tổ chức hoại tử củaphổi Vai trò gây bệnh của loại này chưa được rõ ràng nhưng dù sao cũng thấy
nó có liên quan đến bệnh học của răng và lợi
- Loài T vaginalis (trùng roi âm đạo) ký sinh ở âm đạo và nước tiết âm đạo, gây nên các triệu chứng viêm nhiễm đường sinh dục Ở trạng thái tươi, T vaginalis có hình dạng không đồng nhất, có khi dạng tròn, bầu dục hoặc hình
quả lê, có 3 – 5 roi Thông thường là 1 roi, có 1 roi đi về phía sau tạo thànhmàng vây ngắn và xếp thành nếp, có một sống thân; sống thân này ở bên nhânđối với bên có màng vây
- Trypanosoma ký sinh trong máu của động vật có xương sống, gây bệnh
“ngủ li bì” rất nguy hiểm ở Châu Phi, làm chết trên 1 triệu người trong 30 nămđầu của thế kỷ 21 Mầm bệnh được tích trữ trong cơ thể sơn dương (vật chủ
chứa) Ruồi xê-xê (Glossina morsitans và G palpalis) là những loài ruồi truyền
Trang 22gây bệnh Sura cho trâu bò, loài mòng Tabanus rubidus là vật chủ trung gian
truyền bệnh
- Leishmania ký sinh trong tế bào Có hai loài Leishmania ký sinh gây bệnh nguy hiểm ở người là L donovano gây bệnh hắc nhiệt (Kalaaza) chủ yếu ở trẻ em vùng nam Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Á và L tropica gây bệnh “mụn
phương đông” lở loét ngoài da, gặp ở vùng có khí hậu khô nóng như Ai Cập,Siri, Bắc Ấn, Palestin Vật chủ chứa của bệnh này là chó và chuột
C TRÙNG LÔNG (CILIOPHORA)
Ngành đơn bào Trùng lông (Ciliophora) hay còn gọi là mao trùng, là nhữngnguyên sinh động vật có cơ thể được bao phủ bên ngoài bởi một lớp lông cóchức năng trong vận động Có khoảng 3500 loài trùng lông được mô tả, tuy
nhiên cho đến hiện nay mới chỉ phát hiện được duy nhất loài Balantidium coli
ký sinh ở ruột người gây ra bệnh balantidiasis.
Cấu tạo cơ thể: Trùng lông B coli có kích thước trung bình 70 x 45 µm,
đặc biệt có 2 nhân, nhân to (macronucleus) có chức năng dinh dưỡng và nhânnhỏ (micronucleus) có chức năng sinh sản Cơ thể trùng lông gồm có một màngbao, trong nguyên sinh chất có những không bào có khả năng co bóp, có lỗmiệng, trong nguyên sinh chất có những không bào có cả hồng cầu Trùng lôngsinh sản bằng hình thức chia đôi, nhưng đặc biệt cũng sinh sản bằng sự tiếp hợpgiữa hai trùng lông với nhau; với những điều kiện đặc biệt, chúng cũng có khảnăng thành bào nang
B coli có 2 giai đoạn phát triển, giai đoạn tự dưỡng (trophozoite) và giai
đoạn nang (cyst) Ở thể tự dưỡng, hai nhân tách rời và có thể quan sát rõ, nhưng
ở thể nang, chúng chồng lấn lên nhau và thường chỉ quan sát được mỗi nhânmacronucleus (Hình 11)
Trang 23Hình 11 Cấu tạo cơ thể trùng lông B coli
Vai trò của Trùng lông trong y học: B coli sống trong manh tràng và
đại tràng của con người, lợn, chuột và động vật có vú khác Điều đặc biệt B coli
không dễ dàng nhiễm vào một loài vật chủ vì nó đòi hỏi một khoảng thời giannhất định để điều chỉnh cơ thể thích nghi với đời sống ký sinh ở trong cơ thể vật
chủ Tuy nhiên, một khi nó đã thích nghi với cơ thể vật chủ, trùng lông B coli có
thể trở thành một tác nhân gây bệnh nghiêm trọng, đặc biệt là ở người Bệnhnhân có thể bị thủng đại tràng và tử vong do sự mất nước của phân Người bịnhiễm trùng lông do ăn phải thức ăn hoặc uống nước bị ô nhiễm Thông thườngbệnh trở nên cấp tính xảy ra ở những người bị suy dinh dưỡng do nồng độ axit
dạ dày thấp hoặc những người có hệ miễn dịch kém Trong bệnh cấp tính, tiêuchảy có thể xảy ra thường xuyên hai mươi phút một lần, gây mất nước, thủngđại tràng và có thể nguy hiểm tới tính mạng
D TRÙNG BÀO TỬ (SPOROZOA)
Bao gồm các loại đơn bào sống ký sinh, đặc biệt khác với các loại đơnbào của 3 lớp trên ở những đặc điểm như: (1) ký sinh trong cơ thể động vật.Trong chu kỳ phát triển có giai đoạn bào tử có vỏ bảo vệ; (2) có cơ quan đỉnh(vòng miệng) giúp trùng bào tử xâm nhập vào các tế bào vật chủ (Hình 12); (3)
có hiện tượng xen kẽ giữa các thế hệ sinh sản vô tính và hữu tính, giai đoạn sinhsản hữu tính thường ở côn trùng truyền bệnh nên côn trùng là vật chủ chính, ví
dụ với trùng sốt rét Plasmodium, muỗi là vật chủ chính Thực ra chu kỳ hữu tính
đã bắt đầu có mầm sống từ các giao tử được sinh ra từ thể tự dưỡng
Trang 24Phân loại và vai trò của các nhóm Trùng bào tử trong y học: Trùng
bào tử có 3 nhóm lớn, bao gồm:
- Trùng hai đoạn (Gregarinida): Có cơ
thể tương đối lớn, ký sinh ngoài tế bào trong
khoang ruột hoặc thể xoang của động vật
không xương sống (như côn trùng, giun đất)
Cơ thể có phần thắt ngang tạo thành đoạn
trước và đoạn sau Nhóm này chưa phát hiện
thấy ký sinh ở người
- Trùng hình cầu (Coccidiida): Ký sinh
trong tế bào mô bì ruột, gan, thận Chúng là
trùng bào tử ký sinh chuyên hóa hẹp, tức là
mỗi loài đòi hỏi một loài vật chủ nhất định,
thậm chí chỉ ký sinh trong phạm vi của một cơ
quan
Hình 12 Hình thể của các loại
Trùng bào tử
Các loại Trùng hình cầu liên quan đến y học như Eimeria stiedae ký sinh ở
thỏ nhà và thỏ rừng, có khi cả ở người gây bệnh ở gan, tai mũi họng
Cryptosporidium Sarcocystis (gây bệnh Coccidi ở ruột) và Toxoplasma gondii
ký sinh trong tế bào nội mô, gây tổn thương hệ bạch huyết, thần kinh, giác quan
và có triệu chứng gần giống bệnh Thương hàn (bệnh Toxoplasma) ở người vàgia súc
- Trùng bào tử máu (Haemosporidia): Có hàng trăm loài, ký sinh trong tế
bào nội mô của động vật có xương sống Chu kỳ phát triển của chúng hoàn toàntrong cơ thể vật chủ, không qua môi trường ngoài Vật truyền bệnh là chân khớphút máu (như Ruồi, muỗi )
Các loại bào tử trùng ký sinh đường máu (Bemosporidi) bao gồm các giống
Plasmodium (gây bệnh sốt rét) và Babesia (gây bệnh Babesia).
2.1.2 Ký sinh trùng đa bào
KST đa bào bao gồm các loài Giun sán ký sinh (parasitic helminthes) vàtiết túc (Arthropod Parasites)
A GIUN SÁN KÝ SINH (HELMINTHES)
Giun sán ký sinh là thuật ngữ chỉ chung cho tất cả các loài Giun sán ký sinh
ở người và động vật, bao gồm Sán lá (Trematodes) và Sán dây (Cestodes) thuộc
Trang 25ngành Giun dẹp (Platyhelminthes), Giun tròn (Nematodes) thuộc ngành Giuntròn (Nematoda) và Giun đầu gai thuộc ngành Giun đầu gai (Acanthocephala).Giun sán ký sinh trong y học chủ yếu là các loài sán lá, sán dây và giun tròn,trong khi các loài giun đầu gai mới chỉ phát hiện thấy ký sinh ở các loài chim,thú và lưỡng cư mà chưa có ghi nhận nào ký sinh ở người Giun sán là nhữngloài nội ký sinh, ký sinh trong các bộ phận nội tạng của vật chủ như ruột, gan,phổi, ống mật…
Bệnh giun sán có tác hại với đa số người một cách thầm lặng và lâu dàicũng giống như các bệnh Ký sinh trùng khác Bệnh giun sán tác hại tới mọi lứatuổi, tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là tác hại ở lứa tuổi trẻ em Bệnh giun đũa,giun kim đang gây ra tình trạng suy dưỡng ở trẻ em hiện nay Bệnh giun móc,
mỏ gây ra tình trạng thiếu máu Bệnh giun chỉ tuy đã có giảm tỷ lệ người mắc,tuy nhiên cá biệt một số vùng phía bắc nhân dân vẫn còn mang bệnh giun chỉdẫn đến hiện tượng phù voi, đái ra dưỡng chất Các bệnh do sán (sán lá gan, sán
lá phổi, sán xơ mít ) tuy là ít người mắc hơn so với bệnh giun, nhưng vẫn còntồn tại và vẫn có thể dẫn tới tử vong Bệnh sán lợn cũng có thể gây ra bệnh ấutrùng sán lợn não dẫn tới tử vong, mà những năm gần đây người ta cũng đã thấybệnh xuất hiện rải rác ở các tỉnh phía Bắc ở Việt Nam
Phân loại (Hình 11):
- Sán lá: Cơ thể dẹt, có hình lá Hầu hết các loài sán lá có đời sống ký sinh
ở trong nội tạng của các động vật có xương sống như chim, thú, cá… Sán lá làloài lưỡng tính, trên một cơ thể có đầy đủ cả cơ quan sinh dục đực và cái Chu
kỳ phát triển của sán lá khá phức tạp, với sự thay đổi vật chủ một lần (sán lá đơnchủ - Monogenea, ký sinh ở cá hoặc lưỡng cư) hoặc có sự thay đổi hai lần vậtchủ (Sán lá song chủ - Digenea, ký sinh ở các động vật có xương sống) Nhiềuloài sán lá ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người như Sán lá gan lớn, sán lá gannhỏ, sán lá ruột, sán lá phổi…
Thân sán lá không có xoang, bên trong có những cấu tạo của ống tiêu hóa,
cơ quan thần kinh, cơ quan sinh dục Lớp vỏ của thân sán lá là lớp vỏ nhẵn,thường không cứng và có một số sán có vỏ là lớp có nhiều kiểu cơ: cơ vòng, cơdọc và cơ chéo Thân sán có những bộ phận giúp cho sán bám ký sinh gọi làgiác hút Sán lá ký sinh ở người nói chung có hai giác hút: Giác miệng ở phíatrước vừa có chức năng bám vừa có chức năng là miệng tiêu hóa và Giác bụng ởvùng giữa, thường chỉ có chức năng đơn thuần để bám ký sinh
Trang 26(Paragonimus), Sán bã trầu (Fasciolopsis buski), Sán máu (Schistosoma hoặc Biilharsia)
- Sán dây: Thuộc lớp Sán dây (Cestoda), ngành Giun dẹp, cơ thể sán
thường dẹp và phân chia thành nhiều đốt (ví dụ như sán dây bò Taenia saginata
có cơ thể dài từ 4-12m, và có tới trên 1000 đốt) Đốt đầu tiên là đầu có móc hoặcgai bám cứng bằng kitin, và có các giác bám; các đốt càng về sau càng già vàthoái hóa nhiều cơ quan trong cơ thể, cho đến những đốt sau cùng thì chỉ chứatoàn trứng Chu kỳ phát triển của Sán dây khá đơn giản, trực tiếp sán dây vậtchủ sán dây Một số loài sán dây ký sinh phổ biến ở người và vật nuôi như Sán
xơ mít (Diphyllobothrium latum), sán dây bò (Taeniarhynchus saginatus), sán chó (Echinococcus granulosus), sán lợn gạo (Taenia solium)…
Hình 11 Các nhóm Giun sán ký sinh:
(1), Sán lá; (2), Sán dây; (3), Giun tròn; (4), Giun đầu gai
- Giun tròn: Cơ thể hình ống tròn, bên ngoài cơ thể có lớp vỏ kitin mỏng
bao bọc, phần đầu có miệng có giác hút Chúng là loài lưỡng tính, có con đực,con cái Giun tròn thích nghi với hầu hết môi trường sống từ biển tới nước ngọt,
từ vùng cực tới nhiệt đới…, sống tự do và cả ký sinh ở động vật lẫn thực vật.Đời sống của giun tròn ký sinh khá đơn giản, trứng ở ngoài môi trường có mócbám vào các cây thực vật, động vật bị nhiễm giun khi ăn phải loài thực vật đó cótrứng Các loài giun tròn gây bệnh phổ biến ở người và gia súc như Giun tóc
(Trichocephalus), Giun đũa (Ascaris lumbricoides), Giun xoắn (Trichinella spiralis), Giun lươn (Strongyloides stercoralis), Giun kim (Oxyuris và
Trang 27Enterobius), Giun móc (Ancylostoma), Giun chỉ bạch huyết (Wuchereria bancrofti)
- Giun đầu gai: Thuộc ngành Giun đầu gai (Acanthocephala), cơ thể gần
giống với giun tròn, nhưng phần đầu lồi và phát triển, có rất nhiều gai nhọn.Chúng có đời sống phức, liên quan ít nhất đến hai vật chủ, trong đó vật chủ cuốicùng là các loài động vật có xương sống như cá, bò sát, ếch nhái, chim, thú.Hiện nay rất hiếm ca ghi nhận nhiễm giun đầu gai ở người, chủ yếu là do bịnhiễm tình cờ (accident host)
Nội dung khoa học của ngành giun sán ký sinh: Để áp dụng với yêu
cầu của công tác chuẩn đoán, điều trị và phòng chống bệnh giun sán Nội dungkhoa học của ngành giun sán ký sinh bao gồm:
- Nghiên cứu về hình thái: Nội dung trước tiên về hình thái là mô tả, phân
loại giun sán Một số loài giun sán ký sinh có hình dạng cơ thể rất đặc trưng,giúp chúng ta dễ dàng nhận biết bằng mắt thường hoặc qua kính hiển vi, để từ
đó đưa ra được chẩn đoán và điều trị đúng Bên cạnh đó, nhiều loài có hình dạng
cơ thể gần giống nhau nhưng có chu kỳ phát triển, sinh thái hoàn toàn khácnhau, vì vậy nghiên cứu về hình thái là những bước đầu tiên và rất cơ bản đểgiúp công việc chuẩn đoán bệnh Ký sinh trùng, cũng như là điều trị và phòngchống chúng
- Nghiên cứu về sinh thái: Từ các nghiên cứu về sinh thái giun sán các tác
giả đả hiểu biết được chu kỳ của giun sán, nắm được các nguyên nhân, giai đoạngây bệnh của giun sán với người Từ đó tìm ra các thuốc hoặc các biện phápphòng chống lại giun sán ký sinh
- Nghiên cứu về khu hệ giun sán: của từng điểm địa lý riêng giúp cho các
nhà Ký sinh trùng học có bản đồ khu hệ của bệnh Ký sinh trùng, từ đó việcphòng chống sẽ trở nên hữu tiện hiệu hơn Đặc biệt đối với các bệnh giun sán cónhiều vật chủ Do đó các sự hiểu biết về khu hệ giun sán đã giúp cho các nhà Kýsinh trùng đặt ra các kế hoạch khống chế bệnh một cách hiệu quả hơn
- Sự liên quan giữa bệnh giun sán của người và bệnh giun sán của động
vật: Rất nhiều loài giun sán ký sinh không chỉ ký sinh trên người mà còn cả trên
các loài động vật khác, đặc biệt là gia súc gia cầm gần người như gà, vịt, chó,mèo, trâu bò, lợn Đôi khi con người không những lây bệnh giun sán của cácgia súc mà còn có thể mắc bệnh giun sán của động vật hoang dã Trong nhữngtrường hợp người mang bệnh giun sán từ các gia súc hay các động vật truyền
Trang 28thể bệnh nhân như sốt cao, tế bào ái toan tăng vọt và có thể gây ra các bệnhcảnh lâm sàng khác Vì vậy, nghiên cứu ký sinh trùng y học nhất thiết phảinghiên cứu cả hệ giun sán ký sinh ở động vật gần người (gia súc, gia cầm) đểtìm hiểu mối liên quan và từ đó có các biện pháp phòng chống và điều trị hiệuquả.
Tình hình bệnh do Giun sán ký sinh ở nước ta: Ở nước ta bệnh giun
trầm trọng hơn bệnh sán Trầm trọng ở mức nhiễm cao, diện nhiễm rộng Từ Bắcvào Nam ở cả 4 vùng: đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển đều có tỷ lệ bệnhgiun đũa, giun móc mỏ, giun tóc, cao Đặc biệt là ở vùng có mật độ dân cư lớnnhư đồng bằng, và các địa phương còn có phong tục dùng phân người bón hoamàu Theo báo cáo của UNICEF năm 2002 tại cộng đồng dân cư các tỉnh biêngiới Việt Nam – Campuchia, tỷ lệ nhiễm giun đũa dao động từ 4,59-29,86%;giun tóc dao động từ 3,32-12,09% Theo WHO (2008) ước tính có khoảng 33,9triệu người Việt Nam mắc giun đũa (44,4%), 17,6 triệu người mắc giun tóc(23,1%) và 21,8 triệu người nhiễm giun móc (28,6%) Số lượng người bị nhiễmSán lá gan lớn lên tới 5000 người mỗi năm, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung vàTây Nguyên
Các bệnh sán dây thường gặp ở miền núi nơi mà nhân dân còn có phongtục ăn các món ăn có thịt lợn, thịt trâu bò chưa nấu chín (gỏi) Các bệnh sán láthường tập trung ở các vùng dân cư ven biển, có tập quán ăn có gỏi và làm cầutiêu xuống ao Hiện nay bệnh sán lá gan còn có tỷ lệ cao ở một số vùng ở cáctỉnh đồng bằng ven biển miền Bắc, miền Trung
Bệnh giun sán là một bệnh mang tính xã hội, nên vấn đề phòng chống tiếntới khống chế bệnh là phải mang tính chất xã hội, công việc của toàn cộng đồng.Gần đây người ta đã điều chế được các loại thuốc diệt giun sán có hiệu quảcao, ít độc, giá thành hạ Kết quả trên đã tạo cho công việc tấn công hạ được tỷ
lệ nhiễm giun sán ký sinh dễ dàng hơn trước Tuy nhiên bản chất của bệnh giunsán có liên quan chặt chẽ tới môi trường sống Trước tiên ở nước ta là vấn đềquản lý phân, vấn đề hố xí, vấn đề sử dụng phân người làm phân bón Nếu cácvấn đề trên còn tồn tại gây ô nhiễm môi trường thì kết quả của các đợt điều trịcũng rất hạn chế, tỷ lệ bệnh vẫn không giảm đáng kể
Do đó hiện nay các nhà Ký sinh trùng thường có khuynh hướng là lồngghép các chương trình phòng chống bệnh giun sán vào các chương trình môi
Trang 29trường, săn sóc sức khỏe ban đầu Đôi tượng cần quan tâm hàng đầu là lứa tuổitrẻ em ở các vùng nông thôn và miền núi.
B TIẾT TÚC Y HỌC
Tiết túc y học bao gồm Lớp Côn trùng (insects) và Lớp Nhện (Arachnids)
ký sinh Tiết túc là nhóm ngoại ký sinh, ký sinh bên ngoài cơ thể vật chủ như da,lông, tóc, dinh dưỡng bằng cách hút máu Do hút máu, tiết túc có thể truyền một
số bệnh bệnh từ người này sang người khác, ví dụ như Ruồi, muỗi, ve, mò, mạt,
bọ xít hút máu Giữa người – tiết túc – động vật có nhiều mối liên quan chặtchẽ với nhau Khi người và thú vật cũng là vật chủ của một loài tiết túc, tiết túcnày có thể truyền mầm bệnh từ thú vật sang người hoặc ngược lại
Đặc điểm chung: Tiết túc là động vật phân tính, có con đực và con cái.
Cơ thể có cấu tạo đối xứng và bao bọc bởi vỏ cứng kitin, cơ thể phân thànhnhiều đốt (nhiều khớp) Lớp vỏ kitin có tính chất đàn hồi, do đó tiết túc có thểlớn lên trong vỏ cứng Tuy nhiên, mức độ đàn hồi hạn chế, nên khi tiết túc pháttriển đến mức độ trưởng thành nào đó, lớp vỏ không thể chứa cở thể phát triểnbên trong được nữa, lúc đó sẽ xảy ra hiện tượng lột xác Hiện tượng lột xác củatiết túc xảy ra theo các giai đoạn của quá trình phát triển cho đến giai đoạntrưởng thành cuối cùng thì ngừng
Phân loại: Gồm hai nhóm được tổng hợp như sau:
- Bao gồm: Ruồi, muỗi, gián, bọ chét,
chấy…
- Bao gồm: Ve, rận, nhện, bòcạp…
Trang 30mang 1 cặp mắt kép và 2-3 đôi mắt đơn,
phần phụ miệng, ăng ten (râu) Ngực
thường có 3 đốt: ngực trước, ngực giữa và
ngực sau Ngực mang 6 đôi chân và 2 cánh
(nếu có) Bụng gồm nhiều đốt và một số đốt
cuối cùng trở thành bộ phận sinh dục ngoài
- Miệng biến đổi đa dạng, tùy thuộc vào
thành phần thức ăn như Kiểu nghiền, kiểu
liếm, kiểu chích hút
trước gọi là Đầu ngực(cephalothorax) và Bụng(abdomen) Phần đầu ngực mang
8 đôi chân, không có ăng ten haycánh
- Phần miệng tạo thành vòi hútdùng để hút máu và chất dinhdưỡng từ vật chủ
Đặc điểm chung của tiết túc là cơ thể phân thành nhiều đốt (nhiều khớp),
cơ thể có cấu tạo đối xứng và bao bọc bởi vỏ cứng kitin Lớp vỏ kitin có tínhchất đàn hồi, do đó tiết túc có thể lớn lên trong vỏ cứng Tuy nhiên, mức độ đànhồi hạn chế, nên khi tiết túc phát triển đến mức độ trưởng thành nào đó, lớp vỏkhông thể chứa cở thể phát triển bên trong được nữa, lúc đó sẽ xảy ra hiện tượnglột xác Hiện tượng lột xác của tiết túc xảy ra theo các giai đoạn của quá trìnhphát triển cho đến giai đoạn trưởng thành cuối cùng thì ngừng
Chu kỳ phát triển: Ở hầu hết các loài, trứng phát triển thành ấu trùng, trải
qua nhiều dạng biến thái (metamorphosis) cho đến giai đoạn cuối cùng là dạng
trưởng thành Có hai dạng biến thái chính: Biến thái hoàn toàn (complete
metamorphosis) là dạng biến thái từ trứng (eggs), ấu trùng (larvae), nhộng(pupa) và trưởng thành (adult), thường gặp ở các loài côn trùng như ruồi,
muỗi… và Biến thái không hoàn toàn (incomplete metamorphosis), bao gồm
trứng phát triển thành thiếu trùng (nymphs) có hình dạng gần giống với contrưởng thành, trải qua nhiều lần lột xác, lớn lên và cuối cùng thành con trưởngthành, ví dụ ở các loài rận, bọ ve và một số loài côn trùng khác như Chuồnchuồn, châu chấu Sơ đồ hai kiểu phát triển biến thái như Hình 12
Trang 31Hình 12 Sơ đồ phát triển biến thái ở Tiết túc
Về tính chất ký sinh, tiết túc là những Ký sinh trùng tạm thời nên trong chu
kỳ có cả gian đoạn tự do và giai đoạn ký sinh Tiết túc chủ yếu là những Ký sinhtrùng truyền bệnh (vector) Trong quá trình chiếm thức ăn, một số tiết túc có thểgây bệnh (như rệp gây dị ứng khi đốt người; muỗi, bọ chét khi hút máu gây sẩnngứa ), nhưng tính chất gây bệnh chỉ là thứ yếu so với tính chất truyền bệnh.Các biệt, Ký sinh trùng ghẻ chỉ gây bệnh Do tính chất truyền nhiều bệnh nguyhiểm, tiết túc có thể được sử dụng như một loại vũ khí chiến tranh
Các Hình thức truyền nhiễm: Tiết túc thường ký sinh ngoài, trên hoặc
bên trong da của các loài động vật có có xương sống khác Nhiều loài hút máu(haematophagous), trong khi những loài khác thì cắn hoặc đào hang trong các
mô da gây tổn thương, viêm và phản ứng miễn dịch (gọi là histophagous) Tiếttúc truyền từ vật chủ này sang vật chủ khác hoặc bằng cách tiếp xúc trực tiếphoặc những con trưởng thành tích cực tìm kiếm các vật chủ Có 3 hình thứctruyền nhiễm chính ở Tiết túc:
- Truyền nhiễm trực tiếp: Xảy ra khi vật chủ tiếp xúc với vật chủ khác (như
sử dụng chung chăn, chiếu, giường ngủ, quần áo) Ấu trùng, nhộng hoặc contrưởng thành có thể di chuyển sang vật chủ mới, trong khi trứng và ấu trùng làmlây nhiễm các đồ dùng sinh hoạt Hình thức này xảy ra phổ biến ở côn trùng (bọchét và chấy) và nhện
- Truyền nhiễm chủ động ở giai đoạn ấu trùng: Ấu trùng của một số loài
tiết túc chủ động tìm kiếm loài vật chủ của chúng bằng cách leo lên cây cối vàbám vào vật chủ khi nó đi qua Một vài loài hoàn thành hết vòng đời phát triểncủa nó trên cơ thể của một vật chủ, trong khi những loài khác thì nhảy ra khỏivật chủ sau khi hút máu (ve, bét) để thay lông trước khi tìm vật chủ mới
- Truyền nhiễm chủ động ở giai đoạn trưởng thành: Con trưởng thành của
nhiều loài côn trùng có khả năng tìm kiếm vật chủ mới để ăn hoặc đẻ trứng Ví
dụ, một số loài ruồi, muỗi hút máu thì bay đến hút máu người hoặc động vật,trong khi bọ chét thì nhảy lên bám vào cơ thể vật chủ Một số loài ruồi thìkhông bay theo hút máu mà đẻ trứng vào mô cơ thể của vật chủ, ấu trùng nở rahấp thụ chất dinh dưỡng từ cơ thể vật chủ để phát triển
Vai trò của tiết túc trong y học:
Trang 32- Tiết túc là sinh vật gây bệnh: Một số loại tiết túc trong quá trình ký sinh
tạm thời hay vĩnh viễn có thể gây bệnh như Sarcoptes scabiei gây bệnh ghẻ, Dermatobia hominis gây bệnh giòi ruồi (myiasis)
- Tiết túc là vector truyền bệnh: Tiết túc là vật chủ của mầm bệnh gồm có
2 loại:
+ Tiết túc đảm bảo sự truyền sinh học hay cơ học các mầm bệnh một cáchtích cực, chủ yếu là tiết túc thuộc côn trùng như Muỗi truyền một số bệnh nhưsốt rét, giun chỉ, sốt xuất huyết; Bọ chét truyền bệnh dịch hạch; Ve truyền
Rickettsia, viêm não Châu Âu; Muỗi cát truyền bệnh Leishmania
+ Tiết túc là vật chủ trung gian của một số loại ký sinh trùng gây bệnh: Để
hoàn thành chu kỳ, một số loài ký sinh trùng bắt buộc phải phát triển một haynhiều giai đoạn trong cơ thể của một vài loài tiết túc Ví dụ, Tôm, cua nước giọt
là vật chủ trung gian của sán lá phổi Paragonimus westermani; Cyclop là vật chủ trung gian thứ nhất của sán dây Diphylobothrium latum
Phương thức truyền bệnh của tiết túc: Đa số tiết túc truyền bệnh đều hút
máu, nhưng truyền bệnh theo nhiều cách khác nhau:
- Truyền qua nước bọt: là phương thức phổ biến nhất, ví dụ muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét, Trypanosoma, Ve truyền Rickettsia
- Chuyển qua chất bài tiết: Pediculus truyền bệnh sốt hồi qui chấy rận qua
chất bài tiết
- Truyền qua dịch coxa: một số loại ve mềm có tuyến coxa ở vùng háng, là
nơi chứa nhiều xoắn trùng
- Truyền do ứ mửa ra mầm bệnh trong trường hợp bị tắc nghẽn tiêm phòng
ở bọ chét, muỗi cát truyền bệnh leishmania
- Truyền bệnh bằng cách phóng thích mầm bệnh trên da: truyền giun chỉ domuỗi, do Simulium
- Truyền bệnh do tiết túc bị giập nát: Trường hợp nhiễm Rickettsia do chấy
bị dập nát
Phòng và chống bệnh tiết túc:
- Nguyên tắc: Đối với từng loại tiết túc cần căn cứ theo đặc điểm sinh thái
học của chúng mà áp dụng các biện pháp khác nhau nhằm phòng chống tiết túcmột cách toàn diện Ví dụ, phòng chống muỗi sốt rét bao gồm: phun hóa chấtdiệt muỗi, hun khói, dùng hóa chất xua muỗi, khơi thông cống rãnh, phát quangnhững bụi rậm quanh nhà nhưng thường phải kết hợp nhiều biện pháp khácmới có thể đạt được hiệu quả cao
Trang 33- Phương pháp: Thường có 4 phương pháp để phòng chống tiết túc, đó là: + Phương pháp cơ học và cải tạo môi trường: Phương pháp cơ học là bắt
và diệt các côn trùng trung gian truyền bệnh hoặc ngăn chặn không cho chúngtiếp xúc vơi người Còn cải tạo môi trường là sự phá vỡ, hạn chế điều kiện pháttriển của côn trùng chuyển bệnh Cải tạo môi trường nhằm gây ra một sự mấtthăng bằng sinh thái, bất lợi cho loài tiết túc gây bệnh và duy trì càng lâu càngtốt trạng thái mất thăng bằng này
Phương pháp cơ học và cải tạo môi trường có ưa điểm là không gây ônhiễm môi trường, tác dụng bền vững và mang tính chủ động
+ Phương pháp hóa học: Phương pháp hóa học sử dụng các chất hoặc tổng
hợp,hoặc chiết xuất từ cây có thể diệt tiết túc có hại khi chúng tiếp xúc hoặc ănphải các chất đó
Phương pháp hóa học có ưu điểm là tác dụng nhanh Hiệu lực cao và có thểtriển khai trên một diện rộng Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạnchế đó là hiện tượng kháng hóa chất của côn trùng và sự tích lũy các hóa chấtnày trong thiên nhiên ngày càng nhiều, gây ô nhiễm môi trường
+ Phương pháp sinh học: Dùng những kẻ thù tự nhiên của côn trùng để tiêu
diệt chúng (động vật ăn mồi) hoặc dùng những sinh vật để gây bệnh cho côntrùng (virus, vi khuẩn)
Phương pháp sinh học không những không gây ô nhiễm môi trường, màcòn không độc đối với người và gia súc Tuy nhiên, hiệu lực của phương phápnày chưa được cao
+ Phương pháp di truyền học: Dùng tất cả các điều kiện và phương pháp xử
lý có hiệu quả làm giảm khả năng sinh sản của tiết túc bằng cách phá hủy hayđổi cấu trúc di truyền của chúng
Các biện pháp làm suy giảm sự sinh sản của tiết túc:
- Hạn chế nguồn thức ăn của tiết túc: Nguyên tắc chung của tiết túc là phải
có ăn mới sinh sản, ăn nhiều sinh sản nhiều, ăn ít sinh sản ít Vì vậy, hạn chếthức ăn của tiết túc như che đậy thức ăn, không cho ruồi ăn sẽ có tác dụng làmgiảm mật độ ruồi; bảo vệ người và gia súc không cho côn trùng hút máu cũnghạn chế được mật độ tiết túc
- Thay đổi môi trường sống thuận lợi của tiết túc: Mỗi nhóm tiết túc
thường có những nơi thích hợp để sinh sản, vì vậy triệt nơi sinh sản thích hợp
Trang 34thông cống rãnh, ao tù hạn chế sự sinh sôi của muỗi; dọn rác sạch sẽ hạn chế sựphát triển của ruồi
- Giảm sinh sản của tiết túc bằng hóa chất: Có những hóa chất có thể làm
tiết túc suy giảm khả năng sinh sản của chúng Nếu tiếp xúc với những hóa chấtnày, tiết túc sẽ không sinh sản được và chủng loại sẽ hao mòn dần đi
- Giảm sinh sản của tiết túc bằng các biện pháp di truyền: Tạo ra những
giống đực không sinh sản được bằng biến đổi gen, hoặc sử dụng phương pháplai cùng loài nhưng khác về cấu trúc di truyền sẽ tạo ra được thế hệ con lai bị vôsinh hoặc không có khả năng truyền bệnh Ví dụ, để phòng chống bệnh Sốt xuất
huyết, năm 2013 tỉnh Khánh Hòa thả muỗi đực của loài Aedes aegypty đã bị
biến đổi gen lên đảo Trí Nguyên để tiêu diệt quần thể muỗi tự nhiên ở đảo này.Muỗi đực đã bị biến đổi gen có thể giao phối với con muỗi cái, nhưng thế hệ saubất thụ không sinh sản được Kết quả sau một thời gian số lượng muỗi trên đảo
bị giảm đáng kể
Các biện pháp diệt tiết túc:
- Biện pháp hóa học: Các hóa chất được sử dụng để diệt côn trùng phải an
toàn với người và gia súc, ít gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phải có hiệu lựcdiệt côn trùng cao Các loại hóa chất hiện nay đang được sử dụng:
+ Các chất chlo hữu cơ như DDT, diedrin Hiện nay nhóm Chlo hữu cơ ítđược sử dụng vì gây ô nhiễm môi trường, độc tính cao và nhiều loại côn trùng
đã kháng với hóa chất nhóm này
+ Các chất lân hữu cơ:
Malathion: là một trong những hóa chất an toàn và ít độc hơn cả Sử dụng
phun liều 2 g/m² có tác dụng tốt trong phòng chống sốt rét Tuy nhiên hiệu lực
diệt A.aegypti và bọ chét kém nên ít dùng trong phòng chống Dengue Xuất
huyết và dịch hạch Tác dụng tổn lưu dưới 3 tháng
Sumithion: dùng trong phòng chống sốt rét và Dengue xuất huyết, có tác
dụng tồn lưu dưới 2 tháng Phun với liều 2g/m²
Diazinon: có tác dụng diệt bọ chét, độc tính trung bình, có tác dụng tồn lưu
dưới 2 tháng Phun với liều 2 g/m²
Các Perithroid tổng hợp: hiện nay các hóa chất thuộc nhóm này đang được
sử dụng rộng rãi
Permethrine: hiệu lực diệt côn trùng rất mạnh, nhanh, ít độc với người và
động vật Cóc tác dụng với nhiều loại côn trùng như muỗi, ruồi, bọ chét, rệp Trong phòng chống sốt rét có thể tẩm màn với liều 0,1-0,2 g/m², có tác dụng tồn
Trang 35lưu 4-6 tháng Tẩm rèm, mành với liều 0,5-1g/m² có tác dụng trong phòng chốngDengue xuất huyết.
ICON: hiệu lực diệt côn trùng cao, ít độc với người và động vật Có tác
dụng trong phòng chống sốt rét Phun với liều 30 mg/m² có tác dụng tồn lưu 6tháng
Pynamin: có tác dụng diệt côn trùng mạnh bằng đường xông hơi, giữ được
hiệu lực diệt khi ở nhiệt độ cao, lại rất ít độc với người và động vật nên thườngđược dùng làm nguyên liệu sản xuất hương xua muỗi trong phòng chống sốt rét
và Dengue xuất huyết
- Biện pháp sinh học: Dùng sinh vật ăn mồi như cá diệt bọ gậy; bọ gậy muỗi Toxorynchytes ăn bọ gậy của muỗi Culex, Aedes, Anopheles có kích thước nhỏ hơn nó; dùng nấm diệt bọ gậy như Culicinomyces, Entomophthora, Tolypocladium, Ceolomomyces và Lagenidium; hoặc vi khuẩn diệt bọ gậy, ví dụ Bacillus thuringiensis để gây bệnh cho ấu trùng muỗi Giun diệt bọ gậy: giun Romanomermis culicivorax.
- Sử dụng muỗi biến đổi gene: Hiện nay sử dụng muỗi biến đổi gene như
một công cụ để tiêu diệt loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết đã áp dụng nhiềutrên thế giới như ở Brazil, Malaysia, Việt Nam Con muỗi đực được chuyển genegây chết và sau đó thả vào quần thể tự nhiên, muỗi đực biến đổi gene giao phốivới muỗi cái hoang dã Muỗi cái đẻ ra trứng, trứng phát triển thành bọ gậy, giaiđoạn bọ gậy tuổi 4 thì chết, một số lột xác lên quăng sau đó cũng chết Đây làmột phương pháp tiêu diệt loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết hiệu quả, giảm
số lượng cá thể muỗi nhiều tuy nhiên đang còn nhiều tranh cãi về sự xuất hiệnloài mới khi chúng không chết hết với tỷ lệ 100%
2.2 KÝ SINH THUỘC GIỚI NẤM
Trước đây, nấm thuộc Giới thực vật vì có sự tương đồng về hình dạng bênngoài, cấu tạo có thành tế bào, điều mà giới Động vật không có Tuy nhiên, hiệnnay nấm được công nhận là một giới riêng biệt, gọi là Giới nấm (Fungi) do cónhiều đặc điểm sai khác về mặt hình thái, sinh hóa và di truyền so với các giớikhác Nấm có mối quan hệ di truyền gần với động vật hơn thực vật
Nấm bao gồm những sinh vật nhân chuẩn dị dưỡng có thành tế bào bằngkitin Phần lớn nấm phát triển dưới dạng các sợi đa bào được gọi là sợi nấm
Trang 36(hyphae) tạo nên hệ sợi (mycelium), một số loài nấm lại phát triển dưới dạngđơn bào Quá trình sinh sản (hữu tính hoặc vô tính) của nấm thường qua bào tử.
Về cấu tạo, nấm có dạng hình sợi hoặc
hình trụ (Hình 13) Những loài nấm có kích
thước rất nhỏ mà mắt thường không thể nhìn
thấy được gọi là Vi nấm (microscopic
fungi) Đa số nấm sống tự do trong đất, chất
mùn, xác sinh vật chết, cộng sinh hoặc ký
sinh trên cơ thể các loài động thực vật hoặc
thậm chí là các loài nấm khác Vi nấm đóng
một vai trò rất quan trọng trong đời sống tự
nhiên cũng như đời sống sản xuất của con
người Ví dụ, phân hủy các vật chất hữu cơ
ở trong rừng; nấm men sử dụng trong sản
xuất, công nghệ thực phẩm, chất kháng sinh,
hooc môn trong y học và nhiều loại enzym
Hình 13 Cấu tạo chung của nấm
Tuy vậy, nhiều loại nấm lại có chứa các chất hoạt động sinh học được gọi làmycotoxin, như ancaloit và polyketit-là những chất độc đối với động vật lẫn conngười Vài loại nấm có thể gây ra các chứng bệnh cho con người và động vật,cũng như bệnh dịch cho cây trồng, mùa màng và có thể gây tác động lớn lên anninh lương thực và kinh tế
Cấu tạo: nấm có cấu tạo gồm hai bộ phận: bộ phận dinh dưỡng và bộ phận
sinh sản:
- Bộ phận dinh dưỡng của nấm: Bộ phận dinh dưỡng của nấm có thể là
sợi nấm đối với sợi hoặc là tế bào nấm đối với nấm men Sợi nấm chia nhánh,chằng chịt với nhau thành từng tảng nấm hoặc về nấm Tế bào nấm men cũngken đặc với nhau thành vè nấm Quan sát đại thể thấy vè nấm là những khuẩnlạc
Sợi nấm có thể rất mảnh, chiều ngang không dày quá 1mm, đặc và bắt
màu đều như lớp Actinomycetes.
Sợi nấm có thể dày, chiều ngang từ 2-5 µm, hình ống, có vách ngăn hoặckhông có vách ngăn, trong ống có tế bào chất và nhân Nếu có vách ngăn, trong
mỗi ngăn, trong mỗi ngăn có một nhân là các lớp nấm Ascomycetes, Basidiomycetes và nếu không có vách ngăn là lớp Phycomycetes.
- Bộ phận sinh sản của nấm: Nấm Actinomycetes không có bộ phận sinh
sản, sợi nấm đứt ra thành những đoạn nhỏ, khi rơi vào chỗ mới, gặp điều kiện
Trang 37thuận lợi, phát triển thành vè nấm Đối với các lớp khác có những bộ phận sinhsản hữu tính hoặc vô tính tùy theo phương thức sinh sản.
Sinh sản hữu tính:
- Sinh sản hữu tính bằng trứng: Từ hai sợi nấm gần nhau thuộc cùng một
về hoặc hai vè khác nhau nẩy ra hai chồi hai chồi ấy to dần ra và gặp nhau,nguyên sinh chất hòa hợp, hai nhân giao kết với nhau và chuyển thành một mộtcái trứng Lớp nấm trứng hoặc lớp Phycomycetes sinh sản theo phương thứcnày
- Sinh sản hữu tính bằng nang (bào tử): Sau khi phát triển một thời gian,
trong một số sợi nấm, nhân của môi ngăn nấm được chia thành hai và ghép vớinhân của những ngăn lân cận Sau khi có trao đổi nhân, vè nấm chuyển thành vènấm hữu tính trong mỗi ngăn, nhân chia hai rồi chia bốn, chia tám thành nangbào tử Nấm chuyển thành một nang chứ bốn hay tám nang bào tử Các loại nấm
có khả năng sinh sản bằng nang thuộc lớp nấm nang hoặc lớp Ascomycetes.
- Sinh sản hữu tính bằng đảm: Sau khi phát triển một thời gian, một số sợi
nấm cũng chuyển thành về nấm hữu tính theo phương thức đã nói trên Sau đótrong mỗi ngăn ở đầu các sợi nấm hữu tính nhân chia đôi rồi chia bốn Đồng thờinấm mọc ra bốn ụ, mỗi nhân sẽ vào một ụ để thanh 4 đảm bào tử Những nấm
sinh sản theo phương thức này thuộc về lớp nấm đảm hoặc lớp Basidiomycetes.
Sinh sản vô tính: Bằng bào tử Có các dạng bào tử như sau:
- Bào tử đốt: Trong sợi nấm sinh nhiều ngăn gần nhau, sợi nấm đứt ngăn
thành các đốt rời nhau Mỗi đốt gọi là một bào tử đốt
- Bào tử chồi: Từ phía bên sợi nấm hoặc tế bào nấm men mọc ra một cái
chồi hay mầm được gọi là bào tử chồi/mầm Chồi to dần rồi dụng khỏi thân nấm
và có khả năng mọc thành nấm mới khi rơi vào môi trường thích hợp
Trang 38Hình 14 Hình dạng các dạng bào tử của nấm
- Bào tử áo: sau khi phát triển một thời gian nguyên sinh chất của sợi nấm
tập trung vào một điểm, trở nên đặc và chiết quang, xung quanh khối đó xuấthiện một vỏ dày bao học Khối này là bào tử áo
- Bào tử thoi: trong một phòng ở đầu sợi nấm hoặc ở giữa sợi nấm, nhân
chia hai, chia bốn hoặc chia tám Phòng nấm chuyển thành hình thoi và chia làmnhiều ngăn, mỗi ngăn có một nhân Khi thoi rơi và môi trường có một nhân Khithoi rơi vào môi trường thích hợp, mỗi ngăn có thể mọc thành một sợi nấm mới
- Bào tử phấn: xung quanh sợi nấm mọc những hạt rất nhỏ, trắng gọi là
phấn Sau khi sợi nấm khô, phấn bay theo gió
- Bào tử đính: những hạt hình thể khác nhau mọc ở những bộ phận đặc
biệt của nấm Có 3 loại bào tử đính:
+ Bộ phận hình chai: từ phía bên dây nấm nẩy ra một bộ phận hình chai, ởmiệng chai sinh ra những hạt tròn
+ Bộ phận hình chổi: các hạt đính xếp thành chuỗi hình chổi như nấm
Penicillum.
Trang 39+ Bào tử đính hình hoa cúc: các hạt đính với nhau giống hình hóa cúc, tùy
theo cấu trúc có thể là cấu trúc đơn hoặc cấu trúc kép Đó là cấu trúc của nấm
Aspergillus.
Có nhiều loại nấm không có khả năng sinh sản hữu tính mà chỉ có phương thức
sinh sản vô tính người ta xếp chúng vào lớp nấm bất toàn (Fungi imperfecti) hay lớp Adelomycetes.
Tình hình nhiễm các bệnh về nấm ở người: Bệnh viêm nhiễm đường
sinh dục là nhóm bệnh lý phổ biến ở phụ nữ độ tuổi sinh sản Tác nhân làm gia
tăng tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục là nấm men Candida hoặc Trichomonas vaginalis với khoảng 200 triệu người trên thế giới bị viêm âm đạo do T vaginalis; loài nấm này cũng là nguyên nhân gây ra khoảng 1/3 các bất thường
dịch tiết âm đạo Theo ước tính, có khoảng 10-50% phụ nữ trong độ tuổi sinhsản và 20% phụ nữ mang thai bị nhiễm nấm âm đạo, trong đó 25-50% có thểkhông có triệu chứng và trung bình 75% phụ nữ đã từng bị viêm âm đạo do nấm
Candida trong đời
Ngoài ra, ở các nước nhiệt đới, nhất là những nơi có điều kiện vệ sinhdịch tễ kém như Châu Phi và một số nước Châu Mỹ Latinh, các bệnh về nấmcũng phát triển mạnh như nấm da, nấm móng, nấm tóc gây các dị tật về mặtthẩm mỹ, một số loài nấm còn gây biến chứng nguy hiểm như bệnh nấm
Aspergilosis nhiễm vào nội quan gây các chứng viêm phổi, viêm cơ tim
Trang 40CHƯƠNG 3 CÁC BỆNH KÝ SINH TRÙNG PHỔ BIẾN
3.1 CÁC BỆNH DO ĐƠN BÀO
3.1.1 LỴ AMIP ENTAMOEBA HISTOLYTICA
E histolytica gây ra bệnh amoebiasis, hay còn gọi là lỵ amip, thường xảy
ra trong ruột già và gây ra viêm nội Theo tổ chức y tế thế giới 10% dân số trênthế giới bị nhiễm amip bệnh, chủ yếu là ở các nước nhiệt đới nơi có vệ sinh dịch
tễ kém
Amip trong quá trình phát triển biến đổi có hai dạng: Thể tự dưỡng
(trophozoites) là thể hoạt động của amip, thực hiện các quá trình dinh dưỡng và
sinh sản trong cơ thể vật chủ và Thể nang (cyst) là thể hoạt động ngoài môi
trường Con người bị lây nhiễm amip bởi ăn phải thức ăn có chứa thể nang, cònđối với thể hoạt động nếu bị ăn phải cũng không thể tồn tại được qua môi trường
dạ dày có tính axit cao Sự biến đổi từ thể tự dưỡng sang thể nang có khả năngtồn tại ở những môi trường khắc nghiệt là một đặc điểm thích nghi với đời sống
ký sinh của amip E histolytica.
Chu kỳ phát triển: của E histolytica bao gồm các giai đoạn sau (Hình
15):
- Giai đoạn cảm nhiễm (Infective stage): Ở ruột già, amip biến đổi từ dạng
thể hoạt động có hình quả lê thành dạng thể nang hình cầu có vỏ cứng, sau đó ramôi trường ngoài theo phân Trong vòng đời phát triển của chúng không cần vậtchủ trung gian Người khác bị nhiễm amip bởi uống phải nước bị nhiễm bẩn, ăncác loại rau chưa được rửa sạch hoặc không rửa tay trước khi ăn
- Giai đoạn nhận biết (Diagnosis stage): Những thể nang nào sống sót
được sau khi đi qua dạ dày có môi trường axit cao, chúng sẽ biến đổi lại thànhThể tự dưỡng ở ruột non, sau đó di chuyển đến ruột già Tại đây, chúng tiếp tụcphân chia bằng phân bào nguyên phân, tức từ một con amip phân chia thành haiamip với đầy đủ thông tin di truyền Thông thường, thể nang được tìm thấytrong phân rắn (firm stool) trong khi thể tự dưỡng được tìm thấy trong phân lỏng(loose stool) Chỉ có Thể nang mới có thể tồn tại trong thời gian dài (lên đếnnhiều tuần bên ngoài cơ thể vật chủ) và lây nhiễm cho người khác Nếu chúng ta
ăn thể Tự dưỡng, đa số chúng sẽ bị giết chết bởi dịch vị dạ dày đậm đặc axit.Đôi khi Thể tự dưỡng có thể được truyền qua con đường quan hệ tình dục