5 KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM PHÂN TÌM KÝ SINH TRÙNG Mục tiêu Mô tả được quy trình xét nghiệm phân Làm được tiêu bản phân bằng phương pháp trực tiếp Phát hiện được những sai lầm trong thao tá
Trang 144
Bài 5
KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM PHÂN TÌM KÝ SINH TRÙNG
Mục tiêu
Mô tả được quy trình xét nghiệm phân
Làm được tiêu bản phân bằng phương pháp trực tiếp
Phát hiện được những sai lầm trong thao tác xét nghiệm phân trực tiếp
Đối với phân được bảo quản trong dung dịch cố định thì quan sát đại thể
không thực hiện được
Để phát hiện được KST chúng ta cần phải dùng kính hiển vi để quan sát (vi thể)
Trang 2Máu: chỉ cần ghi nhận sự hiện diện máu tươi hoặc đã được tiêu hóa làm phân
có màu đen đều
Mũ: gồm có nhiều bạch cầu đã biến dạng
Các cặn bã thực vật chưa tiêu hóa, thường dưới hình thức sợi
1.2 Quan sát vi thể
Quan sát vi thể có thể được thực hiện với kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp, tập trung KST trong phân, kỹ thuật chuyên biệt, cấy và nhuộm cố định
2 Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp
Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp sử dụng phân hòa tan trong nước muối cho phép phát hiện sự di động của thể hoạt đơn đơn bào, trứng giun, sán, ấu trùng giun và các vật thể bất thường trong phân (hồng cầu, bạch cầu,…)
Ưu điểm:
Đơn giản
Cho kết quả nhanh chóng và chính xác
Không đòi hỏi dụng cụ, hóa chất đắt tiền
Trang 346
Dung dịch sát trùng
2.3 Quy trình làm tiêu bản phân
Lấy một tấm lam kính sạch, khô Dùng viết chì chia lam kính ra làm 3 phần Ghi tên bệnh nhân vào ô nhỏ ở đầu lam kính
Nhỏ lên lam kính 1 giọt NaCl 0.85% vào ô giữa, 1 giọt Lugol ở ô cuối
Dùng que gỗ lấy một ít phân bằng đầu que diêm, hòa tan phân vào giọt NaCl 0.85%
Lấy phân lần thứ hai rồi hòa tan phân vào giọt Lugol
Bỏ que gỗ vào dung dịch sát trùng
Đậy lá kính lên 2 giọt phân
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Trang 42.4 Tiêu chuẩn của một tiêu bản tốt
Không quá dày: phân nhiều sẽ làm tiêu bản đục tối, che lấp KST, khó phát hiện Không quá mỏng: ít phân quá sẽ không tìm thấy KST, trừ khi chúng quá nhiều Tiêu bản có độ dày vừa phải khi thấy được chữ in trên tờ bào đặt dưới tiêu bản Tiêu bản không có bọt khí, dung dịch phân tràn ra quanh lá kính
2.5 Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Khảo sát tiêu bản phân bằng vật kính x10, khi muốn nhìn rõ chi tiết thì chuyển sang vật kính x40
Khảo sát mẫu phân theo hình zic zac để không bỏ sót vi trường nào
Lưu ý:
Nên để ánh sáng vừa phải
Mẫu phân được xét nghiệm càng sớm càng tốt, để lâu KST sẽ chết hoặc thay đổi hình dạng, khó xác định
Mẫu phân tìm trứng giun, sán: không để quá 10 giờ
Mẫu phân tìm đơn bào: không để quá 2 giờ
2.6 Những sai lầm nên tránh
Phết phân không đều, chỗ dày, chỗ mỏng
Nếu phết phân loãng quá hoặc đặc quá, nên bỏ đi, làm lại phết phân khác
Đậy lá kính làm tiêu bản có bọt khí
Dung dịch phân tràn ra xung quanh lá kính
Quên không đặt lá kính kên phết phân thì phết phân sẽ chóng khô, vật kính bị bẩn và màu nhuộm sẽ nhạt rất nhanh
Dùng nước thường để hòa tan phân thay vì dùng dung dịch NaCl 0.85%, nước thường sẽ làm biến dạng hay hủy hoại thể hoạt động của đơn bào
Dùng nhiều ánh sáng quá Nên để tụ kính gần với bàn kính Giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt màng chắn sáng hay dùng kính lọc màu xanh da trời lấy ánh sáng
Trang 548
2.7 Cách trả lời kết quả xét nghiệm phân
Trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm phân, phải ghi các nội dung sau:
Đặc tính của phân: phân cứng, mềm, nhão, có khuôn, lỏng,…
Màu sắc của phân: vàng, xanh, nâu, đen,…
Các yếu tố bắt thường thấy được bằng mắt: chất nhày, máu, đốt sán,…
Kết quả:
Âm tính: tìm không thấy trứng và bào nang của KST đường ruột
Dương tính viết ra các chi tiết sau:
Tên tiếng việt và tên khoa học của KST
Trứng, thể hoạt động, bào nang, ấu trùng
Mật dộ nhiễm trên tiêu bản:
2.8.2 Dụng cụ
Lam kính: cho vào dung dịch sát trùng, hấp khử trùng, rửa nước thường cho sạch, ngâm xà bông, rửa sạch, ngâm trong dung dịch acid sulfochromic 24 giờ Rửa lại bằng nước thường, tráng lại bằng nước cất, sấy khô
Lá kính: rửa tương tự như lam kính nhưng chỉ sấy khô ở 600C
3 Kỹ thuật nhuộm Ziehl-Neelsen cải tiến
3.1 Mô tả
Các trùng bào tử đường ruột (Cryptosporidium, Cyclospora…) khó được xác định bằng cách soi phân trực tiếp Vì vậy, người ta dùng phương pháp nhuộm để tạo
sự tương phản giữa màu của KST và nền cặn bã phân
Kỹ thuật nhuôm Ziehl-Neelsen cải tiến được dùng dựa trên đặc điểm kháng acid của các KST này Nguyên tắc của kỹ thuật này là nhuộm tiêu bản phân bằng
Trang 6carbon fuchsin sau đó tẩy màu và nhuộm nền tiêu bản bằng màu xanh Do có tính kháng acid nên các trùng bào tử giữ lại màu hồng của fuschin
Kỹ thuật nhuộm Ziel-Neelsen cải tiến có thể áp dụng cho phân tươi, hoặc phân được cố định trong formol, hoặc các loại bệnh phẩm khác như dịch hút tá tràng, mật, đàm
Xanh malachit 1% hoặc xanh methylen 1%
3.3.1 Pha carbon fuchsin
Trộn 10ml dung dịch A với 90ml B lại với nhau
Bảo quản được 1 năm ở nhiệt độ phòng
3.3.2 Pha dung dịch xanh malachit
Xanh malachit 1g
Nước cất 100ml
Có thể thay xanh malachit bằng xanh methylen
Bảo quản được 1 năm ở nhiệt độ phòng
3.4 Quy trình nhuộm
Trang 750
Làm phết phân mỏng trên lam kính
Để khô ngoài không khí
Cố định bằng methanol trong 5 phút
Để khô ngoài không khí
Nhuộm với carbon-fuchsin trong 5 phút
Rửa lam kính với nước
Tẩy màu bằng cồn – acid chlorhydric cho tới khi màu không trôi ra nửa
Rửa dưới vòi nước chảy
Nhuộm tiêu bản với 1% xanh malachit trong 30 giây
Rửa tiêu bản dưới vòi nước Để cho khô
Quan sát tiêu bản với vật kính X40: trứng nang Cryptosporidium có màu hồng nhạt đến màu đỏ, kích thước 4 - 6μm, bên trong nang có thể thấy 4 thoa trùng
Trang 8Bài 6 HÌNH THỂ GIUN
và bụng mang dây thần kinh, 2 gờ bên mang ống bài tiết
Ở phần đầu có miệng với các bộ phận như móc, răng, bản dao, gai Xoang miệng có dạng ống và có thể biến đổi thành bộ phận để hút tùy theo từng loại
Thực quản hình ống, đôi khi phình ở phần cuối, là đặc điểm để định danh trong vài trường hợp
Ruột là ống dẹp nối thẳng từ thực quản đến hậu môn
Hệ bài tiết gồm 2 ống chạy dọc theo hai bên thân và 1 ống nối ngang ở phía gần đầu, đổ ra ngoài bằng lỗ bài tiết ở khoảng thực quản
Hệ thần kinh gồm 1 vòng nối các hạch thần kinh quanh thực quản Từ vòng này, 6 sợi thần kinh đi phía trước và 6 sợi thần kinh chạy về phía sau
Có 2 giới riêng biệt Con đực luôn nhỏ hơn con cái, đuôi cuộn lại hay xòe ra như cái túi hình chuông Con cái có đuôi thẳng
Cơ quan sinh dục đực nằm ở 1/3 sau của cơ thể, là ống đơn hình chóp hoặc ống xoắn cuộn gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh, túi chứa tinh, ống phóng tinh, tận cùng bằng cơ quan giao hợp có dạng cánh hoặc dạng túi
Trang 952
Cơ quan sinh dục cái có thể là cấu trúc đơn hoặc đôi gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, túi nhận tinh, tử cung, âm đạo và âm môn mở ra ngoài bằng lỗ sinh dục ở nửa thân trên, phía bụng
Giun hình ống không có hệ hô hấp và hệ tuần hoàn
3 Giun đũa – Ascaris lumbricoide
3.1 Giun đũa trưởng thành
Thân hình ống, đều đặn, thon 2 đầu, có vỏ bọc ngoài dày, cứng, có vân ngang
Có màu trắng hoặc hơi hồng hoặc nâu nhạt Đầu giun thuôn nhỏ, co 3 môi xếp cân đối (1 môi lưng và 2 môi bụng) Giun đực dài 15 – 17cm, đường kính 0.3 – 0.4 cm, đuôi cong, lỗ hậu môn ở mặt bụng, gần cuối thân, có 2 gai giao hợp
Trang 10Giun cái dài 20 – 25 cm, đường kính trung bình 0.5 – 0.6 cm, đuôi thẳng, hình nón Lỗ sinh dục nằm ở khoảng 1/3 trước của thân ở mặt bụng
Ngoài cùng là lớp albumin dày đều, xù xì
Lớp giữa dày, nhẵn và trong suốt được cấu tạo bởi glycogen
Và một lớp vỏ trong cùng là màng dinh dưỡng cấu tạo bởi lipid
Bên trong trứng là phôi bào chắc, gọn thành 1 khối, chưa phân chia khi trứng mới được đẻ ra
Trang 1154
b Trứng không thụ tinh (trứng lép)
Có hình bầu dục dài và hẹp hơn, hình dạng kỳ dị
Kích thước từ 88 - 94μm x 39 - 44μm
Vỏ chỉ có 2 lớp mỏng, không có lớp màng dinh dưỡng
Bên trong trứng không có phôi, chỉ có những hạt tròn không đều, rất chiết quang
c Trứng mất vỏ
Có hình dạng bất thường do lớp albumin bị tróc làm mất lớp ngoài sần sùi, vỏ trứng trở nên nhẵn Trứng chỉ có một vỏ dày và nhẵn và các vân đồng tâm
Gặp ở trứng thụ tinh hay không thụ tinh
4 Giun tóc – Trichuris trichiura
4.1 Giun trưởng thành
Thân chia làm 2 phần: phần đầu mảnh như sợi tóc và chiếm gần 2/3 thân, phần còn lại hình ống, to, chứa các cơ quan sinh dục
Giun tóc có màu hồng nhạt Con đực dài 30 – 40mm, đuôi cong, cuối đuôi có 1 gai sinh dục nằm trong bao gai
Con cái dài 30 – 50mm, đuôi thẳng và bầu, lỗ sinh dục nằm ở 2/3 thân kể
từ đầu, cơ quan sinh dục gồm có 2 buồng trứng hình ống cuộn lại như lò xo và
tử cung
Trang 12Trứng mới được đẻ ra có phôi bào, chưa phân chia
5 Giun móc – Ancylostoma duodenale, Necator americanus
5.1 Giun trưởng thành
Giun màu trắng hoặc hồng, xám như sợi chỉ Kích thước: 7 – 10mm x 0.4 – 0.5mm Đầu giun móc có bao miệng, thực quản hình ống:
+ Miệng có 2 đôi răng đều: Ancylostoma đuoenale
Trang 1356
+ Miệng có đôi dao cắt: Necator americanus Con đực dài 8 – 11mm, đường kính thân dài 0.5mm, đầu cong, đuôi xòe
ra thành túi, được nâng đỡ bởi những đường gân, có 2 gai giao hợp dài và mảnh
Con cái dài 10 – 13mm, đường kính thân 0.6mm, đầu cong, đuôi thẳng hình chop
5.2 Ấu trùng
Thường ta chỉ thấy ấu trùng của giun móc trong phân đã được giữ lại một thời gian trước khi quan sát để trứng có đủ thời gian nở thành ấu trùng
Trang 14Trong phân ấu trùng không bao giờ đi quá giai đoạn filariform, không bao giờ đến được giai đoạn trưởng thành
a Ấu trùng giai đoạn 1 (Rhabditiform)
Kích thước: 250 x 17μm Miệng mở, bao miệng dài và hẹp Thực quản phình ra ở phía sau thành hình quả lê Đuôi thon dài và nhọn
b Ấu trùng giai đoạn 3 (Filariform)
Kích thước: dài 500 - 600μm Miệng đóng
Thực quản hình ống Đuôi thon dài và nhọn
5.3 Trứng giun móc
Khó phân biệt trứng của 2 loại giun này bằng cách quan sát
Hình bầu dục, hơi dài, rất đối xứng
Kích thước: 50 – 70 x 40μm
Vỏ mỏng, nhẵn trong suốt
Trứng mới được đẻ ra có từ 2, 4 hoặc 8 phôi bào
Trứng giun móc ra ngoại cảnh thường sau 24h đã nở thành ấu trùng
Trang 1558
6 Giun xoắn
6.1 Giun trưởng thành
Có kích thước nhỏ, mắt thường khó nhận thấy
Giun đực: dài 1.4 – 1.6 x 0.04 mm, có gai sinh dục ở phía đuôi
Giun cái: dài 3 – 4 x 0.06 mm, âm môn nằm ở 1/5 trước của cơ thể, buồn trứng nằm ở ½ sau thân, tử cung chứa trứng có kích thước khoảng 20μm
7 Giun lươn – Strongyloides stercoralis
Âm hộ cách đầu một khoảng hơn 1/3 thân
Trứng sắp thành từng dãy trong tử cung
Trang 167.2 Ấu trùng
Ấu trùng thường thấy nhất trong các ấu trùng của giun
Khi cấy phân, có thể thấy ấu trùng giai đoạn 1, giai đoạn 3 và giun trưởng thành
a Ấu trùng giai đoạn 1
Kích thước: 200 – 238 x 16 - 20μm
Phần sau thực quản phình ra thành hình quả lê
Miệng hở, bao miệng ngắn
Đuôi thon dài và nhọn
b Ấu trùng giai đoạn 3
Kích thước: 500 – 630 x 16μm
Thực quản hình ống
Đuôi chẻ hai
Trang 17Miệng gồm 3 môi, không có bao miệng
Vỏ bọc ngoài dày lên ở phần đầu và dọc 2 bên thân
Trang 19kỳ đêm hoặc tùy theo loại
Thân có những cỗ uốn cong mềm mại và đều
Bao bọc ngoài dài hơn thân nhiều
Nhân dinh dưỡng nhỏ, ít, tách biệt nhau rõ ràng, không đi tới cuối đuôi
Đuôi nhọn, thon đều từ từ, không có nhân
Trang 20b Brugia malayi
Kích thước: 180 - 230μm
Thân có những chỗ uốn cong không đều, đuôi xoắn
Bao bọc ngoài dài hơn thân ít
Nhân dinh dưỡng nhỏ, nhiều, sát nhau, không rõ
Đuôi nhọn, có 2 nhân
Trang 2164
Bài 6 HÌNH DẠNG SÁN
Mục tiêu
Mô tả các đặc điểm hình thể chung của sán trưởng thành và trứng
Nhận dạng các loài sán thường ký sinh ở người
1 Đặc điểm chung của sán lá
Thân dẹp, hình lá cây, không có đốt, kích thước từ mm đến vài cm
Có 2 đĩa hút, một ở miệng và một ở ruột
Cơ quan tiêu hóa gồm có miệng nằm ở đáy đĩa hút miệng, thông với thực quản và ruột ruột có 2 nhánh bít kín, không có hậu môn
Sán lá lưỡng tính
Bộ phận sinh dục đực gồm có hai tinh hoàn có hình khối hoặc chia thùy hoặc phân nhánh Mỗi tinh hoàn có một ống dẫn tinh, sau một đoạn, 2 ống này nhập lại thành 1 ống duy nhất đi tới cơ quan giao hợp đực, gọi là dương vật,
mở ra ở bụng, gần đĩa hút bụng Dương vật có thể nằm trong một túi gọi là dương vật
Bộ phận sinh dục cái gồm có một buồng trứng, một đầu thông với hai tuyến nuôi dưỡng buồng trứng ở hai bên thân và đầu kia thông với tử cung
Tử cung là một ống dài, khúc khuỷu, chứa trứng và đi tới lỗ đẻ nằm cạnh lỗ sinh dục
Trang 222 Sán lá ruột – Fascilopis buski
2.1 Sán trưởng thành
Thân dẹp, dày, màu nâu sậm hay xám
Kích thước: 20 – 70 x 8 – 20mm
Đầu không có phần nhô lên
Trên thân có những gai nhỏ xếp thành hàng, nhiều nhất là ở gần đĩa hút bụng
Trang 2366
Đĩa hút bụng lớn hơn đĩa hút miệng
Ruột có 2 nhánh đi tới tận cùng đuôi
Tinh hoàn chia thành nhánh rất nhiều chiếm hết cả phần giữa và phần sau của thân
Buồng trứng cũng chia nhánh
Tử cung nằm ở phía trước của thân, chứa nhiều trứng
Lỗ sinh dục ở trước đĩa hút
Bên trong chứa phôi bào
3 Sán lá gan lớn – Fasciola hepatica
3.1 Sán trưởng thành
Dài từ 2 – 4cm, thân dẹp, dày
Đầu nhỏ nhọn, có thể hình nón ở đầu
Phía trước thân có phần nhô lên hình nón, phía sau thân dẹp và tròn
Đĩa hút miệng lớn hơn đĩa hút bụng
Ruột dài đến tận cuối thân
Lỗ sinh dục nằm trước đĩa bút bụng
Có túi dương vật, tinh hoàn nằm sau buồng trứng
Tinh hoàn, buồng trứng và ruột đều phân nhánh rất nhiều
Trang 24Cơ thể không phủ gai
Thực quản khá dài, 2 nhánh manh tràng kín đi đến tận cuối đuôi
Đĩa hút miệng lớn hơn đĩa hút bụng
Hai tinh hoàn phân nhánh, phân bố cái trên cái dưới, nằm sau buồng trứng Buồng trứng và ruột không phân nhánh
Tử cung ở giữa buồng trứng và đĩa hút bụng
Lỗ sinh dục nằm trước đĩa hút bụng Không có túi dương vật
Trang 26Thân có hình như 1 cái chai, có 2 đĩa hút, một ở đầu (phần miệng) và một ở bụng
Tinh hoàn nằm dưới buồng trứng, tinh hoàn phân thùy, 2 cái ở chếch nhau
Tử cung ở giữa buồng trứng và đĩa hút
Trên thân có nhiều gai nhỏ
Đĩa hút miệng và đĩa hút bụng có kích thước bằng nhau
Ruột mảnh mai, ngoằn ngoèo, không phân nhánh, đi tới cuối thân
Buồng trứng to chia thành thùy ở 2 bên
Tinh oàn phân thùy nằm sau buồng trứng
Trang 27Trứng có màu vàng nhạt hoặc màu nâu sẫm
Nắp dẹp, không theo đường vòng cung của trứng
Vỏ mỏng, nhẵn, dày lên ở phía đối diện với nắp
Có đĩa hút miệng và đĩa hút bụng dùng để bám
Thân cuộn lại như lòng máng, giữa thân có rãnh sâu để mang sán cái
Hai manh tràng nhập lại phía sau tạo thành đoạn manh tràng duy nhất
Sán đực có 4 – 5 tinh hoàn
Trang 28Sán cái mảnh và dài hơn trung bình 2.2cm, tử cung dài 20 – 30 trứng
Trứng chứa ấu trùng có lông tơ di động
Thấy trong nước tiểu
Trang 29Trứng chứa ấu trùng có lông tơ di động
Thấy trong phân
Trứng chứa ấu trùng có lông tơ di động
Thấy trong phân
B Các loại sán dải (sán dây)
Thông thường, việc chẩn đoán bệnh sán dải dựa vào sự tìm thấy những đốt sán trong phân hoặc dính trên quần áo bệnh nhân, trừ trường hợp Diphyllobothrium latum, sán thường đẻ trứng và Hymenolepis, trứng thoát theo phân ra ngoài do đốt sán thường
bị tiêu nát trong ruột
Do đó, ta cần phải quan sát phân bằng mắt trước Tùy đốt sán tìm thấy, ta sẽ định loại dựa trên những đặc điểm của chúng
1 Đặc điểm chung của sán dải
Một đầu thật nhỏ thường có đĩa hút và có móc hoặc rãnh hút
Một cổ nhỏ, không có cơ quan rõ rệt, từ đây sản sinh những đốt non bằng cách nảy chồi
Thân gồm một chuỗi các đốt nối với nhau tạo thành sợi dây, những đốt càng xa đầu thì càng lớn và càng già
Sán dải lưỡng tính
Cơ quan sinh dục đực gồm nhiều tinh hoàn dưới dạng hạt nhỏ, nối liền với nhau
Trang 30bằng ống dẫn tinh nhỏ Những ống dẫn tinh nhỏ này đổ vào một ống dẫn tinh
chung, ống này thường đi ra một bên của đốt tới lỗ sinh dục
Cơ quan sinh cái gồm có 1 hay 2 buồng trứng, 1 ống dẫn trứng, tuyến dinh dưỡng, tử cung và âm đạo Âm đạo và ống dẫn tinh đổ chung vào một chỗ gọi là lỗ sinh dục
Ở những đốt cuối cùng, các cơ quan sinh dục teo lại, chỉ còn lại tử cung phân nhánh, chứa nhiều trứng
2 Sán dải heo – Taenia solium
2.1 Sán trưởng thành
Chiều dài thân: 2 – 8m, có khoảng 800 – 1000 đốt
Đầu hình cầu, đường kính khoảng 1mm, có 4 đĩa hút tròn và một chủy nhô cao mang 2 vòng móc
+ Chiều dài lớn hơn chiều rộng (1 - 2 x 0.5 – 0.7cm)
+ 1 lỗ sinh dục ở một bên cạnh, xen kẽ tương đối đều ở 2 bên