Nội dung pháp luật về chi ngân sách nhà nước

Một phần của tài liệu Đề cương taì chính (Trang 20 - 24)

CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VỀ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

4. Nội dung pháp luật về chi ngân sách nhà nước

Định nghĩa: Chi đầu tư phát triển là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – XH , phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của NN nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển XH .

Nội dung chi đầu tư phát triển

Căn cứ vào tính chất của các hoạt động đầu tư phát triển thì chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước gồm:

Chi đầu tư xây dựng cơ bản: là các khoản chi để đầu tư XD các công trình thuộc kết cấu hạ tầng không có khả năng thu hồi vốn, các ctrình của các DN NN đầu tư theo khoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ,…

 Các khoản chi đầu tư phát triển không có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản như chi cấp vốn ban đầu, cấp bổ sung vốn pháp định hoặc vốn điều lệ cho các doanh nghiệp NN , chi góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh cho NN ,…

Chi đầu tư xây dựng cơ bản

Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước . Các nguyên tắc cần được bảo đảm khi cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm:

 Việc cấp phát vốn ĐT và XD phải đúng đ/t là các công trình đã được PLquy định.

 Đơn vị chủ đầu tư phải thỏa mãn đầy đủ các đk cấp phát vốn XD cơ bản như thực hiện các thủ tục vè lập dự án đầu tư; dự án đã được ghi trong kế hoạch cấp vốn đầu tư và xây dựng từ ngân sách nhà nước ; tổ chức đấu thầu theo quy chế đấu thầu.

 Tuân thủ trình tự thủ tục cấp phát: căn cứ vào kế hoạch được duyệt, cơ quan tài chính các cấp thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền về việc cấp phát vốn. Kho bạc NN có trách nhiệm chuyển tiền, thực hiện cấp phát. Chủ đầu tư nhận vốn theo tiến độ thực hiện.

Các khoản chi khác không có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản Chi đầu tư vốn cho doanh nghiệp NN

 Doanh nghiệp NN mới thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền được ngân sách nhà nước đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ ban đầu nhưng không thấp hơn mức vốn pháp định quy định cho ngành nghề KD của doanh nghiệp (nếu có).

 Cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp được thực hiện hàng năm.

Chi trợ cấp tài chính và trợ giá cho doanh nghiệp

Đối tượng được chi trợ cấp tài chính, trợ giá sản phẩm từ ngân sách nhà nước là các DN thuộc mọi thành phần KT khi tham gia thực hiện các nhiệm vụ hoạt động công ích, quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai hoặc cung cấp SP, dịch vụ theo chính sách giá của NN .

Chi thường xuyên Khái niệm

Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng vốn ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng của NN . Chi thường xuyên có đặc điểm là mang tính ổn định, không có khả năng thu hồi và phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng nên hình thức cấp phát, thanh toán là hình thức cấp phát theo dự toán.

Nội dung chi thường xuyên

Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi sau:

 Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa – XH như giáo dục – đào tạo; y tế; văn hóa – nghệ thuật,…

 Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của NN

 Chi cho các hoạt động quản lý NN

 Chi cho các tổ chức CT,tổ chức CT-XH và các TC khác được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước

 Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tư an toàn XH

 Các khoản chi khác

Chương 5: Một số vấn đề lý luận chung về thuế

2 : So sánh thuế trực thu với thuế gián thu và ý nghĩa của việc phân loại thuế ?

Thuế Trực Thu Thuế Gian Thu Giống

nhau

– Căn cứ phân loại dựa trên mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người chịu thuế

– Là các nghĩa vụ tài chính mà chủ thể nộp thuế phải nộp vào NSNN – Đều là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, không đối giá, tính quyền lực nhà nước

K H Á C N H A U

Định nghĩa

Thuế trực thu là thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập or tài sản của ngưới nộp thuế, người nộp thuế và người chịu thuế là một.

Thuế gián thu là thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ, người nộp thuế không là người chịu thuế.

Loại thuế đặc trưng

Thuế TNDN, TNCN Thuế TTĐB, GTGT

Chủ thể chịu thuế

Chủ thể nộp thuế và chủ thể chịu thuế là một

Chủ thể chịu thuế và chủ thể nộp thuế khác nhau (Chịu thuế là khách hàng; nộp thuế là người bán hàng, nhà nhập khẩu)

Ưu điểm

Đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập thặng dư của người nộp thuế

Hạn chế sự phản ứng thuế từ người gánh chịu thuế; Dễ dàng cho cơ quan quản lý thuế

Nhược điểm

Gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế do không có sự chuyển dịch về thuế; khó thu thuế

Không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập chênh lệch

Tác động vào nền kinh tế

Ít tác động vào giá cả thị trường (vì thường đánh vào kết quả kinh doanh, thu nhập sau 1 kỳ kinh doanh)

Ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường

(vì thuế được cộng vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ )

 Ý nghĩa của việc phân loại

Thứ nhất, việc phân loại nhằm phục vụ hiệu quả cho việc xây dựng và ban hành pháp luật về Thuế.

Thứ hai, việc phân loại thuế có ý nghĩa trong việc tổ chức thu thuế.

Thứ ba, việc phân loại thuế tránh cho sự chồng chéo, cộng gộp nhiều đối tượng khác nhau vào chung một đạo luật thuế.

3. Nêu các nguyên tắc đánh thuế theo quan điểm phổ biến và bình luận về vận dụng các quyền thu thuế của Việt Nam hiện nay?

 Các nguyên tắc đánh thuê theo quan điểm phổ biến hiện nay

Thứ nhất: Đánh thuế phải đảm bảo công bằng. Nghĩa là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế cũng như mọi người có điều kiện liên quan tới thuế như nhau thì được đối xử về thuế như nhau. Và tính công bằng này luôn được đảm bảo dù trong trường hợp có sự khác nhau về điều kiện. Cụ thể nếu đối tượng có điều kiện khác nhau thì những đối tượng khác nhau nhưng cùng loại phải được đối xử với nhau tương xứng. Mặt khác, những đối tượng được khuyến khích ưu đãi khi có đủ điều kiện họ cũng được hưởng sự đối xử ưu đãi tương ứng.

Thứ hai: Đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế. Đây là nguyên tắc quan trọng để đảm bảo tính “trung lập” của thuế. Đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế. Việc đánh thuế vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa phải đảm bảo người nộp thuế không phải nôp số thuế quá lớn. Nếu tổng số thuế phải trả quá lớn, đời sống nhân dân lao động không được đảm bảo, nền kinh tế sẽ bị trì trệ một cách gián tiếp; tình trạng trốn thuế sẽ xảy ra. Còn nếu thuế thu được quá ít sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Do vậy cần có sự hài hòa giữa lợi ích nhà nước và người nộp thuế. Cân bằng sao cho không gây phản ứng thuế của người dân mà Nhà nước vẫn duy trì được hoạt động của mình. Khi ban hành một loại thuế, không những xem xét nhu cầu chi tiêu của Chính phủ mà còn cần tính toán đến khả năng tài chính của người nộp thuế. Tuy vậy để cân bằng giữa các lợi ích cũng là việc rất khó khăn. Vì thế đây là yếu tố dẫn tới sự thay đổi trong chế độ chính sách thuế, có ý nghĩa quan trọng khi xác định những nội dung cụ thể của đạo luật thuế hay xác định cơ cấu hệ thống pháp luật thuế.

Thứ ba: Đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả. Nguyên tắc này đảm bảo cho các loại thuế phải rõ rang, dễ hiểu cho mọi đối tượng và có tính ổn định trong thời gian dài.

Hơn nữa hệ thống thuế phải được tổ chức để chi phí quản lí thu thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề ra cho phép. Tầm quan trọng của nguyên tắc này thể hiện cao nnhaatskhi ban hành văn bản pháp luật về thuế, văn bản giải thích hướng dẫn cho các đối tượng liên quan.

Thứ tư: Đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần.Nguyên tắc bày đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần. Khi ban hành một loại thuế cần tránh tình trạng thuế chồng lên thuế. Để đảm bảo được nguyên tắc này thì hệ thống pháp luật thuế của một quốc gia phải “bóc tách” những phần của đối tượng tính thuế đã nằm trong diện chịu loại thuế đó ở giai đoạn trước. bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thuế giữa các quốc gia cũng cần tính tới khả năng các nhà đầu tư, công dân của quốc gia này nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác, để tránh cho việc trùng lặp không xảy ra khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế, cần tham khảo, tìm hiểu về pháp luật thuế ở các quốc gia khác trước khi xây dựng pháp luật ở nước mình. Ví dụ như giữa Việt Nam và Ba Lan có kí

kết Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập.

Một phần của tài liệu Đề cương taì chính (Trang 20 - 24)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(35 trang)
w