1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG MÔN KÝ SINH TRÙNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

21 406 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Tập Môn Ký Sinh Trùng Đại Học Duy Tân
Trường học Trường Đại học Duy Tân
Chuyên ngành Sinh Học
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 122,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn tập môn KST 1 Đặc điểm hình thể, cấu tạo, sinh sản chung của sán dây, sán lá, giun tròn và giun đầu gai? Hình thể, cấu tạo Sinh sản Sán dây Cơ thể dài từ 0,5 mm – 20 m, dẹp theo hướng lưng – bụng, màu trắng đục hoặc vàng Nhìn bên ngoài, sán dây có hình thể như một dải băng và có 3 phần phần, phần cổ, phần thân Cơ thể phân đốt, bao gồm đốt đầu, cổ và các đốt thân Đầu có cơ quan bám (móc bám, giác bám) giúp sán dây bám chặt vào mô cơ thể Cổ không phân đốt, đây là vùng sinh trưởng từ đâ.

Trang 1

Đề cương ôn tập môn KST

1 Đặc điểm hình thể, cấu tạo, sinh sản chung của sán dây, sán lá, giun tròn và giun đầu gai?

Sán dây - Cơ thể dài từ 0,5 mm – 20 m, dẹp theo hướng lưng

– bụng, màu trắng đục hoặc vàng

Nhìn bên ngoài, sán dây có hình thể như một dải băng

và có 3 phần: phần, phần cổ, phần thân.

- Cơ thể phân đốt, bao gồm đốt đầu, cổ và các đốt

thân Đầu có cơ quan bám (móc bám, giác bám)

giúp sán dây bám chặt vào mô cơ thể Cổ không

phân đốt, đây là vùng sinh trưởng từ đây hình thành

các đốt thân

- Sán dây là loài lưỡng tính

- Hệ sinh dục phát triển theo thứ tự nhất định Ở các đốt non chưa có cơ quan sinh dục, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần chỉ còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, tử cung chứa đầy trứng

Sán lá Thân dẹt, hình lá (trừ sán máng có hình ống), dài 2

- 5 cm, màu đỏ máu

Cơ thể phủ lớp tiểu bì thường có gai, vảy

Có hai giác hút: Giác miệng và giác bụng Nhiều

loài giác miệng có móc kitin lớn

Ống tiêu hoá là ống tắc chia làm đôi, không có hậu

môn

Mắt, lông bơi tiêu giảm Ngược lại các giác bám

phát triển

Đa số là lưỡng tính (trừ sán máng)

Cơ quan sinh dục gồm: cơ quan sinh dục đực và

cơ quan sinh dục cái với tuyến noãn hoàng Phầnlớn chúng có cấu tạo dạng ông phân nhánh và phát triển chằng chịt

Giun

tròn

Thân hình ống, màu ngà hay trắng hồng, không

phân đoạn, đối xứng qua trục giữa của thân

Thường thuôn hai đầu,

tiết diện ngang hình tròn

Có lớp vỏ cutin dày, chắc bao bọc bên ngoài

Đầu trước có thể có răng, móc, dao cắt

Khoang cơ thể chưa chính thức, có cơ quan tiêu hóa

dạng ống

Là loài phân tính, có con đực và con cái dễ dàng phân biệt qua hình dạng bên ngoài Con đực thường có cánh đuôi hoặc bao đuôi, và có gai sinh dục lớn Con cái: thường khúc khuỷu, gồm

2 buồng trứng, hai ống dẫn trứng, túi nhận tinh, hai tử cung, dẫn đến âm đạo và âm môn, ăn thông với bên ngoài bởi một lỗ sinh dục nằm ở giữa hay nửa trước của thân, luôn nhô ra phía bụng

Giun

đầu gai

Là loại giun tròn, hình ống, kích thước 1,5 - 3,3 cm

ở con cái và 1,2 - 3 cm ở con đực, trên đầu có nhiều

gai

Giun đầu gai không có hệ tiêu hóa

Giun sinh sản bằng cách đẻ trứng Trứng màu vàng nâu, có kích thước 62 - 79 x 36 - 42 mcm

2 Định nghĩa và phân loại KST và vật chủ?

- Định nghĩa:

Là những sinh vật sống nhờ vào những sinh vật khác đang sống

Chiếm các chất của sinh vật đó để sống và phát triển

Trang 2

Không trực tiếp giết chết vật chủ.

- Phân loại:

Dựa vào hình thái ký sinh:

o Ngoại ký sinh: Ký sinh lông, tóc, da, hốc cơ thể (ve, bét, ghẻ, trùng roi âm đạo )

o Nội ký sinh: Ký sinh trong cơ, nội tạng (giun sán ký sinh, KST sốt rét )

Dựa vào chu kỳ phát triển

o KST tạm thời: Chỉ ký sinh khi chiếm thức ăn từ cơ thể vật chủ (ruồi, muỗi, bọ xít hút máu)

o KST vĩnh viễn: Toàn bộ cuộc đời hoặc phần lớn phải sống nhờ vào cơ thể vật chủ (giun sán

Vật chủ chính (hay vật chủ cuối cùng – definitive host) là những vật chủ mà KST ở giai

đoạn trưởng thành, có thể giao phối và sinh sản được

Vật chủ trung gian (hay vật chủ phụ - secondary/intermediate host) là vật chủ mà KST

chỉ ký sinh trong một giai đoạn nhất định trong vòng đời phát triển của chúng, sau đó chuyển sang ký sinh ở vật chủ khác (vật chủ chính) cho tới dạng trưởng thành

3 Các kiểu chu kỳ phát triển của KST?

Chu kỳ phát triển hoàn toàn ngoài tự nhiên: Thường xảy ra ở những loài KST tạm thời như Ruồi, muỗi,

bọ xít hút máu

Vòng đời phát triển của muỗi Culex

Chu kỳ phát triển thực hiện hoàn toàn bên trong cơ thể vật chủ: Thường xảy ra ở những loài KST vĩnh

viễn như KST sốt rét, giun chỉ bạch huyết

Trang 3

Chu kỳ phát triển có giai đoạn ấu trùng sống bên ngoài tự nhiên: Ví dụ ở các loài Giun sán ký sinh (có

sự thay đổi qua một hoặc nhiều vật chủ; trùng roi, đơn bào ký sinh

4 Đặc điểm bệnh học KST?

- Bệnh KST có tính phổ biến theo vùng:

- Bệnh KST thường diễn biến thầm lặng: Bệnh KST thường biểu hiện thầm lặng, dễ nhầm lẫn với

các bệnh thông thường khác, và chỉ biểu hiện cấp tính khi số lượng KST trong cơ thể quá nhiều gây suy yếu bệnh nhân, hoặc gây tắc nghẽn một cơ quan bộ phận nào đó (ví dụ giun đũa gây tắc ống mật) Vì vậy, cần phải theo dõi và chữa trị dứt điểm tránh tình trạng tái nhiễm nếu phát hiện thấy bệnh KST

- Bệnh KST dễ nhầm lẫn với các bệnh thông thường khác: Các bệnh do KST thường ít biểu hiện rõ

rệt, dễ nhầm lẫn sang các bệnh thông thường khác

- Bệnh KST thường kéo dài: Nhưng khác hẳn với một số bệnh truyền nhiễm có thời hạn ngắn như sởi,

thủy đậu, bệnh KST thường diễn biến lâu dài hàng tháng, hằng năm Điều này chủ yếu do sự tái nhiễm liên tục hoặc do nhiều loài KST có vòng đời phát triển khép kín trong cơ thể vật chủ

5 Ảnh hưởng của KST đối với vật chủ?

- Chiếm thức ăn của vật chủ.

- Gây độc đối với cơ thể vật chủ: Ví dụ, giun đũa tiết ra chất ascaron có thể gây hiện tượng nhiễm độc

nặng

- Gây tắc cơ học: Ví dụ giun đũa gây tắc ruột, gây viêm tắc ống mật.

- Gây chấn thương Ví dụ, giun tóc phải cắm sâu đầu vào thành ruột của vật chủ, giun móc phải

ngoạm vào niêm mạc ruột

- Gây kích thích do KST Ví dụ kích thích ngứa gây ra bởi những giun kim cái tới cái nếp nhăn quanh

hậu môn để đẻ hoặc hiện tượng dị ứng toàn thân xảy ra khi bị KST xâm nhập

- Vận chuyển các mần bệnh mới vào cơ thể: Ví dụ ấu trùng giun có thể mang vi khuẩn than, vi khuẩn

lao để gây bệnh cho vật chủ

6 Hội chứng bệnh KST

Hiện tượng viêm: xảy ra do KST gây nên tại chỗ hoặc do phản ứng của tế bào của tổ chức vật chủ

đối với KST

Hiện tượng nhiễm độc: KST nói chung đều tiết ra độc tố.

- Giun đũa tiết ra chất ascaron gây ra hiện tượng nhiễm độc nặng

- Chất tiết từ sán dây bò có thể gây độc cho tim mạch và thần kinh

- Loài Toxoplasma tiết ra chất toxotoxin có thể gây tử vong.

Trang 4

Hiện tượng hao tổn chất:

 Do KST thường xuyên chiếm những chất của vật chủ

 Vật chủ bị hao tổn các chất một cách thường xuyên và kéo dài, dẫn đến suy dinh dưỡng và thiếu máu

Hiện tượng dị ứng.

- Nổi mẩn ngứa, mề đay…

7 Các con đường lây nhiễm KST? Cho ví dụ

Lây nhiễm qua thức ăn, nước uống:

 Cá: Tỷ lệ nhiễm bệnh sán lá gan nhỏ ở Ba vì là 28%, Kỳ Sơn, Hòa Bình là 32% Cá đã chế biến làm gỏi xét nghiệm thấy 95% ấu trùng vẫn còn sống 13 loại lá hay dùng ăn gỏi cũng được xay ra xét nghiệm thì 93% ấu trùng vẫn còn sống sau 4 giờ

 Thịt trâu, bò: bệnh sán dây bò bắt nguồn từ những món ăn thịt trâu bò nhúng, tái Loài sán có thể sống trong cơ thể người 50 - 60 năm ở ruột, trong cơ, não, mắt Tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan lớn

 Thịt lợn: Nhiều loài KST lây lan qua thịt lợn; sán dây lợn rất nguy hiểm nhất bởi khi xâm nhập vào

cơ thể con người thì chui vào mắt và não có thể dẫn đến tử vong

Nước bẩn: Trùng roi đường ruột, đơn bào

Lây nhiễm trực tiếp qua da:

 Giun móc: lây nhiễm chủ yếu qua da do trứng giun khi ra ngoài đất nở thành ấu trùng, ấu trùng này chui qua da khi tiếp xúc trực tiếp với đất Giun móc bám vào ruột hút máu làm cho cơ thể bị thiếu máu, xanh xao, mệt mỏi, chậm phát triển, học kém, hay buồn ngủ trong giờ học…

 Sán máng: Ấu trùng sống trong nước chui qua da khi đi tắm sông, hồ, suối

Lây nhiễm do Vector truyền bệnh:

 Nhiễm KST sốt rét, giun chỉ bạch huyết Do muỗi truyền

 Nhiễm trứng giun sán do ve, chấy, rận

Lây nhiễm do tiếp xúc:

 Ghẻ, bọ chét: Do tiếp xúc hoặc sử dụng chung với người bệnh; tiếp xúc với các con vật nuôi (chó, mèo…) hoặc do động vật hoang dã truyền

Trang 5

 Nấm, đơn bào do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.

8 Xét nghiệm phân có thể phát hiện những loại KST nào?

Xét nghiệm phân tìm trứng, ấu trùng giun sán ký sinh, bào nang đơn bào

9 Xét nghiệm máu có thể phát hiện những loại KST nào?

Có thể soi trực tiếp phát hiện KST (giun chỉ, sốt rét, trùng roi ) hoặc gián tiếp qua phản ứng huyết thanh (ELISA)

10 Xét nghiệm mô có thể phát hiện những loại KST nào?

Phát hiện ấu trùng sán dây, giun bao, giun xoắn

11 Xét nghiệm nước tiểu có thể phát hiện những loại KST nào?

Ấu trùng giun chỉ, sán máng

12 Đặc điểm hình thể, cấu tạo, bệnh học của: sán dây lợn/bò, sán dây lùn, sán kim, sán dây cá?

Đặc điểm hình thể, cấu tạo Bệnh học Sán dây lợn

(Taenia solium)

- Hình dẹt, màu trắng đuc

- Dài 2-3m, khoảng từ 800-1000 đốt

- Đầu sán có 2 vòng móc gồm 25-32 móc, 4 giác bám tròn, cổ ngắn và mảnh

- Những đốt già ở cuối thân thường rụng thành từng đoạn ngắn 5-6 đốt liền nhau

Người nhiễm bệnh do ăn thức ăn (thịt lợn)

có ấu trùng sán xơ mít Cysticercus (gạo

trong từ khoảng 8 - 10 tuần [Sán dây bò]

+ Thể bệnh dưới da, bắp cơ: Biểu hiện là

những nang nhỏ, sờ thấy dưới da hoặc lẩn sâu trong cơ Nang thường to bằng hạt đậu không đau, di động, bóp chặt có hiện tượng căng phồng của một túi nước Chúng ta có thể gặp dưới da đầu, vùng mặt vùng gáy

+ Thể bệnh ở cơ quan: Mắt: nang sán

trong ổ mắt gây lồi nhãn cầu, lác, mù mắt) hoặc ở tim gây suy tim

+ Thể bệnh ở não: là vị trí thường gặp

nhất, gây nhức đầu, kèm theo hiện tượng giật cơ Nặng thêm nữa là xuất hiện động kinh, mất trí nhớ

- Người nhiễm Sán xơ mít bò do

ăn thức ăn chứa ấu trùng (gạo bò)

đới H nana có thể gặp ở chuột.

Thường không có triệu chứng rõ ràng Nếu

số lượng sán nhiều bám vào thành ruột khiến ruột bị viêm và xuất huyết Triệu chứng phổ biến ở trẻ em: Rối loạn thần

Trang 6

kinh và tiêu hóa, thường đau bụng, phân lỏng, nôn mửa, biếng ăn.

- Nang sán có thể nhiễm ở bất kỳ

cơ quan nào nhưng thường gặp ở gan, phổi gây sưng gan, đau ngực, ho, khó thở, thiếu máu, gầy yếu

-Người mệt mỏi, mệt mỏi, uể oải, chóng mặt, sút cân không rõ nguyên nhân.-Ngứa da, nổi mề đay dị ứng, chữa trị da liễu không hiệu quả

-Rối loạn tiêu hóa, trướng bụng, đầy hơi, tiêu chảy

-Sốt nhẹ, lầm việc mất tập trung hay quên.-Mắt mờ, giảm thị lực một bên, đôi khi giảm thị lực hai bên

-Làm việc mất tập trung, hay quên

-Cảm giác nhột nhột dưới da

-Đau đầu, động kinh, cử động bất thường, rối loạn hành vi, yếu liệt

-Xuất huyết da thường gặp nhiều nhất là bầm da, nổi mề đay, nổi cục u ở da, sung phù một vùng da

-Ho kéo dài, điều trị theo phác đồ thông thường ho không bớt

-Lỗ sinh dục ở giữa đốt gần bờ trên, lỗ

đẻ thông với tử cung, nằm gần lỗ dinh dục và thụt phía sau

-Tử cung màu nâu, cuộn như bông hoanằm ngay trung tâm đốt sán

- Đa phần bệnh nhân nhiễm D latum thường không có triệu chứng khi nhiễm

ít

- Khi nhiễm nhiều bệnh sẽ có triệu chứng

rõ ràng hơn như bị đau bụng, rối loạn tiêuhóa, mệt mỏi, liệt chi,…và có thể dẫn đếnnhững biến chứng nặng như tắc ruột, ói mửa ra nhiều thước sán làm nghẹt thở, đôi khi gây trụy tim mạch

- Bệnh do sán dải D latum có đặc điểm là gây ra hội chứng thiếu máu do thiếu hụt vitamin B12, kiểu Biermer, hồng cầu to

Trang 7

-Ký sinh ở gan gây sưng gan,

đau bụng, nôn mửa, kém ăn,

gầy

- Kháng thể xuất hiện trong máu 2 tuần saukhi sán xâm nhập, sự tồn tại kháng thể trong máu là cơ sở của các phản ứng miễn dịch giúp cho chẩn đoán bệnh Các kháng thể trong giai đoạn này chủ yếu là IgG

- Sau giai đoạn xâm nhập vào nhu mô gan

từ 2-3 tháng, sán xâm nhập vào đường mật trưởng thành và đẻ trứng Tại đây sántrưởng thành có thể ký sinh và gây bệnh trong nhiều năm (có thể tới 10 năm) nếu không được phát hiện và điều trị

Ấu trùng sán vào dạ dày  tátràng  xuyên qua thành tá tràng  gan, đục thủng bao gan và xâm nhập vào nhu mô gan gây tổn thương gan Đây cũng chính là giai đoạn kích thích cơ thể phản ứng miễn dịch mạnh nhất

sinh trong ống mật, gây tổn

thương nghiêm trọng cho

hơn hấp khẩu miệng

Sau khi xâm nhập vào nhu mô gan, sán non

sẽ phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng trong các đường dẫn mật, trứng được bài xuất ra ngoài theo phân và xuống nước phát triển theo chu kỳ khép kín rồi lây truyền qua đường ăn cá sống có nang trùng

Ký sinh ở các ống dẫn mật  gây viêm ống mật  túi mật

bị viêm, sưng to và xơ hóa  Thoái hóa mỡ của gan, xơ gan

Gây bệnh tại phổi:

 Sau khi ăn

metacercaria tới phổi và

gây bệnh ở phổi Lúc đầu xung quanh sán thâm nhiễm bạch cầu ái toan và trung tính, sau đó là bạch cầu đơn nhân Xuất hiện hoại tử khu trú nhu mô phổi, sau đó hìnhthành nang xơ bao quanh sán trưởng thành Sau khi nhiễm 7-8 tuần, sán trưởng thành hoàn toàn bắt đầu đẻ trứng ở trong nang Nang này có thể lớn lên và vỡ, thường là vỡ vào tiểu phế quản

Trang 8

Gây bệnh tại một số cơ quan khác:

khi metacercaria đã thoát

vỏ tại tá tràng để di chuyển đến các cơ quan nội tạng vàphát triển thành sán non, trong quá trình đó chúng cóthể di trú từ khoang màng bụng đến các cơ quan khác ngoài phổi hoặc từ phổi tới các cơ quan khác và chúng

có thể tạo nang và đẻ trứng tại vị trí ngoài phổi

Sán

máng

Là loài phân tính Con đực

lớn, phần sau thân dẹt gấp

cuộn lại như lòng máng, ôm

con cái ở bên trong

Người bị nhiễm sáng máng do ăn hoặc uống phải thực phẩm hoặc nước có trứng sán Trong cơ thể người, trứng nở thành sán, sán trưởng thành thường khu trú trong các tĩnh mạch của mạng lưới mạc treo của ruột, gây ra bệnh sán máng

- Biểu hiện sớm nhất của bệnh là ấu trùng chui qua da gây những điểm xuấthuyết nhỏ, vài ngày sau khi nổi mẩn từng đám

- Ở những bệnh nhân nhiễm nhiều có tính chất nhiễm độc: nhức đầu, đau các chi, rét run, ban đêm đổ

mồ hôi, bạch cầu ái toan tăng, có thể tăng 20-60%

- S hamatobium: Nổi

bật là các triệu chứng tiết niệu, bệnh nhân có thể đái máu kèm theo đái rắt, đái buốt Đôi khi có trường hợp không có triệu chứng gì đặc biệt, chỉ sốt qua loa, nổi mề đay; có trường hợp đái máu kiết lỵ nặng rồi tử vong

- S.japonicum: triệu

chứng chủ yếu là gan rất to

và xơ hóa, lách to và đau;

Trang 9

giai đoạn cuối xuất hiện cổ trướng.

14 Đặc điểm hình thể, cấu tạo, bệnh học của: giun đũa, giun móc/mỏ, giun tóc, giun kim, giun bao, giun chỉ bạch huyết, giun kim, giun lươn, giun tròn Anisakis, Toxocara?

Đặc điểm hình thể, cấu tạo Bệnh học

Giun

đũa

Con đực: 15-17cm; con cái:

20-25cm

Màu trắng sữa hay hơi hồng

Thân tròn, 2 đầu hơi nhọn, không

dữ dội), X-quang có nhiều nốt thâm nhiễm rải rác 2 phổi, bạch cầu ái toàn tăng 30-40% Những triệu chứng này tự biến mất sau 1 tuần khi ấu trùng hết giai đoạn ở phổi

- Gây tổn thương trong quá trình di chuyển, cư trú: xuất huyết ở phổi, gây ho, đau ngực, bạch cầu ái toan tăng cao

- Làm suy nhược người bệnh, buồn nôn, ăn không tiêu, bụng trướng, rối loạn chuyển hóa protein, mỡ…

- Nếu nhiễm nặng sẽ bị biến chứng, tắc ống mật, viêm ruột, thủng ruột, tắc ống tụy, …

Chu kỳ giun móc và giun mỏ giống

nhau, trực tiếp từ người  ngoại

cảnh  người mà không qua bất kỳ

một vật chủ trung gian

- Giun móc/mỏ hút máu, đồng thời tiết chất chống đông máu và chất làm ức chế cơ quan tạo máu  Thiếu máu là đặc điểm quan trọng của bệnh giun móc/mỏ (một người có thể mất 40-80ml máu/ngày nếu mang khoảng 500 con giun móc)

- Gây chấn thương tại chỗ do giun móc/mỏ ngoạm đầu vào niêmmạc ruột, gây loét hành tá tràng

- Ấu trùng khi xâm nhập qua da cũng gây viêm da

Giun tóc Màu hồng nhạt, thân chia làm 2

phần, dài như sợi tóc, đuôi ngắn và

to (chiếm 1/3 thân)

Con đực dài 30-40cm, đuôi cong,

cuối đuôi có 1 gai sinh dục

Con cái dài 30-50cm, đuôi thẳng

- Ở người lớn đa số chỉ biểu hiện các triệu chứng khi bị nhiễm nặng

- Triệu chứng lâm sàng ở trẻ nhỏ: Tiêu chảy kinh niên, mótrặn, sa trực tràng, thiếu máu nhược sắc, cơ thể suy nhược

Giun

kim

Màu trắng, miệng gồm 3 phôi

Giun cái dài 9-12mm,giun đực dài

3-5mm

Thực quản có ụ phình

- Rối loạn tiêu hóa (đau bụng, biếng ăn, buồn nôn, ỉa chảy ), ngứa gãi hậu môn về buổi tối (tương ứng với giờ giun kim đẻ trứng)

- Trẻ bị giun kim thường có rối loạn về thần kinh do bị kích thích như mất ngủ, bứt rứt khó chịu, quấy khóc về đêm

- Chẩn đoán : Phương pháp giấy bóng kính để tìm trứng giun kim ở hậu môn trẻ em

- Điều trị: Mebendazole, Flubendazole, Albendazole

Trang 10

Giun

bao

(giun

xoắn)

giun xoắn đực trưởng thành dài 1,4

-1,6 mm, giun cái dài 3 - 4 mm

 Có 4 triệu chứng cơ bản: Phù mi mắt; Đau cơ; Sốt & Tăng bạch cầu oái toan: là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chuẩn đoán giun xoắn

+ Giai đoạn mãn tính: phù voi, các đợt phù xuất hiện liên tiếp,

da dày dần, phù dần từ dưới lên, thường bị phù một chân hoặc một tay, hay gặp là phù chi dưới cả bàn chân có thể tới đùi, da dày và cứng, có thể có những vết loét do thiếu dưỡng

Viêm Bộ phận sinh dục: viêm thừng tinh, viêm tinh hoàn, tràn dịch màng tinh hoàn, trường hợp nặng có phù to như bìu voi, vú voi nhưng không đỏ, không đau Phù voi ảnh hưởng nhiều đến lao động, chức năng vận động, hoạt động sinh lý và thẩm mỹ củabệnh nhân

Đái dưỡng chấp: nước tiểu trắng đục như nước vo gạo, để lâu không lắng, đôi khi lẫn máu Trường hợp nước tiểu có nhiều dưỡng chấp, để lâu có thể đông lại

Giun

lươn

Giun lươn sống ở ruột non nhưng

cũng có thể sống ở ngoại cảnh

Miệng giun có 2 môi, vỏ thân có

khía ngang, nông

Giun cái trưởng thành có đầu thon

dài và đuôi nhọn, kích thước khoảng

Có thể gây hội chứng Loeffler (như giun đũa) hoặc viêm phổi,

áp xe phổi Bệnh nhân có thể bị kích thích hoặc thần kinh suy nhược do độc tố của giun lươn

Giun

tròn

Anisakis

có hình thể gần giống như giun đũa - Khi xâm nhập vào cơ thể, ấu trùng giun chui qua thành dạ dày

hoặc ruột non và tạo nên những ổ áp xe ưa bạch cầu ái toan, gây phù nề, dày cứng niêm mạc thành dạ dày, ruột; triệu chứng này rất dễ nhầm với ung thư dạ dày, ruột hoặc viêm ruột

- Bệnh nhân bị đau vùng thượng vị, nôn, mửa; thường xảy ra vài giờ sau khi ăn cá, mực bị nhiễm ấu trùng giun, kèm theo đó người bệnh bị sốt, xét nghiệm máu thấy bạch cầu ái toan tăng

Toxocar

a

- Trên đầu giun đũa chó có hai

diềm từ đầu chạy dọc xuống cổ dài khoảng 2 - 4mm, đặc điểm

Người nuốt phải trứng giun toxocara  Trứng nở giải

phóng ấu trùng ở ruột non  Chui qua thành ruột di chuyển đến gan  Hệ tuần hoàn và bạch huyết di trú đến các bộ phận

Ngày đăng: 24/07/2022, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w