KỸ THUẬT LÀM LÀN MÁU MỎNG VÀ GIỌT MÁU DÀY Mục tiêu Chuẩn bị được đầy đủ dụng cụ, hóa chất để lấy máu Mô tả được cách lấy máu từ đầu ngón tay bệnh nhân Làm được tiêu bản giọt máu dày và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
BÀI GIẢNG MƠN HỌC THỰC HÀNH KÝ SINH TRÙNG
Giảng viên biên soạn:
NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
Đơn vị: TT TH Y DƯỢC
Hậu Giang – Năm 2021
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
BÀI GIẢNG MƠN HỌC
Tên mơn học: Thực hành Ký sinh trùng
(Tên tiếng Anh: ……….)
Trình độ: Đại học
Số đơn vị học trình:
Giờ lý thuyết:
Giờ thực hành:
Thơng tin Giảng viên:
Tên Giảng viên: Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Trang 3Bài 1
KỸ THUẬT LÀM LÀN MÁU MỎNG VÀ GIỌT MÁU DÀY
Mục tiêu
Chuẩn bị được đầy đủ dụng cụ, hóa chất để lấy máu
Mô tả được cách lấy máu từ đầu ngón tay bệnh nhân
Làm được tiêu bản giọt máu dày và làn máu mỏng
Kỹ thuật làn máu mỏng và giọt máu dày là xét nghiệm thường quy để phát hiện KST SR và một số đơn bào ký sinh trong máu khác Kỹ thuật này cũng được dùng để chẩn đoán bệnh giun chỉ hệ bạch huyết
Làn máu mỏng và giọt máu dày có những ưu điểm và nhược điểm, vì vậy trong chẩn đoán tìm KST SR thường làm cả 2 loại tiêu bản làn máu mỏng và giọt máu dày trên cùng một bệnh nhân
Giọt máu dày:
Ưu điểm: quan sát 1 lượng máu lớn nên tập trung nhiều KST
Nhược điểm: KST SR nằm lẫn với nhiều lớp hồng cầu bị phá vỡ nên khó được nhận ra, đòi hỏi người đọc lam máu phải có kinh nghiệm
Trang 42 Thời gian lấy máu
Tìm KST SR: thời gian lấy máu tốt nhất là trong thời gian đang lên cơn sốt, vì lúc lên con sốt KST SR tập trung ở máu ngoại vi nhiều nên dễ thấy
Tìm ấu trùng giun chỉ bạch huyết: tùy thuộc loài giun chỉ có chu kỳ ngày hay đêm mà lấy máu Ở Việt Nam, ấu trùng giun chỉ bạch huyết có chu kỳ xuất hiện ở máu ngoại vi về đêm, nên thời gian lấy máu để tìm ấu trùng giun chỉ là vào khoảng 22 – 3h sáng
2mg/10ml máu hoặc sodium citrate 0.05g/10ml máu
Đối với máu lấy từ tĩnh mạch với chất chống đông nên làm tiêu bản sớm vì nếu
để qua 1 giờ thì hình dạng KST SR có thể bị biến dạng và máu dễ bị bong ra và trôi
mất trong quá trình nhuộm tiêu bản
3.2 Lấy máu đầu ngón tay
a Vị trí lấy máu
Ngón tay thứ 3 hoặc 4, bàn tay trái
Đầu ngón tay, ở bên cạnh ngón tay
Ở trẻ sơ sinh, có thể lấy máu ở gót chân
b Cách lấy máu
Phải dùng phương pháp vô trùng, tất cả dụng cụ đều phải được vô trùng trước Lấy máu từ bàn tay trái của bệnh nhân, để ngửa lòng bàn tay lên trên chọn ngón tay thứ 3 hoặc thứ 4
Dùng một miếng bông và thấm cồn 700 để lau sạch đầu ngón tay Để khô hay lau khô với miếng gạc đã khử trùng
Trang 5Dùng kim chích máu vô trùng đâm vào chỗ đã chọn với một động tác nhanh
và đủ mạnh để 1 giọt máu trào ra sau khi chích máu
Dùng bông khô lau bỏ giọt máu đầu vi nó có thể lẫn với cồn còn sót lại
Bóp nhẹ ngón tay để làm chảy giọt máu thứ hai
Cầm 1 lam kính vào 2 cạnh, chạm nhẹ lên giọt máu ở đầu ngón tay, một giọt máu nhỏ sẽ dính vào miếng kính ở giữa lam kính để làm làn máu mỏng
Bóp nhẹ ngón tay để nặn thêm máu, lấy 3, 4 giọt máu vào 1 lam kính khác để làm giọt máu dày
Dùng bông thấm cồn lau sạch phần máu còn lại ở ngón tay
4 Kéo làn máu mỏng
Cho 1 giọt máu lên 2/3 lam kính Đặt lam kính chứa 1 giọt máu lên mặt phẳng chắc chắn (hoặc cầm trên tay)
Đặt 1 cạnh lam kéo máu lên lam kính có giọt máu thành một gốc 450
Kéo từ từ cho lam kéo máu chạm vào giọt máu, để cho máu lan theo giao tuyến của hai lam kính
Chờ cho lam lan ra gần hết cạnh của lam kéo máu, đẩy nhanh đều và nhẹ tay lam kéo máu về phía đầu kia của lam kính chứa máu
Nếu giọt máu vừa đủ thì phết máu sẽ không ra đến tận cùng của lam kính, mà ngừng lại trước đó khoảng 1cm, tạo ra duôi máu
Để khô tự nhiên, tránh bụi, tránh côn trùng ăn máu
Ghi tên bệnh nhân ở phần dày của làn máu mỏng, trước đó chỗ đặt giọt máu Làn máu mõng đạt yêu cầu:
Làn máu phải mỏng đều, không có vết sọc ngang, dọc, không loang lổ
Làn máu có đuôi mỏng: xem KHV thấy hồng cầu xếp cạnh nhau chứ không chồng lên nhau và cũng không cách xa nhau
Nguyên nhân làm làn máu mỏng không đạt yêu cầu:
Trang 64
Máu lấy nhiều quá kéo không tốt: tiêu bản không có đuôi máu
Máu trải không đều: cạnh lam kéo máu không phẳng hoặc tiếp xúc giữa cạnh lam
kéo máu và lam kính đựng máu không khít
Kéo máu chậm, ngập ngừng hoặc máu bắt đầu đông: tiêu bản sẽ có những vệt dày, sọc
Tiêu bản có chỗ trống hoặc lỗ chỗ: lam kính bẩn, có mỡ hoặc ruồi, gián ăn
5 Làm giọt máu dày
Lấy giọt máu để lên 1/3 còn lại của lam, để 1 góc lam kéo vào giữa giọt máu Xoay theo vòng tròn từ trung tâm ra ngoài, theo một chiều nhất định Khi có được một hình tròn đường kính từ 1 – 1.2 cm, xoay góc lam kéo đi ngược vào trong rồi nhấc lam kéo lên
Để khô lam máu trên mặt phẳng, tránh bụi và côn trùng
Thường phải để khô giọt máu dày trong khoảng 6 – 12 giờ hay cách đêm, nhưng khi cần gấp có thể để khô trong tủ ủ 370C, trong 1 giờ
Giọt máu dày đạt yêu cầu:
Phải đều hoặc mỏng dần về phía bìa giọt máu
Hình dáng tương đối tròn
Đường kính từ 1 – 1.2cm
Không quá dày, giọt máu quá dày và quá to: lúc khô máu sẽ có những vệt nứt
và dễ tróc khi nhuộm
Không qua mỏng: giọt máu quá mỏng, nhỏ, mật độ KST thấp nên khó phát hiện
Bề dày thích hợp, khi đặt tiêu bản lên tờ bào lúc còn ướt có thể thấy chữ in
Có thể làm giọt máu dày và làn máu mỏng trên cùng một lam kính hoặc trên 2 lam kính khác nhau
Khi làm tiêu bản kép, làn máu mỏng và giọt máu dày trên cùng 1 lam kính, hai giọt máu phải cách xa nahu sao cho khi cố định làn máu mỏng bằng cồn khi không ảnh hưởng đến giọt máu dày
Trang 7Bài 2
KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT
Trang 86
Mục tiêu
Chuẩn bị được dụng cụ và hóa chất để nhuộm tiêu bản máu
Mô tả được quy trình nhuộm máu tìm ký sinh trùng sốt rét
Nhuộm được tiêu bản giọt máu dày và làn máu mỏng bằng Giemsa
Đánh giá được một tiêu bản nhuộm tốt
Để phát hiện KST SR, tiêu bản máu phải được nhuộm Phết máu được nhuộm càng sớm càng tốt vì việc nhuộm cũng giúp kéo dài thời gian bảo quản
Có nhiều cách nhuộm, trong đó có 2 cách nhuộm phổ biến nhất:
Nhuộm Wright, trong đó có sẵn chất cố định, việc nhuộm và cố định xảy ra đồng thời, do đó phết máu dày phải được làm vỡ hồng cầu trước khi nhuộm
Nhuộm Giemsa, chất cố định và thuốc nhuộm được tách riêng, vì vậy, phết máu mỏng phải được cố định với Methanol tuyệt đối trước khi nhuộm
Ở Việt Nam, nhuộm Giemsa được dùng nhiều nhất
Giá để nhuộm tiêu bản hoặc bình nhuộm
Giá đựng lam kính để hong khô tiêu bản
Trang 9Dung dịch Giemsa mẹ cần được đựng trong chai thủy tinh màu trung tính bảo quản chổ khô, mát và không có ánh sáng Khi dùng pha loãng dung dịch giemsa mẹ theo nồng độ quy định
2.2 Dung dịch đệm
Nước trung tính hoặc hơi kiềm (pH khoảng 7 – 7.2)
Dung dịch đệm (dung dịch phosphat, pH = 7.2) gồm có:
KH2PO4 0.7g
Na2HPO4 1g
Nước cất 1000ml
Thời hạn sử dụng dịch đệm là vài tuần Khi nào thấy có cặn thì bỏ
3 Kỹ thuật nhuộm tiêu bản
3.1 Chuẩn bị tiêu bản
a Làn máu mỏng
Trước khi nhuộm phải cố định bằng methanol Nhúng lam máu vào bình Methanol hoặc dùng ống hút nhỏ Methanol để phủ kín làn máu mỏng, để tiêu bản khô
b Giọt máu dày
Trước khi nhuộm phải phá vỡ hồng cầu, loại bỏ huyết sắc tố bằng dung dịch nhược trương vừa phải đủ để phá vỡ hồng cầu nhưng phải giữ nguyên KST SR dung dịch tẩy thường là dung dịch Giemsa pha loãng 1%, dung dịch đệm hay nước cất
Phủ dung dịch nhược trương lên giọt máu dày, quan sát tới khi màu hồng của máu trôi đi, để lại trên tiêu bản 1 giọt máu màu vàng nhạt là được
3.2 Quy trình nhuộm tiêu bản
a Nhuộm thường quy
Đặt giá nhuộm trên khay nhuộm, để khay ở chỗ phẳng, sau đó đặt lam màu lên giá nhuộm, mặt có máu lên trên
Trang 108
Pha dung dịch nhuộm Giemsa 3%: 3ml Giemsa mẹ + 97ml dung dịch đệm Phủ kín dung dịch nhuộm lên giọt máu
Thời gian nhuộm là 30 – 45 phút
Rửa tiêu bản bằng nước cất hoặc nước trung tính: nhúng sâu tiêu bản đã nhuộm vào khay nước rửa, lấy tiêu bản ra nhẹ nhàng Rửa như vậy vài lần, đến khi nước rửa trong
Cắm tiêu bản vào giá để hong khô tự nhiên, mặt máu quay xuống dưới để tránh bụi
Chỉ khi nào tiêu bản thật khô mới soi dưới kính hiển vi hoặc cất bảo quản trong hộp đựng tiêu bản, muốn tiêu bản khô nhanh dùng quạt, không dùng nhiệt độ
Lưu ý trước khi rửa tiêu bản:
Không nên hất đổ dung dịch nhuộm đi rồi mới nhúng tiêu bản bào vào khay rửa, như vậy cặn thuốc nhuộm có thể bám lên tiêu bản
Tránh rửa tiêu bản giọt máu dày dưới vòi nước, vì có thể làm bong giọt máu
b Nhuộm nhanh
Quy trình nhuộm giống như trên, nhưng pha dung dịch nhuộm Giemsa 10%: 10ml Giemsa mẹ + 90ml dung dịch đệm
Thời gian nhuộm là 5 – 10 phút
Có thể nhuộm tiêu bản trong bình nhuộm:
Đổ đầy dung dịch nhuộm vào bình
Xếp tiêu bản máu đã cố định (giọt máu mỏng) hoặc đã làm vỡ hồng cầu (giọt máu dày) vào bình để nhuộm
4 Nhận xét tiêu bản nhuộm tốt
Tiêu bản nhuộm tốt, khi xem dưới KHV thấy như sau:
Tiêu bản sạch, không cặn, không bụi
Hồng cầu bắt màu xanh tím hoặc xanh da trời, hoặc có màu hồng nhạt Nếu có hồng cầu bị nhiễm KST SR, thấy có những hạt sắc tố và hạt đặc hiệu (hạt Schuffner, hạt Maurer)
Bạch cầu đơn nhân có màu xanh tím
Tế bào chất của bạch cầu lympho có màu xanh lơ nhạt
Bạch cầu ái toan có những hạt màu đồng đỏ rõ
Trang 11Bạch cầu đa nhân trung tính có những hạt to nhỏ, không đều, màu xanh lơ tới
đỏ
KST SR có hình thể rõ ràng: nhân thường bắt màu đỏ sẫm hoặc đỏ tía, tế bào chất bắt màu xanh lơ, hạt sắc tố của KST bắt màu tím sẫm hoặc màu nâu đen
5 Bảo quản tiêu bản
Tiêu bản nếu lưu lại lâu dài cần bảo quản tốt Khi soi KST SR xong phải lau sạch dầu trên tiêu bản bằng cách úp lên tiêu bản giấy thấm để loại bớt dầu Sau đó nhỏ
1 – 2 giọt xylen lên phía trên giọt máu rối dùng khăn vải mềm, mỏng, sạch, lau nhẹ cho sạch Tiêu bản để chỗ không có ánh sáng, tốt nhất là để trong hộp gỗ
Trang 1210
Bài 3
HÌNH THỂ KÝ SINH TRÙNG SỐT RÉT Ở NGƯỜI
Mục tiêu
Nêu được các thành phần cấu tạo của KST SR
Nhận dạng dược KST SR trên phết máu mỏng và giọt dày
Phân biệt được hình thể của 4 loại KST SR gây bệnh cho người
Tế bào chất bắt màu xanh nhạt đến xanh tím
Phần không bắt màu là không bào
Các hạt sắc tố: đen, nâu đen, nâu ánh vàng
Các hạt đặc hiệu đỏ nâu, hồng nhạt
Tùy theo hình thái và sự kết hợp của các yếu tố trên, người ta chia ra các thể của các loại KST SR như sau:
Trang 13Thể tư dưỡng trẻ (thể nhẫn) (Early Trophozoite)
Thể tư dưỡng già (Late Trophozoite)
Thể phân liệt (Schizont)
Thể giao bào (Gametocyte)
Trang 1412
Trang 1614
Trang 1816
Trang 2018
Trang 2220
Trang 24Nhân có thể to lên hoặc teo nhỏ lại, hay vỡ thành từng mảnh vụn
TBC bắt màu nhạt hay hồng, có thể phình to, teo nhỏ hay phát triển các dạng bất thường
Kích thước KST thu nhỏ hay phình to ra
Hạt sắc tố, hạt đặc hiệu đôi khi không xuất hiện
Trang 25Bài 4
HÌNH THỂ TIẾT TÚC Y HỌC (ĐỘNG VẬT CHÂN KHỚP)
Mục tiêu
Mô tả được các đặc điểm hình thể chung của các tiết túc y học
Nêu được các đặc điểm của một số đại diện thuộc lớp côn trùng và lớp nhện Nhận dạng được các loài muỗi Anopheles, Culex, Aedes và Mansonia
Nhận dạng được bọ chét chuột, bọ chét người và bọ chét chó, mèo
Nhận dạng được chí, rận và rệp
1 Khái quát
Tiết tục là những sinh vật đa bào, không xương sống; cơ thể đối xứng, phân đốt, được bao bọc bởi vỏ cứng kitin Chân gồm nhiều đốt được nối với nhau bằng khớp
Ngành tiết túc chiếm khoảng 80% các loài động vật trên quả địa cầu này Chúng trực tiếp gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và động vật Giai đoạn trưởng thành và ấu trùng đều có thể gây bệnh cho người bằng cách châm nọc độc, gây dị ứng ngứa, hút máu, xâm nhập mô cũng như truyền các bệnh vi trùng, vi rút và KST
2 Đặc điểm chung về cấu tạo của tiết túc
Vỏ kitin cứng cản trở sự phát triển của tiết túc: tiết túc chỉ lớn lên được khi vỏ kitin còn mềm, khi vỏ kitin đã trở nên cứng, nó không lớn được nữa, lúc đó phải thay vỏ cũ, đó là hiện tượng lột xác để thay đổi hình dạng và gia tăng kích thước
Trang 2624
2.3 Cấu tạo cơ thể tiết túc
2.3.1 Cấu tạo bên ngoài
Cơ thể tiết túc gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng
Phần đầu có thể phát triển hoàn chỉnh, gồm mắt, râu, xúc tu, miệng, vòi,… Một số tiết túc có đầu không hoàn chỉnh gọi là đầu giả
Các giác quan:
Mắt: có thể là mắt đươn hoặc mắt kép Tiết túc thuộc lớp nhện không có mắt hoặc nếu có là mắt đơn Tiết túc thuộc lớp côn trùng bao giờ cũng có mắt kép
Xúc biện hàm, có nhiệm vụ giữ thăng bằng cho cơ thể, tìm vật chủ, tìm cỗ hút máu
Râu, có nhiệm vụ định hướng
Phần ngực mang các cơ quan vận động như chân, cánh
Phần bụng chia làm nhiều đốt, những đốt cuối tạo thành bộ phận sinh dục ngoài
Toàn thân tiết túc còn có thể có vẩy hoặc lông tạo thành những khoang màu khác nhau
2.3.2 Cấu trúc bên trong
Bên trong cơ thể là xoang thân, chứa các cơ quan nội tạng
Hệ tiêu hóa: thường phát triển hoàn chỉnh, gồm miệng, thực quản, ruột, hậu môn,… tuyến tiết chất đông Phần phụ miệng có nhiều biến đổi để thích nghi với những thức ăn khác nhau
Hệ tuần hoàn gồm có tim, có hình ống dài với những đoạn phình thành túi
và lỗ tim để máu trở về tim Hệ mạch hở, máu từ tim chảy vào xoang ở giữa các
cơ quan
Hệ thần kinh gồm những dây thần kinh, hạch thần kinh, có thể có hạch thần kinh trung tâm làm nhiệm vụ não
Hệ bài tiết là những thể hình ống sắp xếp ở một số đốt nhất định Lớp nhện và côn trùng có những ống Malpighi làm nhiệm vụ bài tiết
Hệ sinh dục: bộ phận ngoài phát triển đến mức hoàn chỉnh
Trang 27Bộ phận sinh dục cái gồm có 2 buồng trứng, ống dẫn trứng, âm đạo và túi chứa tinh, giúp cho sự thụ tinh được nhiều lần, ở một số tiết túc có cả nút giao hợp làm nhiệm vụ bảo quản tinh trùng
Bộ phận sinh dục đực có 2 tinh hoàn, túi tinh, tuyến phụ, ống phóng tinh và giai giao hợp
Trang 2826
4 Lớp nhện (Arachnoidea)
Lớp này có nhiều bộ khác nhau nhưng ta chỉ học bộ Ve mò (Acarina)
4.1 Đặc điểm của lớp nhện
Cơ thể chia 2 phần: đầu – ngực và bụng
Có 8 chân lúc trưởng thành, ấu trùng chỉ có 6 chân
Không có cánh, không có râu
Có bộ phận miệng biến đổi để có thể chích được gọi là đầu giả gồm có:
Một hạ khẩu ở phía bụng hình quả dứa có nhiều gai hướng về sau
Hai càng ở phía lưng hình kẹp hay móc
Hai xúc biện hình chùy đóng vai trò che chở nằm ở hai bên
4.2 Phân loại
Bộ Ve mò chia làm 2 nhóm:
Nhóm hút máu gồm có các họ Ixodidae, Argasidae và Trombiculidae
Nhóm sống ở da, chủ yếu có họ Sarcoptidae
4.2.1 Họ Ixodidae
Thường gọi là ve cứng, có những đặc điểm sau đây:
Ve trưởng thành, cơ thể la một khối: đầu, ngực, bụng không phân chia
Đầu giả có 1 phần nhô ra hình quả dứa, có nhiều gai mọc ngược, có 2 càng không di động và hai xúc biện
Trang 29Trên thân ve có những vùng lớp kitin dày lên thành từng tảng gọi là khiên
(mai)
Ve cái có khiên lưng nhỏ, không có khiên ở bụng Ve đực có khiên bụng và khiên lưng rộng che hết lưng
Mặt bụng ve có lỗ sinh dục ở phía trước và hậu môn ở phía dưới
Lỗ thở ở hai bên gốc chân thứ tư
Chân gồm nhiều đốt, ngón chân cuối cùng có móng và cả gai bám Ở đôi chân thứ nhất có bộ phận có chức năng như cơ quan khứu giác
Trong họ này ta học các giống sau đây: Ixodes, Rhipicephalus, Dermacentor
mà ta phân biệt nhờ những đặc điểm sau đây:
Rãnh bọc hậu môn ở phía sau hậu môn, đầu giả dài: Ixodes
Rãnh bọc hậu môn ở phía sau hậu môn, chủy ngắn, chân đầu giả hình 6 gốc:
Rhipicphalus
Rãnh bọc hậu môn ở phía sau hậu môn, chủy ngắn, chân đầu giả hình chữ nhật,
hậu môn gồ lên, chân chủy không góc cạnh: Dermacentor
4.2.2 Họ Argasidae
Còn gọi là ve mềm, có những đặc điểm sau đây:
Không có mai ở lưng
Đầu giả nằm ở mặt bụng, không nhô ra ngoài
Đốt chân cuối cùng chỉ có 2 móng
Trong họ này có 2 giống chính: