SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 9 Người thực hiện: Lê Thị Huệ Chức vụ: Giáo viên Đơn vị côn
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ
BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 9
Người thực hiện: Lê Thị Huệ Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ngọc Liên SKKN thuộc lĩnh vực: môn Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2023
Trang 2TT NỘI DUNG Trang
2.3 Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện 3
Trang 3Chúng ta đều biết rằng môn Ngữ văn là môn học vô cùng quan trọng trongviệc đào tạo con người, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn và nhân cách cho học sinh.Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn Theo xu thếđổi mới dạy học phát triển phẩm chất và năng lực, môn Ngữ văn có mục tiêu
“Hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu: yêu nước,
nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính”, đồng thời “Góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” Để hướng tới mục tiêu đó, giáo viên
phải tích cực đổi mới về phương pháp dạy học, làm sao phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mêhọc tập và ý chí vươn lên
Đối với môn Ngữ văn lớp 9, giáo viên nào đứng lớp đều thấy các bài ôntập, tổng kết chiếm vị trí rất quan trọng trong chương trình, không chỉ vì nóchiếm số bài và thời lượng lớn mà còn bởi nó có nhiệm vụ tổng kết toàn bộ kiếnthức trong toàn cấp học từ lớp 6 đến lớp 9 Những bài tổng kết này thường gâykhó khăn cho cả người dạy và người học, làm sao để vừa ôn lại lí thuyết, vừathực hành luyện tập một cách hiệu quả và học sinh có hứng thú với việc học tậpnhững bài học được coi là khô khan, nhàm chán này
Bản thân tôi là giáo viên dạy bộ môn không khỏi cảm thấy băn khoăn, thậmchí chạnh lòng khi có học sinh còn thổ lộ rằng cứ học đến môn Văn là em thấybuồn ngủ, học mãi không nhớ được, có nhớ cũng chỉ được vài hôm rồi lại quênngay, huống chi là kiến thức đã được học từ cả ba năm trước Vì thế tôi đã suynghĩ, tìm tòi nhằm đổi mới phương pháp, hình thức dạy học Khi được tiếp cậnvới phương pháp sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học của Dự án phát triển giáodục THCS II - Bộ GD & ĐT, tôi đã tìm hiểu và thấy được đây là một phươngpháp dạy học có nhiều ưu điểm để đổi mới phương pháp học tập Vì vậy tôi đã
chọn đề tài “ Một số giải pháp sử dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy học bài ôn tập, tổng kết chương trình Ngữ văn 9 ”.Sử dụng phương pháp sơ đồ hoá
giúp cho việc phát triển trí tuệ của học sinh, rèn luyện trí nhớ, tạo điều kiệnthuận lợi cho học sinh phát triển phẩm chất và năng lực Để nghiên cứu và tìm ranhững biện pháp vận dụng hiệu quả vào thực tiễn dạy học tại trường THCSNgọc Liên với mong muốn tạo hứng thú và nâng cao chất lượng học tập mônNgữ văn cho học sinh
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này để bản thân tôi - một giáo viên trực tiếp đứng lớphiểu sâu sắc hơn về tác dụng của công nghệ thông tin để từ đó ứng dụng đượcmột cách thành thạo về công nghệ thông tin vào dạy học, góp phần tích cựctrong công tác đổi mới phương pháp dạy học
Nghiên cứu, tìm ra những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học bằng sơ
đồ tư duy đối với các bài ôn tập, tổng kết trong chương trình Ngữ văn lớp 9 ởtrường THCS Ngọc Liên đạt được hiệu quả cao
Trang 41.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học bằngbản đồ tư duy đối với các bài ôn tập, tổng kết trong chương trình Ngữ văn 9
- Phạm vi nghiên cứu đề tài của tôi là ở trường THCS Ngọc Liên, NgọcLặc Thanh Hoá
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Khi nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp sử dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy học các bài ôn tập, tổng kết trong chương trình Ngữ văn 9”, tôi đã
sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp thu thập thông tin, điều tra, khảo sát thực tế
+ Phương pháp thuyết trình
+ Phương pháp thống kê, đối chiếu, phân tích tổng hợp
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
cơ bản của hoạt động học là người học hướng vào việc cải tiến chính mình, nếungười học không chủ động tự giác, không có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lựccủa người thầy chỉ đem lại những kết quả hạn chế
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ýtưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sửdụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Đặc biệt sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở,không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớtcác nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm
từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó
dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập sơ đồ tư duy pháthuy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
- Chương trình Ngữ văn 9 là chương trình cuối cấp THCS cho nên số lượngbài dành cho việc ôn tập, tổng kết lại chương trình toàn cấp là khá nhiều
Kì I:
+ Tổng kết về từ vựng (trong 4 bài 9, 10, 11, 12)
+ Ôn tập Tiếng Việt (trong bài 14)
+ Ôn tập Tập làm văn (trong bài 15, 16)
Kì II:
+ Ôn tập về thơ ( trong bài 25)
+ Tổng kết phần văn bản nhật dụng ( trong bài 26)
Trang 5+ Ôn tập Tiếng Việt (trong bài 27)
+ Tổng kết về ngữ pháp (trong 2 bài 29, 30)
+ Ôn tập về truyện (trong bài 30)
+ Tổng kết phần Văn học nước ngoài ( trong bài 32)
+ Tổng kết phần Văn học ( trong bài 33, 34)
- Những bài này có tính chất khái quát, tổng hợp nhằm củng cố kiến thức
Vì thế có lượng kiến thức lớn trong một tiết học, đòi hỏi người dạy và người họcvừa phải có tư duy khái quát, tổng hợp vừa phải có tư duy cụ thể; vừa củng cố,khắc sâu kiến thức vừa hình thành, rèn luyện kĩ năng thực hành, luyện tập
2.2 Thực trạng của vấn đề.
2.2.1 Về phía giáo viên.
- Những bài ôn tập, tổng kết ở lớp 9 vừa ôn tập nội dung chương trình đanghọc, vừa tổng kết, hệ thống hóa kiến thức cho cả cấp học, lượng kiến thức lớn
Vì thế thường gây ra tâm lí nặng nề, ngại dạy và học Nếu không có sự chuẩn bịchu đáo, kĩ lưỡng cả từ phía người dạy và người học thì tiết dạy không thể hoànthành, khó đảm bảo yêu cầu cần đạt
- Khả năng tư duy khái quát, tổng hợp, kĩ năng tiếp nhận, hệ thống hóa kiếnthức ở học sinh không đồng đều Thời gian giữa tiết học kiến thức với tiết ôntập, tổng kết lại quá xa, nhiều nội dung kiến thức học sinh không còn nhớ Nếuhọc sinh không tự giác chuẩn bị bài trước thì gần như giáo viên phải mất nhiều
thời gian dạy lại kiến thức
2.2.2 Về phía học sinh.
- Tâm lí học sinh thường thích khám phá cái mới Tiết ôn tập, tổng kết kháiquát, hệ thống những cái đã được học nên dễ gây cho các em sự nhàm chán, họctập một cách thụ động Mặt khác, học sinh chưa có thói quen chuẩn bị đồ dùnghọc tập như giấy A4, bút màu, bút chì, tẩy hoặc bảng phụ trong tiết học lịch sử
mà chỉ dùng cho tiết học Mỹ thuật Như vậy, trong quá trình dạy và học chúng
ta sẽ thường gặp một số khó khăn
2.3 Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện.
2.3.1 Các giải pháp.
a Phương pháp lập sơ đồ tư duy:
- Khái niệm sơ đồ tư duy là gì?
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ýtưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Đặcbiệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người.Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hìnhdung tổng thể vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Còn sơ đồ tư duytập trung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ýphụ một cách logic
- Sơ đồ tư duy có ưu điểm:
+ Dễ nhìn, dễ viết
+ Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
+ Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não
+ Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
Trang 6- Sơ đồ tư duy sẽ giúp:
Sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian, ghi nhớ tốt hơn, nhìn thấy bức tranh tổngthể, phát triển nhận thức, tư duy, …
b Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học:
- Cho học sinh làm quen với sơ đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho học sinh
một số “sơ đồ tư duy” cùng với dẫn dắt của giáo viên để các em định hướng
hơn các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút, chít” các đường
nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong, cùng với các hình ảnh khác nhau,thậm chí còn có thể chèn hình ảnh minh họa
Khi hướng dẫn học sinh thiết kế bản đồ tư duy, tôi đã giúp học sinh làmtừng bước như sau:
- Xác định chủ đề (hay đề tài) và các ý chính của bản đồ tư duy Đối với bài
ôn tập, tổng kết chủ đề đó chính là tên phần được ôn tập, mỗi nội dung là mộtnhánh chính của bản đồ, mỗi nội dung cụ thể, chi tiết được thể hiện trên mộtnhánh phụ Từ các ý nhỏ này lại có thể có những ý chi tiết hơn nữa thì lại tiếptục vẽ các phân nhánh chi tiết cho nó
- Chọn cách thể hiện thích hợp trên bản đồ tư duy sao cho khoa học và đảmbảo tính cân đối, thẩm mĩ Để hướng dẫn học sinh chọn được kiểu thể hiện phùhợp, tôi giới thiệu cho các em các mẫu sơ đồ tư duy với cách thể hiện nội dungkhác nhau Tùy vào nội dung ý lớn, ý nhỏ cần thể hiện và khả năng vẽ của mình,học sinh sẽ chọn cách thể hiện thích hợp
Việc trang trí trên bản đồ tư duy bằng những hình họa, màu sắc cần căn cứvào lượng kiến thức thể hiện, tránh làm cho bản đồ trở nên rườm rà, rối mắt
- Một kĩ năng rất quan trọng mà giáo viên cần rèn luyện cho học sinh lànhững nội dung tri thức được cần chắt lọc cho thật cô đọng, súc tích trong một
từ khoá hay một cụm từ để ghi chép lên bản đồ (không được ghi cả câu dài vàobản đồ tư duy vì nó sẽ rất rườm và không thể hiện được hết các ý chi tiết)
Ví dụ: Khi giao nhiệm vụ học sinh vẽ sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức về
một số biện pháp tu từ cho bài Tổng kết về từ vựng (tiếp theo) – SGK Ngữ văn
9 - Tập 1, Trang 146, tôi hướng dẫn cách chọn từ ngữ cốt lõi thể hiện bản chấtcủa các biện pháp để viết ngắn gọn vào sơ đồ như sau:
+ So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét
tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
+ Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác
Trang 7có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt + Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một
sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Có thể chắt lọc, viết ngắn gọn như sau:
+ So sánh: đối chiếu A với B có nét tương đồng -> gợi hình, gợi cảm
+ Ẩn dụ: gọi A bằng B có nét tương đồng -> gợi hình, gợi cảm.
+ Hoán dụ: gọi A bằng B có nét gần gũi -> gợi hình, gợi cảm.
- Để tăng chất lượng cô đọng của bản đồ tư duy, giáo viên hướng dẫn các
em có thể dùng các kí tự đặc biệt như !, ?, &, $, ≈, ≠ , các loại hình mũi tênkhác nhau để chỉ ra chiều hướng và kiểu liên hệ giữa các ý như ↔, →, ←, ,;
sử dụng lối viết tắt nhiều
- Để bản đồ tư duy sinh động, có tính thẩm mĩ, dễ quan sát ý lớn, ý nhỏ, ýchi tiết, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng nhiều màu sắc khác nhau khi vẽ
và ghi chép các ý Mỗi học sinh chuẩn bị bút màu hoặc bút bi với các màu khácnhau (đen, xanh, đỏ, tím, ) là có thể làm được
- Đối với những học sinh có máy tính, tôi hướng dẫn các em cài đặt cácphần mềm vẽ sơ đồ tư duy như Minmap5, Minmap10, để việc vẽ sơ đồ đượcnhanh hơn, trình chiếu trực tiếp trên máy chiếu hay ti vi được tiện hơn, sinhđộng, hấp dẫn hơn
c Thuyết minh bản đồ tư duy.
Giáo viên hướng dẫn học sinh thuyết minh về bản đồ tư duy của mình theohướng trình từ bày từ trung tâm bản đồ (chủ đề), đến các ý chính, sau đó đến ýphụ của từng ý chính Hoặc có thể trình bày theo từng nhánh tùy vào nội dungđược thể hiện sao cho dễ hiểu, mạch lạc các đơn vị kiến thức
Ảnh giáo viên hướng dẫn học sinh thuyết trình
Trang 8Như vậy, sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học các bài ôn tập, tổng kết làmột trong những cách thức giúp đổi mới phương pháp dạy và học Ngữ văn hiệuquả, giúp học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo, rèn kĩ năng tự học; tạo ra sựtương tác tích cực, thân thiện giữa giáo viên và học sinh, tăng hứng thú của họcsinh, rất thích hợp với đặc trưng bộ môn và hoàn cảnh phát triển công nghệthông tin trong bối cảnh hiện nay
2.3.2 Các biện pháp tổ chức thực hiện
a Đối với hình thức cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà.
Hình thức này thường được thực hiện đối với những bài tổng kết có dunglượng kiến thức lớn, bao quát cả cấp học như Tổng kết về từ vựng, Tổng kết vềngữ pháp, Tổng kết phần Văn học,
Để thực hiện được hình thức này, các em cần bố trí, sắp xếp thời gian làmviệc theo nhóm ở nhà hoặc ở trường ngoài giờ học chính khóa
Hoạt động 1: Giao nhiệm vụ chuẩn bị nội dung cho bài ôn tập, tổng kết.
Để sử dụng bản đồ tư duy vào dạy bài Ôn tập có hiệu quả, giáo viên cầngiao nhiệm vụ cho từng học sinh thiết kế trước bản đồ tư duy hệ thống lại kiếnthức đã học ở nhà, thành lập các nhóm vẽ ra giấy khổ lớn (A2, A0)/ bảng phụhoặc vẽ trên máy tính
Ví dụ: Khi dạy bài Tổng kết về ngữ pháp (Ngữ văn 9 - Tập 2)- Đây là
bài Tổng kết về ngữ pháp có dung lượng kiến thức lớn học sinh lựa chọn nhữngnội dung học chính thức để hệ thống hóa kiến thức Giáo viên giao nhiệm vụ chohọc sinh chuẩn bị nội dung cho tiết ôn tập như sau:
- Ôn lại kiến thức về:
A.Từ loại: danh từ, động từ, tính từ và các từ loại khác
B Cụm từ: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ
C Thành phần câu: thành phần chính, thành phần phụ, thành phần biệt lập
D Các kiểu câu: câu đơn, câu ghép, biến đổi câu, các kiểu câu ứng với mụcđích giao tiếp
- Các nội dung kiến thức được thể hiện bằng bản đồ tư duy Mỗi học sinh
vẽ một bản đồ tư duy, mỗi tổ thảo luận đi tới thống nhất thiết kế một bản đồ tưduy ra giấy A0 hoặc trình chiếu trên máy chiếu/tivi
Hoạt động 2: Trên lớp, giáo viên tổ chức ôn tập lí thuyết theo các bước như sau:
Bước 1: GV sử dụng kĩ thuật “phòng tranh”, cho các nhóm lên trình bày,
thuyết minh bản đồ tư duy của mình Cả lớp cùng đứng theo dõi phần trình bàycủa từng nhóm
Bước 2: Cả lớp cùng nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh về nội dung kiến thức
của bản đồ Giáo viên đóng vai trò là cố vấn, là trọng tài giúp học sinh nhận rađiểm được hay chưa được trong bản đồ tư duy của mình, chủ yếu về nội dungkiến thức và cách trình bày kiến thức ( về tính lôgíc ý lớn, ý nhỏ, mối liên hệgiữa các nội dung kiến thức, ) trên bản đồ
Bước 3: GV nhận xét chung về bản đồ tư duy của từng tổ, bao gồm cả cách
thể hiện khoa học, rõ ràng; độ chính xác, hợp lí của nội dung kiến thức trên bản
đồ, tính thẩm mĩ Sau đó đưa ra bản đồ tư duy của giáo viên chuẩn bị sẵn đểchuẩn hóa nội dung kiến thức đã học HS dựa vào đó để bổ sung, chỉnh sửa hoàn
Trang 9thiện bản đồ tư duy của cá nhân mình.
Ảnh học sinh thuyết trình kết quả hoạt động nhóm
b Đối với hình thức cho nhóm học sinh vẽ bản đồ tư duy ở trên lớp.
Hình thức này thường được thực hiện đối với những bài ôn tập các nội
dung của chương trình học ở lớp 9 với dung lượng kiến thức không lớn lắm như
Ôn tập phần Tiếng Việt kì I, Ôn tập phần Tiếng Việt kì II, Ôn tập Tập làm văn,
Ưu điểm của hình thức này là học sinh không phải mất thời gian làm việctheo nhóm ngoài giờ học chính khóa
Hoạt động 1: Giao nhiệm vụ ôn tập nội dung kiến thức, chuẩn bị đồ dùng học tập cho bài ôn tập trên lớp.
- Để sử dụng bản đồ tư duy vào dạy bài Ôn tập có hiệu quả, giáo viên cầngiao nhiệm vụ cho từng học sinh ôn tập kĩ lại kiến thức đã học ở nhà (soạn cáccâu hỏi và bài tập trong bài)
- Chuẩn bị các đồ dùng cần thiết để vẽ bản đồ tư duy hệ thống kiến thức ởtrên lớp: giấy khổ lớn (A2, A0) hoặc bảng phụ, bút dạ có các màu khác nhau
Hoạt động 2: Trên lớp, giáo viên tổ chức ôn tập lí thuyết theo các bước như sau:
Bước 1: Giáo viên chia nhóm (4 – 6 em), giao nhiệm vụ cho các nhóm vẽ
sơ đồ tư duy hệ thống lại kiến thức của phần học
- Để tiết kiệm thời gian, mỗi học sinh sẽ phụ trách vẽ một nhánh chính, cáchọc sinh có thể cùng vẽ một lúc (giống kĩ thuật dạy học khăn trải bàn)
- Giáo viên quy định rõ thời gian cho hoạt động để học sinh tập trung, khẩntrương, phối hợp nhịp nhàng với nhau hoàn thành bản đồ tư duy của nhóm
Bước 2: GV sử dụng kĩ thuật “phòng tranh”, cho các nhóm lên trình bày,
thuyết minh bản đồ tư duy của mình.Cả lớp cùng đứng theo dõi phần trình bàycủa từng nhóm
Bước 3: Cả lớp cùng nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh về nội dung kiến thức
của bản đồ Giáo viên đóng vai trò là cố vấn, là trọng tài giúp học sinh nhận rađiểm được hay chưa được trong bản đồ tư duy của mình
Bước 4: GV nhận xét chung về bản đồ tư duy của từng nhóm, bao gồm cả
cách thể hiện khoa học, rõ ràng; độ chính xác, hợp lí của nội dung kiến thức,tính thẩm mĩ, thời gian hoàn thành, sự hợp tác, phối hợp của từng thành viêntrong nhóm Sau đó đưa ra bản đồ tư duy của giáo viên chuẩn bị sẵn để chuẩn
Trang 10kiến thức HS dựa vào đó để bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện bản đồ tư duy của cánhân mình.
Ảnh học sinh hoạt động nhóm.
Lưu ý: Bản đồ tư duy chỉ giúp ôn tập, tổng kết về lí thuyết, các kiến thức
được học Trong các tiết ôn tập, tổng kết, cùng với việc cho học sinh vẽ và trìnhbày bản đồ tư duy để hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức lí thuyết, giáo viêncần tổ chức cho học sinh làm các bài tập theo nhiều hình thức khác nhau để khắcsâu, củng cố kiến thức
2.3.3 Giới thiệu một số bản đồ tư duy của giáo viên và học sinh.
a Bản đồ của giáo viên
Để vẽ các bản đồ tư duy phục vụ cho việc trình chiếu được sinh động, tôicài đặt phần mềm vẽ sơ đồ Minmap10 bởi phần mền này có những tiện ích nổibật như sau:
+ Có nhiều mẫu với màu sắc và các hình thể hiện nội dung rất đa dạng.Điều đó giúp giáo viên dễ dàng chọn lựa màu sắc, hình thể hiện sao cho bản đồkhoa học, sinh động
+ Có thể thêm các kí hiệu thể hiện mối quan hệ, các text box vào bản đồ tưduy theo ý đồ của người vẽ
+ Chuyển sang chế độ trình chiếu PowerPoint chạy hiệu ứng từng nhánh rất sinhđộng
Để khuyến khích, động viên học sinh tích cực, chăm chỉ, sáng tạo trong việc
vẽ bản đồ tư duy trong học tập, giáo viên cần kịp thời biểu dương trước lớp, chấmđiểm bản đồ tư duy theo nhóm/ cá nhân, lấy điểm thay cho bài kiểm tra thườngxuyên, Chọn những sản phẩm bản đồ tư duy chất lượng, đẹp mắt để trưng bàytrên góc học tập của lớp, trên các nhóm, câu lạc bộ học tập của lớp, trường Giáoviên bộ môn căn cứ vào hồ sơ học tập để đánh giá quá trình tiến bộ của học sinh,góp ý với giáo viên chủ nhiệm xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng chocác em