1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương taì chính

35 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 1: Những vấn đề lý luận về ngân sách nhà nước và pháp luật ngân sách nhà nước
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán - Tài chính
Thể loại Đề cương tài chính
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 60,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước 1.1. Định nghĩa Ngân sách nhà nước là toàn bộ khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. 1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước Thứ nhất, là kế hoạch tài chính khổng lồ của nhà nước được quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành.

Trang 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 Ngân sách nhà nước

1.1 Định nghĩa

Ngân sách nhà nước là toàn bộ khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiệntrong một khoản thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để

bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước

Thứ nhất, là kế hoạch tài chính khổng lồ của nhà nước được quốc hội biểu quyết thông qua trước khi thi hành.

Đặc điểm cho thấy việc thiết lập NSNN không chỉ là vấn đề kĩ thuật nghiệp vụ kinh tế (lậpcác khoản thu và chi định thực thực thiện trong một năm) mà còn là vấn đề mang tính kĩthuật pháp lý (nghĩa là pphair trải qua giải đoạn xem xét, biểu quyết thông qua tại quốc hộigiống như việc bạn hành một đạo luật để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhấtđịnh cho các chủ thể tham gia vào hoạt động ngân sách

Thứ hai, ngân sách nhà nước không phải một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà còn là một đạo luật.

NSNN có vai trò quan trọng với sự phát triển và ổn định của một quốc gia, vì thế nên cầnthiết phải có sự đảm bảo NSNN có giá trị pháp lý như một đạo luật Bản dự toán NSNNsau khi được soạn thảo bởi cơ quan hành pháp sẽ được chuyển cho cơ quan lập pháp xemxét và ban hành nó như một đạo luật Điều này cũng giúp kiểm soát chính phủ trong quátrình thu chi ngân sách và bảo đảm quyền lợi cho nhân dân, cũng như giúp bản kế hoạchtài chính này có thể thực hiện dễ dàng hơn trong thực tế vì nó được bảo đảm thực hiện nhưmột đạo luật

Thứ ba, NSNN là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, được trao cho chính phủ tổ chức thực hiện dưới sự giám sát trực tiếp của quốc hội.

Đây là nguyên tắc hiến định thể hiện việc thực hiện NSNN có sự tham gia kiểm soát củadân chúng, thực hiện nhằm đẳm bảo kiểm soát nguy cơ lạm quyền của cơ quan hành pháp

Sự kiểm soát cũng là cách đề cao tình dân chủ, công khai, minh bạch, góp phần quản trị tốtnền tài chính

Thứ tư, NSNN được thiết lập và thực thi vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho toàn thể quốc gia, không phân biệt người thụ hưởng.

Đặc điểm này giúp ta phân biệt rõ địa vị và vai trò của chính phủ so với tư nhân trong nềnkinh tế-xã hội hiện đại

Ví dụ, ngân sách của chủ thể như hộ gia đình, cá nhân, chỉ phục vụ trực tiếp đến lợi ích vànhu cầu của họ, không bắt buộc phải thực hiện các khoản chi vì lợi ích khác Trong khi đóchính phủ sẽ buộc phải chi những khoản không chắc chắn đem lại một lợi ích cụ thể nàocho mình (cho giúp vùng thiên tai, dịch bệnh )

Trang 2

Thứ năm, NSNN luôn phản ánh mối tương quan giữa quyền lập pháp và hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện ngân sách

Đây là một đặc điểm giúp phân biệt giữa NSNN và NS các chủ thể khác Mối tương quanthường nghiêng về phía cơ quan lập pháp do vai trò áp đảo của cơ quan lập pháp được ghinhận trong hiến pháp và đạo luật NSNN như một nguyên tắc cơ bản Trong trường hợpmối tương quan này bị nghiêng về phía cơ quan hành pháp, mà cơ quan hành pháp không

tự kiềm chế để làm đúng và tốt bổn phận của mình sẽ khiến cho việc quản trị nền tài chínhcông trở nên kém minh bạch, thiếu dân chủ

1.3 Các nguyên tắc cơ bản của ngân sách nhà nước

Nguyên tắc ngân sách nhất niên:

Mỗi năm, quốc hội (cơ quan nắm quyền lập pháp) sẽ biểu quyết ngân sách một lần theohạn kì do luật định Theo đó, NSNN được cơ quan có thẩm quyết định và thực hiện trongmột năm, bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.Bản dự toán ngân sách nhà nước sau khi đã được quốc hội quyết định chỉ có giá trị thihành trong một năm và chính phủ với tư cách là cơ quan nắm quyền hành pháp cũng chỉđược phép thi hành trong năm đó

Ý nghĩa giúp việc thực hiện thu chi NS một cách hợp lý, có hiệu quả

Trường hợp phá vỡ nguyên tắc nhất niên: Điều 51 Luật NSNN 2015 Trường hợp vào đầu

năm NS mà dự toán NS và phương án phân bổ chưa được quyết định ( QH biểu quyếtthông qua dự toán trước 15/11) thì sẽ phải tạm cấp NS đối với các trường hợp không thểtrì hoãn

Nguyên tắc ngân sách đơn nhất

Nguyên tắc ngân sách đơn nhất được hiểu là mọi khoản thu và chi tiền tệ của một quốc giatrong một năm chỉ được phép trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó là bản dự toánNSNN sẽ được chính phủ trình quốc hội

Tất cả các khoản thu và chi tiền tệ của quốc gia trong một năm đều phải được trình bàytrong dự toán NSNN

Để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong quá trình thiết lập NSNN, trong quátrình thực hiện và giám sát việc thực hiện NSNN

Đồng thời để đảm bảo tính minh bạch của NSNN thì pháp luật về tài chính công ở nhiềunước đều thừa nhận nguyên tắc ngân sách đơn nhất là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa NSNN

Trường hợp ngoại lệ của ngân đơn nhất: trong những trường hợp đặc biệt, quốc hội được

phép thông qua một ngân sách bất thường còn được gọi là ngân sách đặc biệt hay ngânsách khẩn cấp ( không nằm trong dự toán ngân sách hàng năm) hay còn gọi là điều chỉnh

dự toán NS Điều 53

Nguyên tắc ngân sách toàn diện

Trang 3

Mọi khoản thu và mọi khoản chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong bản dự toán ngânsách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định; không được phép để ngoài dự toánngân sách bất kì khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất.

Các khoản thu và chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từngkhoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục ngân sách nhà nước được duyệt Không đượcphép dùng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể naò mà mọi khoản thu đều được dùng

để tài trợ cho moi khoản chi

Bảo đảm cho bản dự toán ngân sách được thiết lập rõ ràng, cụ thể, minh bạch, đầy đủ và

dễ kiểm soát, tránh sự gian lận hay biển thủ công quỹ trong việc thực hiện dự toán ngânsách nhà nước hàng năm

Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc ngân sách toàn diện: theo quy định thì vốn vay chỉ

được dùng cho đầu tư phát triển Nhưng trong thực tế, vốn vay này vẫn có thể được Chínhphủ linh hoạt sử dụng cho sinh hoạt nhưng sau đó phải hoàn trả ngay cho mục tiêu chi đầu

tư phát triển Điều 57 và Đ59

Nguyên tắc ngân sách thăng bằng

Là sự thăng bằng giữa khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản chi thường xuyên trong

đó tổng thu về thế, phí lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên

Bên cạnh việc cân đối các khoản thu chi thì NSNN cũng đảm bảo cân đối kinh phí hoạtđộng của các tổ chức xã hội khác

Cũng trên cơ sở đó trong quá trình lập ngân sách Chính phủ phân bố các nguồn thu, chicủa từng cấp ngân sách của trung ương và địa phương cho phù hợp

Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc ngân sách thăng bằng: Trong trường hợp tổng thu từ

thuế và lệ phí không đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên (bội chi ngân sách) nhưngnhà nước vẫn quyết toán thông qua cho chi thường xuyên đó Các khoản chi chưa thựchiện được thì để sang năm sau chi tiếp Từ đó sẽ dẫn đến việc cân nhắc hoàn thành cáckhoản chi năm trước và các khoản chi năm nay Một số khoản chi kéo dài thì quyết toántheo hạng mục, hàng năm Như vậy, có thể thấy không phải bao giờ các khoản thu cũnglớn hơn các khoản chi trong cùng một năm, hơn nữa sẽ có những khoản chi kéo dài chocác công trình kéo dài từ năm này sang năm khác

Nguyên tắc công khai minh bạch

Công khai ngân sách là việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin tài chính,công khai, phù hợp với từng đối tượng cung cấp và tiếp nhận thông tin qua những hìnhthức pháp luật quy định như công bố trong các kỳ họp thường niên, phát hành ấn phẩm,thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, cung cấp thông tin theo yêu cầu của

cơ quan tior chức cá nhân

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện kiểm tra,giám sát quá trìnhquản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi

Trang 4

phạm pháp luật bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệmchống lãng phí

Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc ngân sách công khai minh bạch: Các khoản chi đặc

biệt (đầu tư cho quân sự, quốc phòng, ) và các khoản chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị,

– Các QHXH phát sinh trong quá trình phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa các cơ

quan NN có thẩm quyền quản lý và điều hành NS với nhau

– Các QHXH phát sinh trong quá trình tạo lập ngân sách nhà nước giữa các cơ quan có

chức năng hành thu (cơ quan thuế, cơ quan hải quan, cơ quan tài chính,…) với các tổchức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ đóng góp một khoản tiền nhất định cho ngân sách nhànước

– Các QHXH phát sinh trong quá trình sử dụng quỹ ngân sách nhà nước giữa cơ quan NN

có chức năng chấp hành dự toán chi (cơ quan TC, kho bạc NN …) với các đơn vị dự toánngân sách nhà nước

2.3 Quan hệ pháp luật NS

Khái niệm

– Định nghĩa: Là những QHXH phát sinh trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ

ngân sách nhà nước, được các quy phạm pháp luật ngân sách nhà nước điều chỉnh

– Đặc điểm

+ Chủ thể: thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật NS có ít nhất một bên là cơ

quan NN có thẩm quyền, thậm chí hầu hết các quan hệ pháp luật NS đều có hai bên thamgia là các cơ quan công quyền

+ Khách thể: mục đích của việc thực hiện quan hệ pháp luật ngân sách nhà nước nhằm

thỏa mãn nhu cầu thực hiện các chức năng cơ bản của NN hay chính là các lợi ích côngcộng

Trang 5

+ Nội dung: quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật ngân sách

nhà nước đều hướng tới việc thỏa mãn lợi ích chung, lợi ích công cộng của toàn xã hội

+ Tính chất: các quan hệ pháp luật NS mang tính chất hành chính mệnh lệnh là chủ yếu.

Phân loại

– Căn cứ theo tiêu chí chủ thể+

QHPL giữa cơ quan NN có thẩm

quyền với nhau

+ QHPL giữa cơ quan NN với cá

nhân, tổ chức

– Căn cứ theo tiêu chí nội dung Qhệ+ QHPL về

quá trình NS+ QHPL về phân cấp quản lý NS+ QHPL về thu nộp NS

+ QHPL về chi tiêu NS

– Căn cứ theo tiêu chí tính chất của QHPL+ QHPL mang tính chất hành chính

+ QHPL mang tính chất bình đẳng thỏa thuận

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm và các nguyên tắc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

1.1 Khái niệm tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống : thể thống nhất được tạo bởi các yếu tố cùng loại, cùng chức năng và có mối

liên hệ chặt chẽ với nhau

Hệ thống ngân sách nhà nước : hệ thống các khâu NS độc lập nhưng có mối quan hệ qua

lại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của NN

Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước là việc bố trí sắp xếp các khâu NS một cách hợp

lý, khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ thu chi của từng cấp NS và toàn bộ hệthống ngân sách nhà nước

*Mô hình tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

Hiện nay, trên thực tế tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống NS chủ yếu:

– Mô hình thứ nhất dựa trên quan điểm coi ngân sách nhà nước là duy nhất và thống nhất.

NN chỉ có một ngân sách nhà nước và NS này do chính phủ trung ương quản lý và sửdụng Mô hình này không thừa nhận sự tồn tại độc lập của NS địa phương

– Mô hình thứ hai, dựa trên quan điểm mỗi cấp chính quyền phải có một NS riêng, độc

lập trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất Hay nói cách khác, ngân sách nhà nướcđược tổ chức theo hệ thống chính quyền Theo mô hình này, ngoài NSTW do chính quyền

TW quản lý và quyết định SD còn tồn tại các NSĐP do chính quyền ĐP các cấp QL vàSD

– Mô hình tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước ở VN

+ Hệ thống ngân sách nhà nước được thiết kế theo mô hình thứ hai hay là thiết kế theo hệthống chính quyền (hệ thống các đơn vị hành chính)

Theo đó, ngân sách nhà nước bao gồm NS trung ương và NS địa phương.

+ NSĐP bao gồm NS của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND:

– NS cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (NS cấp tỉnh – NS cấp huyện, quận, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh (NS cấp huyện)

Trang 6

– NS cấp xã, phường, thị trấn (NS cấp xã).

+ Trong hệ thống ngân sách nhà nước , NS trung ương giữ vai trò chủ đạo, chi phối đốivới toàn bộ hệ thống NS trung ương bao gồm NS các đơn vị dự toán NS cấp trung ương,mỗi Bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của NS trung ương

+ NSĐP là NS của các cấp chính quyền địa phương bên dưới phù hợp với địa giới hànhchính các cấp Ngoài NS cấp xã chưa có đơn vị dự toán trực thuộc, các cấp NS khác đềubao gồm các đơn vị dự toán của cấp NS ấy hợp thành

1.2 Các nguyên tắc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

1 Nguyên tắc thống nhất trong tổ chức ngân sách nhà nước

Thống nhất trong tổ chức ngân sách nhà nước được hiểu là ngân sách nhà nước mặc dùđược tổ chức thành nhiều cấp nhưng các cấp ngân sách là những bộ phận cấu thành củamột hệ thống ngân sách thống nhất và duy nhất Trong hệ thống ngân sách đó, mặc dù mỗicấp ngân sách đều có hoạt động thu, chi của mình nhưng các hoạt động đó phải nhất quán,phải cùng dựa trên những chuẩn mực, những định mức nhất định và phải tuân thủ cùngmột chính sách, chế độ về thu chi ngân sách

Các yêu cầu để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống ngân sách nhà nước là:

– Phải thể chế hóa thành pháp luật mọi chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, định mức

về thu chi ngân sách

– Phải đảm bảo sự nhất quán trên phạm vi toàn quốc về hệ thống và chuẩn mực kếtoán, về phương thức báo cáo, về trình tự lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán ngânsách nhà nước

– Phải tạo cơ sở pháp lí cho việc thiết lập mối quan hệ giữa ngân sách cấp trên vàngân sách cấp dưới trong việc điều chuyển nguồn vốn giữa các cấp ngân sách này

=>> Ý nghĩa: Nguyên tắc thống nhất trong việc tổ chức hệ thống ngân sách nhà nướcgiúp cho việc quản lý dễ dàng hơn trong các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước Việcđiều hoà vốn giữa các cấp ngân sách trở lên dễ dàng hơn, tránh tình trạng ứ đọng tiền ởcấp ngân sách này và thiếu hụt tiền ở cấp ngân sách kia làm cản trở sự hoạt động trôi chảycủa toàn bộ hệ thống ngân sách

2 Nguyên tắc độc lập và tự chủ của các cấp ngân sách nhà nước

Để đảm bao các cấp chính quyền có thể chủ động trong việc thực hiện các chức năng củamình thì các cấp chính quyền nhà nước hay các cấp ngân sách cần có sự độc lập và tự chủ

ở chừng mực nhất định trong quá trình thực hiệc các chức năng của mình

Để đảm bảo ngân sách mỗi cấp được độc lập và tự chủ thì cần phân giao các nguốn thu vàcác nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách và cần cho phép mỗi cấp ngân sách có quyềnquyết định ngân sách của cấp mình.Tuy địa phương có quyền quyết định ngân sách cấpmình nhưng các quyết định đó phải tuân thủ chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức vềthu, chi ngân sách của nhà nước

Trang 7

=>> Y nghĩa: Đảm bảo việc chủ động của các cấp chính quyền trong việc thực hiện chứcnăng của mình Khi các cấp chính quyền cấp dưới chủ động được được nguồn vốn thì sẽtránh mất thời gian trong việc xin ý kiến cấp trên và làm giảm bớt số công việc không cầnthiết yêu cần chính quyền cấp trên giải quyết.

3 Nguyên tắc tập trung quyền lực trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cấp chínhquyền nhà nước trong hoạt động ngân sách

Tập trung quyền lực thể hiện ở quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhấtcủa Chính phủ Phân định thẩm quyền giữa các cấp là việc xác định rõ quyền hạn và tráchnhiệm của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện các hoạt động thu chi ngân sách.Nguyên tắc tập trung quyền lực trên cơ sở phân định thẩm quyền đòi hỏi một mặt phảiđảm bảo quyền quyết định tối cao của Quốc hội và quyền thống nhất điều hành của Chínhphủ trong tổ chức và quản lý ngân sách nhà nước Mặt khác vẫn phải đảm bảo tính chủđộng đồng thời tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương

=>> Ý nghĩa: Làm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương và thúc đẩy địa phươngphấn đấu để chủ động cân đối ngân sách

2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NS

– Phân cấp quản lý NSNN là quá trình Nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ, quyềnhạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý NS Hoặctheo quy định tại Khoản 16 Điều Luật NSNN 2015 quy định: “Phân cấp quản lý NS là việcxác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán

NS trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội”

– Phải phân cấp quản lý NSNN vì những lý do sau:

 Phân cấp ngân sách giúp các cấp ngân sách cấp dưới được chủ động trong hoạt độngchi thu ngân sách cho phù hợp với tình hình địa phương mình Mặt khác giảm tảiđược gánh nặng cho NS cấp trên Bên cạnh đó còn xuất phát từ cơ chế phân cấpquản lý hành chính, phân cấp quản lý nhằm khuyến khích các địa phương phát huytính độc lập, tự chủ, chủ động sáng tạo trong quá trình phát triển kinh tế xã hội củađịa phương mình Ví dụ thu từ cho thuê mặt đất, thuế môn bài, lệ phí chước bạ,…giao cho địa phương thu sẽ hiệu quả hơn

 Tạo nguồn thu cho ngân sách phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế,các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đấtnước trong từng thời kỳ Do đó, việc xác định cơ cấu thu chi của các cấp ngân sáchcũng như phương pháp quản lý các cấp ngân sách là rất cần thiết Việc phân cấpquản lý ngân sách nhằm tạo điều kiện về tài chính cho chính quyền các cấp tham giavào quá trình tổ chức, huy động, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung củanhà nước để thực hiện các chức năng nhiệm vụ xác định

Trang 8

* Đặc biệt việc phân cấp quản lý tránh tình trạng chồng chéo, nhiều chủ thể cùng cóquyền, dẫn đến tình trạng kết quả hoạt động NSNN không cao, có thể gây thất thu choNSNN, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, chắc năng và vai trò của NN

* Pháp luật quy định hệ thống quản lý NSNN phải được thiết kế theo mô hình hệ thống tổchức chính quyền bởi: mỗi cấp chính quyền trong hệ thống tổ chức chính quyền đều cónhiệm vụ tổ chức và đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại đia phương, mặtkhác pháp luật cũng quy định chính quyền địa phương tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạtđộng của mình được phân quyền Để đảm bảo cho việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm đó, cáccấp chính quyền cần có nguồn thu riêng để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu Do đó, việc quyđịnh hệ thống quản lý NSNN phải được thiết kế theo mô hình hệ thống tổ chức chínhquyền là cần thiết

2.2 Nội dung chế độ phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thường được xem xét trên ba nội dung cơ bản nhưsau:

– Pcấpvề T/quyền ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu – chi ngânsách nhà nước

– Phân cấp về vật chất – là sự phân chia giữa các cấp NS về các khoản thu và NV chi,cũng như các quy tắc về chuyển giao NS từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại

– Phân cấp về quá trình NS – hay QH giữa các cấp chính quyền trong quá trình NS : lập

dự toán ngân sách nhà nước , chấp hành NS và quyết toán ngân sách nhà nước

Trong các nội dung nói trên thì phân cấp về mặt vật chất, hay phân giao nguồn thu và NVchi giữa các cấp NS là nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của phân cấp QL ngân sáchnhà nước

2.2.1 Nguyên tắc phân phối nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách nhà nước

NSTW và NSĐP được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, bảo đảm cho NSTW giữ vai trò chủ đạo, NSĐP chủ động thực hiện nhiệm vụ được giao.

Vai trò chủ đạo của NSTW: tập trung phần lớn các nguồn thu quan trọng và những nhiệm

vụ chi mang tính chất chiến lược của quốc gia

– NSĐP giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi các nhiệm vụ trên phạm vi địa bàn

Nhiệm vụ chi thuộc NS cấp nào do NS cấp đó bảo đảm thực hiện

+ Nhiệm vụ chi thuộc cấp NS nào thì sử dụng kinh phí của cấp NS đó

+ Không được dùng NS của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

Ngoại lệ:

Trường hợp ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi của cơ quan quản lý NN cấp trên cho cơquan quản lý NN cấp dưới (Đđ Khoản 2 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước) Trường hợp bổsung nguồn thu của NS cấp trên cho NS cấp dưới (Điểm e khoản 2 Điều 4 Luật ngân sáchnhà nước)

Trang 9

Phân chia khoản thu, điều tiết bổ sung kinh phí giữa NS cấp trên và NS cấp dưới

Ngoài những nguồn thu mà NS TƯ và NSĐP được hưởng toàn bộ, có một số nguồn thu

mà NS TƯ và NSĐP cùng được hưởng theo tỷ lệ % (Khoản 2 Điều 30 Luật ngân sách nhànước)

Tỷ lệ % phân chia giữa NS TƯ và NS từng địa phương do UBTVQH quyết định

Bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dưới gồm : Bổ sung cân đối thu chi và bổ sung có mụctiêu

Số bổ sung của NS cấp trên được coi là số thu của NS cấp dưới

– Tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối được ổn định từ 3 đến 5 năm

2.2.2 Thẩm quyền quyết định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách nhà nước

 Quốc hội quyết định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho NS trung ương và NS địaphương

 Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp NShuyện và NS xã thuộc địa bàn tỉnh

2.2.3 Các khoản thu và chi của các cấp ngân sách nhà nước

Các khoản thu của NS trung ương

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 35 Luật NSNN 2015

Thành phần: Những khoản thu từ các loại thuế gián thu có liên quan đến hoạt động XNK;

từ các khoản thuế và thu từ dầu khí; từ tiền thu hồi vốn của NSTW, thu nhập từ vốn gópcủa NN, thu từ tiền viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ VN; các khoản phí, lệ phí do cơquan nhà nước TW thu (trừ lệ phí trước bạ) và 1 số khoản thu khác

Các khoản thu 100% của NSTW theo quy định của pháp luật hiện hành mang những đặctrưng sau:

Thứ nhất, là khoản thu lớn thường là từ hoạt động XNK, phát sinh không đều, không ổn định ở các địa phương Với đặc điểm này bảo đảm cho NSTW có nguồn thu lớn để giữ vai

trò chủ đạo và làm trung tâm điều hoà cho NS các địa phương, đồng thời bảo đảm sự bìnhđẳng, công bằng cho các địa phương tránh tình phân hoá giữa các địa phương

Ví dụ: Các khoản thuế thu liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu; Các khoản thu liênquan đến dầu khí…

Có thể nói, đây là khoản thu lớn không phải địa phương nào cũng có, nguồn thu của mỗiđịa phương là khác nhau Những khoản thu này theo quy định của pháp luật về thuế sẽđược tập trung hết về NSTW

Thứ hai, là khoản thu gắn trách nhiệm quản lý nhà nước trực tiếp của các cơ quan nhà nước ở trung ương Đặc điểm này gắn trách nhiệm quản lý với lợi ích được hưởng.

Ví dụ: Thu phí, lệ phí từ các hoạt động của các cơ quan ở TW hay các khoản thu hồi vốncủa ngân sách trung ương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được chia tạicông ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà

Trang 10

nước do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương đạidiện chủ sở hữu…

Các khoản thu của NS địa phương

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 37 Luật NSNN 2015

Các khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ: Các loại thuế và các khoảntiền thu liên quan đến đất và tài nguyên (trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò,khai thác dầu khí); lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ và lệ phí do địa phương thu; thu từ hoạtđộng xổ số kiến thiết, thu hồi vốn của ngân sách địa phương; thu từ viện trợ trực tiếp chođịa phương, từ đóp góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân; thu kết dư ngân sách địaphương; thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang và cáckhoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản thu 100% NSĐP theo quy định của pháp luật hiện hành có các đặc trưng sau:

 Nguồn thu từ sử dụng đất chiếm tỷ lệ nhiều nhất

 Là các khoản thu nhỏ, lẻ phát sinh tương đối đều ở các địa phương

Gắn trách nhiệm quản trực tiếp của các cấp chính quyền địa phương Nếu địa phương quản lý tốt sẽ có nhiều nguồn thu này, nếu quản lý yếu kém thì nguồn thu NSĐP giảm, đồng thời cho địa phương hưởng toàn bộ nguồn thu này để khuyến khích địa phương chăm lo phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng ở địa phương.

Ví dụ: việc quản lý nhà đất, NSĐP thu những khoản thu nhỏ, lẻ và gắn trách nhiệm quảntrực tiếp của các cấp chính quyền địa phương Những khoản thu như vậy sẽ dễ được địaphương tiếp nhận và chính xác, chủ động hơn

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VỀ QUÁ TRÌNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 KHÁI NIỆM QUÁ TRÌNH ngân sách nhà nước

Quá trình NS được hiểu là toàn bộ những hoạt động lập, chấp hành và quyết toán NS củamột quốc gia, được tính từ thời điểm cơ quan NN có thẩm quyền thực hiện việc hướng dẫnlập dự toán ngân sách nhà nước đến thời điểm báo cáo quyết toán ngân sách nhà nướcđược phê chuẩn

Như vậy, theo khái niệm nêu trên thì quá trình NS trải qua 3 giai đoạn:

1 Lập dự toán ngân sách nhà nước

2 Chấp hành ngân sách nhà nước

3 Quyết toán ngân sách nhà nước

NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ QUÁ TRÌNH ngân sách nhà nước

1 Chế độ lập dự toán ngân sách nhà nước

Định nghĩa

Lập dự toán ngân sách nhà nước được hiểu là tổng thể các QPPL do NN ban hành nhằmquyết định thẩm quyền, trình tự thủ tục soạn thảo và thông qua dự toán ngân sách nhànước hàng năm

Đặc điểm của lập dự toán ngân sách nhà nước

Trang 11

Về thời gian thực hiện, hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành hàng

năm và vào trước năm NS Ở VN, thời gian lập dự toán ngân sách nhà nước khoảng 6tháng, thường bắt đầu vào cuối tháng năm và kết thúc trước ngày 31 tháng 12 hàng năm.Lập dự toán ngân sách nhà nước là giai đoạn thể hiện rõ nhất sự tập trung QL vào tay QHthông qua việc QH là chủ thể cuối cùng QĐ bản dự toán NS có HL pháp lý để thi hànhtrên thực tế

Lập DT NS đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trên cơ sở có sự phân địnhquyền hạn và trách nhiệm rõ ràng Bởi dự toán ngân sách nhà nước là KHTC khổng lồ của

QG không chỉ liên quan đến lợi ích của NN mà còn liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thểkhác nên sự dung hòa các quyền lợi của các CT trong bản dự toán ngân sách nhà nước làyêu cầu khách quan

Lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quyđịnh của PL Bởi trong hđ lập dự toán ngân sách nhà nước đòi hỏi cao về mặt kỹ thuậtnghiệp vụ và kỹ thuật pháp lý nhằm đảm bảo tính hiệu quả cho quá trình soạn thảo

Các giai đoạn của lập dự toán ngân sách nhà nước

Lập dự toán ngân sách nhà nước để đưa ra bản dự toán thu chi ngân sách nhà nướctrong thời hạn một năm phải trải qua 2 giai đoạn chính sau:

+ Soạn thảo dự toán ngân sách nhà nước (hay xây dựng ngân sách nhà nước ).

Thẩm quyền tổ chức thực hiện việc soạn thảo dự toán ngân sách nhà nước thuộc về hệthống cơ quan quản lý NN (Chính phủ, UBND các cấp), trong đó Chính phủ là cơ quan cótrách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác này Để giúp Chính phủ thựchiện công việc này, còn có các Bộ, ngành ở TW, điển hình và quan trọng nhất là Bộ Tàichính và UBND các cấp theo sự phân công, phân cấp trong quản lý ngân sách nhà nước Kết quả của giai đoạn này là tạo ra bản dự toán thu, chi ngân sách nhà nước và các báocáo, tài liệu có liên quan đề trình cơ quan quyền lực cùng cấp xem xét và thông qua vào kỳhọp thường niên cuối năm trước năm NS kế tiếp

+ Thông qua dự toán ngân sách nhà nước (hay quyết định dự toán ngân sách nhà nước ).

Sau khi soạn thảo, bản dự toán ngân sách nhà nước sẽ được các cơ quan quản lý trình lên

cơ quan quyền lực cùng cấp để tiến hành việc xem xét, đánh giá, thẩm định, biểu quyết và

ra nghị quyết thông qua bản dự toán ngân sách nhà nước

Như vậy, thẩm quyền thông qua dự toán ngân sách nhà nước thuộc về hê thống các cơquan quyền lực Theo quy định của pháp luật hiện hành, Quốc hội quyết định dự toán ngânsách nhà nước và phương án phân bổ NS trung ương do Chính phủ trình; HĐND các cấpquyết định dự toán NS và phương án phân bổ NS cấp mình trên cơ sở những định hướnglớn đã được Quốc hội quyết định

Trang 12

Kết quả của giai đoạn này là việc ban hành nghị quyết thông qua bản dự toán ngân sáchnhà nước , hay thừa nhận giá trị pháp lý của bản dự toán ngân sách nhà nước , cho phépcác cơ quan quản lý NN thi hành trên thực tế.

Thẩm quyền của các chủ thể trong quá trình lập dự toán ngân sách nhà nước

Thẩm quyền của các cơ quan quản lý NN

+ Chính phủ: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc tổ chức thực hiện lập dự toán

ngân sách nhà nước , quyết định những nội dung quan trọng của dự toán ngân sách nhànước ; kiểm tra tính hợp pháp của nghị quyết của Hôi đồng nhân dân cấp tỉnh về dự toán

NS

Để giúp Chính phủ trong việc thực hiện thẩm quyền trên còn có các bộ, cơ quan ngang bộ

và cơ quan thuộc Chính phủ, trong đó Bộ tài chính và Bộ Kế hoạch và đầu tư là hai cơquan có chức năng quản lý trực tiếp liên quan đến hoạt động lập dự toán ngân sách nhànước

+ UBND các cấp: là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực NN ở địa phương.

Trong hoạt động lập dự toán ngân sách nhà nước , UBND các cấp có thẩm quyền tổ chức,chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, Cquyền cấp dưới lập dự toán ngân sách nhà nước ; lập dựtoán NS địa phương, phương án phân bổ NS cấp mình; quyết định giao nhiệm vụ thu, chi

NS cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc

+ Các đơn vị dự toán NS : tổ chức lập dự toán NS thuộc phạm vi QL, thực hiện phân bổ

dự toán NS được cấp có thẩm quyền giao cho các đơn vị trực thuộc và điều chỉnh phân bổ

dự toán theo thẩm quyền

Thẩm quyền của các cơ quan quyền lực NN

+ QH: với tư cách là cơ quan quyền lực NN cao nhất của NN , trong hoạt động lập dự

toán ngân sách nhà nước , Quốc hội có thẩm quyền quyết định thông qua dự toán ngânsách nhà nước ; quyết định phân bổ NS trung ương; quyết định các dự án, công trình quantrọng quốc gia được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước ; quyết định điều chỉnh dự toánngân sách nhà nước trong trường hợp cần thiết,…

Để giúp Quốc hội thực hiện quyền hạn của mình, còn có sự tham gia của các cơ quan củaQuốc hội như UBTVQH, Ủy ban kinh tế và NS của Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủyban khác của Quốc hội

+ Hội đồng nhân dân các cấp: có thẩm quyền quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước

trên địa bàn, dự toán thu NS địa phương, dự toán chi NS địa phương; quyết định phân bổ

dự toán NS cấp mình; quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện NS địaphương

Trình tự thủ tục lập dự toán ngân sách nhà nước

Quá trình lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành theo trình tự thủ tục chặt chẽ,bao gồm các bước cơ bản sau:

 Hướng dẫn lập dự toán NS và thông báo số kiểm tra dự toán NS hàng năm

Trang 13

 Lập, xét duyệt, tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước

 Quyết định, phân bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước

Đặc điểm của hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước

– Hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước luôn có sự tham gia của NN và gắn với lợi íchcủa NN

– Hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước có mục đích tạo ra năng lực tài chính thực tế

và sử dụng nguồn vật chất này vào việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của NN

– Hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước bao gồm hai nội dung:

+ Chấp hành dự toán thu ngân sách nhà nước : là việc các cấp NS, tổ chức, CN sdụngnhững cách thức, biện pháp phù hợp để thu đầy đủ, kịp thời các chỉ tiêu thu thể hiện trong

dự toán ngân sách nhà nước

+ Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước : là việc chuyển giao, sử dụng đúng mụcđích, đúng kế hoạch dự toán và đúng chế độ hiện hành các nguồn kinh phí từ ngân sáchnhà nước, thông qua hoạt động của cơ quan TC và các đơn vị sử dụng NS nhằm thực hiệncác chương trình hoạt động của NN trên mọi lĩnh vực trong năm tài chính

2.2 Trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia chấp hành ngân sách nhà nước Các cơ quan có thẩm quyền chung

– Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp: tham gia vào hoạt động chấp hành ngân sách nhànước thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu ngân sách nhà nước trong trường hợp cầnthiết, giám sát hoạt động chấp hành NS của Chính phủ và UBND các cấp

– Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: có trách nhiệm điều hành quá trình chấp hành ngânsách nhà nước , đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, điều hành NS giữa các cấp, ngành,địa phương

– UBNDcác cấp: có trách nhiệm chấp hành ngân sách nhà nước cấp mình và giám sát,quản lý hoạt động của ngân sách nhà nước cấp dưới

Tùy thuộc những điều kiện nhất định, Chính phủ và UBNDcấp dưới được sử dụng cáckhoản dự phòng, quỹ dự trữ tài chính và xử lý cân đối ngân sách nhà nước

Các cơ quan có thẩm quyền riêng

Trang 14

Hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước gắn liền với trách nhiệm của các cơ quan tàichính NN

– CQ tài chính có chức năng QL chung đối với hoạt động thu và chi NS, có trách nhiệmđôn đốc hoạt động thu NS của các cơ quan thu, thực hiện một số khoản thu không thuộcthẩm quyền của cơ quan thu, chịu trách nhiệm về tính hiệu quả của việc sử dụng quỹ NS – CQ thuế có trách nhiệm thực hiện các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí hình thành từ các hđtrong nước

– CQ hải quan có trách nhiệm thực hiện các khoản thu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.– CQ kho bạc NN:có trách nhiệm QL quỹ ngân sách nhà nước,thực hiện các khoản thumang T/c bắt buộc trên cơ sở các lệnh thu của các CQ cóTQ,thực hiện cấp phát kinh phí,

QL chi ngân sách nhà nước

2.3 Trình tự thủ tục chấp hành ngân sách nhà nước

Trình tự, thủ tục chấp hành dự toán thu ngân sách nhà nước

– Ra thông báo thu đối với các khoản thu mang tính chất bắt buộc

Đối với các khoản thu mang tính chất tự nguyện, cơ sở thực hiện thu NS là phần tự khai,

tự tính hoặc mức tham gia của đối tượng thực hiện khoản thu đó

– Thực hiện các khoản thu theo nhiệm vụ

– Kiểm tra và thực hiện đúng các chứng từ có liên quan đến quá trình thu ngân sách nhànước

Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước là chứng từ thu NS áp dụng cho các đối tượng cónghĩa vụ nộp thuế và các khoản thu khác vào kho bạc NN

Biên lai thu tiền là chứng từ thu NS áp dụng trong trường hợp cơ quan thu đươc giaonhiệm vụ trực tiếp thu NS bằng tiền mặt, thu tiền phạt vi phạm hoặc kho bạc trực tiếp thuphí, lệ phí, tiền phạt

Các loại trái phiếu Chính phủ là chứng từ thu NS áp dụng cho các đối tượng tham gia quan

hệ cho vay đối với ngân sách nhà nước

Trình tự, thủ tục chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước

– Tuân thủ các điều kiện chi ngân sách nhà nước :

+ Khoản chi dự định thực hiện phải được ghi nhận trong dự toán ngân sách nhà nước phân

bổ cho đơn vị nhận kinh phí

+ Khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền của NN quy định

+ Khoản chi được phải được thủ trưởng đơn vị sử dụng NS hoặc người được ủy quyềnquyết định chi

Nếu đề nghị của các đơn vị sử dụng NS không đáp ứng các điều kiện chi thì cơ quan khobạc NN có quyền từ chối chi trả Trường hợp, có đầy đủ điều kiện chi và không có lý dochính đáng thì đơn vị sử dụng NS có quyền khiếu nại nếu lệnh chi bị từ chối

– Thực hiện các phương thức cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước

Trang 15

Phương thức cấp phát kinh phí là những cách thức, biện pháp mà NN sử dụng để chuyểngiao nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các đối tượng sử dụng NS theo đúng yêucầu định trước.

Hiện nay có 2 phương thức cấp phát kinh phí cho các đối tượng thụ hưởng ngân sách nhànước , đó là:

+ Cấp phát theo dự toán kinh phí: áp dụng đối với những khoản chi mà cơ quan tài chínhkhông cấp phát trực tiếp

Quyết định chi của đơn vị sử dụng NS có hình thức là Giấy rút dự toán ngân sách nhànước

+ Cấp phát bằng lệnh chi tiền: áp dụng đối với những khoản chi do cơ quan tài chính cấpphát trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước

Lệnh chi tiền là quyết định chi do cơ quan tài chính phát hành, gửi và yêu cầu Kho bạc

NN chi trả, thanh toán một số tiền cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước theo đúng nộidung của lệnh chi

3 Chế độ quyết toán ngân sách nhà nước

Đặc điểm của hoạt động chấp hành ngân sách nhà nước

– Hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước đòi hỏi sự tham gia của các chủ thể có liênquan đến quá trình NS từ cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý đến các đơn vị sử dụng ngânsách nhà nước

– Quyết toán NS thể hiện bằng bản báo cáo kế toán về kết quả chấp hành NS hàng năm đãđược phê duyệt theo trình tự luật định

– Đảm bảo nguyên tắc công khai trong hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước nhằm tạođiều kiện cho việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và nhân dân đốivới quá trình phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước

3.2 Trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia vào hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước

Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền chung

– Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm cao nhất trong hoạt động quyết toán ngân sách nhànước , có quyền phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước , quyết toán các dự án, côngtrình quốc gia quan trọng đã được Quốc hội phê chuẩn

Trang 16

– Chính phủ có trách nhiệm lập quyết toán ngân sách nhà nước , quyết toán các dự án,công trình quan trọng để trình Quốc hội phê chuẩn.

– Hội đồng nhân dân, UBNDcác cấp chịu trách nhiệm về việc đáp ứng các yêu cầu củaquyết toán ngân sách nhà nước thuộc đơn vị mình và của NS cấp dưới

Trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền riêng

– Cơ quan tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc quyết toán NS các cấp trungương và địa phương

– Cơ quan kho bạc NN thực hiện quyết toán tình hình thực tế thu chi NS theo dự toán đãgiao và theo mục lục NS

– Các CQ thu lập báo cáo quyết toán thu NS đối với các lĩnh vực được giao quản lý vàthực hiện

Trách nhiệm, quyền hạn của đơn vị sử dụng NS

– Các đơn vị sử dụng NS là những chủ thể đầu tiên có trách nhiệm quyết toán ngân sáchnhà nước theo trật từ từ đơn vị cơ sở thấp nhất

– Đối với đơn vị sử dụng NS không phải là đơn vị sự nghiệp có thu phải quyết toán theoMục lục ngân sách nhà nước

– Đối với đơn vị sự nghiệp có thu phải thực hiện quyết toán và thể hiện trong hoạt động

NS đối với các khoản thu, chi thuộc ngân sách nhà nước

3.3 Căn cứ để quyết toán ngân sách nhà nước

– Các quy định pháp luật hiện hành về chế độ thu, chi NS ; các chỉ tiêu tài chính; các địnhmức chi tiêu tài chính được áp dụng chung cho các đơn vị sử dụng NS

– Các chỉ tiêu được phân bổ trong dự toán ngân sách nhà nước

– Mục lục ngân sách nhà nước áp dụng cho từng đối tượng quyết toán NS

– Các chứng từ, tài liệu thực tế chứng minh kết quả chấp hành ngân sách nhà nước

3.4 Trình tự, thủ tục quyết toán ngân sách nhà nước

– Lập và thẩm định quyết toán của các đơn vị dự toán

– Tổng hợp và thẩm định quyết toán của các cấp NS

– Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VỀ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm và phân loại thu ngân sách nhà nước

Định nghĩa Thu ngân sách nhà nước là việc huy động một bộ phận giá trị sản phẩm XH ,

theo quy định của pháp luật nhằm hình thành quỹ ngân sách nhà nước Các khoản thungân sách nhà nước được thực hiện thông qua những hình thức pháp lý nhất định như quychế thu thuế, quy chế vay nợ, quy chế viện trợ,…được thể hiện trong các quy định phápluật hiện hành về tài chính

Đặc điểm

– Thu ngân sách nhà nước phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Trang 17

Để thực hiện hoạt động thu NS , NN phải ban hành các VBPL quy định về hình thức thucũng như nội dung thu Dự toán NS.Trong quá trình tập trung các khoản thu vào quỹ ngânsách nhà nước, bản thân NN cũng phải tuân thủ quy định của Pl về thu ngân sách nhà nước, nghĩa là NN chỉ được phép thu những khoản thu đã được luật hóa và chỉ thực hiện quyềnthu đó trong khuôn khổ PL, các cấp, các ngành không được tự ý đặt ra các khoản thu tráiPL.

Lý do: Giới hạn quyền thu của NN,là căn cứ xác định nguồn thu trái PL

 Thu ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với thực trạng và mức độ phát triển nền KTcủa đất nước bởi thu NS là hđ nhằm huy động một bộ phận giá trị sản phẩm XH.Giá trị SP XH biểu hiện qua thu nhập của CN-TC èphải thu phù hợp với thu nhập để kotạo ra sức ép và đạt hiệu quả thu

 Thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua 2 cơ chế pháp lý là bắt buộc và

tự nguyện, trong đó cơ chế bắt buộc được xem là chủ yếu(thuế)

 Chủ thể tham gia vào hoạt động thu ngân sách nhà nước bao gồm chủ thể đại diệncho NN trong việc thực hiện quyền thu (CQTC, cơ quan thuế, CQ hải quan, kho bạc

NN ) và các chủ thể đóng góp khoản thu ngân sách nhà nước theo nghĩa vụ hoặctheo tinh thần tự nguyện

– Cơ cấu của thu ngân sách nhà nước bao gồm “các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động KT của NN;các khoản đóng góp của TC và CN; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo QĐ của PL”.

Phân loại thu ngân sách nhà nước

Căn cứ vào nội dung kinh tế, thu ngân sách nhà nước gồm:

+ Các khoản thu có tính chất hoa lợi là những khoản thu làm tăng ngân quỹ nhưng khônglàm tăng trái vụ của quốc gia, bao gồm khoản thu từ thuế; khoản đóng góp tự nguyện củacác tổ chức, cá nhân; khoản thu từ viện trợ không hoàn lại của nước ngoài cho Chính phủ;khoản thu tiền phạt vi phạm pháp luật,…

+ Các khoản thu không có tính chất hoa lợi là những khoản thu làm tăng ngân quỹ nhưngđồng thời cũng làm tăng lên tương ứng số lượng trái vụ của QG, bao gồm các khoản thu từphí, lệ phí; thu từ vay nợ và viện trợ có hoàn lại; thu về bồi thường thiệt hại cho NN ,…

Căn cứ vào nội dung pháp lý, thu ngân sách nhà nước gồm:

+ Các khoản thu mang tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí

+ Các khoản thu mang tính chất tự nguyện như thu từ viện trợ, tặng cho, đóng góp của các

tổ chức và cá nhân

Căn cứ vào mức độ tiến hành hoạt động thu, gồm:

+ Các khoản thu thường xuyên như thuế, lệ phí

+ Các khoản thu không mang tính thường xuyên

Căn cứ vào nơi phát sinh nguồn thu, thu ngân sách nhà nước gồm:

+ Các khoản thu trong nước

Ngày đăng: 10/06/2023, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w